Tài liệu hướng dẫn thực hành (Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở): Công tác xã hội với người nghèo

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
(Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở)  
VỚI NGƯỜI NGHÈO  
Hà Nội, năm 2016  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
2
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
LỜI MỞ ĐẦU  
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại  
hóa là tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội; song song với  
tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo, trợ giúp các đối tượng yếu thế.  
Nhằm thực hiện quan điểm trên, Chính phủ đã phê duyệt Đề án Phát triển nghề  
Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 với mục đích nâng cao nhận thức của toàn  
xã hội về nghề Công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và  
cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với  
phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần  
xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.  
Cùng với những chính sách, dự án của chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo  
bền vững giai đoạn 2010 – 2020, những kiến thức kỹ năng về công tác xã hội với  
người nghèo được xem là công cụ hỗ trợ tích cực cho cán bộ làm công tác xã hội  
với người nghèo, góp phần giải quyết các vấn đề riêng của từng người nghèo, hộ  
nghèo để họ có điều kiện vươn lên thoát nghèo. Do vậy cuốn tài liệu này được biên  
soạn nhằm cung cấp những kiến thức kỹ năng cần thiết đó.  
Tài liệu được biên soạn với sự phối hợp của UNICEF, Bộ Lao động Thương binh và  
Xã hội, trường Đại học Lao động - Xã hội và những đóng góp chuyên môn của các  
nhà khoa học trong lĩnh vực này.  
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các địa phương, các cá nhân và đặc biệt  
là các cán bộ làm công tác xã hội cơ sở để giúp chúng tôi nâng cao chất lượng tài  
liệu cho lần tái bản sau.  
3
MỤC LỤC  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
LỜI MỞ ĐẦU  
3
6
BÀI 1. VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO  
I. Khái niệm nghèo và một số khái niệm liên quan tới nghèo đói  
1.1 Nghèo  
6
6
6
1.2 Người nghèo  
7
1.3 Hộ nghèo, xã nghèo và hộ cận nghèo  
1.4. Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang vùng ven biển và hải đảo  
1.5 Chuẩn nghèo quốc gia  
8
8
8
1.6 Chuẩn nghèo địa phương  
8
II. Nghèo đói, Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói và vấn đề của người nghèo  
2. 1 Tình hình nghèo đói  
9
9
2.2. Nguyên nhân nghèo đói  
11  
12  
12  
12  
12  
13  
13  
13  
13  
14  
14  
15  
2.2.1 Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội  
2.2.2. Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách  
2.2.3. Nguyên nhân do bản thân người nghèo  
2.3. Vấn đề của người nghèo  
III. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo  
3.1. Chính sách trợ cấp xã hội  
3.2. Chính sách hỗ trợ về y tế  
3.3. Chính sách hỗ trợ giáo dục  
3.4. Chính sách hỗ trợ học nghề  
3.5. Chính sách tín dụng ưu đãi  
3.6. Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường  
3.7. Chính sách hỗ trợ người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, lâm ngư và hỗ trợ  
sản xuất phát triển ngành nghề  
15  
15  
16  
16  
16  
16  
17  
18  
19  
20  
22  
3.8. Chính sách đối với 62 huyện nghèo  
3.9. Dịch vụ xã hội  
IV. Mô hình giảm nghèo và vai trò của nhân viên xã hội  
4.1. Một số mô hình giảm nghèo trên Thế giới  
4.1.1. Các mô hình giảm nghèo tại Mỹ  
4.1.2 Mô hình giảm nghèo tại Ấn độ  
4.1.3. Mô hình giảm nghèo tại HongKong  
4.1.4. Mô hình giảm nghèo tại Brazin và Mexico  
4.2. Một số mô hình giảm nghèo ở Việt Nam  
4.3. Vai trò của Nhân viên xã hội  
BÀI 2. TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO TIẾP CẬN THÔNG TIN, NGUỒN LỰC, CHƯƠNG TRÌNH, CHÍNH SÁCH VÀ  
DỊCH VỤ XÃ HỘI  
24  
24  
24  
I. Vấn đề tiếp cận thông tin, chính sách, nguồn lực và dịch vụ xã hội của người nghèo  
1.1. Sự tham gia và thực trạng về việc tiếp cận thông tin và các loại nguồn lực  
4
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
1.2. Nguyên nhân  
26  
26  
26  
1.2.1. Từ bản thân người nghèo  
1.2.2. Từ xã hội, những cá nhân có vai trò trong cộng đồng (lãnh đạo cộng đồng)  
II. Các hoạt động trợ giúp người nghèo tiếp nhận thông tin, chính sách,  
nguồn lực và dịch vụ xã hội  
27  
27  
27  
28  
29  
29  
29  
35  
34  
35  
36  
2.1. Tăng cường sự tham gia vào các hoạt động cộng đồng của người nghèo  
2.1.1. Với bản thân người nghèo  
2.1.2. Thay đổi môi trường để tăng cường sự tham gia của người nghèo  
2.2. Hỗ trợ kết nối nguồn lực  
2.2.1. Khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực của người nghèo  
2.2.2. Các hoạt động hỗ trợ kết nối nguồn lực cho người nghèo  
2.3. Biện hộ/ vận động chính sách  
2.3.1. Ở góc độ bảo vệ quyền cho người nghèo  
2.3.2. Ở góc độ vận động chính sách  
2.3.3. Chu trình vận động chính sách  
BÀI 3. GIÁO DỤC THAY ĐỔI NHẬN THỨC  
I. Các hoạt động giáo dục cộng đồng  
1.1. Tư vấn  
40  
41  
41  
41  
41  
42  
42  
42  
44  
44  
44  
45  
46  
1.1.1. Vai trò của hoạt động tư vấn đối với thay đổi nhận thức  
1.1.2. Cách thức tư vấn  
1.2. Hỗ trợ tâm lý  
1.2.1. Vai trò của hoạt động hỗ trợ tâm lý  
1.2.2. Các bước và một số lưu ý khi hỗ trợ tâm lý  
1.3. Tuyên truyền  
1.3.1. Ý nghĩa của tuyên truyền  
1.3.2. Các phương pháp tuyên truyền  
1.3.3. Các bước thực hiện truyền thông qua các cuộc họp nhóm  
1.3.4. Một số yêu cầu trong truyền thông nhóm  
Bài 4. PHÁT HUY NỘI LỰC CỘNG ĐỒNG  
48  
48  
49  
49  
50  
50  
51  
53  
57  
I. Ý nghĩa của phát huy nội lực cộng đồng  
II. Các hoạt động phát huy nội lực  
2.1. Nhân tố tiềm năng  
2.2. Phát hiện và Xác định nhân tố tiềm năng  
2.3. Xây dựng năng lực cho nhân tố tiềm năng và năng lực cộng đồng  
2.3.1. Hướng dẫn tổ chức tập huấn  
3.3.2. Hỗ trợ phương pháp thúc đẩy sự tham gia bằng thảo luận nhóm  
3.3.3. Phương pháp xây dựng các dự án Phát triển cộng đồng  
Tài liệu tham khảo  
65  
5
BÀI  
VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI VÀ  
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO  
I. KHÁI NIỆM NGHÈO VÀ MỘT Số KHÁI NIỆM LIêN qUAN TỚI  
NGHÈO ĐÓI  
Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là điều khó có thể chấp nhận trong một thế giới văn  
mình có những thành tựu tiến bộ khoa học công nghệ với sự gia tăng đáng kể của  
cải vật chất xã hội. Đói nghèo diễn ra trên tất cả các Châu lục với những mức độ  
khác nhau, đặc biệt ở các nước đang phát triển, đói nghèo đang là một vấn đề nhức  
nhối cần phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong khi thực hiện. Để hình  
thành các giải pháp hiệu quả trong giảm bớt sự nghèo đói, cần thiết có những cách  
hiểu đúng đắn và đồng bộ về những khái niệm liên quan tới đói nghèo.  
1.1 Nghèo  
Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư vẫn còn thiếu ăn, nhưng không đủ bữa,  
mặc không đủ ấm, nhà ở chủ yếu là tranh tre, không có hoặc không đủ các điều  
kiện để phát triển sản xuất, hoặc để tăng thu nhập và đáp ứng các nhu cầu về học  
tập, chữa bệnh cũng như các nhu cầu xã hội khác. Ba khía cạnh chủ yếu của người  
nghèo:  
- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu dành cho con người;  
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư;  
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.1  
1
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), Tài liệu tập huấn cán bộ XĐGN xã, huyện, nxh Lao  
động-Xã hội  
6
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn không  
chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như giáo dục, sức  
khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương. Theo tổ chức này, “Nghèo là khái niệm vượt khỏi  
phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà  
còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả  
năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”.  
1.2. Nghèo đa chiều  
Quan niệm về nghèo đa chiều xuất phát từ việc tiếp cận thỏa mãn các nhu cầu cơ bản  
của con người như ăn, mặc, học hành, khám chữa bệnh, nhà ở...; sự thiếu hụt một hoặc  
một số các nhu cầu đó được coi là nghèo.  
Tiếp cận nghèo đa chiều cần đạt được 3 mục tiêu. Đó là: Đo lường (các chiều nghèo),  
giám sát nghèo và định hướng chính sách, xác định hộ nghèo cũng như xác định đối  
tượng thụ hưởng chính sách. Trong quá trình chuyển đổi phương pháp tiếp cập đo  
lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, chuẩn nghèo đa chiều và chuẩn nghèo chi  
tiêu/thu nhập cần được sử dụng song song.  
Chuẩn nghèo là thước đo, là tiêu chí để xác định đối tượng nghèo hay không nghèo:  
Bên cạnh chuẩn nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu được nhiều quốc gia sử dụng, trong  
đó có Việt Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp của  
nhà nước, hoặc chuẩn nghèo quy ra 1USD hoặc 2 USD (theo sức mua tương đương) là  
cách Ngân hàng thế giới đưa ra nhằm để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc gia,  
chuẩn nghèo đa chiều là xu thế hiện nay người ta thay đổi các tiếp cận về nghèo.  
- Đây chính là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của mỗi con người,  
phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn  
nhất định.  
Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử  
dụng để giám sát, đo lượng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các quốc  
gia, thông qua các chỉ số HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay hiện nay là chi số  
MPI (chỉ số nghèo đa chiều); Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố  
quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những  
tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này  
cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập  
giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp  
độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc  
tế. Cách tiếp cận đa chiều mới trong việc đánh giá mức độ nghèo khổ được điều chỉnh  
để sử dụng ở cấp quốc gia ở Mexico và hiện nay đang được xem xét áp dụng ở Chile và  
Colombia.  
Việc tiếp cận đo lường nghèo đa chiều nhằm mục đích đánh giá một cách toàn diện hơn  
kết quả giảm nghèo của cả nước cũng như từng địa phương, làm cơ sở để ban hành các  
chính sách giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cũng như phân bổ ngân  
sách hợp lý, hiệu quả hơn;  
7
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
Xu hướng đo lường nghèo đa chiều đã được nhiều quốc gia trên thế giới từng bước áp  
dụng (khoảng 20 nước), và được UNDP, WB khuyến cáo các quốc gia nên sử dụng thay  
vì đo lường nghèo đơn chiều2.  
1.3. Người nghèo  
Người nghèo là những người có cuộc sống bấp bênh vì không tiếp cận các điều kiện  
vật chất và dịch vụ để có được một cuộc sống ấm no. Họ thiếu các điều kiện đảm bảo  
các nhu cầu tối thiểu của con người về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành và chăm sóc sức khoẻ;  
tiếp cận với các kết cấu hạ tầng và các nguồn lực xã hội kém; thiếu tự tin và dễ bị tổn  
thương; ít có điều kiện tham gia vào các quyết định của địa phương và tăng trưởng,  
phát triển kinh tế - xã hội. Để xác định người nghèo cần căn cứ vào sổ chứng nhận hộ  
nghèo. Người nghèo là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo dõi quản  
lý hộ nghèo.  
1.4. Hộ nghèo, Xã nghèo và Hộ cận nghèo  
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng ít hơn hoặc bằng  
chuẩn nghèo. Để xác định hộ nghèo còn phải căn cứ vào tình trạng nhà ở và giá trị tài  
sản và phương tiện sản xuất (nhà ở tạm bợ, tài sản không có giá trị, thiếu phương tiện  
sản xuất). Theo đó, xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, được xác định theo  
chuẩn nghèo hiện hành.  
Theo tài liệu tập huấn cán bộ XĐGN xã, huyện (2011), hộ cận nghèo là hộ có mức thu  
nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130%  
chuẩn nghèo.3  
1.5. Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang vùng ven biển và hải đảo  
Là các xã có vị trí ở vùng bãi ngang ven biển hoặc là các xã cồn, bãi, đầm phá, bán đảo,  
hải đảo và có đủ các điều kiện sau:  
- Là các xã nghèo theo tiêu chí xã nghèo do Bộ LĐTBXH quy định tại Quyết định số  
587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/5/2002 và không thuộc xã 135;  
- Còn thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, tuỳ theo điều kiện cụ thể từng  
xã, bao gồm: bờ bao chống triều cường, kè, công trình thuỷ lợi, trạm bơm cấp nước  
biển cho nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, đường ra bến cá, chợ cá4.  
1.6. Chuẩn nghèo quốc gia  
Ở nước ta, qua 6 lần công bố chuẩn nghèo đói tính theo thu nhập bình quân đầu người  
trên cơ sở là gạo hoặc tiền. Lần thứ 6 công bố vào năm 20115 . Thu nhập bình quân/đầu  
người/tháng. 400.000 đồng đối với khu vực nông thôn và 500.000 đồng đối với khu vực  
thành thị. Ngoài chuẩn nghèo trên, khi xác định hộ nghèo cần xem xét thêm về tình  
trạng nhà ở, đồ dùng sinh hoạt; tài sản và phương tiện sản xuất của hộ gia đình.  
3 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), Tài liệu tập huấn cán bộ XĐGN xã, huyện, nxh Lao động-Xã hội  
4 Quyết định số 257/2003/QĐ-TTg ngày 03/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ.  
5 QĐ 09/2011/QĐ-TTg, 30/01/2011, của Thủ tướng chính phủ áp dụng cho CT MTQGGN, giai đoạn  
2011-2015.  
8
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
1.7 Chuẩn nghèo địa phương  
Các tỉnh, thành phố trực thuộc TW có thể nâng chuẩn nghèo cao hơn so với chuẩn  
quốc gia nếu thỏa mãn 3 điều kiện sau đây:  
- Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh/thành phố lớn hơn thu nhập bình quân  
đầu người của quốc gia;  
- Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh/thành phố phải nhỏ hơn tỷ lệ nghèo của cả nước;  
- Tự cân đối được nguồn lực để thực hiện các chế độ chính sách trực tiếp cho người  
nghèo, hộ nghèo, xã nghèo.  
II. NGHÈO ĐÓI, NGUYêN NHâN DẪN ĐẾN NGHÈO ĐÓI VÀ VẤN ĐỀ CủA  
NGƯỜI NGHÈO  
2. 1 Tình hình nghèo đói  
Từ những ngày đầu thành lập nước (9/1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói nghèo là  
một thứ giặc trong ba thứ giặc (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm) và đề ra nhiệm vụ  
phải “diệt”, tức là phải xóa bỏ để ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.  
Tuy nhiên, nền kinh tế của ta chưa phát triển và cùng với nhiều nguyên nhân khác, nước  
ta vẫn còn một số bộ phận dân cư đang phải sống trong tình trạng đói nghèo. Từ năm  
1986, đặc biệt là từ năm 1989 trở lại đây, thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của  
Đảng - Nhà nước, đất nước đã có những chuyển biến tích cực đời sống vật chất cũng  
như tinh thần của nhân dân ta đã được cải thiện đáng kể, đại bộ phận dân cư đã có cuộc  
sống ổn định, nhiều nhu cầu của con người được đáp ứng, nhân dân ta đã không chỉ có  
cơm no, áo mặc mà những nhu cầu về văn hoá tinh thần đã được đáp ứng. Theo số liệu  
điều tra tình trạng giàu nghèo của Tổng cục Thống kê (1993), cả nước có 51,7% gia đình  
tự đánh giá khá lên so với năm 1990; 30,7% gia đình có mức sống cải thiện một số mặt.  
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, vẫn còn một bộ phận dân cư sống trong tình trạng  
nghèo khổ, dưới mức sống trung bình của xã hội trong đó không ít gia đình rơi vào  
hoàn cảnh thiếu đói gay gắt. Đây là vấn đề cần được giải quyết cấp bách, đó không chỉ  
là vấn đề nhân đạo mà còn là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược  
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân  
để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.  
Nhận thức được trách nhiệm đó, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương xoá đói giảm  
nghèo, nhằm động viên sức mạnh toàn Đảng, toàn Dân, tạo điều kiện giúp đỡ các hộ  
nghèo đói vượt qua khó khăn, tự vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo.  
Nghị quyết V của Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa VII) đã nhấn mạnh “Cùng với  
quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực  
hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo quá giới hạn cho phép” Chủ trương  
XĐGN là chủ trương rất đúng đắn và kịp thời của Đảng, Nhà nước, hợp với lòng dân  
nên được các cấp các ngành và toàn dân hưởng ứng thực hiện rộng rãi trong cả nước  
và bước đầu có kết quả. Từ 30% nghèo đói của năm 1991, đã giảm xuống còn 28% năm  
1992 và 22% năm 19936.  
6 Theo chuẩn nghèo: TNBQ/ĐN < 15 kg gạo; điều tra 43/53 tỉnh, thành phố, của BLĐ-TBXH – Tổng cục Thống Kê.  
9
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
Sau đó, Bộ LĐTBXH; Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp - Thực phẩm  
đưa ra chuẩn mực để xác định đói nghèo thời kỳ 1993-1995 (công bố lần thứ I) theo  
chuẩn này, năm 1995 cả nước có: 2.595.518 hộ nghèo, chiếm 18,42% tổng số hộ cả  
nước; 716.184 hộ đói, chiếm 5,08% tổng số hộ cả nước. Theo chuẩn nghèo (lần II) 1996-  
1997, tỷ lệ nghèo đói giảm từ 20,3% cuối năm 1995 xuống 19,2% năm 1996 và 17,7%  
năm 1997.  
Xóa đói giảm nghèo đã trở thành phong trào đều khắp ở các tỉnh, thành phố và hiệu  
quả của XĐGN thể hiện rõ. Song, diện đói nghèo vẫn còn nhiều, nên việc triển khai  
mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa chủ trương này đang là nhiệm vụ vô cùng quan trọng  
của Đảng – Nhà nước ta. Đại hội VIII của Đảng đã xác định “Xóa đói giảm nghèo là một  
trong những chương trình phát triển kinh tế - xã hội vừa cấp bách truớc mắt, vừa cơ bản  
lâu dài”. Nghị quyết nhấn mạnh phải thực hiện tốt chuơng trình XĐGN, nhất là đối với  
vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc. Xây dựng và phát triển quỹ XĐGN  
bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng  
và có hiệu quả. Mục tiêu XĐGN do Đại hội Đảng VIII đề ra là “Giảm tỷ lệ đói nghèo trong  
tổng số hộ cả nước từ 20-25% hiện nay xuống còn khỏang 10% vào năm 2000, bình quân  
giảm 300 ngàn hộ/năm. Trong 2-3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xóa cơ bản hộ  
đói kinh niên”.  
Đại hội đã đưa ra chủ trương xây dựng phong trào XĐGN trở thành Chuơng trình Mục  
tiêu quốc gia XĐGN nhằm nhanh chóng đưa các hộ đói nghèo thoát khỏi hoàn cảnh khó  
khăn, túng thiếu sớm hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước cũng là thực hiện  
cam kết XĐGN tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội tại Cophenhagen  
năm 1995. Chủ trương này đã được cụ thể trong nghị quyết Trung ương IV khóa VIII của  
Đảng ta.  
Thực hiện chủ trương trên, năm 1998 Thủ tướng chính phủ ký Quyết định 133/1998/  
QĐ-TTg 23/7/1998. Phê duyệt CTMTQG XĐGN thời kỳ 1998-2000 (gọi tắt là chương trình  
133); theo chuẩn mực nghèo của thông báo 1751/LĐBTXH, 20/5/97 (Chuẩn nghèo lần III).  
Nhằm làm giảm sự cách biệt giàu-nghèo, nông thôn-thành thị. Thủ tướng chính phủ ký  
Quyết định 135/1998/QĐ-TTg 31/7/1998. Phê duyệt chương trình phát triển KT-XH các  
xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK).  
Với sự chỉ đạo quyết liệt và sự hỗ trợ của chính phủ, sự cố gắng của các cấp các ngành,  
các địa phương, các tầng lớp dân cư và của chính bản thân người nghèo chương trình  
đã từng bước đạt được những mục tiêu đề ra.  
Theo chuẩn nghèo công bố năm 1995, tỷ lệ hộ nghèo đói giảm nhanh từ 19,23% năm  
1996 đến cuối năm 2000 còn 10,0%. Tỷ lệ nghèo đói trung bình mỗi năm giảm 2% (gần  
300.000 hộ). Tổng cộng 5 năm qua giảm 1,5 triệu hộ nghèo tương đương 7,5 triệu người;  
riêng hộ đói kinh niên chiếm tỷ lệ gần 1% tổng số hộ cả nước.  
Phát huy tác dụng mạnh mẽ của chương trình MTQG XĐGN thời kỳ 1998-2000, Thủ  
tướng chính phủ ký QĐ 143/2001/QĐ-TTg, 27/9/2001. Phê duyệt CTMT QG XĐGN và  
Việc làm giai đoạn 2001-2005. Tỷ lệ hộ nghèo từ 10,0% (2000) tăng lên 17,18% (đầu  
2001). Sau 5 năm thực hiện; số hộ nghèo giảm từ 17,18% của năm 2001 xuống còn  
6,53% năm 20057.  
7
Chuẩn nghèo theo QĐ 1143/2000/QĐ-TBXH 1/11/2000.  
10  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
Phát huy tác dụng mạnh mẽ của chương trình MTQG XĐGN thời kỳ 2001-2005. Thủ  
tướng chính phủ ký QĐ 20/2007/QĐ-TTg, ngày 5/02/2007 Phê duyệt Chương trình mục  
tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010. Theo QĐ 170/2005/QĐ-TTg, ngày  
8/7/2005, của Thủ tướng chính phủ) áp dụng cho chương trình mục MTQGGN, giai đoạn  
2006-2010 tỷ lệ hộ nghèo từ 6,53% (2005) tăng lên 22% (đầu năm 2006) và đến cuối  
năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 9,45%.  
Kết thúc chương trình 20, Chính phủ ban hành Nghị quyết 80/NQ-CP, 19/05/2011, về  
Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo từ  
9,45% (2010) tăng lên 14,20% (đầu 2011)8. Cả nước có 15 tỉnh, thành phố tỷ lệ hộ nghèo  
dưới 5%, trong đó có 5 tỉnh, thành phố tỷ lệ hộ nghèo dưới 1% (T/p Hồ Chí Minh; Đà  
Nẵng; Khánh Hòa; Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương); 21 tỉnh từ 5% đến nhỏ hơn 10%; 10  
tỉnh từ 10% đến nhỏ hơn 15%; 10 tỉnh từ 15% đến nhỏ hơn 20%; 04 tỉnh từ 20% đến nhỏ  
hơn 25% và 02 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo trên 25%9.  
Năm 2012, có 2.149.110 hộ nghèo, chiếm 9,6%. Tỷ lệ hộ nghèo phân theo vùng: miền núi  
Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là 28,552%; tiếp đến là miền núi Đông Bắc 17,39%;  
Bắc Trung bộ 15,01%; Tây Nguyên 15%; Duyên hải miền Trung 12,2%; đồng bằng sông  
Cửu Long 9,24%; đồng bằng sông Hồng 4,89%; và Đông Nam bộ vùng có tỷ lệ hộ nghèo  
thấp nhất là, 1,27%. Một số tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: Điện Biên 38,25%; Lai  
Châu 31,82%; Hà Giang 30,13%; Cao Bằng 28,22%; Yên Bái 29,23.  
Kết quả điều tra cũng cho thấy, trên toàn quốc năm 2012 có 1.469.727 hộ cận nghèo,  
chiếm 6,57%. Tỷ lệ hộ cận nghèo phân theo vùng: vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất  
là Bắc Trung bộ 13,04%; vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là Đông Nam bộ 1,08%. Các  
vùng còn lại xếp theo thứ tự tỷ lệ hộ cận nghèo giảm dần là: miền núi Tây Bắc 11,48%;  
Duyên hải miền Trung 9,32%; miền núi Đông Bắc 8,92%; đồng bằng sông Cửu Long  
6,51%; Tây Nguyên 6,19%; đồng bằng sông Hồng 4,58%.  
Trong khi đó, hộ nghèo năm 2013 theo kế quả điều tra của Bộ Lao động - Thương binh  
và Xã hội trên cả nước còn 1.797.889 hộ nghèo (7,8%), giảm 1,8% so với năm 2012, hộ  
cận nghèo là 1.443.183 hộ (6,32%), giảm 0,25% so với năm 2012. Trong đó, miền núi  
Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với 25,86%, tiếp đến là vùng miền núi Đông Bắc  
với 14,81%; Tây Nguyên 12,56%; Bắc Trung Bộ 12,22%; Duyên hải miền Trung 10,15%;  
Đồng Bằng sông Cửu Long 7,41%; Đồng bằng sông Hồng 3,63%; Đông Nam Bộ 0,95%.  
8 địa phương có tỷ lệ hộ nghèo thấp hoặc không còn hộ nghèo là: Thành phố Hồ Chí  
Minh (0%), Bình Dương (0%), Đồng Nai (0,66%), Thành phố Đà Nẵng (0,77%), Bà Rịa –  
Vũng Tàu (0,95%), Hà Nội (1,01%), Tây Ninh (1,67%), Quảng Ninh (2,42%). Tuy nhiên, một  
số tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: Điện Biên (35,22%), Lai Châu (27,22%), Sơn La  
(27,01%), Hà Giang (26,95%), Yên Bái (25,38%), Cao Bằng (24,2%)… Về số hộ cận nghèo,  
vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất là miền núi Tây Bắc (12,92%), tiếp đến là Bắc Trung  
Bộ (12,06%). Vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo thấp nhất là Đông Nam Bộ 1,05%.  
8 QĐ 09/2011/QĐ-TTg, 30/01/2011, Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn  
2011–2015.  
9 Báo cáo CTMTQGGN giai đoạn 2006-2010, 31/3/2010 - Cục BTXH  
11  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
So sánh với năm 2013, kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2013 tại 64  
huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP cho thấy còn có những huyện có tỷ lệ  
hộ nghèo cao trên 60% như: Trạm Tấu, Mù Cang Chải (Yên Bái); Kỳ Sơn (Nghệ An); Nam  
Trà My (Quảng Nam), Tây Trà (Quảng Ngãi)…Từ những nỗ lực của Chính phủ và các địa  
phương đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 1,8-2%; riêng tỷ lệ hộ nghèo  
ở các huyện nghèo giảm bình quân 5% năm. Theo dự doán, đến hết năm 2015, tỷ lệ hộ  
nghèo chung cả nước sẽ hạ xuống dưới 5%, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.  
2.2. Nguyên nhân nghèo đói  
Đói nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội, nó vừa là hậu quả do lịch sử để lại như hậu quả của  
các cuộc chiến tranh, chế độ thực dân… vừa là hệ quả của phát triển, như sự phân tầng  
xã hội, phân hóa giàu nghèo, của các thảm họa thiên nhiên, các nạn đại dịch mang tính  
toàn cầu.  
Nguyên nhân đói nghèo rất đa dạng, có những nguyên nhân đơn lẻ, nhưng cũng có  
những đan xen, quan hệ nhân quả với nhau. Ở nước ta, nghèo đói do các nguyên nhân  
chủ yếu sau:  
2.2.1 Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội  
Việt Nam ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp biển Đông, là quốc gia gồm 1 trong  
5 ổ bão trên thế giới, cho nên hàng năm có hàng chục cơn bão trong đó có 2-3 cơn bão  
mạnh, lũ lụt, hạn hán, thời tiết thay đổi… gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản, hoa  
màu, cơ sở hạ tầng. Mặt khác, Việt Nam có ¾ diện tích là đồi núi; Đất đai cằn cổi diện tích  
canh tác thấp; Địa dư rộng, địa hình phức tạp, xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại không  
thuận tiện, quan hệ thị trường chưa phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, thời tiết khí hậu  
khắc nghiệt thường bị thiên tai bão lụt, sâu bệnh, hạn hán mất mùa…  
Trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tệ nạn xã hội diễn biến phức  
tạp, tỉ lệ tăng dân số còn cao; Do sự cách biệt, cô lập với tình hình phát triển chung như  
đường giao thông, phương tiện thông tin, tiến bộ khoa học kỹ thuật, phúc lợi xã hội,  
không nói được ngôn ngữ chung của đất nước…  
2.2.2. Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách  
Trải qua thời gian dài trong cơ chế bao cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế; vì vậy, việc  
xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường là đúng đắn, kịp thời. Song cơ chế  
mới, nhiều chính sách về kinh tế xã hội còn thiếu, chưa đồng bộ, trong đó chính sách  
đầu tư phát triển đặc biệt là đầu tư phát triển nông nghiệp - nông thôn; Các chính sách  
ưu đãi, khuyến khích, sản xuất, tạo việc làm, y tế, văn hoá, giáo dục; Chính sách đầu tư cơ  
sở hạ tầng chưa thỏa đáng, nhất là ở các vùng núi, vùng cao, vùng sâu…  
2.2.3. Nguyên nhân do bản thân người nghèo  
Ngoài những tác động trên, vấn đề nghèo đói còn do yếu tố chủ quan của người nghèo  
như:  
Thiếu vốn; thiếu kiến thức; thiếu thông tin về thị trường; thiếu đất; đông con, thiếu lao  
động; thất nghiệp; rủi ro, ốm đau, tai nạn; vướng vào tệ nạn xã hội.  
12  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
Một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào  
sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo.  
Các nguyên nhân trên tác động qua lại lẫn nhau làm cho tình trạng nghèo đói trong  
từng vùng thêm trầm trọng, gay gắt…  
2.3. Vấn đề của người nghèo  
Xét từ nguyên nhân dẫn đến nghèo đói và thực trạng về cuộc sống của người nghèo,  
người nghèo gặp vô số vấn đề. Tuy nhiên, nhóm lại, có thể thấy, có một số vấn đề chính  
ở người nghèo cần được quan tâm để trợ giúp họ một cách hiệu quả. Đó là:  
- Hạn chế trong tiếp cận nguồn lực, dịch vụ, chương trình và các chính sách  
- Hạn chế về vấn đề nhận thức  
- Thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để đối phó với những rủi ro trong cuộc sống  
cá nhân, gia đình và cộng đồng, để thích ứng kịp với sự phát triển của cộng đồng  
và xã hội.  
III. CÁC CHÍNH SÁCH Hỗ TRỢ GIẢM NGHÈO  
Để trợ giúp người nghèo vượt qua những khó khăn trước mắt, Nhà nước đã đưa ra một  
loạt các chính sách thuộc các lĩnh vực an sinh như: chính sách trợ cấp xã hội, hỗ trợ y tế,  
chính sách hỗ trợ giáo dục, hỗ trợ hỗ trợ học nghề, chính sách ưu đãi chính sách hỗ trợ  
đát ở, sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường, chính sách hỗ trợ  
người nghèo làm ăn khuyến nông, lâm ngư và hỗ trợ sản xuất phát triển ngành nghề,  
ngoài ra có những chính sách dành riêng cho 62 huyện nghèo và các dịch vụ xã hội.  
3.1. Chính sách trợ cấp xã hội  
- Chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên cho trẻ em mồ côi; người cao tuổi cô đơn,  
thuộc hộ gia đình nghèo;  
- Chính sách trợ giúp đột xuất: Những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả  
thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác gây ra. Ngoài khoản trợ cấp nêu  
trên, nếu hộ gia đình thuộc diện nghèo sẽ được xem xét trợ giúp thêm các khoản  
sau cho đến khi hộ thoát khỏi diện nghèo: Miễn, giảm học phí cho người đang học  
văn hoá, học nghề; được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc khám chữa bệnh miễn phí tại  
các cơ sở chữa bệnh của Nhà nước; được vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.  
3.2. Chính sách hỗ trợ về y tế  
Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-TC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế - Tài chính  
hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế. Theo quy định thì các đối tượng: (i) người thuộc  
diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng là các đối tượng quy định tại Nghị định số  
67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ với những sửa đổi vào ngày 27/2/2010  
hướng dẫn về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; (ii) người thuộc hộ gia  
đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội  
khó khăn, đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và trẻ em mồ côi,  
trẻ em bị bỏ rơi được gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng quy định tại khoản 7 Điều 4  
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và trẻ em là con của người đơn thân. (iii) người thuộc hộ  
gia đình cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; (iv) Trẻ em dưới 6 tuổi,  
13  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
được Nhà nước hỗ trợ kinh phí mua thẻ BHYT và được hưởng các chế hộ về chăm sóc y  
tế theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế, Trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường;  
riêng người nhiễm HIV/AIDS được hỗ trợ điều trị nhiễm trùng cơ hội mức 250.000 đồng/  
người/năm;”  
3.3. Chính sách hỗ trợ giáo dục  
- Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc  
thu và sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống  
GD-ĐT quốc dân và Thông tư hướng dẫn 54/1998/TTLT Bộ GD&ĐT và Bộ Tài chính  
ngày 31/8/1998 hướng dẫn thực hiện thu, chi và quản lý học phí ở các cở sở giáo  
dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống GD&ĐT quốc dân quy định giảm 50% học  
phí cho học sinh, sinh viên là con hộ nghèo (riêng học sinh tiểu học được miễn học  
phí theo Luật giáo dục).  
- QĐ số 1121/1997/QĐ-TTg ngày 23/12/1997 của TTg về học bổng và trợ cấp xã hội  
với học sinh, sinh viên các trường thuộc đào tạo công lập.  
- Thông tư số 53/1998/TTLT/Bộ GD&ĐT - Bộ Tài chính và Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn  
thực hiện chế độ học bổng và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên các trường  
đào tạo công lập, quy định học sinh sinh viên con hộ nghèo hưởng mức trợ cấp xã  
hội và được hưởng học bổng khuyến khích.  
- Quyết định 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín  
dụng đối với học sinh, sinh viên quy định học sinh, sinh viên con em hộ cận nghèo  
được vay vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội.  
- Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn,  
giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở  
giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010- 2011 đến năm học  
2014 - 2015. Theo đó, học sinh, sinh viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và  
giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ có thu nhập tối  
đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được miễm giảm học phí.  
- Ngoài các chính sách trên, học sinh con em hộ nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội  
được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác, được cấp sách giáo khoa và  
học phẩm theo Nghị định 88/2001/NĐ-CP ngày 22/11/2001 của Chính phủ về phổ  
cập giáo dục Trung học cơ sở.  
3.4. Chính sách hỗ trợ học nghề  
- Thông tư số 102/2007/TTLT/BTC-Bộ LĐTBXH ngày 20/8/2007 của liên bộ Tài chính-  
Bộ LĐ-TBXH hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với một số dự án của chương  
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo.  
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt  
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Theo đó, lao động  
nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng,  
hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác được  
hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn.  
14  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
3.5. Chính sách tín dụng ưu đãi  
- Đối tượng của chính sách là hộ nghèo, người nghèo, người sản xuất kinh doanh ở  
những xã khó khăn, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.  
- Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tín  
dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác.  
- Nội dung chính sách cho vay ưu đãi theo hình thức tín chấp, mức vay được điều  
chỉnh qua từng thời điểm từ 3 triệu đồng/hộ lên mức 7 triệu và 10 triệu đồng/hộ  
và lãi suất ở mức 0,5% và 0,6%, đồng thời giảm 15% ở khu vực III.  
- QĐ 62/2004/QĐ/TTg, 16/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng về cấp nước  
sạch vệ sinh môi trường cho hộ nghèo, xã miền núi, xã đặc biệt khó khăn.  
- Quyết định số 31/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín  
dụng đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn (cấp xã) được quy  
định tại QĐ số 30/2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ.  
- Quyết định số 32/2007/ QĐ/TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về cho  
vay vốn sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn có mức  
thu nhập bằng <50% mức thu nhập bình quân hộ nghèo có phương án sản xuất.  
3.6. Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở, nước sạch, vệ  
sinh môi trường  
- Quyết định số 134/2004/ QĐ/TTg ngày 29/7/ 2004 của Thủ tướng Chính phủ về  
một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng  
bào dân tộc thiểu số đời sống khó khăn.  
- QĐ số 146/2005/QĐ/TT, 15/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thu hồi  
đất sản xuất của các nông, lâm trường để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số  
nghèo. QĐ số 07/2007/QĐ-TTg, 4/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi bổ  
sung một số điều của Quyết định 146/2005/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về  
tín dụng.  
- Quyết định số 74/2008/QĐ/TTg ngày 9/6/2008 về một số chính sách hỗ trợ đất ở,  
đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đời sống  
khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008-2010.  
- Quyết định số 167/2008/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 12/12/ 2008 về  
chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở .  
- QĐ số 112/2007/QĐ/TTg, 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ  
các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân thuộc CT 135 giai đoạn II.  
3.7. Chính sách hỗ trợ người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, lâm ngư và hỗ trợ  
sản xuất phát triển ngành nghề  
- Thông tư số 01/2007/TT/BNN ngày 15/01/2007của Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn hướng dẫn thực hiện dự án và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn  
nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc và miền núi thuộc chương  
trình 135 giai đoạn II 2006-2010 và Thông tư số 79/2007/TT/BNN ngày 20/9/2007  
bổ sung một số nội dung Thông tư 01/2007, quy định hộ nghèo được hỗ trợ.  
15  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
- Thông tư liên tịch số 102/2007/ TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 20/8/2007 của Bộ Tài  
chính và Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính  
đối với một số dự án của chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, trong đó quy  
định hộ nghèo, người nghèo được hỗ trợ.  
- QĐ 74/2008/QĐ/TTg, 9/6/2008, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vùng đồng  
bằng sông Cửu Long, không có đất sản xuất muốn chuyển đổi nghề, tạo việc làm.  
- Ngoài chính sách riêng đối với người nghèo, hộ nghèo còn được hưởng một số  
chính sách chung về phát triển kinh tế, chuyển đổi ngành nghề theo Nghị định  
66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông  
thôn.  
3.8. Chính sách đối với 62 huyện nghèo  
- Đối với các huyện có tỷ lệ nghèo cao trên 50%, Chính phủ đã có Nghị quyết số  
30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và  
bền vững, trong đó quy định cơ chế, chính sách, giải pháp đặc thù đối với các  
huyện nghèo về hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chính sách giáo dục,  
đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo và  
các chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở thôn, bản, xã và huyện.  
3.9. Dịch vụ xã hội  
Ngoài các chính sách, Nhà nước còn thúc đẩy một loạt các dịch vụ xã hội nhằm giúp các  
công dân trong xã hội có thể xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn bằng sự độc lập về kinh  
tế, sự khẳng định quyền con người được hòa nhập và tham gia vào thị trường lao động  
cũng như các hoạt động cộng đồng, xã hội. Các DVXH phổ biến là là hoạt động đáp ứng  
nhu cầu của cá nhân và cộng đồng để nâng cao năng lực có việc làm và khả năng hội  
nhập xã hội nhằm đảm bảo các giá trị chuẩn mực xã hội được thừa nhận.  
Dịch vụ xã hội bao gồm: (i) chính sách hội nhập xã hội (hỗ trợ giáo dục, y tế …); (ii) dịch  
vụ dân sinh tại cộng đồng (tiếp cận nước sạch, điện, đào tạo nghề, cơ hội việc làm tại địa  
phương, …); (iii) các chương trình trợ giúp xã hội.  
IV. MÔ HÌNH GIẢM NGHÈO VÀ VAI TRò CủA NHâN VIêN XÃ HỘI  
4.1. Một số mô hình giảm nghèo trên Thế giới  
4.1.1. Các mô hình giảm nghèo tại Mỹ  
Trong năm 2010, có tới 15,1% dân số sống trong nghèo đói. Tỷ lệ hộ nghèo trong năm  
2010 là tỷ lệ hộ nghèo cao nhất kể từ năm 1993. Từ 1993 đến năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo  
hàng năm đều giảm, đạt 11,3% vào năm 2000.  
Nghèo đói là một trong những thực tế không thể chối cãi của đời sống Mỹ. Gần như tất  
cả mọi người đều thấy rằng với một đất nước giàu có như Hoa Kỳ, điều này đặt ra một  
thách thức đặc biệt là đối với những trường hợp trẻ em sống trong nghèo đói. Xã hội Mỹ  
được xác nhận là một nền đạo đức mang tính chủ nghĩa cá nhân mạnh mẽ, trong đó mọi  
người phải chịu trách nhiệm cho phúc lợi của riêng mình. Và vì thế, nhiều người có thể  
cảm thấy rằng phân phối lại giàu nghèo là vi phạm quyền lợi của người dân, vì họ được  
phép làm những gì họ thích với tài sản riêng của họ. Tuy nhiên, điều này vẫn có vẻ bất  
công (ngay cả đối với những người ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân) khi mà nhiều  
16  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
trẻ em phải chịu sự đói nghèo kế thừa từ cha mẹ của chúng, như vậy rõ ràng chúng  
không đáng phải chịu trách nhiệm cho hoàn cảnh của mình, vì vậy hầu hết mọi người  
đều tin rằng cần phải có điều gì đó được thực hiện để thay đổi vấn đề đó.  
Trước những năm 60 của thế kỷ trước, chương trình quan trọng nhất được thực hiện để  
xóa đói giảm nghèo ở Hoa Kỳ là hưu trí, cung cấp thông qua an sinh xã hội. An sinh xã  
hội là một chương trình đạt nhiều thành công. Khởi đầu rất khiêm tốn trong năm 1930  
như là một trong những cải cách của New Deal, đến cuối thế kỷ 20, đã gần như loại bỏ  
đói nghèo ở người cao tuổi, đặc biệt là sau khi chương trình chăm sóc y tế cho người  
cao tuổi được bổ sung vào những năm 60. Cũng có một số chương trình hướng đến trẻ  
em, nhưng bị ảnh hưởng xấu bởi nguồn tài trợ hoặc các tiêu chuẩn đặt ra, hiển nhiên  
là không đi đến thành công.  
Vào những năm 60, một phần của chương trình nghiên cứu “Bức tranh toàn cảnh xã  
hội” (“Great Society”) đã có những nỗ lực để giải quyết vấn đề nghèo đói. Lyndon  
Johnson tuyên bố một “cuộc chiến chống đói nghèo” và đưa ra một loạt các sáng kiến  
mới. Điều quan trọng nhất trong số này được gọi là“Viện trợ cho những gia đình có trẻ  
em lệ thuộc”. Chương trình này khi kết hợp với cung cấp tem phiếu thực phẩm, trợ giúp  
y tế và các loại trợ cấp về nhà ở đã có một tác động tích cực về tiêu chuẩn sống của trẻ  
em nghèo, ngay cả khi nó không giúp loại bỏ được sự nghèo đói triệt để. Đây là chương  
trình đã được biết đến dưới cái tên “Phúc lợi”.  
Những lý lẽ họ đưa ra khá đơn giản: bằng cách chu cấp cho người nghèo như một sự  
“bố thí”, các chương trình phúc lợi tạo ra sự lệ thuộc hơn là quyền tự chủ và tự gánh  
trách nhiệm. AFDC chu cấp cho phụ nữ độc thân với việc khuyến khích họ có con ngoài  
hôn nhân để có được các khoản thanh toán phúc lợi, và do đó hệ thống cũng làm suy  
yếu gia đình. Từ lý do không đặt điều kiện về sự giới hạn thời gian và công việc, AFDC  
tạo ra một nền văn hóa thụ động và vô trách nhiệm.  
Và trên hết, phe bảo thủ lập luận, phúc lợi tạo ra kẽ hở cho (người nghèo) gian lận,  
giống như tặng những chiếc Cadilac cho “những nữ hoàng phúc lợi” để họ sống tốt  
hơn nhiều so với các công chức ăn lương làm việc chăm chỉ. Nhiều người (thuộc đảng)  
tự do cũng không hài lòng với chương trình. Một số chương trình quá chặt chẽ và vẫn  
còn trẻ em trong cảnh nghèo đói. Những người khác cảm thấy rằng cấu trúc cụ thể của  
chương trình này có tác dụng tiêu cực mà họ gọi là “bẫy nghèo”: Chỉ dành cho những  
người có thu nhập dưới mức quy định đủ điều kiện được nhận các chương trình phúc  
lợi, và như thế bạn sẽ bị mất quyền lợi của mình nếu như bạn có được thu nhập trên  
ngưỡng đó, các chương trình không tạo ra sự khuyến khích mọi người cố gắng nâng  
cao thu nhập từ việc làm.  
Nắm bắt được điều này, các nhà hoạch định chính sách ở Mỹ đã đưa ra 1 loạt chương  
trình, cùng sự hỗ trợ của những nhân viên CTXH chuyên nghiệp, nhằm khuyến khích  
và thúc đẩy người nghèo năng động hơn trong tiến trình giảm nghèo. Cụ thể là nếu họ  
không tiếp cận các dịch vụ giới thiệu việc làm và không làm việc thì họ sẽ không nhận  
được tiền trợ cấp (trừ những trường hợp người nghèo không còn khả năng lao động).  
Như vậy ít nhất người nghèo cũng phải kiếm được một công việc được trả lương hơn  
là ăn không ngồi rồi. Và họ sẽ chủ động hơn cũng như làm giảm được gánh nặng cho  
Nhà nước.  
17  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
4.1.2. Mô hình giảm nghèo tại Ấn độ  
Chính phủ Ấn Độ cung cấp một mô hình mới bao gồm kế hoạch phát triển thành phố  
và xây dựng chính sách cộng đồng, dựa vào cách giải quyết những vấn đề có liên quan.  
Đây là điều quan trọng giúp các thành phố đặt ra những thể chế nhằm đáp ứng tốt yêu  
cầu quản lý đô thị.  
Đây là điều cần thiết giúp chính quyền đô thị chuyển dịch các chính sách quốc gia và  
các chương trình thành hành động cụ thể. Một trong những biện pháp cần thiết giúp  
xóa đói giảm nghèo bền vững là phân cấp và xây dựng năng lực ở cấp địa phương trực  
thuộc Trung ương. Xoá đói giảm nghèo đòi hỏi thay đổi quan điểm và phát triển kỹ năng  
ở cả các quan chức chính phủ cũng như các quan chức ở địa phương trực thuộc Trung  
ương. Họ cần phải coi người nghèo là đối tác của họ, chứ không phải “cai trị”.  
Vai trò của cán bộ thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo  
ra các cơ chế hỗ trợ ở cấp địa phương. Các kỹ năng có tính chất kỹ thuật và quản lý cần  
phải được tăng cường. Các thành phố và chính quyền đô thị có vai trò lớn trong việc tạo  
ra sự khác biệt đối với các Mục tiêu thiên niên kỷ (từ mục 1 đến mục 7): Về dịch vụ giáo  
dục và y tế, bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện sống của cư dân khu ổ chuột, cũng  
như cung cấp một biện pháp quản trị mạnh mẽ hỗ trợ thực hiện các Mục tiêu Phát triển  
Thiên niên kỷ cho từng vùng thông qua quy hoạch, quy trình chiến lược, và sự tham gia  
của cộng đồng địa phương.  
Theo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 8, các mối quan hệ cộng đồng, chính quyền địa  
phương, quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, Liên Hợp Quốc và các tổ chức của họ sẽ  
thúc đẩy việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ở cấp địa phương, củng  
cố sự liên kết giữa chính quyền cấp quốc gia và chính quyền địa phương, tăng cường tư  
bản tư nhân và tăng cường quản lý nhà nước cho người nghèo. Hai yếu tố này có vai trò  
cực kỳ quan trọng để địa phương phân cấp và quản lý đô thị tốt.  
Phân cấp dân chủ địa phương là phương pháp quan trọng giúp nâng cao tiến trình dân  
chủ. Các chính quyền địa phương phải có thiện chí chính trị và khả năng hành chính để  
thực hiện các nguyên tắc quản trị tốt trong từng trường hợp cụ thể, minh bạch trách  
nhiệm của họ, và có sự tham gia của công dân trong việc ra quyết định. Vì vậy, chìa khóa  
cần thiết cho xóa đói giảm nghèo bền vững là phân cấp và xây dựng năng lực ở cấp địa  
phương trực thuộc Trung ương, đây là điều rất quan trọng giúp thành phố đưa ra cơ cấu  
tổ chức đáp ứng yêu cầu quản lý đô thị tốt  
4.1.3. Mô hình giảm nghèo tại HongKong  
Chuyển sang bối cảnh là một địa phương (trực thuộc Trung Quốc), Hồng Kông là một  
thành phố hiện đại có kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Hiện nay, các chỉ số  
kinh tế của thành phố cho thấy một nền kinh tế mạnh mẽ với tiêu chuẩn sống cao. (Li,  
2006) Tuy nhiên, trong bối cảnh này, sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo  
cũng ngày càng rộng hơn. Dân số thuộc diện nghèo tăng cao và các tiêu chuẩn sống  
của người nghèo thì tiếp tục xấu đi (ATV, 2005). Dựa trên dữ liệu thống kê điều tra dân  
số và nghiên cứu của Chính phủ cùng các tổ chức phi chính phủ, tình trạng đô thị nghèo  
ở Hồng Kông xấu đi, và cần nhanh chóng có biện pháp để giải quyết những vấn đề này  
thông qua các đánh giá và cải tiến những chính sách hiện hành.  
Các biện pháp giảm nghèo của Chính phủ từ lâu đã được gắn liền với chính sách xã hội,  
cung cấp một mạng lưới an ninh an toàn xã hội, cung cấp hỗ trợ tài chính và thúc đẩy sự  
18  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
linh hoạt xã hội lớn hơn cho người nghèo. Tuy nhiên, bất chấp những biện pháp này,  
tình trạng nghèo đói vẫn liên tục diễn biến xấu. Năm 2000, lo ngại bởi sức ép mạnh mẽ  
từ xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử Hồng Kông, Chính phủ Hong Kong (HKG) công bố  
công khai rằng thành phố đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng đói nghèo.  
Năm 2007, một báo cáo nghiên cứu của Ủy ban nghèo đói (RCoP), đã phân tích tình  
trạng nghèo đói và chỉ ra rằng (Chính phủ) đang thiếu các biện pháp chính sách để  
khắc phục hậu quả. Một danh sách kiến nghị đã được đề xuất để Chính phủ xem xét  
xây dựng các chính sách mới cho xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn còn  
phải trải qua một quá trình thảo luận kỹ càng để xác định tính khả thi, lập kế hoạch và  
thực hiện các biện pháp đã được đề xuất. Ủy ban nghèo đói phản ánh thực tế rằng có  
một cuộc khủng hoảng đói nghèo, và mới chỉ gần đây vẫn là mối đe dọa nghiêm trọng  
đối với chính phủ.  
Với tình trạng trên, chính phủ đã thành lập Ủy ban về đói nghèo (CoP), bao gồm đại  
diện từ tất cả các lĩnh vực trong xã hội, để tiến hành một cuộc nghiên cứu nhằm tìm  
hiểu tình trạng đói nghèo và cung cấp các giải pháp làm thế nào để giải quyết cuộc  
khủng hoảng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc xóa đói giảm nghèo cần tăng cường năng  
lực và có sự tham gia, hợp tác của những cán bộ ở cấp độ địa phương thuộc những ban  
ngành khác nhau để đối phó với những vấn đề nghèo đa dạng. Sau khi ứng dụng cách  
tiếp cận này thì đã có những tín hiệu tích cực trong lĩnh vực giảm nghèo.  
4.1.4. Mô hình giảm nghèo tại Brazin và Mexico  
Brazil đã trở thành nước bình đẳng nhất thế giới về thu nhập. Tuy nhiên ngày nay,  
mức độ bình đẳng này đã giảm nhanh hơn bất kì quốc gia nào khác. Từ năm 2003 –  
2009, thu nhập của người nghèo ở Brazil đã tăng 7 lần, bằng với thu nhập của người  
giàu trong nước. Trong thời gian này, tỉ lệ giảm đói đã giảm mạnh, từ mức 22% dân số  
xuống còn 7%. Khác với Mỹ, từ năm 1980 – 2005, hơn 4/5 thu nhập tăng thêm của cả  
nước đổ vào túi của 1% người giàu. Những người công nhân nghèo và trung lưu ở Mỹ  
sản xuất ra càng ngày càng nhiều của cải, nhưng thu nhập của họ không tỉ lệ thuận  
với điều đó. Nếu các xu hướng này tiếp tục, Mỹ sẽ trở thành nước bất bình đẳng về thu  
nhập hơn cả Brazil. Phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đói nghèo. Nhờ đâu mà Brazil đạt được  
kết quả như vậy? Có nhiều nhân tố góp phần tạo ra thành quả đáng kinh ngạc này.  
Nhưng một phần lớn là nhờ một chương trình xã hội duy nhất hiện đang làm thay đổi  
cách các nước trên thế giới giúp đỡ người nghèo. Chương trình đó tại Brazil mang tên  
Bolsa Familia (tạm dịch là đại gai đình),và có thể mang nhiều tên gọi khác. Ở Mexico,  
khi chương trình đầu được phổ biến rộng rãi ra toàn quốc và đạt kết quả tương tự như  
Brazil trong xóa đói giảm nghèo, người ta đã đặt cho nó cái tên là Opportunities (tức  
là Cơ Hội). Đặc điểm chung của chương trình này là chuyển giao tiền mặt cho người  
nghèo một cách có điều kiện. Các hộ gia đình nghèo được vay tiền định kỳ nếu họ đạt  
được một số tiêu chí. Ví dụ họ phải đảm bảo cho con đi học và khám sức khỏe thường  
xuyên, các bà mẹ phải tham gia các buổi thảo luận về các chủ đề như dinh dưỡng và  
phòng chống dịch bệnh. Thường thì phụ nữ là người đứng ra vay tiền bởi họ hầu như là  
người luôn chi trả các khoản tiền trong gia đình. Ý tưởng của chương trình này là chống  
đói nghèo hôm nay trong khi phá vỡ cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói vào ngày mai.  
Tại Mexico, chương trình Opportunidades ngày nay đáp ứng cho 5,8 triệu hộ gia đình,  
khoảng 30% dân số nước này. Một gia đình tham gia chương trình Opportunidades có  
một con đang học tiểu học và trung học sẽ đáp ứng đủ điều kiện để nhận khoản trợ  
cấp tổng cộng 123 USD/ tháng. Các học sinh cũng có thể nhận tiền học bổng do nhà  
19  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO  
trường và những em kết thúc bậc trung học đúng thời gian sẽ được trợ cấp một lần là  
330 USD.  
Bolsa Familia, với những tiêu chí đòi hỏi tương tự nhưng là chương trình quy mô hơn  
nhiều. Các chương trình cho vay có điều kiện đã bắt đầu trước thời tổng thống Luiz  
Inacio Lula da Silva, nhưng ông đã củng cố nhiều chương trình khác nhau và mở rộng  
chúng. Đến nay, khoảng 50 triệu hộ gia đình ở Brazil, chiếm ¼ dân số, đã được tham  
gia chương trình này. Các gia đình nghèo được hưởng mức trợ cấp hàng tháng khoảng  
12 USD cho mỗi con nhỏ dưới 15 tháng tuổi đang đi học, tối đa ba con. Và có thể nhận  
thêm 19 USD/ tháng cho mỗi con 16 – 17 tuổi đang đi học, tối đa 2 con. Ngoài ra những  
gia đình nào đang sống trong ngưỡng cực nghèo được nhận một khoản tiền là 40 USD  
mà không cần điều kiện khác. Có thể tổng của các khoản tiền này là nhỏ, nhưng một gia  
đình đang sống trong cảnh cực nghèo ở Brazil được nhân đôi thu nhập khi đạt tới mức  
cơ bản. Rõ ràng, Bolsa Fmilia đã giúp giảm tỉ lệ nghèo đói tại Brazil.  
Chương trình này đã giảm nghèo đói theo hai hướng. Một là: trực tiếp đưa tiền cho  
người nghèo. Việc này phải vận hành tốt và đảm bảo tiền không bị đánh cắp hoặc lạm  
dụng. Brazil và Mexico đã rất thành công trong việc chỉ cho các đối tượng nghèo tham  
gia. Tại hai quốc gia này, tình trạng nghèo đói đã giảm hẳn, đặc biệt là những người cực  
nghèo, và đang bắt đầu thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo. Mục đích khác của chương  
trình là đảm bảo cho trẻ em được giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Đây là mục đích dài  
hạn hơn và cũng khó đong đếm được. Tuy nhiên có thể thấy các chương trình cho người  
nghèo vay có điều kiện ở Mexico và Brazil giúp người ta khỏe hơn, và đảm bảo trẻ em  
được đến trường. Ngày nay tại Mexico, tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu và còi cọc  
đã giảm mạnh, thể hiện ở tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ em và người lớn. Tỷ lệ chết trong bào thai  
hoặc sơ sinh cũng giảm. Trong khi đó, biện pháp ngừa thai ở khu vực nông thôn đã được  
tăng cường, tỷ lệ trẻ vị thành niên mang thai ngoài ý muốn giảm hẳn. Nhưng hiệu quả  
lớn nhất có thể nhìn thấy được là giáo dục. Trẻ em tham gia Opportunidades bị đúp ít  
hơn và được đi học nhiều hơn. Số lao động trẻ em cũng giảm. Tại các khu vực nông thôn,  
tỷ lệ trẻ em bước vào bậc trung học cơ sở tăng 42%. Đăng kí vào các trường cấp ba ở  
nông thôn tăng tới 85%.Các tác động mạnh nhất trong giáo dục có thể thấy rõ trong các  
gia đình mà người mẹ chỉ được học để biết chữ. Đặc biệt người thổ dân bản địa Mexico  
có những lợi ích đặc biệt khi đi học. Một lợi ích khác của chương trình cho người nghèo  
vay tiền đối với toàn xã hội, đó là giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bởi người được thụ  
hưởng đều phải tiêu tiền, họ dùng số tiền đó để mua cái mà người hàng xóm nghèo của  
họ làm ra và bán. Họ cũng sử dụng chúng như một dạng tín dụng nhỏ để khởi công sự  
nghiệp kinh doanh của mình.  
4.2. Một số mô hình giảm nghèo ở Việt Nam  
Được Ngân hàng Thế giới đánh giá là một trong những nước có nhiều thành tựu trong  
lĩnh vực giảm nghèo, Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều mô hình giảm nghèo bao gồm  
nhiều các dịch vụ công tác xã hội. Mô hình xoá đói giảm nghèo tại Việt Nam được khái  
quát theo các nhóm chủ yếu như sau:  
- Mô hình phát triển kinh tế hộ từ mục tiêu tạo việc làm tăng thu nhập, an ninh  
lương thực XĐGN đến phát triển sản xuất theo hệ sinh thái (VAC, VACR... mang tính  
sản xuất hàng hóa)  
- Mô hình kinh tế trang trại phát triển theo hệ sinh thái trên cơ sở phát triển theo thế  
mạnh sản phẩm hàng hóa đã được xây dựng và ngày càng phát triển, tạo ra những  
vùng chuyên canh, sản phẩm hàng hóa đặc sản, truyền thống.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 65 trang baolam 20560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu hướng dẫn thực hành (Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở): Công tác xã hội với người nghèo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_thuc_hanh_danh_cho_can_bo_xa_hoi_cap_co_s.pdf