Giáo trình môn Thống kê xã hội

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: THỐNG KÊ XàHỘI  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG NGHỀ  
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCDCGNB ngày…….tháng….năm 2017  
của Hiệu trưởng Trường cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2017  
1
LỜI NÓI ĐẦU  
ống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô  
Ngày nay, th  
quan  
ò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan,  
ọng, có vai tr  
tr  
chính xác,  
dự báo tình  
ầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá,  
đ
ạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế ho  
hình, ho  
ạch, chiến  
sách phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn và dài hạn, trong phạm vi  
ốc gia  
ược và chính  
l
ã hay qu  
một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế, trong phạm vi một x  
.
ống kê cũng là ững cơ sở quan trọng nhất để kiểm  
n
Đồng thời, các con số th  
h
điểm, đánh giá tình hình ực hiện các kế hoạch, chiến lược và các chính sách  
th  
đó.  
ằm kịp thời đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề Công tác xã hội  
Nh  
.
Chúng tôi  
ã tiến hành biên soạn cuốn sách này làm tài liệu học ập cho các lớp đào tạo nghề  
đ
t
Công tác xã hội.  
được biên soạn  
môn học  
ống kê xã hội  
Th  
Giáo trình  
theo Chương trình  
5 chương:  
ã được phê duyệt. Cuốn sách gồm  
đ
C
C
C
C
C
hương 1: Đối tượng nghiên cứu của thống kê xã hội  
hương 2: Quá trình nghiên cứu của thống kê  
hương 3: Các mức độ của hiện tượng kinh tế - xã hội  
hương Nghiên cứu sự biến động của hiện tượng kinh tế xã hội  
4:  
hương 5: Phương pháp chọn mẫu  
ình biên soạn lần đầu  
Đây là giáo tr  
tiên ì vậy không tránh khỏi những  
v
thiếu  
s ược những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa  
ót, tôi mong nhận đ  
học, nhà quản lý và đông đảo bạn đọc.  
Trân trọng cảm ơn!  
Ninh Bình, năm 2017  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên: Vũ Ánh Dương  
2. Lê Hùng Cường  
2
 
MỤC LỤC  
3
Chương 3. Các mức độ của hiện tượng kinh tế - xã hội ....................................24  
Chương 4. Nghiên cứu sự biến động của hiện tượng kinh tế xã hội.................29  
4
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC  
Tên môn học: Thống kê xã hội  
Mã môn học: MH09  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:  
- Vị trí môn học: Thống kê xã hội là môn lý thuyết kỹ thuật cơ sở quan trọng  
của chương trình đào tạo nghề công tác xã hội, liên quan đến nội dung công việc  
của nhân viên xã hội.  
- Tính chất môn học: là môn học kỹ thuật cơ sở bắt buộc.  
Mục tiêu môn học:  
- Kiến thức: Trình bày được các khái niệm cơ bản của thống kê xã hội, quá  
trình nghiên cứu thống kê, các phương pháp thống kê, dự báo thống kê xã hội  
- Kỹ năng: Vận dụng được các phương pháp thống kê, dự báo thống kê  
trong nghiên cứu các vấn đề xã hội để phân tích, tổng hợp số liệu, viết báo cáo...  
- Thái độ: Cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác, khách quan, linh hoạt, sáng tạo trong  
thống kê xã hội.  
Nội dung môn học:  
CHƯƠNG 1  
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA THỐNG KÊ XàHỘI  
Mã chương: MH10_CH01  
Giới thiệu: Giới thiệu tổng quan về môn học và các khái niệm cơ bản, cũng như  
đối tượng nghiên cứu của thống kê xã hội. Giúp người học có cái nhìn tổng quát và  
những yêu cầu của môn học.  
Mục tiêu:  
- Kiến thức: Trình bày được nguồn gỗc thống kê, các khái niệm cơ bản về thống kê  
xã hội, mục đích, ý nghĩa của thống kê xã hội.  
- Kỹ năng: Áp dụng được các khái niệm, các loại thang đo, thu thập thông  
tin trong thống kê xã hội.  
- Thái độ: Cẩn thận, tỉ mỉ, khách quan, chính xác trong quá trình thống kê.  
Nội dung chính:  
1. Nguồn gốc môn học  
5
         
Nếu thống kê được hiểu theo nghĩa thông thường thì ngay từ thời cổ đại con  
người đã đã chú ý đến việc này thông qua việc ghi chép đơn giản.  
Cuối thế kỷ XVII, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ làm cho phương  
thức sản xuất của chủ nghĩa tư bản ra đời. Kinh tế hàng hóa phát triển dẫn đến các  
ngành sản xuất riêng biệt tăng thêm, phân công lao động xã hội ngày càng phát  
triển. Tính chất xã hội của sản xuất ngày càng cao, thị trường được mở rộng không  
chỉ trong một nước mà toàn thế giới. Để phục vụ cho mục đích kinh tế, chính trị và  
quân sự nhà nước tư bản và các chủ tư bản cần rất nhiều thông tin thường xuyên  
về thị trường, giá cả, sản xuất, nguyên liệu, dân số,... Do đó, công tác thống kê  
phát triển nhanh chóng. Chúng ta có thể đưa ra 3 nhóm tác giả được gọi là những  
người khai sáng cho ngành khoa học thống kê:  
- Những người đầu tiên đưa ngành khoa học thống kê đi vào thực tiễn, đại  
diện cho những tác giả này là nhà kinh tế học người Đức H.Conhring (1606 -  
1681), năm 1660 ông đã giảng dạy tại trường đại học Halmsted về phương pháp  
nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào số liệu điều tra cụ thể.  
- Với những thành quả của người đi trước, bổ sung hoàn chỉnh thành  
môn học chính thống, đại diện là William Petty, một nhà kinh tế học của người  
Anh, là tác giả cuốn “Số học chính trị” xuất bản năm 1682, một số tác phẩm có  
tính chất phân tích thống kê đầu tiên ra đời.  
- Thống kê được gọi với nhiều tên khác nhau thời bấy giờ, sau đó năm 1759  
một giáo sư người Đức, Achenwall (1719-1772) lần đầu tiên dùng danh từ  
“Statistics” (một thuật ngữ gốc La tinh “Status”, có nghĩa là Nhà nước hoặc trạng  
thái của hiện tượng) - sau này người ta dịch ra là “Thống kê”.  
Kể từ đó, thống kê có sự phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện,  
gắn liền với nhiều nhà toán học - thống kê học nổi tiếng như: M.V.Lomonoxop  
(nga, 1711-1765), Laplace (Pháp, 1749-1827), I.Fisher, W.M.Pearsons,...  
2. Thống kê là gì?  
2.1. Định nghĩa  
Thống kê là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp,  
trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục  
vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định.  
2.2. Chức năng của thống kê  
Thống kê thường được phân thành 2 lĩnh vực:  
- Thống kê mô tả (Descriptive statistics): là các phương pháp có liên  
quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc  
trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu.  
6
     
- Thống kê suy luận (Inferential statistics): là bao gồm các phương pháp  
ước lượng các đặc trưng của tổng thể, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng  
nghiên cứu, dự đoán hoặc ra quyết định trên cơ sở thông tin thu thập từ kết quả  
quan sát mẫu.  
2.3. Phương pháp thống kê  
- Thu thập và xử lý số liệu:  
Số liệu thu thập thường rất nhiều và hỗn độn, các dữ liệu đó chưa đáp ứng  
cho quá trình nghiên cứu. Để có hình ảnh tổng quát về tổng thể nghiên cứu, số liệu  
thu thập phải được xử lý tổng hợp, trình bày, tính toán các số đo; kết quả có  
được sẽ giúp khái quát được đặc trưng của tổng thể.  
- Nghiên cứu các hiện tượng trong hoàn cảnh không chắc chắn:  
Trong thực tế, có nhiều hiện tượng mà thông tin liên quan đến đối tượng nghiên  
cứu không đầy đủ mặc dù người nghiên cứu đã có sự cố gắng. Ví dụ như nghiên  
cứu về nhu cầu của thị trường về một sản phẩm ở mức độ nào, tình trạng của nền  
kinh tế ra sao, để nắm được các thông tin này một cách rõ ràng quả là một điều  
không chắc chắn.  
- Điều tra chọn mẫu:  
Trong một số trường hợp để nghiên cứu toàn bộ tất cả các quan sát của tổng  
thể là một điều không hiệu quả, xét cả về tính kinh tế (chi phí, thời gian) và tính  
kịp thời, hoặc không thực hiện được. Chính điều này đã đặt ra cho thống kê xây  
dựng các phương pháp chỉ cần nghiên cứu một bộ phận của tổng thể mà có thể suy  
luận cho hiện tượng tổng quát mà vẫn đảm bảo độ tin cậy cho phép, đó là phương  
pháp điều tra chọn mẫu.  
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng:  
Giữa các hiện tượng nghiên cứu thường có mối liên hệ với nhau. Ví dụ  
như mối liên hệ giữa chi tiêu và thu nhập; mối liên hệ giữa lượng vốn vay và các  
yếu tố tác động đến lượng vốn vay như chi tiêu, thu nhập, trình độ học vấn; mối  
liên hệ giữa tốc độ phát triển với tốc độ phát triển của các ngành, lạm phát, tốc độ  
phát triển dân số,…Sự hiểu biết về mối liên hệ giữa các hiện tượng rất có ý nghĩa,  
phục vụ cho quá trình dự đoán.  
- Dự đoán:  
Dự đoán là một công việc cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động.  
Trong hoạt  
động dự đoán người ta có thể chia ra thành nhiều loại:  
(1). Dự đoán dựa vào định lượng và dựa vào định tính. Tuy nhiên, trong  
thống kê chúng ta chủ yếu xem xét về mặt định lượng với mục đích cung cấp cho  
7
những nhà quản lý có cái nhìn mang tính khoa học hơn và cụ thể hơn trước khi ra  
quyết định phù hợp.  
(2). Dự đoán dựa vào nội suy và dựa vào ngoại suy.  
- Dự đoán nội suy là chúng ta dựa vào bản chất của hiện tượng để suy luận,  
ví dụ như chúng ta xem xét một liên hệ giữa lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc  
các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và trình độ khoa học kỹ thuật.  
- Dự đoán dựa vào ngoại suy là chúng ta chỉ quan sát sự biến động của hiện  
tượng trong thực tế, tổng hợp lại thành qui luật và sử dụng qui luật này để suy  
luận, dự đoán sự phát triển của hiện tượng. Ví dụ như để đánh giá kết quả hoạt  
động của một công ty người ta xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của họ qua  
nhiều năm.  
Ngoài ra, người ta còn có thể phân chia dự báo thống kê ra thành nhiều loại  
khác.  
3. Các khái niệm thường dùng trong thống kê  
3.1. Tổng thể thống kê (Populations)  
Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị cá biệt về sự vật, hiện tượng trên  
cơ sở một đặc điểm chung nào đó cần được quan sát, phân tích mặt lượng của  
chúng. Các đơn vị, phần tử tạo nên hiện tượng được gọi là các đơn vị tổng thể.  
Như vậy muốn xác định được một tổng thể thống kê, ta cần phải xác định  
được tất cả các đơn vị tổng thể của nó. Thực chất của việc xác định tổng thể thống  
kê là việc xác định các đơn vị tổng thể.  
Trong nhiều trường hợp, các đơn vị của tổng thể được biểu hiện một cách  
rõ ràng, dễ xác định. Ta gọi nó là tổng thể bộ lộ. Ngược lại, một tổng thể mà các  
đơn vị của nó không được nhận biết một cách trực tiếp, ranh giới của tổng thể  
không rõ ràng được gọi là tổng thể tiềm ẩn.  
Đối với tổng thể tiềm ẩn, việc tìm được đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó  
khăn. Việc nhầm lẫn, bỏ sót các đơn trong tổng thể dễ xảy ra. Ví dụ như tổng  
thể là những những mê nhạc cổ điển, tổng thể người mê tín dị đoan,...  
3.2. Mẫu (Samples)  
Mẫu là một bộ phận của tổng thể, đảm bảo được tính đại diện và được chọn  
ra để quan sát và dùng để suy diễn cho toàn bộ tổng thể. Như vậy, tất cả các phần  
tử của mẫu phải thuộc tổng thể, nhưng ngược lại các phần tử của tổng thể thì chưa  
chắc thuộc mẫu. Điều này tưởng chừng là đơn giản, tuy nhiên trong một số trường  
hợp việc xác định mẫu cũng có thể dẫn đến nhầm lẫn, đặc biệt là trong trường hợp  
tổng thể ta nghiên cứu là tổng thể tiềm ẩn.  
8
     
Ngoài ra, chọn mẫu như thế nào để làm cơ sở suy diễn cho tổng thể, tức là  
mẫu phải mang tính đại diện cho tổng thể. Điều này thực sự không dễ dàng, ta chỉ cố  
gắng hạn chế tối đa sự sai biệt này mà thôi chứ không thể khắc phục được hoàn toàn.  
3.3. Quan sát (Observations)  
Là mỗi đơn vị của mẫu ; trong một số tài liệu còn được gọi là quan trắc.  
3.4. Tiêu thức thống kê  
Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác nhau, tuy nhiên trong  
thống kế người ta chỉ chọn một số đặc điểm để nghiên cứu, các đặc điểm này  
người ra gọi là tiêu thức thống kê. Như vậy, tiêu thức thống kê là khái niệm chỉ  
các đặc điểm của đơn vị tổng thể. Mỗi tiêu thức thống kê đều có các giá trị biểu  
hiện của nó, dựa vào sự biểu hiện của nó người ta chia ra làm hai loại:  
a) Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức phản ánh loại hoặc tính chất của đơn  
vị. Ví dụ như ngành kinh doanh, nghề nghiệp,...  
b) Tiêu thức số lượng: là đặc trưng của đơn vị tổng thể được thể hiện bằng  
con số. Ví dụ, năng suất của một loại cây trồng.  
Tiêu thức số lượng được chia làm 2 loại:  
- Loại rời rạc: là loại các giá trị có thể của nó là hữu hạn hay vô hạn và có  
được.  
thể đếm  
- Loại liên tục: là loại mà giá trị của nó có thể nhận bất kỳ một trị số nào đó  
một khoảng nào đó.  
trong  
3.5. Tham số tổng thể  
Là giá trị quan sát được của tổng thể và dùng để mô tả đặc trưng của hiện  
tượng nghiên cứu. Trong xác suất thống kê toán chúng ta đã biết các tham số tổng  
2
thể như trung bình tổng thể (µ), tỷ lệ tổng thể (p), phương sai tổng thể (). Ngoài  
ra, trong quá trình nghiên cứu sâu môn thống kê chúng ta còn có thêm nhiều  
tham số tổng thể nữa như: tương quan tổng thể (), hồi qui tuyến tính tổng thể,…  
3.6. Tham số mẫu  
Tham số mẫu là giá trị tính toán được của một mẫu và dùng để suy rộng cho  
tham số tổng thể. Đó là cách giải thích mang tính chất thông thường, còn đối với  
xác suất thống kê thì tham số mẫu là ước lượng điểm của tham số tổng thể, trong  
trường hợp chúng ta chưa biết tham số tổng thể chúng ta có thể sử dụng tham số  
mẫu để ước lượng tham số tổng thể. Chúng ta có thể liệt kê vài tham số mẫu như  
2
ˆ
sau: trung bình mẫu ( x ), tỷ lệ mẫu ( p ), phương sai mẫu (S ), hệ số tương quan  
mẫu (r),…  
4. Các loại thang đo  
9
       
Đứng trên quan điểm của nhà nghiên cứu, chúng ta cần xác định các  
phương pháp phân tích thích hợp dựa vào mục đích nghiên cứu và bản chất của  
dữ liệu. Do vậy, đầu tiên chúng ta tìm hiểu bản chất của dữ liệu thông qua khảo  
sát các cấp độ đo lường khác nhau vì mỗi cấp độ sẽ chỉ cho phép một số phương  
pháp nhất định mà thôi.  
4.1. Khái niệm  
- Số đo: là việc gán những dữ kiện lượng hoá hay những ký hiệu cho những  
hiện tượng quan sát. Chẳng hạn như những đặc điểm của khách hàng về sự chấp  
nhận, thái độ, thị hiếu hoặc những đặc điểm có liên quan khác đối với một sản  
phẩm mà họ tiêu dùng.  
- Thang đo: là tạo ra một thang điểm để đánh giá đặc điểm của đối tượng  
nghiên cứu thể hiện qua sự đánh giá, nhận xét.  
4.2. Các loại thang đo  
- Thang đo danh nghĩa (Nominal scale):  
Là loại thang đo sử dụng cho dữ liệu thuộc tính mà các biểu hiện của dữ liệu  
không có sự hơn kèm, khác biệt về thứ bậc. Các con số không có mối quan hệ hơn  
kém, không thực hiện được các phép tính đại số. Các con số chỉ mang tính chất  
mã hoá. Ví dụ, tiêu thức giới tính ta có thể đánh số 1 là nam, 2 là nữ.  
- Thang đo thứ bậc (Ordinal scale):  
Là loại thang đo dùng cho các dữ liệu thuộc tính. Tuy nhiên trường hợp này  
biểu hiện của dữ liệu có sự so sánh. Ví dụ, trình độ thành thạo của công nhân được  
phân chia ra các bậc thợ từ 1 đến 7. Phân loại giảng viên trong các trường đại học:  
Giáo sư, P.Giáo sư, Giảng viên chính, Giảng viên. Thang đo này cũng không thực  
hiện được các phép tính đại số.  
- Thang đo khoảng (Interval scale):  
Là loại thang đo dùng cho các dữ liệu số lượng. Là loại thang đo cũng có  
thể dùng để xếp hạng các đối tượng nghiên cứu nhưng khoảng cách bằng nhau  
trên thang đo đại diện cho khoảng cách bằng nhau trong đặc điểm của đối tượng.  
Với thang đo này ta có thể thực hiện các phép tính đại số trừ phép chia không có ý  
nghĩa. Ví dụ như điểm môn học của sinh viên. Sinh viên A có điểm thi là 8 điểm,  
sinh viên B có điểm là 4 thì không thể nói rằng sinh viên A giỏi gấp hai lần sinh  
viên B.  
- Thang đo tỷ lệ (Ratio scale):  
Là loại thang đo cũng có thể dùng dữ liệu số lượng. Trong các loại thang đo  
đây là loại thang đo cao nhất. Ngoài đặc tính của thang đo khoảng, phép chia có  
thể thực hiện được. Ví dụ, thu nhập trung bình 1 tháng của ông A là 2 triệu đồng  
10  
   
và thu nhập của bà B là 4 triệu đồng, ta có thể nói rằng thu nhập trung bình trong  
một tháng của bà B gấp đôi thu nhập của ông A.  
Tuỳ theo thang đo chúng ta có thể có một số phương pháp phân tích phù  
hợp, ta có thể tóm tắt như sau:  
Phương pháp phân tích thống kê thích hợp với các thang đo  
Đo lường độ Đo lường độ Đo lường tính  
Loại thang đo  
Kiểm định  
tập trung  
phân tán  
tương quan  
1. Thang biểu  
Hệ số ngẫu  
2
Mốt  
Không có  
Kiểm định   
danh  
nhiên  
2. Thang thứ tự  
Trung vị  
Sô phần trăm Dãy tương quan Kiểm định dấu  
Độ lệch  
chuẩn  
Hệ số tương  
3. Thang khoảng Trung bình  
Kiểm định t, F  
quan  
Trung bình tỷ Hệ số biến Tất cả các phép Sử dụng tất cả  
lệ thiên trên các phép trên  
4.3. Xác định nội dung thông tin, thu thập thông tin  
4. Thang tỷ lệ  
Nói chung, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu để xác định những nội dung  
thông tin cần thu thập. Thông tin sử dụng cho quá trình nghiên cứu phải đảm bảo  
các yêu cầu cơ bản sau:  
- Thích đáng: Số liệu thu thập phải phù hợp, đáp ứng được mục đích nghiên  
cứu. Số liệu đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu có tính chất trực tiếp hoặc gián  
tiếp. Đối với những thông tin dễ tiếp cận thường thì ta sử dụng số liệu trực tiếp, ví  
dụ muốn biết được nhu cầu của khách hàng chúng ta có thể hỏi trực tiếp khách  
hàng. Tuy nhiên, một số nội dung nghiên cứu mang tính chất nhạy cảm hoặc khó  
thu thập thì chúng ta có thể thu nhập những số liên gián tiếp có liên quan, ví dụ  
để thu thập thu nhập của cá nhân chúng ta có thể thu thập những nội dung có liên  
quan như nghề nghiệp, đơn vị công tác, chức vụ, nhà ở, phương tiện đi lại...  
- Chính xác: Các thông tin trong quá trình nghiên cứu phải có giá trị, đáng  
tin cậy  
để các phân tích kết luận phản ánh được đặc điểm bản chất của hiện tượng.  
- Kịp thời: Yêu cầu thông tin không những đáp ứng yêu cầu phù hợp,  
chính xác mà giá trị thông tin còn thể hiện ở chỗ nó có phục vụ kịp thời cho công  
tác quản lý và tiến trình ra các quyết định hay không.  
- Khách quan: Tức là số liệu thu thập được không bị ảnh hưởng vào tính chủ  
quan của người thu thập cũng như người cung cấp số liệu và ngay cả trong thiết  
kế bảng câu hỏi. Yếu tố khách quan tưởng chừng thực hiện rất dễ dàng nhưng  
thực tế thì chúng ta khó có thể khắc phục vấn đề này một cách trọn vẹn, chúng ta  
chỉ có thể hạn chế yếu tố chủ quan một cách tối đa. Ví dụ chỉ cần một hành động  
11  
 
đơn giản là tiếp cận với đáp viên là ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả trả lời của  
họ.  
- Nguồn số liệu  
Khi nghiên cứu một hiện tượng cụ thể, người nghiên cứu có thể sử dụng từ  
nguồn số liệu đã có sẵn đã được công bố hay chưa công bố hay tự mình thu thập  
các dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu. Dựa vào cách thức này người ta chia dữ liệu  
thành 2 nguồn: dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp.  
+ Dữ liệu thứ cấp (Secondary data):  
Dữ liệu thứ cấp là các thông tin đã có sẵn và đã qua tổng hợp, xử lý. Loại  
dữ kiện này có thể thu thập từ các nguồn sau:  
(1) Số liệu nội bộ: là loại số liệu đã được ghi chép cập nhật trong đơn vị  
hoặc được thu thập từ các cuộc điều tra trước đây.  
(2) Số liệu từ các ấn phẩm của nhà nước: Các dữ liệu do các cơ quan thống  
kê nhà nước phát hành định kỳ như niên giám thống kê, các thông tin cập nhật  
hàng năm về tình hình dân số lao động, kết quả sản xuất của các ngành trong nền  
kinh tế, số liệu về văn hoá xã hội.  
(3) Báo, tạp chí chuyên ngành: Các báo và tạp chí đề cập đến vấn đề có tính  
chất chuyên ngành như tạp chí thống kê, giá cả thị trường,...  
(4) Thông tin của các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp: Viên nghiên cứu  
kinh tế, phòng thương mại  
(5) Các công ty chuyên tổ chức thu thập thông tin, nghiên cứu và cung cấp  
thông tin theo yêu cầu.  
Số liệu thứ cấp có ưu điểm là có thể chia sẻ chi phí, do đó nó có tính kinh  
tế hơn, số liệu được cung cấp kịp thời hơn. Tuy nhiên, dữ liệu thứ cấp thường là  
các thông tin cơ bản, số liệu đã được tổng hợp đã qua xử lý cho nên không đầy đủ  
hoặc không phù hợp cho quá trình nghiên cứu. Số liệu thứ cấp thường ít được sử  
dụng để dự báo trong thống kê, số liệu này thường được sử dụng trong trình bày  
tổng quan nội dung nghiên cứu, là cơ sở để phát hiện ra vấn đề nghiên cứu. Ngoài  
ra, số liệu thứ cấp còn được sử dụng để đối chiếu lại kết quả nghiên cứu để nhằm  
kiểm tra lại tính đúng đắn hoặc phát hiện ra những vấn đề mới để có hướng nghiên  
cứu tiếp.  
+ Dữ liệu sơ cấp (Primary data): Là các thông tin thu thập từ các cuộc điều  
tra. Căn cứ vào phạm vi điều tra có thể chia thành 2 loại: Điều tra toàn bộ và  
điều tra chọn mẫu.  
Điều tra toàn bộ: Là tiến hành thu thập thông tin trên tất cả các đơn vị thuộc  
tổng thể nghiên cứu.  
12  
 
Ưu điểm của điều tra toàn bộ là thu thập được thông tin về tất cả các đơn vị  
tổng thể. Tuy nhiên, loại điều tra này thường gặp phải một số trở ngại sau:  
Số lượng đơn vị thuộc tổng thể chung thường rất lớn cho nên tiến hành điều  
tra toàn bộ mất nhiều thời gian và tốn kém.  
Trong một số trường hợp do thời gian kéo dài dẫn đến số liệu kém chính  
xác do hiện tượng tự biến động qua thời gian.  
Trong một số trường hợp điều tra toàn bộ sẽ không thực hiện được, ví dụ như  
kiểm tra chất lượng sản phẩm phải phá huỷ các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.  
- Điều tra chọn mẫu: Để nghiên cứu tổng thể, ta chỉ cần lấy ra một số phần  
tử đại diện để nghiên cứu và từ đó suy ra kết quả cho tổng thể bằng các phương  
pháp thống kê.  
Điều tra chọn mẫu thường được sử dụng vì các lý do sau:  
+ Tiết kiệm chi phí  
+ Cung cấp thông tin kịp thời cho quá trình nghiên cứu  
+ Đáng tin cậy. Đây là yếu tố rất quan trọng, nó làm cho điều tra chọn mẫu  
trở nên có hiệu quả và được chấp nhận. Tuy nhiên, để có sự đáng tin cậy này  
chúng ta phải có phương pháp khoa học để đảm bảo tính chính xác để chỉ cần  
chọn ra một số quan sát mà có thể suy luận cho cả tổng thể rộng lớn – đó là nhờ  
vào các lý thuyết thống kê.  
Việc sử dụng điều tra toàn bộ hay điều tra chọn mẫu phụ thuộc vào nhiều  
yếu tố có liên quan: kích thước tổng thể, thời gian nghiên cứu cứu, khả năng về tài  
chính và nguồn lực, đặc điểm của nội dung nghiên cứu.  
- Các phương pháp thu thập thông tin  
Để thu thập dữ liệu ban đầu, tuỳ theo nguồn kinh phí và đặc điểm của đối  
tượng cần thu thập thông tin, ta có các phương pháp sau đây:  
+ Quan sát: Là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách quan sát hành động,  
hành vi thái độ của đối tượng được điều tra. Ví dụ, nghiên cứu trẻ con yêu thích  
màu sắc nào, quan sát thái độ khách hàng khi dùng thử loại sản phẩm. Phương  
pháp này tỏ ra hiệu quả đối với các trường hợp đối tượng khó tiếp cận và tăng tính  
khách quan của đối tượng. Tuy nhiên, phương pháp này tỏ ra khá tốn kém nhưng  
lượng thông tin thu thập được ít.  
+ Phương pháp gởi thư: Theo phương pháp này nhân viên điều tra gởi  
bảng câu hỏi đến đối tượng cung cấp thông tin qua đường bưu điện. Phương pháp  
gởi thư có thể thu thập thông tin với khối lượng lớn, tiết kiệm chi phí so với các  
phương pháp khác. Tuy nhiên tỷ lệ trả lời bằng phương pháp này tương đối thấp,  
đây là một nhược điểm rất lớn của phương pháp này.  
13  
+ Phỏng vấn bằng điện thoại: Phương pháp thu thập thông tin bằng cách  
phỏng vấn qua điện thoại. Phương pháp này thu thập được thông tin một cách  
nhanh chóng, tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm: tốn kém, nội dung thu  
thập thông tin bị hạn chế.  
+ Phỏng vấn trực tiếp:  
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thích hợp cho những cuộc điều tra cần thu  
thập nhiều thông tin, nội dung của thông tin tương đối phức tạp cần thu thập một  
cách chi tiết. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp cho 2 hình thức:  
(1) Phỏng vấn cá nhân. Nhân viên điều tra tiếp xúc với đối tượng cung cấp  
thông tin thường tại nhà riêng hoặc nơi làm việc. Thông thường phỏng vấn trực  
tiếp được áp dụng khi chúng ta cho tiến hành điều tra chính thức.  
(2) Phỏng vấn nhóm. Nhân viên điều tra phỏng vấn từng nhóm để thảo luận  
về một vấn đề nào đó. Trường hợp này người ta thường sử dụng khi điều tra thử  
để kiểm tra lại nội dung của bảng câu hỏi được hoàn chỉnh chưa hoặc nhằm tìm  
hiểu một vấn đề phức tạp mà bản thân người nghiên cứu chưa nắm được một cách  
đầy đủ mà cần phải có ý kiến cụ thể từ những người am hiểu.  
Sau đây ta có bảng tổng hợp một số ưu nhược điểm của các phương pháp  
thu thập thông tin.  
Đặc điểm của các phương pháp thu thập thông tin  
Phương pháp Phỏng vấn qua Phỏng vấn  
Tính chất  
gởi thư  
điện thoại  
trực tiếp  
Linh hoạt  
Kém  
Đầy đủ  
Chậm  
Tốt  
Hạn chế  
Nhanh  
Cao  
Tốt  
Đầy đủ  
Nhanh  
Cao  
Khối lượng thông tin  
Tốc độ thu thập thông tin  
Tỷ lệ câu hỏi được trả lời  
Chi phí  
Thấp  
Tiết kiệm  
Tốn kém  
Tốn kém  
Câu hỏi ôn tập:  
1. Trình bày thống kê là gì? Các khái niệm thường dùng trong thống kê?  
2. Trình bày các loại thang đo?  
14  
CHƯƠNG 2  
QUÁ TRÌNH THỐNG KÊ  
Mã chương: MH10_CH02  
Giới thiệu:  
Giới thiệu về các khái niệm như phân tổ thống kê, các loại phân tổ thống kê.  
Xác định, phân tổ thống kê và các bảng thống kê.  
Mục tiêu:  
- Kiến thức: Trình bày được khái niệm phân tổ thống kê, nguyên tắc phân tổ  
thống kê, các tiêu thức, bảng thống kê, đồ thị thống kê.  
- Kỹ năng: Áp dụng được phương pháp phân tổ thống kê trong nghiên cứu  
một số vấn đề xã hội và lập được bảng thống kê, đồ thị thống kê trong một số  
trường hợp.  
- Thái độ: Cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác, sáng tạo.  
Nội dung chính:  
1. Phân tổ thống kê  
1.1. Khái niệm  
Phân tổ còn được gọi là phân lớp thống kê là căn cứ vào một hay một số  
tiêu thức để chia các đơn vị tổng thể ra thành nhiều tổ (lớp, nhóm) có tính chất  
khác nhau.  
1.2. Nguyên tắc phân tổ  
Một cách tổng quát tổng thể phải được phân chia một cách trọn vẹn, tức là  
một đơn vị của tổng thể chỉ thuộc một tổ duy nhất và một đơn vị thuộc một tổ nào  
đó phải thuộc tổng thể.  
1.3. Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính  
- Trường hợp tiêu thức thuộc tính chỉ có một vài biểu hiện thì mỗi biểu hiện  
của tiêu thức thuộc tính có thể chia thành một tổ. Ví dụ, tiêu thức giới tính.  
- Trường hợp tiêu thức thuộc tính có nhiều biểu hiện, ta ghép nhiều nhóm  
nhỏ lại với nhau theo nguyên tắc các nhóm ghép lại với nhau có tính chất giống  
nhau hoặc gần giống nhau. Ví dụ phân tổ trong công nghiệp chế biến: Thực phẩm  
và đồ uống, thuốc lá, dệt,...  
1.4. Phân tổ theo tiêu thức số lượng  
- Trường hợp tiêu thức số lượng có ít biểu hiện, thì cứ mỗi một lượng biến  
có thể  
thành lập một tổ.  
15  
                   
Ví dụ 2.1: phân tổ công nhân trong một xí nghiệp dệt theo số máy do mỗi  
công nhân thực hiện.  
Số máy/Công nhân  
Số công nhân  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
3
7
20  
50  
35  
15  
- Trường hợp tiêu thức số lượng có nhiều biểu hiện, ta phân tổ khoảng cách  
mỗi tổ và mỗi tổ có một giới hạn:  
- Giới hạn trên: lượng biến nhỏ nhất của tổ.  
- Giới hạn dưới: lượng biến lớn nhất của tổ.  
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, người ta phân ra 2 loại phân tổ đều và  
phân tổ  
không đều.  
- Phân tổ đều: Là phân tổ có khoảng cách tổ bằng nhau. Thông thường nếu  
chỉ vì mục đích nghiên cứu phân phối của tổng thể hoặc làm cho bảng thống kê  
gọn lại thì ta thường dùng phương pháp này.  
- Để xác định số tổ hình như không có một tiêu chuẩn tối ưu nó phụ thuộc  
vào kinh nghiệm. Dưới đây là một cách phân chia tổ mang tính chất tham khảo.  
- Xác định số tổ (Number off classes):  
0,3333  
Số tổ = (2 x n)  
n: Số đơn vị tổng thể  
- Xác định khoảng cách tổ (Class interval):  
X
− X  
min  
max  
k   
So to  
- Xác định tần số (Frequency) của mỗi tổ: bằng cách đếm các quan sát rơi  
vào giới hạn của tổ đó.  
Một số qui ước khi lập bảng phân tổ:  
- Trường hợp phân tổ theo tiêu thức số lượng rời rạc thì giới hạn trên và giới  
hạn dưới của 2 tổ kế tiếp nhau không được trùng nhau.  
Ví dụ 2.2: Các xí nghiệp ở tỉnh X được phân tổ theo tiêu số lượng công nhân:  
Số lượng công nhân  
≤100  
Số xí nghiệp  
80  
16  
101 – 200  
201 – 500  
501 – 1.000  
1.001 – 2.000  
Tổng  
60  
6
4
1
151  
- Trường hợp phân tổ theo tiêu thức số lượng loại liên tục, thường có qui ước  
sau:  
* Giới hạn trên và giới hạn dưới của 2 tổ kế tiếp trùng nhau.  
* Quan sát có lượng biến bằng đúng giới hạn trên của một tổ nào đó thì đơn  
vị đó được xếp vào tổ kế tiếp.  
Ví dụ 2.3: phân tổ các tổ chức thương nghiệp theo doanh thu.  
Doanh thu (triệu đồng)  
≤1.000  
Số tổ chức thương nghiệp  
2
9
1.000-2.000  
2.000-3.000  
12  
7
3.000-4.000  
Tổng  
30  
1.5. Bảng phân phối tần số (Frequency table)  
Sau khi phân tổ chúng ta có thể trình bày số liệu bằng cách sử dụng bảng  
phân phối tần số để biết được một số tính chất cơ bản của hiện tượng nghiên cứu.  
Lượng biến  
Tần số  
Tần số tương đối  
f /n f /n  
Tần số tích lũy  
x
x
f
f
f
1
f + f  
1 2  
1
2
1
2
1
2
... f /n  
i
... x  
...  
... f  
...  
...  
...  
i
i
f /n  
k
f + f +...+ f  
1 2 i  
x
f
k
...  
k
f +
 
f +...+  
1 2  
f
k
k
f n  
∑ i  
Cộng  
1
i
1  
Trong đó lượng biến có thể là giá trị cụ thể hoặc là một khoảng.  
1.6. Các loại phân tổ thống kê  
- Phân tổ kết cấu:  
17  
   
Trong công tác nghiên cứu thống kê, các bảng phân tổ kết cấu được sử  
dụng rất phổ biến nhằm mục đích nêu lên bản chất của hiện tượng trong điều kiện  
nhất định và để nghiên cứu xu hướng phát triển của hiện tượng qua thời gian.  
Ví dụ 2.4: Để xem xét cơ cấu giữa các nhóm ngành trong một quốc gia nào  
đó ta lập bảng như sau:  
Bảng 2.1. Cơ cấu tổng sản phẩm của quốc gia X theo nhóm ngành, 2003 -2007  
Đơn vị tính: %.  
Tổng sản phẩm theo nhóm ngành 2003 2004 2005 2006 2007  
Nông, lâm nghiệp và thủy sản  
Công nghiệp và xây dựng  
Dịch vụ  
24,53 23,24 23,03 22,54 21,76  
36,73 38,13 38,49 39,47 40,09  
38,74 38,63 38,48 37,99 38,15  
100,00 100,00 100,00 100,00 100,00  
Tổng  
Qua bảng kết cấu trên, ta thấy có thấy sự thay đổi về dịch chuyển cơ cấu  
ngành: Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng có xu hướng tăng, nhóm ngành  
nông, lâm, thuỷ sản có xu hướng giảm,...  
- Phân tổ liên hệ:  
Khi tiến hành phân tổ liên hệ, các tiêu thức có liên hệ với nhau được  
phân biệt thành 2 loại tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả. Phân tổ liên hệ  
có thể được vận dụng để nghiên cứu mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức: mối liên hệ  
giữa năng suất với lượng phân bón, nghiên cứu giữa năng suất lao động của công  
nhân với tuổi nghề, bậc thợ, trình độ trang bị kỹ thuật,...  
Ví dụ 2.5: Ta có bảng phân tổ liên hệ sau:  
Bảng 2.2. Liên hệ giữa năng suất lao động với trình độ kỳ thuật nghề nghiệp  
của quốc gia X năm 2007  
Trình độ kỹ  
Tuổi nghề  
Sản lượng cả Năng suất lao động  
Số công nhân  
thuật  
(Năm)  
năm (tấn)  
bình quân (tấn)  
dưới 5  
5-10  
10-15  
15-20 trên  
20  
15  
40  
40  
15  
10  
1.125  
3.750  
4.200  
1.725  
1.200  
75  
94  
105  
115  
120  
Đã được đào tạo  
kỹ thuật  
Cả tổ  
-
120  
12.000  
100  
18  
dưới 5  
5-10  
10-15  
15-20 trên  
20  
10  
30  
20  
10  
10  
510  
2.140  
1.540  
860  
51  
71  
79  
86  
91  
Chưa được đào  
tạo kỹ thuật  
910  
Cả tổ  
-
80  
6.000  
75  
Chung cho cả  
doanh nghiệp  
-
200  
18.000  
90  
2. Bảng thống kê (Statistical table)  
Sau khi tổng hợp các tài liệu điều tra thống kê, muốn phát huy tác dụng của  
nó đối với phân tích thống kê, cần thiết phải trình bày kết quả tổng hợp theo một  
hình thức thuận lợi nhất cho việc sử dụng sau này.  
2.1. Khái niệm  
Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách  
có hệ thống, hợp lý và rõ ràng, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện  
tượng nghiên cứu. Đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê là bao giờ cũng  
có những con số của từng bộ phận và có mối liên hệ mật thiết với nhau.  
2.2. Cấu thành bảng thống kê  
- Về hình thức: Bảng thống kê bao gồm các hàng, cột, các tiêu đề, tiêu mục  
con số.  
và các  
Các hàng cột thể hiện qui mô của bảng, số hàng và cột càng nhiều thì bảng  
kê càng lớn và càng phức tạp.  
thống  
Tiêu đề của bảng thống kê phản ánh nội dung, ý nghĩa của bảng và của  
từng chi tiết trong bảng. Trước hết ta có tiêu đề chung, sau đó là các tiêu đề nhỏ  
(tiêu mục) là tên riêng của mỗi hàng, cột phản ánh ý nghĩa của cột đó.  
- Phần nội dung: Bảng thống kê gồm 2 phần: Phần chủ đề và phần giải thích.  
Phần chủ đề nói lên tổng thể được trình bày trong bảng thống kê, tổng  
thể này được phân thành những đơn vị, bộ phận. Nó giải đáp: đối tượng nghiên  
cứu là những đơn vị nào, những loại hình gì. Có khi phần chủ đề phản ánh các  
địa phương hoặc các thời gian nghiên cứu khác nhau của một hiện tượng.  
Phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng  
nghiên cứu, tức là giải thích phần chủ đề của bảng.  
Phần chủ đề thường được đặt bên trái của bảng thống kê, còn phần giải  
thích được  
đặt ở phía trên của bảng. Cũng có trường hợp ta thay đổi vị trí.  
2.3. Các yêu cầu và qui ước xây dựng bảng thống kê  
19  
 
- Qui mô của bảng thống kê: không nên quá lớn, tức là quá nhiều hàng, cột  
và  
nhiều phân tổ kết hợp. Một bảng thống kê ngắn, gọn một cách hợp lý sẽ tạo điều  
kiện dễ dàng cho việc phân tích. Nếu thấy cần thiết nên xây dựng hai, ba,... bảng  
thống kê nhỏ thay cho một bảng thống kê quá lớn  
- Số hiệu bảng: nhằm giúp cho người đọc dễ dàng xác định vị trí của bảng  
khi tham khảo, đặc biệt là đối với các tài liệu nghiên cứu người ta thường lập  
mục lục biểu bảng để người đọc dễ tham khảo và người trình bày dễ dàng hơn.  
Nếu số biểu bảng không nhiều thì chúng ta chỉ cần đánh số theo thứ tự xuất hiện  
của biểu bảng, nếu tài liệu được chia thành nhiềuchương và số liệu biểu bảng  
nhiều thì ta có thể đánh số theo chương va  
theo số thứ tự xuất hiện của biểu  
Tên bảng: yêu cầu ngắn gọn, đầy đủ, rõ ràng, đặt trên đầu  
bảng trong chương 1  
bảng và phải chứa đựng nội dung, thời gian, không gian mà số liệu được biểu hiện  
trong bảng. Tuy nhiên yêu cầu này chỉ mang tính chất tương đối không có tiêu  
chuẩn rõ ràng nhưng thông thường người ta cố gắng trình bày trong một hàng  
hoặc tối đa là hai hàng.  
- Đơn vị tính:  
+ Đơn vị tính dùng chung cho toàn bộ số liệu trong bảng thống kê, trường  
hợp này đơn vị tính được ghi bên góc phải của bảng.  
+ Đơn vị tính theo từng chỉ tiêu trong cột, trong trường hợp này đơn vị tính  
sẽ được đặt dưới chỉ tiêu của cột.  
+ Đơn vị tính theo từng chỉ tiêu trong hàng, trong trường hợp này đơn vị  
tính sẽ được đặt sau chỉ tiêu theo mỗi hàng hoặc tạo thêm một cột ghi đơn vị tính.  
- Cách ghi số liệu trong bảng:  
+ Số liệu trong từng hàng (cột) có đơn vị tính phải nhận cùng một số lẻ, số  
liệu ở các hàng (cột) khác nhau không nhất thiết có cùng số lẻ với hàng (cột) tương  
ứng.  
+ Một số ký hiệu qui ước:  
+ Nếu không có tài liệu thì trong ô ghi dấu gạch ngang “-“  
+ Nếu số liệu còn thiếu, sau này sẽ bổ sung sau thì trong ô ghi dấu ba chấm  
“...”  
+ Ký hiệu gạch chéo “x” trong ô nào đó thì nói lên hiện tượng không có  
liên quan đến chỉ tiêu đó, nếu ghi số liệu vào đó sẽ vô nghĩa hoặc thừa.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 58 trang baolam 15780 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Thống kê xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docgiao_trinh_mon_thong_ke_xa_hoi.doc