Một số biến đổi trong hôn nhân của người Brâu hiện nay

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
83  
MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN  
CỦA NGƯỜI BRÂU HIỆN NAY  
ĐINH NHƯ HOÀI*  
Brâu là một trong 16 tộc người có dân số ít nhất ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn  
ngữ Môn-Khơ me, sinh sống chủ yếu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi,  
tỉnh Kon Tum. Trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, phát triển kinh tế - xã  
hội, quan hệ hôn nhân của người Brâu cũng có nhiều thay đổi. Bài viết tìm hiểu  
thực trạng biến đổi trong hôn nhân của người Brâu thể hiện qua một số quan  
niệm về hôn nhân, tiêu chuẩn chọn vợ (chồng), hình thức tìm hiểu nhau trước  
khi kết hôn và độ tuổi kết hôn.  
Từ khóa: biến đổi, quan hệ hôn nhân, người Brâu  
Nhận bài ngày: 07/7/2021; đưa vào biên tập: 20/7/2021; phản biện: 07/8/2021;  
duyệt đăng: 12/10/2021  
bàn. Người Brâu đứng trước cả cơ  
hội lẫn thách thức để phát triển kinh tế  
- xã hội và bảo tồn, phát huy các giá  
trị văn hóa truyền thống, trong đó có  
quan hệ hôn nhân và gia đình. Nghiên  
cứu hôn nhân người Brâu có nhiều ý  
nghĩa về khoa học và thực tiễn, góp  
phần tìm hiểu về tộc người, quan hệ  
tộc người ở vùng biên giới trong quá  
trình phát triển.  
1. DẪN NHẬP  
Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở  
được Tổng cục Thống kê công bố  
ngày 1/2019, dân số Brâu của cả  
nước là 525 người, hiện cư trú tập  
trung tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện  
Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Khu vực này  
cách Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y 10km  
và cách thành phố Kon Tum gần  
100km.  
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu  
tìm hiểu một số biến đổi trong quan hệ  
tiền hôn nhân của người Brâu, cụ thể  
là một số quan niệm về hôn nhân, tiêu  
chuẩn chọn vợ (chồng), hình thức tìm  
hiểu vợ (chồng) trước hôn nhân và  
tuổi kết hôn.  
Từ năm 2005, Khu kinh tế Cửa khẩu  
Quốc tế Bờ Y được xây dựng, khu  
vực sinh sống của tộc người Brâu từ  
một vùng rừng núi hoang vu đã trở  
thành khu kinh tế thương mại với tốc  
độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng.  
Điều này đã tác động trực tiếp đến đời  
sống của cộng đồng người Brâu nói  
riêng và các tộc người khác trong địa  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Khái niệm sử dụng  
Thông qua các chiều cạnh tiếp cận  
khác nhau có nhiều quan niệm về hôn  
* Học viện Chính trị khu vực III.  
84  
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…  
nhân. Trong Nguồn gốc của gia đình, giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”  
của chế độ tư hữu và của nhà nước, (Quốc hội, 2000).  
Friedrich Engels (1961: 342) viết:  
Theo chúng tôi hôn nhân là mối quan  
“Hôn nhân là một quá trình xã hội mà  
hệ vợ-chồng giữa hai người khác giới,  
mô hình mẫu của nó là sự kết hợp  
cam kết chung sống và theo quy định  
giữa một người đàn ông với một  
của pháp luật. Hôn nhân là thiết chế  
người đàn bà, là sự kiện làm biến đổi  
xã hội chịu sự tác động của môi  
những thành viên của nó, làm thay đổi  
trường sống như kinh tế, văn hóa, xã  
quan hệ giữa những người thân thuộc  
hội.  
của mỗi bên và duy trì những khuôn  
2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu  
mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ  
Bài viết trên cơ sở dữ liệu khảo sát  
cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ  
vào tháng 12/2020 của đề tài cấp Bộ  
đi kèm”.  
“Biến đổi hôn nhân và gia đình của  
Từ điển bách khoa Việt Nam (2002:  
người Brâu hiện nay” do Bảo tàng  
389-390) định nghĩa: “Hôn nhân là thể  
Dân tộc học Việt Nam chủ trì, Bùi  
chế xã hội kèm theo những nghi thức  
Ngọc Quang làm chủ nhiệm, tác giả  
xác nhận quan hệ tính giao giữa hai  
tham gia với tư cách thành viên.  
hay nhiều người thuộc hai giới tính  
Nghiên cứu được thực hiện với cách  
khác nhau (nam, nữ), được coi nhau  
tiếp cận liên ngành, sử dụng hai  
là chồng và vợ, quy định mối quan hệ  
phương pháp chính là điền dã dân tộc  
và trách nhiệm giữa họ với nhau và  
học và điều tra xã hội học để thu thập  
giữa họ với con cái của họ. Sự xác  
thông tin. Cụ thể, đề tài đã khảo sát  
nhận đó, trong quá trình phát triển của  
bằng bảng hỏi đối với 100 hộ gia đình  
xã hội, dần dần mang thêm những  
người Brâu tại làng Đắk Mế, xã Bờ Y,  
yếu tố mới”. Theo Lê Ngọc Văn (2011:  
huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum (trong  
306) hôn nhân là “sự cam kết chung  
đó 2 phiếu không sử dụng được). Mẫu  
sống giữa những người trưởng thành  
lựa chọn được tiến hành dựa trên các  
khác giới được sự phê chuẩn của  
biến độc lập về độ tuổi, giới, tình trạng  
pháp luật. Bất kể những khác biệt về  
hôn nhân đảm bảo được sự đại diện.  
văn hóa, hôn nhân là một thiết chế xã  
Người trả lời phiếu có thể là vợ hoặc  
hội đòi hỏi những điều kiện và thủ tục  
chồng trong gia đình. Với 338 nhân  
cần thiết như tuổi kết hôn, những nghi  
khẩu thuộc 98 hộ gia đình, trong đó  
thức về pháp lý, phong tục, tôn  
nam chiếm tỷ lệ 51,2% và nữ là 48,8%.  
giáo…”. “Giống như mọi thiết chế xã  
Đề tài thực hiện 30 cuộc phỏng vấn  
hội khác, hôn nhân chịu sự tác động  
sâu với các nhóm tuổi, nghề nghiệp, vị  
của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã  
trí trong gia đình - xã hội. Thứ nhất,  
hội” (Vũ Tuấn Huy, 2004: 65).  
phỏng vấn nhóm cặp vợ chồng trẻ,  
Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình của  
Việt Nam ghi rõ: “Hôn nhân là quan hệ  
thanh niên nam nữ đang độ tuổi tìm  
bạn tình, độ tuổi kết hôn. Bên cạnh đó,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
85  
nhóm nghiên cứu đặc biệt chú ý đến chê cười, bạn bè khinh rẻ và không  
những cặp vợ chồng không cùng ‘bắt’ được vợ được chồng” (Bùi Ngọc  
thành phần tộc người. Thứ hai, phỏng Quang, 2017: 35).  
vấn người cao tuổi về quan niệm hôn  
nhân và gia đình của lớp người trước  
và thanh niên hiện nay. Thứ ba,  
phỏng vấn cán bộ địa phương. Song  
song đó, đề tài thực hiện 2 cuộc thảo  
luận nhóm Ngoài ra, đề tài cũng phân  
tích nguồn tài liệu dân tộc học/nhân  
học của các công trình nghiên cứu đi  
trước về người Brâu, những báo cáo  
của các cấp chính quyền, cơ quan  
chuyên môn.  
Hiện nay tục cà răng và căng tai  
không còn phù hợp, người Brâu đã  
loại bỏ; tình trạng kết hôn sớm và tảo  
hôn đã giảm. “Chồng mình trước là bố  
mẹ tìm cho ... lúc ấy còn bé lắm tầm  
14 tuổi thôi. Con gái mình thì tự yêu,  
về bảo cưới thì mình cưới cho nó. Nó  
lấy chồng muộn hơn so với mình,  
cũng 17 tuổi rồi” (PVS, nữ, sinh năm  
1950, nông dân, người Brâu).  
Đối với người Brâu, chung thủy sau  
hôn nhân lại rất được coi trọng. Tuy  
nhiên luật tục và dư luận xã hội truyền  
thống của người Brâu không lên án  
việc quan hệ tình dục trước hôn nhân  
khi đôi trai gái không để lại hậu quả  
[mang thai trước hôn nhân].  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1 Một số quan niệm về hôn nhân  
và tiêu chuẩn chọn vợ (chồng) của  
người Brâu  
Theo quan niệm của người Brâu, hôn  
nhân là sự kiện mang tính bước ngoặt  
trong nghi lễ vòng đời của mỗi cá  
nhân, có ý nghĩa quan trọng đối với  
gia đình, dòng họ. Nam/nữ đến tuổi  
trưởng thành được tự do yêu đương,  
tìm kiếm bạn tình. “Theo tập tục của  
người Brâu, con trai, con gái Brâu ở  
độ tuổi từ 13 đến 14 đã có thể lấy vợ,  
lấy chồng. Tuy nhiên, để được coi là  
trưởng thành, thì người con trai, con  
gái phải trải qua, khẳng định và được  
đánh dấu bằng một sự kiện luật tục  
quan trọng, đó là lễ cà răng (uốt pưng)  
và căng tai (síp tiêu) - tàn dư của nghi  
lễ thành đinh nguyên thủy. Sau khi  
làm lễ cà răng, căng tai, người đó mới  
Trong quá trình tìm hiểu/yêu đương  
ngày nay nam/nữ Brâu cũng có sự tìm  
hiểu về tình dục và biện pháp tránh  
thai. “Bố mẹ không dạy về tình dục  
hay tránh thai vì sợ dùng những cái ấy  
rồi sau không đẻ được... Hồi bọn em  
thanh niên chưa dùng cảm ứng đâu,  
tới 2014-2015 mới có, mà có người  
mua được người không mua được  
nên ít biết các thông tin về tình dục  
với tránh thai như bây giờ. Giờ nhiều  
đứa có cảm ứng rồi lên mạng xem là  
biết thôi” (PVS, nữ, sinh năm 1994,  
người Brâu).  
Hiện nay cộng đồng người Brâu  
được coi là trưởng thành và được tự không lên án - không phạt vạ việc  
do tìm kiếm bạn tình. Nếu người con quan hệ tình dục trước hôn nhân dẫn  
trai hay con gái không hoàn thành đến có thai như xưa. “Ngày trước,  
chồng tán mình ưa nhau ngủ với nhau  
nghi lễ này đều bị dư luận trong làng  
86  
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…  
rồi mình có chửa. Hồi ấy chửa 4 tháng hôn dòng họ (kết hôn với người ngoài  
rồi mà chưa cưới. Bị phạt nhá, 5-3  
người tới hỏi, thế có lấy không nếu  
không lấy là thế nọ thế kia. Rồi Già  
làng gọi lên hỏi, mình không biết có  
cưới hay không. Vì lúc đó phân biệt  
dân tộc này kia, bên chồng mình phản  
đối không cho ... Lúc ấy mình có bảo,  
chưa có điều kiện chưa cho lấy... Họp  
làng ở nhà rông, mang ra kiểm điểm.  
Thế là mình bị phạt 1 chỉ vàng với con  
heo 50kg, 1 ghè rượu [tên gọi rượu  
cần men lá của người Brâu] vì chửa  
hoang... Giờ chửa trước thậm chí đẻ  
con xong rồi mới cưới. Có ai thèm ăn  
như trước đâu mà đòi phạt. Bình  
thường rồi” (PVS, nữ, sinh năm 1982,  
người Brâu).  
họ), và nội hôn tộc người (hôn nhân  
trong nội bộ tộc người). “Luật tục Brâu  
qui định: Nghiêm cấm nam, nữ chung  
huyết thống lấy nhau. Tuy nhiên, trai  
gái trong một dòng từ đời thứ ba trở  
lên đã được kết hôn với nhau nếu hai  
bên tìm hiểu và yêu nhau. Do số  
lượng người Brâu không nhiều lại  
sống tập trung chủ yếu ở làng Đắk Mế  
nên quan điểm nội hôn tộc người đã  
dẫn đến tình trạng hôn nhân cận  
huyết, đa phu, cậu cháu lấy chung  
một vợ, hôn nhân anh em chồng, chị  
em vợ... (Bùi Ngọc Quang, 2017: 129).  
“Ngày xưa, thời ông bà thì anh em  
cách 1-2 đời vẫn có thể lấy nhau. Bây  
giờ không vậy nữa, thường kết hôn  
Quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình cách 3 đời trở lên và hôn nhân với  
dục trước hôn nhân dẫn tới mang thai  
trước hôn nhân có thể ngoài hoặc  
không ngoài ý muốn. “Em yêu chồng  
em hồi lớp 11, … Em cũng sợ nếu lỡ  
có bầu nó không cưới. Khi bầu rồi thì  
cưới, mà em bỏ học tiếc, nên em vẫn  
đang đi học lại. Bữa sau con gái em  
lớn, em phải dạy con em nếu có quan  
hệ thì phải tránh thai này nọ mới  
được” (PVS, nữ, sinh năm 1998, sinh  
viên, người Brâu).  
người khác dân tộc ngày càng nhiều”  
(PVS, nam, sinh năm 1974, nông dân,  
người Brâu).  
Trong từng giai đoạn cụ thể, mối quan  
hệ hôn nhân của người Brâu được  
xác lập theo xu hướng khác nhau.  
Hiện nay, người Brâu ở Việt Nam vẫn  
có mối quan hệ hôn nhân với cộng  
đồng người Brâu  
ở
Lào và  
Campuchia. Đây là mối quan hệ hôn  
nhân đồng tộc xuyên biên giới. Bởi vì,  
người Brâu với mối quan hệ dòng tộc  
khăng khít, họ thường xuyên qua lại  
thăm hỏi, làm ăn, trao đổi hàng hóa,...  
Tuy nhiên, giới trẻ hiện nay có xu  
hướng hôn nhân đồng tộc xuyên biên  
giới giảm so với thế hệ bố mẹ, ông bà  
của mình. Đồng thời, xu hướng kết  
hôn mở rộng về thành phần dân tộc  
trong nước.  
Tuy nhiên, phụ nữ Brâu trong độ tuổi  
sinh sản sau khi sinh con đầu tiên đã  
có sự chủ động tìm hiểu và lựa chọn  
biện pháp tránh thai phù hợp. Đặc biệt,  
cuộc khảo sát không ghi nhận có  
trường hợp nạo phá thai ngoài ý muốn.  
Một trong những nguyên tắc cơ bản  
có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa  
chọn bạn đời của người Brâu là ngoại  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
87  
Bảng 1. Hôn nhân hỗn hợp tộc người của  
người Brâu.  
văn hóa phong phú, đa dạng, và xu  
hướng hôn nhân hỗn hợp tộc người  
tất yếu diễn ra. Xu hướng lấy vợ, lấy  
chồng là người khác dân tộc ở địa  
phương diễn ra mạnh mẽ. Yếu tố  
cùng tộc người không còn là yếu tố  
quan trọng, quyết định hàng đầu trong  
lựa chọn hôn nhân của người Brâu.  
Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có  
23,5% nam giới và 24,5% nữ giới  
chọn bạn đời là người cùng dân tộc.  
Hiện nay có đến 94,9% ý kiến khảo  
sát đồng ý với quan niệm về hôn nhân  
khác dân tộc.  
Thành phần dân tộc  
Tỷ lệ  
STT trong quan hệ hôn  
Số cặp  
%
nhân  
1
2
3
4
Brâu - Xơ-đăng  
Brâu - Mường  
Brâu - Thái  
40  
6
80  
12  
6
3
Brâu - Kinh  
1
6
Cộng  
50  
100  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo  
sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi hôn  
nhân và gia đình của người Brâu hiện  
nay”, năm 2020.  
Cùng những quan niệm về hôn nhân  
như trên, số liệu trong Hình 1 cho thấy  
có 92,8% chọn vợ và 93,9% chọn  
chồng là người biết yêu thương. Tiếp  
đến là những chuẩn mực về đạo đức  
như thẳng thắn, thật thà, quý mến anh  
em họ hàng, ở cả nam và nữ đều  
chiếm tỷ lệ rất cao trên 90%.  
Theo Bảng 1, tổng số cặp vợ chồng  
người Brâu kết hôn khác dân tộc là 50  
cặp, trong đó tỷ lệ người Brâu kết hôn  
với người Xơ-đăng chiếm tới 80%.  
Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ kết hôn  
cao giữa người Brâu và người Xơ-  
đăng được lý giải phần nào từ kết quả  
phỏng vấn sâu, dường như người  
Brâu có xu hướng kết hôn với những  
nhóm dân tộc có sự tương đồng nhất  
định với mình về sự phát triển kinh tế -  
xã hội, nhất là văn hóa. “Trước em có  
quen người Mường, nhưng bố mẹ  
không cho, bảo sợ mấy trai Mường  
hay lừa, lấy xong chán bỏ. Người  
Mường nói chuyện khéo giống người  
Kinh. Bố mẹ bảo lấy người Xơ-đăng vì  
nó ăn lá mì, lá măng giống nhau”  
(PVS, nữ, sinh năm 1994, nông dân,  
người Brâu).  
Người Brâu vốn sống ở nông thôn,  
làm nông nghiệp nên tiêu chuẩn về  
sức khỏe, giỏi làm nương rẫy, biết quý  
mến anh em họ hàng và hiểu biết  
phong tục tập quán cũng chiếm tỷ lệ  
cao. Ngoài ra, thanh niên người Brâu  
hiện nay lựa chọn vợ/chồng có khả  
năng làm kinh tế, kiếm việc làm để  
tăng thu nhập. Nhiều thanh niên chọn  
vợ/chồng là người có trình độ học vấn;  
có việc làm; là cán bộ công chức, viên  
chức cơ quan Nhà nước (chọn vợ  
15,3% và chọn chồng là 16,3%).  
Nguyên nhân xuất hiện xu hướng này  
Sau khi Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y thông  
thương (năm 2005), việc di dân tạo  
nên sự đan xen các thành phần tộc bên cạnh lý do về tính ổn định thu  
người (Brâu, Mường, Thái, Xơ-đăng, nhập về mặt kinh tế, còn do sự gia  
Kinh...), hình thành một không gian tăng quá trình tiếp biến giao thoa văn  
88  
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…  
Hình 1. Tiêu chuẩn chọn vợ, chọn chồng của người Brâu hiện nay (%).  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi hôn  
nhân và gia đình của người Brâu hiện nay”, năm 2020.  
hóa với các cộng đồng khác khi định ngoài bìa rừng để trai gái cùng nhau  
canh định cư, trong bối cảnh hội nhập  
phát triển kinh tế ở vùng cửa khẩu tại  
ngã ba Đông Dương. Đặc biệt là sự  
tiếp xúc của người dân với cán bộ  
trong hệ thống chính trị cơ sở khi thực  
hiện các chính sách phát triển vùng  
dân tộc ít người.  
tự tình. Đây là thời gian để đôi trai gái  
tìm hiểu, nếu cuộc tình suôn sẻ, họ trở  
thành vợ chồng. Trường hợp không  
thành đôi lứa, họ lặng lẽ chia tay nhau  
và đi tìm bạn tình mới. Cũng có những  
trường hợp cha mẹ tìm vợ, tìm chồng  
cho con cái thông qua hình thức hứa  
gả con cho nhau. Khi đứa trẻ mới  
khoảng 5-6 tuổi, gia đình nhà trai  
mang lễ vật đến nhà gái để có lời giao  
ước. Khi đôi trẻ đến tuổi trưởng thành,  
hai bên gia đình sẽ tổ chức lễ cưới lại,  
đầy đủ các bước theo nghi thức  
truyền thống” (Bùi Ngọc Quang, 2017:  
38).  
3.2. Hình thức tìm hiểu vợ (chồng)  
trước hôn nhân của người Brâu  
Trong xã hội truyền thống, nam/nữ  
Brâu đến tuổi trưởng thành được tự  
do yêu đương, tìm kiếm bạn tình,  
cũng có thể do bạn bè tác hợp, đôi khi  
do hai gia đình hứa gả. “Gia đình sẽ  
dựng chòi (nam đoóc) ở sau nhà hay  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
89  
Hình 2. Các kênh tìm hiểu trước hôn nhân của người Brâu hiện nay (%).  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi  
hôn nhân và gia đình của người Brâu hiện nay”, năm 2020.  
Hiện nay, khi đến tuổi dựng vợ gả  
chồng thì nam/nữ Brâu cũng chủ động  
trong tìm kiếm, lựa chọn bạn đời.  
Người Brâu cũng có nhiều kênh thông  
tin khác nhau để tìm hiểu và yêu  
đương trước khi kết hôn như tìm hiểu  
nhau tại nơi làm việc, nơi học tập, qua  
mai mối, qua thăm thân, đi chơi và  
thậm chí là qua mạng xã hội. “Ngày  
xưa, hồi mình bố mẹ bảo lấy ai thì lấy.  
Chồng mình với mình có yêu nhau  
trước đâu, bảo lấy thì lấy. Giờ con đi  
làm, đi chơi, đi cưới, gặp ai ưng thì  
lấy” (PVS, nữ, sinh năm 1952, nông  
dân, người Brâu).  
Họ được tự do tìm hiểu, quan tâm  
chia sẻ, bày tỏ tình cảm với người  
mình yêu vào các dịp thăm thân, dự  
đám cưới, đi chợ ngày lễ tình yêu  
14/2, Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, Lễ  
Noel, tiệc sinh nhật… Họ được mở  
rộng về không gian, thời gian để tìm  
hiểu/yêu đương trước khi kết hôn  
bằng những ngôn từ, món quà và  
không gian, phương tiện hiện đại.  
Thay vì gặp gỡ theo từng nhóm  
nam/nữ tại nhà rông thì nam/nữ hiện  
nay hẹn nhau tại quán cà phê, quán  
sinh tố, cửa hàng tạp hóa trong thôn  
xã và qua mạng facebook, zalo. “Em  
với vợ em (người yêu) biết nhau khi đi  
chơi với bạn, rồi xin facebook để tán,  
sau 2 tuần thì em và vợ em yêu nhau.  
Trong các kênh tìm hiểu, hình thức  
tìm hiểu truyền thống là thăm thân, đi  
chơi với nhau vẫn là phổ biến nhất mà  
nam/nữ Brâu tìm hiểu/yêu đương  
trước khi kết hôn (70,4%). “Em có chú  
lấy vợ người Xơ-đăng ở Đắk Sú, em  
đi chơi rồi gặp, nó thích mình mình  
thích nó. Thích là lấy thôi, gặp nhau 1-  
2 tuần là lấy nhau thôi” (PVS, nữ, sinh  
Thì quen nhau, yêu nhau bọn em đi năm 1994, nông dân, người Brâu).  
uống nước, đi chơi. Lúc nào có dịp có Bên cạnh đó, 52,1% cho rằng hiện  
tiền cũng mua quà tặng vợ em, là nay nam/nữ tìm hiểu/yêu đương nhau  
tại nơi làm việc, mai mối là 37,8%; chỉ  
có 4,1% cho rằng nơi học tập là nơi  
người yêu em ấy” (PVS, nam, sinh  
năm 2004, người Brâu).  
90  
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…  
trai gái tìm hiểu/yêu đương nhau. Một tảo hôn khá phổ biến. “Anh cưới vợ  
năm 1989. Lấy vợ cùng tuổi, do được  
mai mối từ năm 15 tuổi. Biết gì đâu bố  
mẹ bảo lấy thì lấy thôi” (PVS, nam,  
sinh năm 1974, người Brâu, nông  
dân).  
điều khác biệt so với trước đây là có  
52,1% nam/nữ tìm hiểu/yêu đương  
nhau thông qua mạng xã hội. Điều  
này cho thấy sự phát triển của đời  
sống xã hội, đặc biệt là công nghệ  
thông tin đã có những tác động trực  
tiếp đến quan hệ hôn nhân.  
Độ tuổi kết hôn được xác định theo  
Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình  
(2000): “Nam từ hai mươi tuổi trở lên,  
nữ từ mười tám tuổi trở lên”. Kết quả  
nghiên cứu thể hiện ở Hình 3 cho thấy  
về cơ bản tỷ lệ nam/nữ kết hôn trước  
độ tuổi cho phép là thấp, 1% đối với  
nam và 3,1 % đối với nữ; tỷ lệ nam/nữ  
kết hôn đúng và trên độ tuổi pháp luật  
cho phép chiếm trên 90%. Nếu nhìn  
vào tỷ lệ này thì thấy, tuổi kết hôn của  
người Brâu đã được nâng lên và đảm  
bảo theo quy định pháp luật. Tuy  
nhiên, thực tế không hoàn toàn như  
số liệu ở đây. Bởi lẽ nam/nữ Brâu  
được tự do tìm hiểu và quan hệ tình  
dục trước hôn nhân là điều không bị  
dư luận và luật tục cấm kỵ. Khi mối  
quan hệ này đến độ khăng khít, họ  
báo cáo với gia đình. Cha mẹ hai bên  
3.3. Tuổi kết hôn của người Brâu  
“Tuổi kết hôn là một trong những chỉ  
báo đánh giá sự biến đổi của mô hình  
hôn nhân” (Lê Ngọc Văn, 2011: 301).  
Tại Việt Nam, tảo hôn, kết hôn sớm là  
một trong những hủ tục khá phổ biến  
ở nhiều dân tộc thiểu số trong đó có  
người Brâu. “Để có thể kết hôn ở độ  
tuổi quá sớm ấy, khi đến tuổi 9-10,  
các đôi trai, gái Rơ-măm và Brâu xưa  
đã biết kiếm tìm bạn gái, bạn trai cho  
mình. Các tình huống trong lao động  
sản xuất, hay dịp vui chơi lễ hội cộng  
đồng là thời cơ tốt để họ đi tìm bạn  
đời” (Nguyễn Thế Huệ, 2001: 55-56).  
Trước đây tuổi kết hôn của nam nữ  
người Brâu thường sớm, hiện tượng  
Hình 3. Tuổi lấy vợ, lấy chồng của người Brâu hiện nay (%).  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi của đề tài “Biến đổi hôn  
nhân và gia đình của người Brâu hiện nay”, năm 2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 10 (278) 2021  
91  
đồng thuận bằng một nghi lễ đơn giản trước đây. Nam/nữ có nhiều kênh  
(tương tự như lễ dạm ngõ của người thông tin khác nhau để tìm hiểu và  
Kinh), ngay sau đó người nam có thể yêu đương trước khi kết hôn, trong đó  
ở lại nhà gái, cùng làm nương rẫy, ăn có cả việc tìm hiểu nhau qua mạng xã  
ở và sống với cô gái như vợ chồng; hội. Người Brâu đã hiểu biết và tuân  
nếu người nữ có thai thì họ đăng ký thủ Luật Hôn nhân và Gia đình, độ  
kết hôn và làm đám cưới nếu đủ tuổi; tuổi kết hôn của người Brâu có xu  
nếu chưa đủ tuổi thì vẫn sống với hướng tăng lên ở cả nam và nữ. Tuy  
nhau, sinh con, khi nào đủ tuổi thì đi nhiên, so với mặt bằng chung của cả  
đăng ký kết hôn. Qua khảo sát chúng nước thì độ tuổi kết hôn của người  
tôi biết khá nhiều trường hợp như vậy. Brâu vẫn sớm hơn và vẫn xảy ra tình  
“Bọn em quan niệm nếu hai bên gia trạng tảo hôn, quan hệ tình dục sớm -  
đình đã gặp nhau thì hai đứa đã là vợ độ tuổi vị thành niên (13-16 tuổi).  
chồng và được sống cùng nhau. Còn  
Đối với tộc người Brâu, khi áp dụng  
đợi đến lúc đủ tuổi kết hôn thì sẽ tổ  
Luật Hôn nhân và Gia đình đòi hỏi  
chức cưới, nên thường khi cưới là  
phải cân nhắc thận trọng, đặc biệt  
đều có con cái hết rồi, tầm 14-15 tuổi  
phải chú ý tới đặc điểm văn hóa, tâm  
là đã về ở với nhau và có con nên  
lý tộc người, bị chi phối bởi những  
phải đợi đến khi đủ tuổi kết hôn thì  
phong tục, tập quán riêng, quan niệm  
mới tổ chức cưới và đăng ký kết hôn  
về tình dục, về tuổi kết hôn, về tiêu  
luôn” (PVS, Nữ, sinh năm 1996, người  
chuẩn chọn vợ, kén chồng… Cho nên,  
Brâu). Như vậy, cùng với sự phát triển  
bên cạnh những kiến thức chuyên  
của kinh tế - xã hội và do làm tốt công  
môn chung thì mỗi cán bộ cơ sở cần  
tác tuyên truyền vận động và quản lý  
được tập huấn, cập nhật thêm về  
hành chính ở cơ sở nên tuổi kết hôn  
những đặc trưng văn hóa tộc người  
của người Brâu đã được nâng lên, tuy  
Brâu. Trên cơ sở đó, các tổ chức  
vẫn còn một số trường hợp tảo hôn.  
Đảng, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,  
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Hội Nông dân cần phát huy vai trò  
Hôn nhân của người Brâu đã có sự trong công tác lãnh đạo, đẩy mạnh  
biến đổi rõ rệt khi đời sống kinh tế - xã triển khai thực hiện và tuyên truyền,  
hội và văn hóa phát triển: tục cà răng,  
căng tai, tục tảo hôn, đa phu/đa thê  
hay hôn nhân cận huyết không tồn tại  
như trước đây. Hiện nay, tiêu chuẩn  
lựa chọn bạn đời của người Brâu đã  
có nhiều biến đổi. Xu hướng hôn nhân  
đa tộc người ngày càng gia tăng. Các  
hình thức tìm hiểu/yêu đương của các  
cặp đôi nam nữ cũng đa dạng hơn  
phổ biến, giáo dục người dân thực  
hiện tốt Luật Hôn nhân và Gia đình,  
Pháp lệnh dân số bên cạnh việc xây  
dựng đời sống văn hóa cộng đồng,  
loại bỏ những hủ tục trong hôn nhân  
và gia đình, cụ thể: mở các lớp tìm  
hiểu về cơ chế tâm sinh lý lứa tuổi của  
con người, sức khỏe sinh sản vị thành  
niên, lớp tiền hôn nhân, quy định xử  
92  
ĐINH NHƯ HOÀI – MỘT SỐ BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN…  
phạt của pháp luật về quan hệ tình Đảng và Nhà nước ta là chủ trương  
hoàn toàn đúng đắn. Qua đó, người  
Brâu đã ổn định cuộc sống và phát  
triển. Tuy nhiên, việc triển khai nên có  
những ứng xử khoa học, phù hợp với  
truyền thống văn hóa tộc người, tránh  
áp đặt chủ quan gây lãng phí cũng  
như gây tâm lý ỷ lại, trông chờ vào  
nguồn hỗ trợ của Nhà nước, hay vì lợi  
ích trước mắt mà phá vỡ trật tự,  
khuôn mẫu, chuẩn mực trong các mối  
quan hệ cá nhân, gia đình và cộng  
đồng người Brâu. Kinh tế - xã hội phát  
triển, trình độ học vấn được nâng lên  
là nền tảng giúp đẩy lùi những hạn  
chế trong hôn nhân hiện nay.  
dục tuổi vị thành niên, các biện pháp  
tránh thai, sinh con ngoài ý muốn…  
Đặc biệt nhấn mạnh tới đến mục tiêu  
để khi đứa trẻ sinh ra được khỏe  
mạnh và được nuôi dưỡng đầy đủ về  
thể chất, tinh thần, trí tuệ và sức khỏe  
của sản phụ. Đồng thời kết hợp biện  
pháp xử phạt hành chính đối với  
những trường hợp tảo hôn, vi phạm  
luật, chính sách về hôn nhân và gia  
đình cũng như các yếu tố khác gây  
ảnh hưởng không tốt tới cá nhân, gia  
đình và xã hội.  
Chương trình định canh, định cư, xây  
dựng khu kinh tế cửa khẩu, hỗ trợ xây  
dựng nhà ở, cơ sở hạ tầng… của  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Ngọc Quang. 2017. Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở Việt Nam. Hà Nội:  
Nxb. Mỹ thuật.  
2. Bùi Ngọc Quang. 2017.“Nghiên cứu về dân tộc Brâu từ năm 1986 đến nay”, trong  
Các dân tộc ở Việt Nam. Tập 3 - Nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me, do Vương Xuân Tình  
(chủ biên). Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
3. Friedrich Engels. 1961. Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước,  
Tuyển tập Mác - Ăngghen. Tập VI. Hà Nội: Nxb. Sự thật.  
4. Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa. 2002. Từ điển bách khoa  
Việt Nam. Tập 2. Hà Nội: Nxb. Từ điển Bách khoa.  
5. Lê Ngọc Văn. 2011. Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học  
Xã hội  
6. Nguyễn Thế Huệ. 2001. Dân số và phát triển của dân tộc Brâu và Rơ Măm ở Tây  
Nguyên. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.  
7. Quốc hội. 2000. Luật Hôn nhân và Gia đình. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
8. Tổng cục Thống kê. 2019. Tổng điều tra dân số và nhà ở. Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
9. Ủy ban nhân dân huyện Ngọc Hồi. 2020. Báo cáo Kết quả 15 năm thực hiện Chỉ thị  
49-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp  
hóa - hiện đại hóa đất nước.  
10. Vũ Tuấn Huy. 2004. “Hôn nhân và quá trình gia đình”, trong Xu hướng gia đình ngày  
nay (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương). Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội.  
pdf 10 trang baolam 23680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số biến đổi trong hôn nhân của người Brâu hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_doi_trong_hon_nhan_cua_nguoi_brau_hien_nay.pdf