Tăng cường sự liên kết hỗ trợ giữa các chính sách để mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐỂ THỰC HIỆN CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 28-NQ/TW  
TĂNG CƯỜNG SỰ LIÊN KẾT HỖTRỢ GIỮA CÁC CHÍNH SÁCH ĐỂ  
MỞ RỘNG ĐỐITƯỢNGTHAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC  
NGUYỄN THUỲ LINH  
Với vai trò là xương sống trong hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc  
sống của người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro hoặc khi hết tuổi lao động hay khi  
không còn khả năng lao động. Qua đó, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động, thúc  
đẩy sản xuất phát triển. Bài viết này tập trung làm rõ một số hạn chế về mặt chính sách đối với  
việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH, từ đó, đề xuất giải pháp tập trung tăng cường sự liên kết,  
hỗ trợ giữa các chính sách nhằm mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.  
Từ khóa: Bảo hiểm xã hội, người lao động, Quỹ Bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp  
“Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách  
BHXH cũng như tính linh hoạt của các chính sách  
nhằm đạt được mục tiêu mở rộng diện bao phủ”.  
Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện chính sách bảo hiểm  
STRENGTHENING ASSISTANCE LINKAGE BETWEEN  
POLICIES TO EXPAND THE OBJECTS OF COMPULSORY  
SOCIAL INSURANCE  
Nguyen Thuy Linh  
thất nghiệp (BHTN), không chỉ chú trọng các giải  
With the role of a backbone in the social security  
pháp xử lý hậu quả thông qua chi trả trợ cấp thất  
system, social insurance has contributed to stabilizing  
nghiệp, đào tạo đáp ứng yêu cầu của công việc mới,  
the lives of workers, assisting employees when they are  
giới thiệu việc làm mà cần chú ý đến các giải pháp  
at risk or at the end of their working age or lose their  
phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp thông  
qua hỗ trợ doanh nghiệp (DN), duy trì sản xuất kinh  
doanh, bảo đảm việc làm cho người lao động.  
Nghiên cứu thiết kế các gói BHXH tự nguyện  
ngắn hạn linh hoạt để người lao động có nhiều sự  
lựa chọn tham gia và thụ hưởng. Mở rộng các chế độ  
BHXH tự nguyện, tạo điều kiện chuyển đổi thuận lợi  
giữa BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc, hướng tới  
chính sách BHXH bắt buộc đối với toàn bộ người lao  
động có việc làm, có thu nhập và tiền lương.  
labor capacity. Thereby, contributing to stabilizing  
and improving the quality of labor and quality  
of life, promoting production and socio-economic  
development. This article focuses on clarifying a  
number of policy constraints to the expansion of social  
insurance participants, thereby proposing solutions  
to enhance the linkage and support among policies to  
expand participants in compulsory social insurance.  
Keywords: Social insurance, employees, social insurance fund,  
enterprises  
Ở mỗi quốc gia, tuỳ vào điều kiện phát triển kinh tế  
xã hội sẽ xây dựng hệ thống chế độ BHXH khác nhau  
theo Công ước số 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế  
(năm 1952) gồm: bảo hiểm y tế; ốm đau; thai sản; tai  
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; thất nghiệp; trợ  
cấp gia đình; mất sức lao động; hưu trí và tử tuất.  
Hiện nay, về cơ bản, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ  
8/9 chế độ. Riêng chế độ trợ cấp gia đình mặc dù chưa  
được thực hiện toàn diện nhưng đã được lồng ghép  
Ngày nhận bài: 19/5/2020  
Ngày hoàn thiện biên tập: 26/5/2020  
Ngày duyệt đăng: 3/6/2020  
Đặt vấn đề  
Ở Việt Nam, BHXH là một chính sách quan trong một số chính sách khác. Tham gia BHXH là yêu  
trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội  
được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngày  
cầu bắt buộc đối với người có thu nhập từ lao động và  
có quan hệ lao động, hình thành nên hình thức BHXH  
23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương 7 (khóa XII) bắt buộc. Bên cạnh đó, BHXH tự nguyện là hình thức  
đã ban hành Nghị quyết số 28 -NQ/TW về cải cách BHXH dành cho những người lao động ở khu vực phi  
chính sách BHXH. Nghị quyết số 28-NQ/TW nêu rõ: chính thức và không có quan hệ lao động.  
20  
TÀI CHÍNH - Tháng 6/2020  
Chính sách mở rộng đối tượng  
tham gia bảo hiểm xã hội  
đã tạo cơ hội cho hầu hết người lao động trong  
độ tuổi lao động tham gia hệ thống BHXH. Nếu  
Từ năm 1961, chính sách BHXH đã hình thành như năm 1995, chỉ những người lao động làm việc  
với việc Điều lệ BHXH đối với cán bộ công chức trong khu vực nhà nước và trong các DN có sử  
viên chức nhà nước được ban hành, gồm 6 chế độ: dụng từ 10 lao động trở lên mới thuộc phạm vi bao  
chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao động và bệnh phủ BHXH, thì đến năm 2003, DN có sử dụng từ  
nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Thời gian trước 01 lao động trở lên cũng thuộc phạm vi bao phủ.  
năm 1995, quy định về chế độ BHXH đã được sửa Ngoài ra, chính sách BHXH cũng mở rộng đến lao  
đổi bổ sung cho phù hợp với sự phát triển kinh động làm việc trong các hộ sản xuất, kinh doanh  
tế-xã hội của đất nước. Năm 1995, Quỹ BHXH cá thể, tổ hợp tác, hợp tác xã. Năm 2008, bên cạnh  
được tách ra và hoạt động độc lập với Quỹ Ngân BHXH bắt buộc còn có BHXH tự nguyện dành cho  
sách nhà nước (NSNN) trên cơ sở sự đóng góp của các đối tượng trong độ tuổi lao động không thuộc  
người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Năm 2016, đối  
trợ của Nhà nước.  
tượng tham gia BHXH bắt buộc mở rộng đến cả  
Luật BHXH được Quốc hội khoá XI thông qua lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao  
tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/6/2006, có hiệu lực thi động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Từ ngày  
hành từ 01/02/2007 đã đánh dấu mốc quan trọng 1/1/2018 áp dụng đối với người lao động có hợp  
trong hệ thống chính sách BHXH. Luật BHXH đồng lao động từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng.  
2007 đã kế thừa các quy định về chế độ BHXH bắt  
buộc trước đây, đồng thời mở rộng và phát triển  
Tính đến cuối năm 2019, cả nước có 15.773.928  
loại hình BHXH tự nguyện. Tiếp đó, đáp ứng yêu  
cầu thực tiễn kinh tế-xã hội của đất nước, ngày  
20/11/2014 Quốc hội khoá 13 đã ban hành Luật  
BHXH năm 2014 thay thế cho Luật BHXH năm  
2007 trong đó có những thay đổi lớn về chính sách  
BHXH: bổ sung thêm 02 đối tượng tham gia BHXH  
bắt buộc; bổ sung thêm nhiều khoản thu nhập tính  
đóng BHXH bắt buộc; quy định tăng số năm đóng  
BHXH để được hưởng mức lương tối đa...  
người tham gia bảo hiểm xã hội, bằng 32,2% so  
với lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó:  
bảo hiểm xã hội bắt buộc là 15.199.985 người,  
bằng 31,1%; bảo hiểm xã hội tự nguyện là  
573.943 người, bằng 1,2%; có 13.429.401 người  
tham gia bảo bảo hiểm thất nghiệp, bằng 27,4%  
so với lực lượng lao động trong độ tuổi.  
Tính đến cuối năm 2019, cả nước có 15.773.928  
Đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường người tham gia BHXH, bằng 32,2% so với lực lượng  
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc lao động trong độ tuổi, trong đó: BHXH bắt buộc  
tế, tại Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung là 15.199.985 người, bằng 31,1%; BHXH tự nguyện  
ương Đảng (khoá XII) đã ban hành Nghị quyết số là 573.943 người, bằng 1,2%; Có 13.429.401 người  
28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bằng  
BHXH với mục tiêu tổng quát là “cải cách chính  
sách BHXH để BHXH thực sự trở thành trụ cột  
27,4% so với lực lượng lao động trong độ tuổi.  
So với mục tiêu của Nghị quyết số 28-NQ/TW  
chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở phấn đấu đến năm 2021 có 35%, đến năm 2025  
rộng vững chắc diện bao phủ, hướng tới mục tiêu có 45%, đến năm 2030 có 60% lực lượng lao động  
BHXH toàn dân”. Theo đánh giá, nội dung cải trong độ tuổi tham gia BHXH), thì kết quả năm  
cách chính sách BHXH đề cập tại Nghị quyết số 2019 (32,2%) là co số khiêm tốn. Có nhiều nguyên  
28-NQ/TW đã tiệm cận các tiêu chuẩn về an sinh nhân dẫn đến việc mở rộng đối tượng tham gia  
xã hội trong Công ước và khuyến nghị của Tổ chức BHXH còn chậm và kết quả đạt được chưa như kỳ  
Lao động quốc tế (ILO), cũng như kế thừa những vọng là do một số nguyên nhân chính sau:  
thông lệ tốt của quốc tế trong xây dựng chính sách  
Thứ nhất, Luật BHXH chưa bao phủ hết đối  
về BHXH. Điểm mới về chính sách BHXH tại Nghị tượng có khả năng tham gia BHXH bắt buộc như:  
Quyết số 28-NQ/TW là phát triển BHXH đa tầng, chủ hộ kinh doanh cá thể và người quản lý DN,  
tăng cường sự liên kết chính sách để hỗ trợ và bổ người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng  
sung cho nhau nhằm đạt mục tiêu mở rộng diện tiền lương. Hai nhóm đối tượng này không thuộc  
bao phủ, đảm bảo an sinh cho mọi người dân.  
diện bắt buộc tham gia BHXH. Trên thực tế, nhu  
Thực tế cho thấy, hệ thống chính sách BHXH cầu và khả năng tham gia của 2 nhóm đối tượng  
21  
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐỂ THỰC HIỆN CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 28-NQ/TW  
này hiện nay khá lớn. Trong tổng số hơn 3,5 triệu  
thì với 6.000 tỷ đồng từ Quỹ BHTN, mỗi năm có  
hộ có đăng ký kinh doanh, tính đến hết 31/12/2019 thể giúp khoảng 500.000 lao động không mất việc  
đã có khoảng hơn 4.240 chủ hộ kinh doanh cá thể  
làm. Họ tiếp tục được tham gia BHXH và tạo ra  
đã đăng ký tham gia BHXH; cơ quan BHXH đã tổ hàng hóa, dịch vụ, đóng góp vào tăng trưởng. Đây  
chức thu và giải quyết hưởng các chế độ BHXH cũng là nguyên tắc chia sẻ theo nghĩa rộng, DN lớn  
cho các đối tượng này.  
ít sa thải lao động.  
Thứ hai, quy định về điều kiện thời gian tham  
Việc hỗ trợ này hướng tới mục đích tạo sự gắn  
gia BHXH 20 năm mới được hưởng lương hưu là kết xã hội giữa cộng đồng người lao động và cộng  
khá khắt khe, dẫn đến tình trạng nhiều người có đồng DN. Phần hỗ trợ tài chính được thể hiện dưới  
thời gian đóng BHXH dài, thậm chí đến 18-19 năm dạng hỗ trợ có thời hạn một phần tiền lương hoặc  
nhưng vẫn rời khỏi hệ thống, hưởng BHXH một  
lần thay vì được hưởng lương hưu.  
đóng BHXH để giảm chi phí cho DN trong nỗ lực  
cùng Chính phủ giảm tình trạng sa thải lao động.  
Hai là, tăng cường sự kết nối và hỗ trợ lẫn nhau  
Thứ ba, thiếu sự liên kết giữa chính sách BHXH  
với các chính sách xã hội khác. Liên quan trực tiếp giữa chế độ BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.  
đến mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia BHXH, Thiết kế các gói BHXH tự nguyện ngắn hạn (ốm  
chính sách BHXH hiện nay còn thiếu sự liên kết đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp),  
với chính sách BHTN.  
linh hoạt để người lao động có nhiều lựa chọn  
tham gia và thụ hưởng. Mở rộng các chế độ BHXH  
tự nguyện, tạo điều kiện chuyển đổi dễ dàng giữa  
Một số đề xuất  
Để gia tăng diện bao phủ của BHXH, trong thời BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc, hướng tới  
gian tới cần quan tâm đến một số nội dung sau:  
Một là, tăng cường liên kết chính sách BHXH  
với chính sách BHTN.  
Để mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc  
và phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng rời bỏ hệ  
chuyển đổi hoàn toàn BHXH tự nguyện thành  
BHXH bắt buộc.  
Kết luận  
Phát triển đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt  
thống của những lao động có nguy cơ sa thải cao, là đối tượng BHXH bắt buộc là nội dung cần thiết  
Công ước 168 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); nhằm mở rộng diện bao phủ BHXH, đảm bảo đúng  
Khuyến nghị 176 của ILO về khuyến khích xúc tiến ý nghĩa ổn định cuộc sống cho người lao động của  
việc làm và và ngăn ngừa thất nghiệp, cũng như BHXH. Tăng cường liên kết giữa chính sách BHXH  
chính sách bảo hiểm việc làm thường thiết kế các và chính sách BHTN là một giải pháp đánh trúng  
chính sách hỗ trợ từ quỹ BHTN đối với cả DN và 3 mục tiêu: Giảm tỷ lệ người lao động bị sa thải và  
người lao động thất nghiệp. Sử dụng Quỹ BHTN rời bỏ khỏi hệ thống BHXH; Đảm bảo một chính  
hỗ trợ một phần tiền lương hoặc chi phí đóng  
BHXH đối với DN có nguy cơ phải sa thải lao động trong hệ thống chính sách an sinh xã hội. Vấn đề  
cao nhằm duy trì việc làm cho người lao động. liên kết chính sách thành công sẽ tạo sự thay đổi  
sách BHTN đa mục tiêu; Đảm bảo tính thống nhất  
Các DN nhỏ và vừa có thể được Quỹ BHTN hỗ căn bản trong hệ thống chính sách an sinh xã hội,  
trợ một phần chi phí trả lương cho người lao động. góp thêm giải pháp căn cơ để mở rộng diện bao  
Điều này vừa không làm phát sinh chi phí của DN, phủ BHXH.  
vừa duy trì mức lương phù hợp cho người lao  
động, duy trì việc làm bền vững, giảm thất nghiệp  
Tài liệu tham khảo:  
và gián tiếp làm giảm số người nghỉ việc hưởng  
BHXH một lần. Dẫn đến Quỹ BHTN không phải  
1. Nghị Quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị Ban chấp hành Trung  
ương 7 (khoá XII);  
trả trợ cấp thất nghiệp, đồng thời người lao động 2. Quốc hội (2006), Luật Bảo hiểm xã hội năm 2007;  
tiếp tục tham gia BHXH để có cơ hội hưởng lương 3. Quốc hội (2014), Luật Bảo hiểm xã hội năm 2015;  
hưu khi hết tuổi lao động.  
4. Công ước số 168 và Khuyến nghị số 176 của Tổ chức Lao động Quốc tế  
Ở Việt Nam, tính đến năm 2019, Quỹ BHTN còn  
kết dư trên 80.000 tỷ đồng. Giả định nếu sử dụng  
Quỹ BHTN hỗ trợ DN sử dụng lao động thuộc  
nhóm này mỗi tháng 1 triệu đồng/1 lao động để  
giảm áp lực về tiền lương, về chi phí đóng BHXH,  
về thúc đẩy việc làm và ngăn ngừa thất nghiệp.  
Thông tin tác giả:  
TS. Nguyễn Thuỳ Linh, Học viện Tài chính  
Email: thuylinhtc[email protected]  
22  
pdf 3 trang baolam 18620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tăng cường sự liên kết hỗ trợ giữa các chính sách để mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftang_cuong_su_lien_ket_ho_tro_giua_cac_chinh_sach_de_mo_rong.pdf