Một số biến đổi trong hôn nhân của người Brâu hiện nay
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021
83
MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN
CỦA NGƯỜI BRÂU HIỆN NAY
ĐINH NHƯ HOÀI*
Brâu là một trong 16 tộc người có dân số ít nhất ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn
ngữ Môn-Khơ me, sinh sống chủ yếu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi,
tỉnh Kon Tum. Trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, phát triển kinh tế - xã
hội, quan hệ hôn nhân của người Brâu cũng có nhiều thay đổi. Bài viết tìm hiểu
thực trạng biến đổi trong hôn nhân của người Brâu thể hiện qua một số quan
niệm về hôn nhân, tiêu chuẩn chọn vợ (chồng), hình thức tìm hiểu nhau trước
khi kết hôn và độ tuổi kết hôn.
Từ khóa: biến đổi, quan hệ hôn nhân, người Brâu
Nhận bài ngày: 07/7/2021; đưa vào biên tập: 20/7/2021; phản biện: 07/8/2021;
duyệt đăng: 12/10/2021
bàn. Người Brâu đứng trước cả cơ
hội lẫn thách thức để phát triển kinh tế
- xã hội và bảo tồn, phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống, trong đó có
quan hệ hôn nhân và gia đình. Nghiên
cứu hôn nhân người Brâu có nhiều ý
nghĩa về khoa học và thực tiễn, góp
phần tìm hiểu về tộc người, quan hệ
tộc người ở vùng biên giới trong quá
trình phát triển.
1. DẪN NHẬP
Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở
được Tổng cục Thống kê công bố
ngày 1/2019, dân số Brâu của cả
nước là 525 người, hiện cư trú tập
trung tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện
Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Khu vực này
cách Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y 10km
và cách thành phố Kon Tum gần
100km.
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu
tìm hiểu một số biến đổi trong quan hệ
tiền hôn nhân của người Brâu, cụ thể
là một số quan niệm về hôn nhân, tiêu
chuẩn chọn vợ (chồng), hình thức tìm
hiểu vợ (chồng) trước hôn nhân và
tuổi kết hôn.
Từ năm 2005, Khu kinh tế Cửa khẩu
Quốc tế Bờ Y được xây dựng, khu
vực sinh sống của tộc người Brâu từ
một vùng rừng núi hoang vu đã trở
thành khu kinh tế thương mại với tốc
độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng.
Điều này đã tác động trực tiếp đến đời
sống của cộng đồng người Brâu nói
riêng và các tộc người khác trong địa
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm sử dụng
Thông qua các chiều cạnh tiếp cận
khác nhau có nhiều quan niệm về hôn
* Học viện Chính trị khu vực III.
84
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…
nhân. Trong Nguồn gốc của gia đình, giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”
của chế độ tư hữu và của nhà nước, (Quốc hội, 2000).
Friedrich Engels (1961: 342) viết:
Theo chúng tôi hôn nhân là mối quan
“Hôn nhân là một quá trình xã hội mà
hệ vợ-chồng giữa hai người khác giới,
mô hình mẫu của nó là sự kết hợp
cam kết chung sống và theo quy định
giữa một người đàn ông với một
của pháp luật. Hôn nhân là thiết chế
người đàn bà, là sự kiện làm biến đổi
xã hội chịu sự tác động của môi
những thành viên của nó, làm thay đổi
trường sống như kinh tế, văn hóa, xã
quan hệ giữa những người thân thuộc
hội.
của mỗi bên và duy trì những khuôn
2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ
Bài viết trên cơ sở dữ liệu khảo sát
cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ
vào tháng 12/2020 của đề tài cấp Bộ
đi kèm”.
“Biến đổi hôn nhân và gia đình của
Từ điển bách khoa Việt Nam (2002:
người Brâu hiện nay” do Bảo tàng
389-390) định nghĩa: “Hôn nhân là thể
Dân tộc học Việt Nam chủ trì, Bùi
chế xã hội kèm theo những nghi thức
Ngọc Quang làm chủ nhiệm, tác giả
xác nhận quan hệ tính giao giữa hai
tham gia với tư cách thành viên.
hay nhiều người thuộc hai giới tính
Nghiên cứu được thực hiện với cách
khác nhau (nam, nữ), được coi nhau
tiếp cận liên ngành, sử dụng hai
là chồng và vợ, quy định mối quan hệ
phương pháp chính là điền dã dân tộc
và trách nhiệm giữa họ với nhau và
học và điều tra xã hội học để thu thập
giữa họ với con cái của họ. Sự xác
thông tin. Cụ thể, đề tài đã khảo sát
nhận đó, trong quá trình phát triển của
bằng bảng hỏi đối với 100 hộ gia đình
xã hội, dần dần mang thêm những
người Brâu tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y,
yếu tố mới”. Theo Lê Ngọc Văn (2011:
huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (trong
306) hôn nhân là “sự cam kết chung
đó 2 phiếu không sử dụng được). Mẫu
sống giữa những người trưởng thành
lựa chọn được tiến hành dựa trên các
khác giới được sự phê chuẩn của
biến độc lập về độ tuổi, giới, tình trạng
pháp luật. Bất kể những khác biệt về
hôn nhân đảm bảo được sự đại diện.
văn hóa, hôn nhân là một thiết chế xã
Người trả lời phiếu có thể là vợ hoặc
hội đòi hỏi những điều kiện và thủ tục
chồng trong gia đình. Với 338 nhân
cần thiết như tuổi kết hôn, những nghi
khẩu thuộc 98 hộ gia đình, trong đó
thức về pháp lý, phong tục, tôn
nam chiếm tỷ lệ 51,2% và nữ là 48,8%.
giáo…”. “Giống như mọi thiết chế xã
Đề tài thực hiện 30 cuộc phỏng vấn
hội khác, hôn nhân chịu sự tác động
sâu với các nhóm tuổi, nghề nghiệp, vị
của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã
trí trong gia đình - xã hội. Thứ nhất,
hội” (Vũ Tuấn Huy, 2004: 65).
phỏng vấn nhóm cặp vợ chồng trẻ,
Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình của
Việt Nam ghi rõ: “Hôn nhân là quan hệ
thanh niên nam nữ đang độ tuổi tìm
bạn tình, độ tuổi kết hôn. Bên cạnh đó,
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021
85
nhóm nghiên cứu đặc biệt chú ý đến chê cười, bạn bè khinh rẻ và không
những cặp vợ chồng không cùng ‘bắt’ được vợ được chồng” (Bùi Ngọc
thành phần tộc người. Thứ hai, phỏng Quang, 2017: 35).
vấn người cao tuổi về quan niệm hôn
nhân và gia đình của lớp người trước
và thanh niên hiện nay. Thứ ba,
phỏng vấn cán bộ địa phương. Song
song đó, đề tài thực hiện 2 cuộc thảo
luận nhóm Ngoài ra, đề tài cũng phân
tích nguồn tài liệu dân tộc học/nhân
học của các công trình nghiên cứu đi
trước về người Brâu, những báo cáo
của các cấp chính quyền, cơ quan
chuyên môn.
Hiện nay tục cà răng và căng tai
không còn phù hợp, người Brâu đã
loại bỏ; tình trạng kết hôn sớm và tảo
hôn đã giảm. “Chồng mình trước là bố
mẹ tìm cho ... lúc ấy còn bé lắm tầm
14 tuổi thôi. Con gái mình thì tự yêu,
về bảo cưới thì mình cưới cho nó. Nó
lấy chồng muộn hơn so với mình,
cũng 17 tuổi rồi” (PVS, nữ, sinh năm
1950, nông dân, người Brâu).
Đối với người Brâu, chung thủy sau
hôn nhân lại rất được coi trọng. Tuy
nhiên luật tục và dư luận xã hội truyền
thống của người Brâu không lên án
việc quan hệ tình dục trước hôn nhân
khi đôi trai gái không để lại hậu quả
[mang thai trước hôn nhân].
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số quan niệm về hôn nhân
và tiêu chuẩn chọn vợ (chồng) của
người Brâu
Theo quan niệm của người Brâu, hôn
nhân là sự kiện mang tính bước ngoặt
trong nghi lễ vòng đời của mỗi cá
nhân, có ý nghĩa quan trọng đối với
gia đình, dòng họ. Nam/nữ đến tuổi
trưởng thành được tự do yêu đương,
tìm kiếm bạn tình. “Theo tập tục của
người Brâu, con trai, con gái Brâu ở
độ tuổi từ 13 đến 14 đã có thể lấy vợ,
lấy chồng. Tuy nhiên, để được coi là
trưởng thành, thì người con trai, con
gái phải trải qua, khẳng định và được
đánh dấu bằng một sự kiện luật tục
quan trọng, đó là lễ cà răng (uốt pưng)
và căng tai (síp tiêu) - tàn dư của nghi
lễ thành đinh nguyên thủy. Sau khi
làm lễ cà răng, căng tai, người đó mới
Trong quá trình tìm hiểu/yêu đương
ngày nay nam/nữ Brâu cũng có sự tìm
hiểu về tình dục và biện pháp tránh
thai. “Bố mẹ không dạy về tình dục
hay tránh thai vì sợ dùng những cái ấy
rồi sau không đẻ được... Hồi bọn em
thanh niên chưa dùng cảm ứng đâu,
tới 2014-2015 mới có, mà có người
mua được người không mua được
nên ít biết các thông tin về tình dục
với tránh thai như bây giờ. Giờ nhiều
đứa có cảm ứng rồi lên mạng xem là
biết thôi” (PVS, nữ, sinh năm 1994,
người Brâu).
Hiện nay cộng đồng người Brâu
được coi là trưởng thành và được tự không lên án - không phạt vạ việc
do tìm kiếm bạn tình. Nếu người con quan hệ tình dục trước hôn nhân dẫn
trai hay con gái không hoàn thành đến có thai như xưa. “Ngày trước,
chồng tán mình ưa nhau ngủ với nhau
nghi lễ này đều bị dư luận trong làng
86
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…
rồi mình có chửa. Hồi ấy chửa 4 tháng hôn dòng họ (kết hôn với người ngoài
rồi mà chưa cưới. Bị phạt nhá, 5-3
người tới hỏi, thế có lấy không nếu
không lấy là thế nọ thế kia. Rồi Già
làng gọi lên hỏi, mình không biết có
cưới hay không. Vì lúc đó phân biệt
dân tộc này kia, bên chồng mình phản
đối không cho ... Lúc ấy mình có bảo,
chưa có điều kiện chưa cho lấy... Họp
làng ở nhà rông, mang ra kiểm điểm.
Thế là mình bị phạt 1 chỉ vàng với con
heo 50kg, 1 ghè rượu [tên gọi rượu
cần men lá của người Brâu] vì chửa
hoang... Giờ chửa trước thậm chí đẻ
con xong rồi mới cưới. Có ai thèm ăn
như trước đâu mà đòi phạt. Bình
thường rồi” (PVS, nữ, sinh năm 1982,
người Brâu).
họ), và nội hôn tộc người (hôn nhân
trong nội bộ tộc người). “Luật tục Brâu
qui định: Nghiêm cấm nam, nữ chung
huyết thống lấy nhau. Tuy nhiên, trai
gái trong một dòng từ đời thứ ba trở
lên đã được kết hôn với nhau nếu hai
bên tìm hiểu và yêu nhau. Do số
lượng người Brâu không nhiều lại
sống tập trung chủ yếu ở làng Đắk Mế
nên quan điểm nội hôn tộc người đã
dẫn đến tình trạng hôn nhân cận
huyết, đa phu, cậu cháu lấy chung
một vợ, hôn nhân anh em chồng, chị
em vợ... (Bùi Ngọc Quang, 2017: 129).
“Ngày xưa, thời ông bà thì anh em
cách 1-2 đời vẫn có thể lấy nhau. Bây
giờ không vậy nữa, thường kết hôn
Quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình cách 3 đời trở lên và hôn nhân với
dục trước hôn nhân dẫn tới mang thai
trước hôn nhân có thể ngoài hoặc
không ngoài ý muốn. “Em yêu chồng
em hồi lớp 11, … Em cũng sợ nếu lỡ
có bầu nó không cưới. Khi bầu rồi thì
cưới, mà em bỏ học tiếc, nên em vẫn
đang đi học lại. Bữa sau con gái em
lớn, em phải dạy con em nếu có quan
hệ thì phải tránh thai này nọ mới
được” (PVS, nữ, sinh năm 1998, sinh
viên, người Brâu).
người khác dân tộc ngày càng nhiều”
(PVS, nam, sinh năm 1974, nông dân,
người Brâu).
Trong từng giai đoạn cụ thể, mối quan
hệ hôn nhân của người Brâu được
xác lập theo xu hướng khác nhau.
Hiện nay, người Brâu ở Việt Nam vẫn
có mối quan hệ hôn nhân với cộng
đồng người Brâu
ở
Lào và
Campuchia. Đây là mối quan hệ hôn
nhân đồng tộc xuyên biên giới. Bởi vì,
người Brâu với mối quan hệ dòng tộc
khăng khít, họ thường xuyên qua lại
thăm hỏi, làm ăn, trao đổi hàng hóa,...
Tuy nhiên, giới trẻ hiện nay có xu
hướng hôn nhân đồng tộc xuyên biên
giới giảm so với thế hệ bố mẹ, ông bà
của mình. Đồng thời, xu hướng kết
hôn mở rộng về thành phần dân tộc
trong nước.
Tuy nhiên, phụ nữ Brâu trong độ tuổi
sinh sản sau khi sinh con đầu tiên đã
có sự chủ động tìm hiểu và lựa chọn
biện pháp tránh thai phù hợp. Đặc biệt,
cuộc khảo sát không ghi nhận có
trường hợp nạo phá thai ngoài ý muốn.
Một trong những nguyên tắc cơ bản
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa
chọn bạn đời của người Brâu là ngoại
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021
87
Bảng 1. Hôn nhân hỗn hợp tộc người của
người Brâu.
văn hóa phong phú, đa dạng, và xu
hướng hôn nhân hỗn hợp tộc người
tất yếu diễn ra. Xu hướng lấy vợ, lấy
chồng là người khác dân tộc ở địa
phương diễn ra mạnh mẽ. Yếu tố
cùng tộc người không còn là yếu tố
quan trọng, quyết định hàng đầu trong
lựa chọn hôn nhân của người Brâu.
Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có
23,5% nam giới và 24,5% nữ giới
chọn bạn đời là người cùng dân tộc.
Hiện nay có đến 94,9% ý kiến khảo
sát đồng ý với quan niệm về hôn nhân
khác dân tộc.
Thành phần dân tộc
Tỷ lệ
STT trong quan hệ hôn
Số cặp
%
nhân
1
2
3
4
Brâu - Xơ-đăng
Brâu - Mường
Brâu - Thái
40
6
80
12
6
3
Brâu - Kinh
1
6
Cộng
50
100
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo
sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi hôn
nhân và gia đình của người Brâu hiện
nay”, năm 2020.
Cùng những quan niệm về hôn nhân
như trên, số liệu trong Hình 1 cho thấy
có 92,8% chọn vợ và 93,9% chọn
chồng là người biết yêu thương. Tiếp
đến là những chuẩn mực về đạo đức
như thẳng thắn, thật thà, quý mến anh
em họ hàng, ở cả nam và nữ đều
chiếm tỷ lệ rất cao trên 90%.
Theo Bảng 1, tổng số cặp vợ chồng
người Brâu kết hôn khác dân tộc là 50
cặp, trong đó tỷ lệ người Brâu kết hôn
với người Xơ-đăng chiếm tới 80%.
Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ kết hôn
cao giữa người Brâu và người Xơ-
đăng được lý giải phần nào từ kết quả
phỏng vấn sâu, dường như người
Brâu có xu hướng kết hôn với những
nhóm dân tộc có sự tương đồng nhất
định với mình về sự phát triển kinh tế -
xã hội, nhất là văn hóa. “Trước em có
quen người Mường, nhưng bố mẹ
không cho, bảo sợ mấy trai Mường
hay lừa, lấy xong chán bỏ. Người
Mường nói chuyện khéo giống người
Kinh. Bố mẹ bảo lấy người Xơ-đăng vì
nó ăn lá mì, lá măng giống nhau”
(PVS, nữ, sinh năm 1994, nông dân,
người Brâu).
Người Brâu vốn sống ở nông thôn,
làm nông nghiệp nên tiêu chuẩn về
sức khỏe, giỏi làm nương rẫy, biết quý
mến anh em họ hàng và hiểu biết
phong tục tập quán cũng chiếm tỷ lệ
cao. Ngoài ra, thanh niên người Brâu
hiện nay lựa chọn vợ/chồng có khả
năng làm kinh tế, kiếm việc làm để
tăng thu nhập. Nhiều thanh niên chọn
vợ/chồng là người có trình độ học vấn;
có việc làm; là cán bộ công chức, viên
chức cơ quan Nhà nước (chọn vợ
15,3% và chọn chồng là 16,3%).
Nguyên nhân xuất hiện xu hướng này
Sau khi Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y thông
thương (năm 2005), việc di dân tạo
nên sự đan xen các thành phần tộc bên cạnh lý do về tính ổn định thu
người (Brâu, Mường, Thái, Xơ-đăng, nhập về mặt kinh tế, còn do sự gia
Kinh...), hình thành một không gian tăng quá trình tiếp biến giao thoa văn
88
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…
Hình 1. Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng của người Brâu hiện nay (%).
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi hôn
nhân và gia đình của người Brâu hiện nay”, năm 2020.
hóa với các cộng đồng khác khi định ngoài bìa rừng để trai gái cùng nhau
canh định cư, trong bối cảnh hội nhập
phát triển kinh tế ở vùng cửa khẩu tại
ngã ba Đông Dương. Đặc biệt là sự
tiếp xúc của người dân với cán bộ
trong hệ thống chính trị cơ sở khi thực
hiện các chính sách phát triển vùng
dân tộc ít người.
tự tình. Đây là thời gian để đôi trai gái
tìm hiểu, nếu cuộc tình suôn sẻ, họ trở
thành vợ chồng. Trường hợp không
thành đôi lứa, họ lặng lẽ chia tay nhau
và đi tìm bạn tình mới. Cũng có những
trường hợp cha mẹ tìm vợ, tìm chồng
cho con cái thông qua hình thức hứa
gả con cho nhau. Khi đứa trẻ mới
khoảng 5-6 tuổi, gia đình nhà trai
mang lễ vật đến nhà gái để có lời giao
ước. Khi đôi trẻ đến tuổi trưởng thành,
hai bên gia đình sẽ tổ chức lễ cưới lại,
đầy đủ các bước theo nghi thức
truyền thống” (Bùi Ngọc Quang, 2017:
38).
3.2. Hình thức tìm hiểu vợ (chồng)
trước hôn nhân của người Brâu
Trong xã hội truyền thống, nam/nữ
Brâu đến tuổi trưởng thành được tự
do yêu đương, tìm kiếm bạn tình,
cũng có thể do bạn bè tác hợp, đôi khi
do hai gia đình hứa gả. “Gia đình sẽ
dựng chòi (nam đoóc) ở sau nhà hay
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021
89
Hình 2. Các kênh tìm hiểu trước hôn nhân của người Brâu hiện nay (%).
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi
hôn nhân và gia đình của người Brâu hiện nay”, năm 2020.
Hiện nay, khi đến tuổi dựng vợ gả
chồng thì nam/nữ Brâu cũng chủ động
trong tìm kiếm, lựa chọn bạn đời.
Người Brâu cũng có nhiều kênh thông
tin khác nhau để tìm hiểu và yêu
đương trước khi kết hôn như tìm hiểu
nhau tại nơi làm việc, nơi học tập, qua
mai mối, qua thăm thân, đi chơi và
thậm chí là qua mạng xã hội. “Ngày
xưa, hồi mình bố mẹ bảo lấy ai thì lấy.
Chồng mình với mình có yêu nhau
trước đâu, bảo lấy thì lấy. Giờ con đi
làm, đi chơi, đi cưới, gặp ai ưng thì
lấy” (PVS, nữ, sinh năm 1952, nông
dân, người Brâu).
Họ được tự do tìm hiểu, quan tâm
chia sẻ, bày tỏ tình cảm với người
mình yêu vào các dịp thăm thân, dự
đám cưới, đi chợ ngày lễ tình yêu
14/2, Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, Lễ
Noel, tiệc sinh nhật… Họ được mở
rộng về không gian, thời gian để tìm
hiểu/yêu đương trước khi kết hôn
bằng những ngôn từ, món quà và
không gian, phương tiện hiện đại.
Thay vì gặp gỡ theo từng nhóm
nam/nữ tại nhà rông thì nam/nữ hiện
nay hẹn nhau tại quán cà phê, quán
sinh tố, cửa hàng tạp hóa trong thôn
xã và qua mạng facebook, zalo. “Em
với vợ em (người yêu) biết nhau khi đi
chơi với bạn, rồi xin facebook để tán,
sau 2 tuần thì em và vợ em yêu nhau.
Trong các kênh tìm hiểu, hình thức
tìm hiểu truyền thống là thăm thân, đi
chơi với nhau vẫn là phổ biến nhất mà
nam/nữ Brâu tìm hiểu/yêu đương
trước khi kết hôn (70,4%). “Em có chú
lấy vợ người Xơ-đăng ở Đắk Sú, em
đi chơi rồi gặp, nó thích mình mình
thích nó. Thích là lấy thôi, gặp nhau 1-
2 tuần là lấy nhau thôi” (PVS, nữ, sinh
Thì quen nhau, yêu nhau bọn em đi năm 1994, nông dân, người Brâu).
uống nước, đi chơi. Lúc nào có dịp có Bên cạnh đó, 52,1% cho rằng hiện
tiền cũng mua quà tặng vợ em, là nay nam/nữ tìm hiểu/yêu đương nhau
tại nơi làm việc, mai mối là 37,8%; chỉ
có 4,1% cho rằng nơi học tập là nơi
người yêu em ấy” (PVS, nam, sinh
năm 2004, người Brâu).
90
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…
trai gái tìm hiểu/yêu đương nhau. Một tảo hôn khá phổ biến. “Anh cưới vợ
năm 1989. Lấy vợ cùng tuổi, do được
mai mối từ năm 15 tuổi. Biết gì đâu bố
mẹ bảo lấy thì lấy thôi” (PVS, nam,
sinh năm 1974, người Brâu, nông
dân).
điều khác biệt so với trước đây là có
52,1% nam/nữ tìm hiểu/yêu đương
nhau thông qua mạng xã hội. Điều
này cho thấy sự phát triển của đời
sống xã hội, đặc biệt là công nghệ
thông tin đã có những tác động trực
tiếp đến quan hệ hôn nhân.
Độ tuổi kết hôn được xác định theo
Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình
(2000): “Nam từ hai mươi tuổi trở lên,
nữ từ mười tám tuổi trở lên”. Kết quả
nghiên cứu thể hiện ở Hình 3 cho thấy
về cơ bản tỷ lệ nam/nữ kết hôn trước
độ tuổi cho phép là thấp, 1% đối với
nam và 3,1 % đối với nữ; tỷ lệ nam/nữ
kết hôn đúng và trên độ tuổi pháp luật
cho phép chiếm trên 90%. Nếu nhìn
vào tỷ lệ này thì thấy, tuổi kết hôn của
người Brâu đã được nâng lên và đảm
bảo theo quy định pháp luật. Tuy
nhiên, thực tế không hoàn toàn như
số liệu ở đây. Bởi lẽ nam/nữ Brâu
được tự do tìm hiểu và quan hệ tình
dục trước hôn nhân là điều không bị
dư luận và luật tục cấm kỵ. Khi mối
quan hệ này đến độ khăng khít, họ
báo cáo với gia đình. Cha mẹ hai bên
3.3. Tuổi kết hôn của người Brâu
“Tuổi kết hôn là một trong những chỉ
báo đánh giá sự biến đổi của mô hình
hôn nhân” (Lê Ngọc Văn, 2011: 301).
Tại Việt Nam, tảo hôn, kết hôn sớm là
một trong những hủ tục khá phổ biến
ở nhiều dân tộc thiểu số trong đó có
người Brâu. “Để có thể kết hôn ở độ
tuổi quá sớm ấy, khi đến tuổi 9-10,
các đôi trai, gái Rơ-măm và Brâu xưa
đã biết kiếm tìm bạn gái, bạn trai cho
mình. Các tình huống trong lao động
sản xuất, hay dịp vui chơi lễ hội cộng
đồng là thời cơ tốt để họ đi tìm bạn
đời” (Nguyễn Thế Huệ, 2001: 55-56).
Trước đây tuổi kết hôn của nam nữ
người Brâu thường sớm, hiện tượng
Hình 3. Tuổi lấy vợ, lấy chồng của người Brâu hiện nay (%).
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi hôn
nhân và gia đình của người Brâu hiện nay”, năm 2020.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021
91
đồng thuận bằng một nghi lễ đơn giản trước đây. Nam/nữ có nhiều kênh
(tương tự như lễ dạm ngõ của người thông tin khác nhau để tìm hiểu và
Kinh), ngay sau đó người nam có thể yêu đương trước khi kết hôn, trong đó
ở lại nhà gái, cùng làm nương rẫy, ăn có cả việc tìm hiểu nhau qua mạng xã
ở và sống với cô gái như vợ chồng; hội. Người Brâu đã hiểu biết và tuân
nếu người nữ có thai thì họ đăng ký thủ Luật Hôn nhân và Gia đình, độ
kết hôn và làm đám cưới nếu đủ tuổi; tuổi kết hôn của người Brâu có xu
nếu chưa đủ tuổi thì vẫn sống với hướng tăng lên ở cả nam và nữ. Tuy
nhau, sinh con, khi nào đủ tuổi thì đi nhiên, so với mặt bằng chung của cả
đăng ký kết hôn. Qua khảo sát chúng nước thì độ tuổi kết hôn của người
tôi biết khá nhiều trường hợp như vậy. Brâu vẫn sớm hơn và vẫn xảy ra tình
“Bọn em quan niệm nếu hai bên gia trạng tảo hôn, quan hệ tình dục sớm -
đình đã gặp nhau thì hai đứa đã là vợ độ tuổi vị thành niên (13-16 tuổi).
chồng và được sống cùng nhau. Còn
Đối với tộc người Brâu, khi áp dụng
đợi đến lúc đủ tuổi kết hôn thì sẽ tổ
Luật Hôn nhân và Gia đình đòi hỏi
chức cưới, nên thường khi cưới là
phải cân nhắc thận trọng, đặc biệt
đều có con cái hết rồi, tầm 14-15 tuổi
phải chú ý tới đặc điểm văn hóa, tâm
là đã về ở với nhau và có con nên
lý tộc người, bị chi phối bởi những
phải đợi đến khi đủ tuổi kết hôn thì
phong tục, tập quán riêng, quan niệm
mới tổ chức cưới và đăng ký kết hôn
về tình dục, về tuổi kết hôn, về tiêu
luôn” (PVS, Nữ, sinh năm 1996, người
chuẩn chọn vợ, kén chồng… Cho nên,
Brâu). Như vậy, cùng với sự phát triển
bên cạnh những kiến thức chuyên
của kinh tế - xã hội và do làm tốt công
môn chung thì mỗi cán bộ cơ sở cần
tác tuyên truyền vận động và quản lý
được tập huấn, cập nhật thêm về
hành chính ở cơ sở nên tuổi kết hôn
những đặc trưng văn hóa tộc người
của người Brâu đã được nâng lên, tuy
Brâu. Trên cơ sở đó, các tổ chức
vẫn còn một số trường hợp tảo hôn.
Đảng, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Hội Nông dân cần phát huy vai trò
Hôn nhân của người Brâu đã có sự trong công tác lãnh đạo, đẩy mạnh
biến đổi rõ rệt khi đời sống kinh tế - xã triển khai thực hiện và tuyên truyền,
hội và văn hóa phát triển: tục cà răng,
căng tai, tục tảo hôn, đa phu/đa thê
hay hôn nhân cận huyết không tồn tại
như trước đây. Hiện nay, tiêu chuẩn
lựa chọn bạn đời của người Brâu đã
có nhiều biến đổi. Xu hướng hôn nhân
đa tộc người ngày càng gia tăng. Các
hình thức tìm hiểu/yêu đương của các
cặp đôi nam nữ cũng đa dạng hơn
phổ biến, giáo dục người dân thực
hiện tốt Luật Hôn nhân và Gia đình,
Pháp lệnh dân số bên cạnh việc xây
dựng đời sống văn hóa cộng đồng,
loại bỏ những hủ tục trong hôn nhân
và gia đình, cụ thể: mở các lớp tìm
hiểu về cơ chế tâm sinh lý lứa tuổi của
con người, sức khỏe sinh sản vị thành
niên, lớp tiền hôn nhân, quy định xử
92
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…
phạt của pháp luật về quan hệ tình Đảng và Nhà nước ta là chủ trương
hoàn toàn đúng đắn. Qua đó, người
Brâu đã ổn định cuộc sống và phát
triển. Tuy nhiên, việc triển khai nên có
những ứng xử khoa học, phù hợp với
truyền thống văn hóa tộc người, tránh
áp đặt chủ quan gây lãng phí cũng
như gây tâm lý ỷ lại, trông chờ vào
nguồn hỗ trợ của Nhà nước, hay vì lợi
ích trước mắt mà phá vỡ trật tự,
khuôn mẫu, chuẩn mực trong các mối
quan hệ cá nhân, gia đình và cộng
đồng người Brâu. Kinh tế - xã hội phát
triển, trình độ học vấn được nâng lên
là nền tảng giúp đẩy lùi những hạn
chế trong hôn nhân hiện nay.
dục tuổi vị thành niên, các biện pháp
tránh thai, sinh con ngoài ý muốn…
Đặc biệt nhấn mạnh tới đến mục tiêu
để khi đứa trẻ sinh ra được khỏe
mạnh và được nuôi dưỡng đầy đủ về
thể chất, tinh thần, trí tuệ và sức khỏe
của sản phụ. Đồng thời kết hợp biện
pháp xử phạt hành chính đối với
những trường hợp tảo hôn, vi phạm
luật, chính sách về hôn nhân và gia
đình cũng như các yếu tố khác gây
ảnh hưởng không tốt tới cá nhân, gia
đình và xã hội.
Chương trình định canh, định cư, xây
dựng khu kinh tế cửa khẩu, hỗ trợ xây
dựng nhà ở, cơ sở hạ tầng… của
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bùi Ngọc Quang. 2017. Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở Việt Nam. Hà Nội:
Nxb. Mỹ thuật.
2. Bùi Ngọc Quang. 2017.“Nghiên cứu về dân tộc Brâu từ năm 1986 đến nay”, trong
Các dân tộc ở Việt Nam. Tập 3 - Nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me, do Vương Xuân Tình
(chủ biên). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật.
3. Friedrich Engels. 1961. Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước,
Tuyển tập Mác - Ăngghen. Tập VI. Hà Nội: Nxb. Sự thật.
4. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa. 2002. Từ điển bách khoa
Việt Nam. Tập 2. Hà Nội: Nxb. Từ điển Bách khoa.
5. Lê Ngọc Văn. 2011. Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học
Xã hội
6. Nguyễn Thế Huệ. 2001. Dân số và phát triển của dân tộc Brâu và Rơ Măm ở Tây
Nguyên. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
7. Quốc hội. 2000. Luật Hôn nhân và Gia đình. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
8. Tổng cục Thống kê. 2019. Tổng điều tra dân số và nhà ở. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
9. Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hồi. 2020. Báo cáo Kết quả 15 năm thực hiện Chỉ thị
49-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước.
10. Vũ Tuấn Huy. 2004. “Hôn nhân và quá trình gia đình”, trong Xu hướng gia đình ngày
nay (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương). Hà Nội: Nxb. Khoa
học Xã hội.
Bạn đang xem tài liệu "Một số biến đổi trong hôn nhân của người Brâu hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_bien_doi_trong_hon_nhan_cua_nguoi_brau_hien_nay.pdf

