Ý thức thuộc về và sự gắn kết xã hội đối với cộng đồng cư trú của lao động trẻ di dân tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
1
CHUYÊN MỤC
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC
Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT XÃ HỘI ĐỐI VỚI
CỘNG ĐỒNG CƢ TRÚ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI DÂN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
ĐỖ HỒNG QUÂN*
Nghiên cứu tác động của ý thức thuộc về (sense of belonging) một cộng đồng
mới ở đô thị đến sự gắn kết xã hội của lao động di dân là một hướng nghiên cứu
tương đối mới ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc cộng đồng lao
động di dân chủ yếu dựa vào những mối quan hệ liên cá nhân, mạng lưới xã hội
đồng hương hay đồng nghiệp. Ranh giới cộng đồng của lao động di dân gồm cả
cộng đồng hữu hình lẫn cộng đồng mạng lưới ảo. Mặt khác, ý thức thuộc về tác
động đến sự gắn kết xã hội của lao động di dân trên bình diện mạng lưới xã hội.
Từ khóa: ý thức thuộc về, gắn kết xã hội, cộng đồng
Nhận bài ngày: 29/6/2020; đưa vào biên tập: 5/7/2020; phản biện: 15/7/2020; duyệt
đăng: 16/11/2020
1. DẪN NHẬP
đồng nào; cấu trúc cộng đồng hay
mức độ gắn kết xã hội của họ. Xét về
mặt tác động, di dân cũng là quá trình
làm mất đi các nguồn lực hỗ trợ một
cách rõ nét và thường gắn với những
thách thức tiêu cực về tâm lý, xã hội
(Sonn, 2002; Berry, 1997). Do đó, để
thích ứng với những tác động trên,
những cộng đồng di dân thường được
hình thành trên cơ sở những người có
cùng hoàn cảnh, địa vị kinh tế, xã hội,
văn hóa (Nguyễn Văn Phúc, 2017;
Nguyễn Đức Lộc, 2016; Hickman,
Crowley, Mai, 2008; Cheong - Goulbourne
Nghiên cứu tác động của ý thức thuộc
về (sense of belonging) đến sự gắn
kết xã hội đóng vai trò quan trọng
trong nghiên cứu lao động di dân đô
thị. Điều này giúp trả lời cho những
câu hỏi như: những hình thái gắn kết
xã hội của lao động trẻ di dân hiện
nay như thế nào; người lao động di
dân tự xác định họ thuộc về cộng
*
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh.
2
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
và Solomos, 2007).
Cohen và Pike, 2005); sự tin cậy trong
cộng đồng như là yếu tố quan trọng
giúp hình thành mối quan hệ gắn bó,
cảm xúc kết nối, hạnh phúc (Bess,
Fisher, Sonn & Bishop, 2002; Pretty et
al., 2006); tầm quan trọng của hai biến
số vốn xã hội và ý thức cộng đồng
như là hai chỉ báo quan trọng ảnh
hưởng đáng kể đến tình trạng loại trừ
xã hội hay mức độ hạnh phúc/phúc lợi
xã hội mà cá nhân được hưởng
(Stanley, Janet Stanley và Hensher,
2012).
Tầm quan trọng của ý thức thuộc về
còn được nhấn mạnh qua những
phân tích của Anthony Giddens.
Giddens (1994: 124) cho rằng “trên
mỗi mặt của bình diện chính trị ngày
hôm nay, chúng ta nhận thấy nỗi sợ
hãi về sự tan rã xã hội và lời kêu gọi
về sự hồi sinh của cộng đồng”. Xét về
mặt xã hội, hầu như mọi người đều là
thành viên của một hay nhiều cộng
đồng nào đó. Đây là nơi cung cấp cho
cá nhân những lợi ích và sự nương
tựa khi đối mặt với những khó khăn
trong cuộc sống. Bess, Fisher, Sonn &
Bishop (2002: 3) lập luận rằng: với sự
phát triển của các phương tiện truyền
thông xuyên quốc gia hay quá trình đô
thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, vai trò
của các cộng đồng đô thị hầu như vẫn
không bị suy giảm; đồng thời, cùng
với sự gia tăng nỗi lo sợ về những gì
chưa biết trước trong tương lai đã
khiến cho cộng đồng, sự thuộc về
(belonging) trở nên hết sức quan
trọng trong đời sống hiện đại.
Bên cạnh chiều kích sự tin cậy, vốn xã
hội, gắn kết xã hội cũng là chủ đề
được các nhà nghiên cứu quan tâm,
nhất là tại những quốc gia có mức độ
di dân lớn. Các công trình theo xu
hướng này thường tìm hiểu mối quan
hệ giữa người di dân với sự gắn kết
vào xã hội sở tại (Alesina và La
Ferrara, 2000; Putnam, 2007; Painter,
2013). Các chỉ số về sự gắn kết xã hội
như niềm tin khái quát, sự tham gia xã
hội và các giá trị công dân (Uslaner,
2012; Putnam 2007; Stolle và cộng sự,
2008). Quá trình tự nhận diện và lựa
chọn trở thành một phần của quốc gia
(Soroka và cộng sự, 2016).
Nhìn chung, những xu hướng phân
tích về tác động của ý thức thuộc về
trải rộng từ nhiều hướng khác nhau.
Đó là mối quan hệ giữa ý thức thuộc
về với vốn xã hội hay sự tin cậy của
lao động di dân thông qua những
phân tích về địa vị xã hội, việc sử
dụng các nguồn lực khác nhau trong
đó có vốn, mạng lưới xã hội như một
nguồn lực giúp lao động di dân tồn tại
trong môi trường đô thị (Stanley,
Nghiên cứu mối quan hệ giữa ý thức
thuộc về với sự gắn kết xã hội của lao
động di dân là một chủ đề lý thú đối
với nhiều nhà khoa học xã hội. Trên
phương diện lý thuyết, hướng nghiên
cứu trên sẽ giúp trả lời cho những câu
hỏi quan trọng như: cộng đồng đô thị
là gì, đâu là những biểu hiện của ý
Janet Stanley và Hensher, 2012; Xu, thức thuộc về hay sự gắn kết xã hội,
Perkins, Chun và Chow, 2010; Pooley, cấu trúc của cộng đồng đô thị... Trên
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
thực tiễn, nghiên cứu ý thức thuộc về xúc gắn kết và tư cách thành viên
sẽ giúp định hình chính sách xã hội (McMillan và Chavis, 1986). Các chỉ
mà một quốc gia dành cho lao động di
dân như: phúc lợi/an sinh xã hội dành
cho lao động; hạn chế tình trạng bị
loại trừ xã hội... Phạm vi bài viết này
tập trung phân tích chủ yếu đến cộng
đồng cư trú và mạng lưới xã hội xung
quanh nơi sinh sống của lao động di
dân tại TPHCM.
báo đo lường cảm xúc gắn kết gồm: ý
thức xem khu phố/cộng đồng nơi cá
nhân là thành viên là nơi đáng sống,
sự chia sẻ giữa các cá nhân với nhau
khi gặp khó khăn (kinh tế, thông tin,
tình cảm...), mức độ hỏi thăm nhau,
cảm giác an toàn. Tư cách thành viên
được đo lường qua các chỉ báo như:
cá nhân tự biết mình thuộc về
nhóm/cộng đồng nào, cá nhân được
chấp nhận ở đâu, điểm chung giữa
các thành viên trong nhóm/cộng đồng,
đánh giá về tầm quan trọng của các
thành viên lên nhau, cảm giác tự hào
khi là thành viên trong nhóm, cộng
đồng. Ngoài ra, ý thức thuộc về trong
bài viết này chỉ tìm hiểu sự thuộc về
đối với cộng đồng đô thị TPHCM nơi
mà người lao động trẻ di dân hiện
đang sinh sống.
2. KHÁI NIỆM, PHƢƠNG PHÁP VÀ
KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm
Lao động trẻ di dân được hiểu là
những lao động di dân có độ tuổi từ
16 đến 30 theo quy định tại Điều 1 của
Luật Thanh niên. Tuy nhiên, trong
công trình nghiên cứu này chúng tôi
chọn độ tuổi lao động trẻ di dân từ 16
đến 35 vì một số chính sách hiện nay
tại TPHCM sử dụng độ tuổi này trong
hỗ trợ cho lao động trẻ di dân.
Khái niệm gắn kết xã hội (social
cohesion) đề cập đến mức độ hội
nhập, sự tin cậy, tham gia xã hội, sự
gắn bó xã hội của một cá nhân với
những nhóm cộng đồng xung quanh
hay xã hội rộng lớn (Hickman, Mai &
Crowley, 2012: 10). Trong nghiên cứu
này, các chỉ báo về gắn kết cộng đồng
được đo lường thông qua các chiều
kích như: sự tin cậy đối với những
thành viên trong gia đình, bạn bè, lối
xóm, cộng đồng xung quanh; nơi mà
lao động di dân muốn gắn bó nhất; dự
định dịch chuyển nơi ở; mức độ sẵn
sàng giới thiệu cho người khác về nơi
sinh sống; nỗ lực để làm cho khu phố
nơi đang sinh sống ngày một tốt hơn;
Ý thức thuộc về được xem như một
nhu cầu cơ bản của con người, đóng
vai trò quan trọng để hình thành
những cảm xúc tích cực, thúc đẩy sự
tin cậy, quan tâm tích cực đến người
khác, cũng như cam kết gắn bó đối
với nơi đang sinh sống (Arredondo,
1984). Hagerty và cộng sự (1992: 173)
cho rằng khái niệm sự thuộc về “mô tả
những kinh nghiệm về sự tham gia
của cá nhân vào trong một hệ thống
xã hội hoặc môi trường để từ đó, con
người nhận thấy mình là một phần
không thể thiếu của hệ thống hoặc
môi trường đó”. Trong phạm vi bài viết
này, ý thức thuộc về được nhận diện
thông qua các chiều kích gồm cảm
4
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
mong muốn sự thành đạt tại nơi đang được xây dựng theo thang đo Likert
với thang điểm từ một (hoàn toàn
không đồng ý) đến năm (hoàn toàn
đồng ý).
sinh sống, mức độ sẵn sàng cộng tác
với người khác tại nơi sinh sống và sự
phát triển của khu phố nằm trong kế
hoạch cá nhân trong tương lai.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.2. Phƣơng pháp và kỹ thuật nghiên
cứu
3.1. Cấu trúc cộng đồng của lao
động trẻ di dân từ các tỉnh khác
đến TPHCM
Phương pháp nghiên cứu được sử
dụng là phương pháp định lượng
thông qua bộ công cụ khảo sát bằng
bản câu hỏi từ công trình nghiên cứu
“Tác động của ý thức thuộc về đến sự
gắn kết xã hội của lao động trẻ di dân
tại TPHCM hiện nay”(1). Với những
câu hỏi về thái độ hay ý kiến cá nhân,
chúng tôi sử dụng thang đo Likert để
đánh giá.
Là một thuật ngữ quan trọng trong xã
hội học, cộng đồng (community) từ lâu
đã được phổ biến trong giới nghiên
cứu cũng như diễn ngôn khoa học.
Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm cộng
đồng xuất phát từ chữ La-tinh
communus với com (cùng với hoặc với
nhau) và unus (một số hoặc sự biệt
lập/đặc biệt) (Delanty, 2010: x). Từ điển
xã hội học Oxford thì cho rằng “cộng
đồng đề cập đến một tập hợp những
mối quan hệ xã hội được thiết lập một
cách đặc thù dựa trên những cái mà
các thành viên cùng có chung –
thường là một cảm quan chung về
bản sắc (common sense of identity)”
(Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt
Phương, Trịnh Huy Hóa, 2010: 121).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử
dụng mẫu định ngạch với 200 lao
động có độ tuổi từ 16 đến 35, có trình
độ học vấn cấp Hai trở xuống (65 lao
động), cấp Ba (67 lao động), cao
đẳng/đại học trở lên (68 lao động) di
cư từ miền Bắc, miền Trung và Tây
Nam Bộ vào sinh sống tại quận Bình
Tân, quận 12, quận Thủ Đức và quận
7; và dựa vào số liệu thống kê về số
lượng người nhập cư sinh sống tại
TPHCM trong công trình nghiên cứu
của Nguyễn Văn Phúc (2017).
Phân tích cấu trúc cộng đồng thường
gắn với việc tìm hiểu cả hai hình thái
cộng đồng: cộng đồng hữu hình và
cộng đồng mạng lưới xã hội thông
qua internet. Với hình thái cộng đồng
hữu hình, những xu hướng phân tích
thường gắn với việc tìm hiểu về không
gian hữu hình. Do đó, những thuật
ngữ như: “địa phương”, “nơi chốn”,
“láng giềng/khu phố” đều là những
khái niệm tham chiếu đến không gian
địa lý, trong đó quan hệ mặt đối mặt
giữa các cá nhân chiếm một ưu thế
Với phân tích định lượng, chúng tôi sử
dụng những kiểm định thống kê để
phân tích sự tác động giữa các nhóm
nhân tố. Hai kỹ thuật thống kê được
sử dụng là phân tích nhân tố (Factor
Analysis) và phân tích hệ số tương
quan r (Pearsons). Để phân tích nhân
tố, chúng tôi sử dụng 16 mệnh đề đại
diện cho khái niệm ý thức thuộc về
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
lớn. Khái niệm này cũng giả định rằng Cấu trúc cộng đồng của lao động trẻ
sự phân cách không gian như vậy kết di dân còn được thể hiện qua các hội
hợp với sự hình thành và duy trì các nhóm/đoàn thể là người lao động
nhóm cộng đồng khác nhau nhằm tham gia với tư cách thành viên
mục tiêu thúc đẩy cảm giác an toàn, (Delanty, 2010). Ở đây, chúng tôi đã
sự cam kết và ý thức về sự thuộc về. chia tách khái niệm cộng đồng thành
Dựa trên phương pháp phân tích nội hai nhóm đó là cộng đồng hữu hình và
dung, George Hillary (1955) cho rằng cộng đồng mạng lưới xã hội qua
có đến 94 định nghĩa khác nhau về internet. Nhìn chung, không chỉ tồn tại
cộng đồng với ba chiều kích gồm: (1) trong các không gian thực giữa các
sự tương tác giữa người với người, (2) nhóm xã hội, mạng lưới xã hội thông
một hoặc nhiều mối quan hệ được sẻ qua công cụ internet cũng là một yếu
chia, và (3) phạm vi lãnh thổ. tố quan trọng góp phần định hình nên
Zimmerman (2000) cho rằng, thuật ý niệm về cộng đồng của lao động trẻ
ngữ cộng đồng được định nghĩa dựa di dân. Dưới sự phổ biến của những
trên những đặc tính cấu thành. Có phần mềm công nghệ như Facebook,
bốn đặc điểm để xác định một cộng Zalo, Twitter... sự gặp gỡ mặt đối mặt
đồng, đó là: (1) sự hiện diện của sự đã có thể được thay đổi bởi các hình
kiện xã hội (social fact), (2) sự phân thức tương tác khác trên mạng xã hội.
định rõ ràng, (3) sự liên kết, và (4) sự
giới hạn về lãnh thổ. Almgren (2000)
cho rằng: lãnh thổ là ranh giới để
phân biệt giữa cộng đồng này với
cộng đồng khác. Bên cạnh đó, cấu
trúc của cộng đồng mạng lưới xã hội
thông qua internet được thể hiện
thông qua các phương tiện truyền
thông hiện đại như Facebook, Zalo,
Twitter... Với nhiều lao động trẻ di dân,
việc tham gia vào những mạng lưới xã
hội thông qua những phương tiện
truyền thông hiện đại cũng là một hình
thức tương tác xã hội trong điều kiện
sự tiếp xúc mặt giáp mặt bị hạn chế.
Ngoài ra, sử dụng không gian mạng
xã hội (social network) cũng là một
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy, mối quan hệ cộng đồng của lao
động di dân chủ yếu xoay xung quanh
nhóm bạn bè những người nhập cư
cùng quê. Để đánh giá về cấu trúc
cộng đồng, chúng tôi khảo sát bạn bè,
đồng hương, đồng nghiệp... của lao
động di dân. Kết quả cho thấy trung
bình một lao động trẻ di dân quen biết
với 17,32 bạn bè đồng hương, 7,72
bạn bè cùng vùng miền, 4,4 bạn bè là
người đang sinh sống tại TPHCM,
2,96 bạn bè ở cùng trong một khu
phố/hẻm. So sánh giữa các nhóm học
vấn, kết quả nghiên cứu cho thấy có
sự khác biệt giữa các nhóm học vấn
về tỷ lệ bạn bè là người gốc ở
trong những điều kiện giúp cho TPHCM (sig=0,000) và bạn bè ở cùng
khoảng cách về mặt địa lý không còn khu phố/hẻm nơi đang sinh sống. Cụ
thể, những lao động có học vấn cao
là rào cản cho những tương tác xã hội.
6
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
thường sẽ có số lượng bạn bè là kinh doanh (10,6%) và cuối cùng là
người gốc ở TPHCM cao hơn những những hội nhóm có cùng chung lối
sống như chơi chung các môn thể
thao, sở thích chung... (2,1%) (xem
Biểu đồ 1).
nhóm còn lại. Với nhóm học vấn từ
đại học trở lên, trung bình một lao
động có khoảng 4,43 bạn thân là
người gốc ở TPHCM; Nhóm học vấn
cấp 3 là 2,94 người và thấp nhất là ở
cấp 2 trở xuống với 1,7 người. Ngoài
ra, những lao động có học vấn thấp
thường dựa chủ yếu vào cộng đồng
đồng hương/cùng quê tại nơi cư trú,
trong khi những lao động có học vấn
cao (cao đẳng/đại học) có xu hướng
mở rộng như hội nghề nghiệp, nhóm
đồng nghiệp hoặc hội nhóm có chung
lối sống, sở thích.
So sánh giữa các khu vực vùng miền,
kết quả cho thấy, mức độ tham gia
vào các hội nhóm đồng hương/cùng
quê của lao động miền Trung là cao
nhất (89,5%), miền Bắc (78,8%) và
miền Nam (35,3%).
Về mức độ gặp gỡ giữa các nhóm lao
động di dân thông qua gặp gỡ trực
tiếp và gặp gỡ thông qua các mạng xã
hội hay thiết bị công nghệ, kết quả cho
thấy, cấu trúc của cộng đồng lao động
di dân tồn tại trong cả hai hình thức
cộng đồng hữu hình (thông qua mặt
giáp mặt) và cộng đồng mạng lưới xã
hội (thông qua internet). Sự tương tác
xã hội trực tiếp và qua các phương
tiện thông tin đại chúng đã có sự thay
đổi giữa các nhóm. Với nhóm đồng
hương/cùng quê, sự tương tác thông
qua hình thức gặp gỡ trực tiếp chiếm
tỷ lệ cao nhất ở mức thỉnh thoảng
(76%), trong khi ở hình thức trao đổi
Về cộng đồng hữu hình dựa trên sự
tương tác trực tiếp, kết quả cho thấy
có 70,5% lao động trẻ di dân đang
tham gia với tư cách thành viên trong
các hội nhóm/cộng đồng. Trong đó,
cao nhất là các hội nhóm hội đồng
hương/cùng quê (36,9%), hàng xóm/
lối xóm trong cùng khu phố nơi lao
động trẻ di dân sinh sống (26,2%),
nhóm đồng nghiệp cùng làm việc
chung (24,1%), hiệp hội nghề nghiệp/
Biểu đồ 1. Các hội nhóm/cộng đồng mà lao động trẻ di dân tham gia
(đvt:%)
Nguồn: Tác giả khảo sát, 2020.
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
Bảng 1. Mức độ gặp gỡ trực tiếp và thông qua các phương tiện mạng xã hội/thiết bị
công nghệ của lao động trẻ di dân (đvt: %)
Nói chuyện/trao đổi qua mạng
Mức độ gặp gỡ trực tiếp
xã hội/thiết bị công nghệ
Hội/nhóm
Chưa Thỉnh Thường
bao giờ thoảng xuyên
Chưa Thỉnh Thường
bao giờ thoảng xuyên
Tổng
Tổng
Hội nhóm đồng
6
152
42
200
3
84
113
200
hương/cùng quê
3%
76%
21%
100%
1,5
42%
56,5% 100%
111 200
55,5% 100%
Hội nhóm đồng nghiệp
3
99
98
200
21
68
1,5% 49,5% 49%
37 62 101
18,5% 31% 50,5% 100%
100% 10,5% 34%
Hàng xóm/láng
giềng... tại nơi đang
sinh sống
200
32
70
98
200
16%
35%
49%
100%
Các hội nhóm có
chung lối sống: thể
thao, sở thích
122
27
51
200
63
66
71
200
61% 13,5% 25,5% 100% 31,5% 33%
35,5% 100%
Nguồn: Tác giả khảo sát, 2020.
qua mạng xã hội/thiết bị công nghệ mọi người (16%), chùa/nhà thờ
chiếm tỷ lệ cao nhất ở mức thường
xuyên (56,5%). Ở hội nhóm có cùng
chung sở thích, lối sống, gặp gỡ trực
tiếp ở mức chưa bao giờ là cao nhất
qua các phương tiện thông tin đại
chúng có vẻ như gia tăng ở nhóm
thỉnh thoảng và thường xuyên. Ở hội
nhóm láng giềng/khu phố tại nơi đang
sinh sống, mức độ gặp gỡ trực tiếp và
qua các phương tiện thông tin đại
chúng là tương đối giống nhau (xem
Bảng 1).
(14%)... Đồng thời, cũng có đến 18%
người lao động cho rằng tại nơi mình
đang sinh sống không có những dấu
hiệu nào để nhận diện về khu
phố/láng giềng. Trong khi đó ở cộng
đồng mạng lưới xã hội thông qua
internet, những dấu hiệu để nhận diện
được đánh giá cao là những quy
định/nội quy chỉ dành riêng cho các
thành viên trong nhóm biết (21,5%),
những ký hiệu, logo (12%).
Nhìn chung, thông qua việc phân tích
tư cách thành viên, mối quan hệ, sự
tương tác bằng các hình thức khác
nhau, chúng tôi nhận thấy sự hiện
diện của cả hai hình thức cộng đồng
hữu hình và cộng đồng mạng lưới xã
hội thông qua internet của lao động trẻ
di dân tại TPHCM hiện nay. Đồng thời,
những người trẻ di dân vào đô thị
Cấu trúc cộng đồng còn được thể hiện
thông qua những dấu hiệu/nơi chốn
mà người lao động trẻ di dân nhận
thấy tại nơi mà mình đang sinh sống
hay là thành viên. Đối với khu
phố/láng giềng, những dấu hiệu được
đánh giá cao gồm những biển
hiệu/logo tại khu phố nơi họ ở (27%),
công viên/khu công cộng dành cho không hoàn toàn bị cô lập, cấu trúc và
8
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
cơ chế trong cộng đồng của họ cung trẻ di dân từ các tỉnh khác đến
cấp sự nương tựa cho mục tiêu hội TPHCM
nhập đô thị. Yếu tố học vấn có ảnh
Để kiểm định ý thức thuộc về, chúng
tôi đã sử dụng tổng cộng 16 mệnh đề
hưởng đến số lượng những người
bạn bè thân thiết là người có gốc ở
được đo lường bằng thang đo Likert
(từ (1) hoàn toàn không đồng ý – đến
TPHCM và người tại khu phố đang
sinh sống. Với những lao động có học
(5) hoàn toàn đồng ý). Những mệnh
vấn cao (cao đẳng/đại học), mạng
đề này dựa trên quan điểm về khái
lưới xã hội rộng và đa dạng giúp cho
niệm ý thức thuộc về của Painter
họ có nhiều cơ may về kinh tế. Trong
(2013); McMillan và Chavis, (1986).
khi đó, những lao động có học vấn
thấp (cấp 2 trở xuống) thường dựa
vào mạng lưới đồng hương/cùng quê
để giúp họ thích ứng ban đầu với đời
sống đô thị.
Theo đó, có năm nhóm chiều kích đã
được đề cập gồm: (1) tư cách thành
viên; (2) sự ảnh hưởng/tin cậy; (3)
nhu cầu liên kết và sẻ chia; (4) mức
độ tham gia xã hội; và (5) sự tham gia
và năng lực cộng đồng.
3.2. Tác động của ý thức thuộc về
đến sự gắn kết xã hội của lao động
Để đánh giá mức độ phù hợp của các
Bảng 2. Những biểu hiện của sự gắn kết xã hội của lao động di dân (đvt:%)
Hoàn
toàn
không
đồng ý
Không đồng
Hơi
không
đồng ý
Hoàn
toàn
đồng ý
ý cũng
không phản đồng ý
đối
Hơi
Tổng
cộng
Mệnh đề
1. Tôi sẽ giới thiệu cho nhiều người
về nơi tôi đang sinh sống
36
47
53
31
33
200
18%
23,5%
26,5%
15,5% 16,5% 100%
55 28 200
27,5% 14% 100%
2. Tôi sẽ nỗ lực đề làm cho khu
phố ngày càng tốt hơn
22
33
62
11%
16,5%
31%
3. Tôi tin tưởng những người trong
khu phố nơi đang ở
20
58
37
73
12
200
10%
29%
18,5%
36,5%
6%
100%
4. Những người bạn cùng quê/
đồng hương rất quan trọng đối với
tôi
37
31
59
49
24
200
18,5% 15,5%
29,5%
24,5% 12% 100%
5. Tôi mong muốn mình đạt nhiều
thành công tại nơi đang sinh sống
8
37
69
52
34
200
4%
18,5%
34,5%
26%
17% 100%
6. Sự phát triển của khu phố chiếm
một phần trong kế hoạch tương lai
của tôi
29
39
48
68
16
200
14,5% 19,5%
24%
34%
8%
100%
7. Tôi sẵn sàng cộng tác với những
người tôi tin tưởng
19
24
54
61
42
200
9,5%
12%
27%
30,5% 21% 100%
Nguồn: Tác giả khảo sát, 2020.
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
Bảng 3. Số lượng các nhóm nhân tố được rút trích
Mệnh đề
Nhân tố
1
2
3
4
5
1. Tôi có nhiều bạn bè tại khu phố nơi tôi đang
sống và những người này quan trọng đối với tôi.
0,815
2. Tôi có nhiều bạn bè đồng hương/cùng quê tại
TPHCM.
0,886
0,847
3. Những người bạn đồng hương/cùng quê rất
quan trọng với tôi.
4. Tôi luôn cảm thấy an toàn khi nói chuyện với
những người trong khu phố.
0,840
0,806
0,673
5. Tôi cảm thấy tự hào khi là thành viên của khu
phố.
6. Nỗ lực để trở thành thành viên của khu phố là
một điều đáng làm.
7. Hầu hết các thành viên trong khu phố đều biết
đến các quy định của khu phố.
0,931
0,724
0,813
8. Các thành viên trong khu phố đều cố gắng tuân
thủ các nội quy.
9. Các giá trị chung trong khu phố đều được mọi
người chia sẻ.
10. Tôi muốn mình thành đạt nhiều hơn ở nơi tôi
đang sinh sống.
0,841
0,805
11. Các thành viên trong khu phố đều có những
mong đợi chung về sự phát triển của khu phố.
12. Sự phát triển của khu phố nơi tôi đang sống
chiếm một phần lớn trong kế hoạch tương lai của
tôi.
0,785
13. Mọi người trong khu phố đều cố gắng chia sẻ
những khó khăn chung.
0,729
0,684
14. Mỗi khi gia đình nào có việc, mọi thành viên
trong khu phố đều giúp đỡ nhau.
15. Tôi mong muốn mình được sinh sống tại khu
phố trong một thời gian dài.
0,825
0,872
16. Tôi nghĩ rằng khu phố là một nơi tốt để sinh sống.
Nguồn: Tác giả xây dựng, 2020.
mệnh đề với những chiều kích, chúng cho thấy mô hình phân tích nhân tố
tôi tiến hành phân tích nhân tố để khám phá là phù hợp với dữ liệu thực
khám phá mối tương quan giữa các tế. Tiếp theo, kiểm định Bartlett cho
mệnh đề và nhóm thành các nhóm giá trị Sig.=0,000 (nhỏ hơn 0,05, hàm
nhân tố. Kết quả phân tích EFA cho ý rằng các biến quan sát có tương
thấy hệ số KMO=0,78 là ngưỡng chấp quan tuyến tính với nhân tố đại diện.
nhận được (Kaiser, 1974). Điều này Tổng % phương sai trích rút bằng
10
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
75,81%, có thấy rằng năm nhân tố (sig=0,002, df=197). Kết quả này
giống với nhận định của Julie Pooley,
Lynne Cohen và Lisbeth Pike (2005)
rằng nam giới và những người có
trình độ học vấn càng cao thì ý thức
cộng đồng càng tăng. Nam giới có ý
thức cộng đồng cao hơn nữ giới do họ
được kỳ vọng nhiều hơn vào vai trò xã
hội của mình.
được rút trích ra giải thích được
75,81% độ biến thiên của dữ liệu.
Kết quả phân tích cho thấy có năm
nhân tố đại diện cho ý thức thuộc về
của lao động trẻ di dân gồm: (1) tầm
quan trọng của bạn bè/đồng hương;
(2) mức độ hỗ trợ lẫn nhau tại cộng
đồng; (3) sự an toàn và tư cách thành
viên trong khu phố; (4) mong đợi về
sự thành đạt và phát triển của khu phố
và nhân tố (5) sự chia sẻ các giá trị
chung tại khu phố (xem Bảng 4).
Trong khi đó, công trình nghiên cứu
của Obst, Zinkiewicz và Smith (2002)
phát hiện lại bốn chiều kích của
McMillan và David Chavis (1986) về
(tư cách thành viên, sự ảnh hưởng,
việc đáp ứng các nhu cầu và sự kết
nối tình cảm chung) ở cả hai nhóm
cộng đồng địa phương và cộng đồng
lợi ích khi đề cập đến ý thức thuộc về.
So sánh với các nhóm học vấn, kết
quả kiểm định tương quan cho thấy:
có sự khác nhau giữa các nhóm trình
độ học vấn với nhân tố 1: (tầm quan
trọng của bạn bè đồng hương); nhân
tố 2 (mức độ hỗ trợ lẫn nhau tại cộng
đồng). Cụ thể, ở nhóm đánh giá về
tầm quan trọng của bạn bè đồng
hương, kết quả nghiên cứu cho thấy
rằng: những lao động có học vấn thấp
sẽ có khuynh hướng đề cao tầm quan
trọng của bạn bè đồng hương (hệ số
tương quan (r) của nhóm học vấn cấp
1 là 0,57; cấp 2 là 0,65. Trong khi
nhóm lao động có học vấn cao
đẳng/đại học có hệ số tương quan âm
-0,65. Điều này cho thấy rằng những
lao động có học vấn thấp thường sẽ
có xu hướng đánh giá cao nhóm bạn
bè/đồng hương gần gũi với mình. Mặt
khác, những lao động có học vấn thấp
cũng đánh giá cao sự hỗ trợ lẫn nhau
tại khu phố nơi đang sinh sống so với
những lao động có học vấn cao
(sig=0,000).
Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa
các nhóm nhân tố với những biến số
độc lập cho thấy: giữa nam và nữ có
nhận thức khác nhau về tầm quan
trọng của bạn bè (sig=0,002, df=198);
khác nhau đối với nhận thức về sự an
toàn và tư cách thành viên trong khu
phố (sig=0,004, df=198). Cụ thể, nam
giới đánh giá cao hơn nữ giới về tầm
quan trọng của bạn bè cũng như nhận
thức về sự an toàn và tư cách thành
viên. Trong khi những chiều kích khác
của ý thức cộng đồng, nam và nữ Để kiểm định mối quan hệ giữa ý thức
thuộc về với sự gắn kết xã hội, chúng
không có sự khác nhau. Ngoài ra,
những người có thu nhập cao cũng có tôi tiến hành đo lường hệ số tương
ý thức cao trong việc mong đợi về sự quan Pearson (Pearson Correlation
thành đạt và phát triển của khu phố Coefficient) giữa các nhóm nhân tố
11
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
đại diện cho ý thức thuộc về với từng (Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng
mệnh đề đại diện cho sự gắn kết xã Ngọc, 2008: 197). Nói cách khác, đo
hội. Xét về mặt thống kê, hệ số tương lường mối quan hệ giữa hai biến số
quan Pearson (ký hiệu là r) sẽ giúp hay mệnh đề sẽ giúp hiểu rõ hơn mối
lượng hóa được mức độ chặt chẽ của quan hệ giữa tác động của ý thức
mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến thuộc về đến sự gắn kết xã hội được
định lượng (khoảng cách hay tỷ lệ) thể hiện thông qua một số chỉ báo
Bảng 4. Hệ số tương quan Pearson giữa những ý thức thuộc về và sự gắn kết xã hội
Tôi sẽ giới Tôi sẽ nỗ Tôi tin Tôi mong Sự phát Tôi sẵn Những
thiệu cho
nhiều
người về khu phố người
nơi tôi
đang sinh ở ngày
lực để
làm cho những đạt nhiều khu phố cộng tác
thành chiếm một với
tưởng
đợi mình triển của
sàng người bạn
Những chiều
kích của ý thức
thuộc về
đồng
hương/
tôi đang
đang
công tại phần trong những cùng quê
khu phố kế hoạch người rất quan
sống
sống
một tốt trong khu nơi tôi
tương lai
tôi tin trọng với
hơn
0,090
0,206
200
phố
0,146*
0,039
200
sống
0,044
0,537
200
của tôi
tưởng
0,436**
0,000
200
tôi
0,428**(2)
0,000(3)
200(4)
0,400**
0,000
200
0,847**
0,000
200
Tầm quan
trọng của bạn
bè/đồng hương
0,463**
0,337**
0,000
200
-0,008
0,913
200
0,168*
0,017
200
0,413**
0,000
200
0,071
0,316
200
0,161*
0,023
200
Mức độ hỗ trợ
lẫn nhau tại
cộng đồng
0,000
200
Sự an toàn và
tư cách thành
viên trong khu
phố
0,469**
0,284**
0,409**
0,118
0,097
0,563**
-0,067
0,347
0,170*
0,000
0,000
0,000
0,000
0,016
200
200
200
200
200
200
200
Mong đợi về sự 0,286**
0,178*
0,012
0,403**
0,000
0,301**
0,000
-0,154*
0,030
0,103
0,146
0,179*
0,011
thành đạt và
0,000
phát triển của
200
200
200
200
200
200
200
khu phố
0,094
0,184
200
0,295**
0,000
200
0,334**
0,000
200
-0,018
0,797
200
0,132
0,062
200
0,284**
0,000
200
0,081
0,254
200
Sự chia sẻ các
giá trị chung tại
khu phố
* Tương quan có ý nghĩa ở mức 0,05 (2 phía).
** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0,01 (2 phía).
(2) Hệ số tương quan Pearson (r) (Pearson Correlation).
(3) Mức ý nghĩa (sig).
(4) Số lượng khách thể nghiên cứu (N).
Nguồn: Tác giả tính toán, 2020.
12
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
điển hình.
(r=0,56, sig=0,00); hay “Tin tưởng
những người đang sống trong khu
Kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy
rằng giữa chiều kích: “Tầm quan trọng
của bạn bè/đồng hương” có mối
tương quan đồng biến thuận với
những mệnh đề: “Tôi sẽ giới thiệu cho
nhiều người về nơi tôi đang sinh
sống” (r=0,428, sig=0,00); “Sự phát
triển của khu phố chiếm một phần
trong kế hoạch tương lai của tôi”
phố” (r=0,4, sig=0,00). Cuối cùng,
những người đánh giá cao về “Sự
thành đạt và phát triển của khu phố”
hay “Chia sẻ các giá trị chung tại khu
phố” thì cũng có mức độ tin tưởng
những người đang sống trong khu
phố cao (r=0,43, r=0,33, sig=0,00).
4. KẾT LUẬN
(r=0,400, sig=0,00); “Tôi sẵn sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc
cộng tác với những người tôi tin cộng đồng của lao động trẻ di dân tại
hiện nay vẫn chủ yếu xoay xung
quanh nhóm bạn bè đồng hương/cùng
quê tại nơi cư trú. Mặt khác, cộng
đồng của lao động di dân trẻ hiện nay
không chỉ gói gọn trong không gian
hữu hình. Thực tế, dưới sự tác động
của internet và các phương tiện
truyền thông khác đã giúp nối kết
nhiều lao động di dân thành một mạng
lưới xã hội. Điều này, giúp định hình
lối sống, hành vi của nhiều lao động
trẻ di dân cũng như hỗ trợ họ trong
giai đoạn đầu thích ứng với đời sống
đô thị.
tưởng” (r=0,436, sig=0,00) và cao
nhất là với biến “Những người bạn
đồng hương/ cùng quê rất quan trọng
với tôi” (r=0,84, sig=0,00). Nói cách
khác, những người đánh giá cao tầm
quan trọng của bạn bè đồng hương
thì cũng đánh giá cao những biến số
như đã đề cập ở trên.
Ý thức thuộc về thông qua chiều kích
“Mức độ hỗ trợ lẫn nhau tại cộng
đồng” có mối quan hệ đồng biến với
chỉ báo “Sẽ giới thiệu cho nhiều người
về nơi tôi đang sinh sống” (r=0,46,
sig=0,00); hay “Sự phát triển của khu
phố chiếm một phần trong kế hoạch
tương lai của tôi” (r=0,43, sig=0,00).
Nói cách khác, những người đánh giá
cao mức độ hỗ trợ lẫn nhau có xu
hướng giới thiệu cho nhiều người
cũng như cho rằng sự phát triển của
khu phố chiếm một phần trong kế
hoạch tương lai. Ngoài ra, những
người đánh giá cao về “Sự an toàn và
tư cách thành viên tại khu phố” thì
cũng đánh giá cao về yếu tố: “Sự phát
triển của khu phố chiếm một phần
trong kế hoạch tương lai của tôi”
Như vậy, năm chiều kích cấu thành
nên ý thức thuộc về của lao động di
dân tại TPHCM: (1) tầm quan trọng
của bạn bè/đồng hương; (2) mức độ
hỗ trợ lẫn nhau tại cộng đồng; (3) sự
an toàn và tư cách thành viên trong
khu phố; (4) mong đợi về sự thành đạt
và phát triển của khu phố; và (5) sự
chia sẻ các giá trị chung tại khu phố
đã tác động đến sự gắn kết xã hội ở
nhiều mức độ khác nhau. Trong đó,
nam giới đánh giá cao hơn nữ giới về
tầm quan trọng của bạn bè cũng như
13
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
nhận thức về sự an toàn và tư cách nhau. Do đó, thách thức quan trọng là
thành viên trong khu phố; những làm sao đánh thức được các nguồn
người có thu nhập cao cũng có ý thức sức mạnh này thông qua sự công
cao trong việc mong đợi về sự thành nhận và sẻ chia giữa các cộng đồng
đạt và phát triển của khu phố. Bên khác nhau. Những lao động có học
cạnh đó, những lao động di dân đánh vấn thấp thường sẽ gắn bó với những
giá cao tầm quan trọng của bạn bè nhóm bạn đồng hương/cùng quê tại
đồng hương cũng có xu hướng giới khu phố/hẻm. Trong khi những lao
thiệu cho nhiều người về nơi đang động có học vấn cao có mạng lưới xã
sinh sống hay xem sự phát triển của hội rộng hơn, mức độ tham gia các
khu phố chiếm một phần trong kế hội nhóm trên internet của họ cũng
hoạch tương lai. Những người đánh cao hơn so với nhóm có học vấn thấp.
giá cao về sự hỗ trợ tại cộng đồng sẽ Những lao động có quê quán ở miền
có xu hướng giới thiệu cho người Trung và Bắc có mức độ tham gia hội
khác về nơi mình đang sinh sống hay nhóm cao hơn so với nhóm lao động
đánh giá cao sự phát triển của khu ở miền Nam. Đồng thời, những lao
phố. Những lao động di dân đánh giá động có học vấn thấp cũng đánh giá
cao về sự an toàn và tư cách thành cao về tầm quan trọng của bạn bè
viên tại khu phố thì cũng tin tưởng đồng hương và mức độ hỗ trợ lẫn
những người đang sống trong khu nhau tại cộng đồng khu phố so với
phố. Tuy nhiên, sự tin cậy chủ yếu nhóm lao động có học vấn cao.
xoay quanh những người đã biết rõ về
CHÚ THÍCH
(1)
Đề tài “Tác động của ý thức thuộc về đến sự gắn kết xã hội của lao động trẻ di dân tại
TPHCM hiện nay” do tác giả làm chủ nhiệm được thực hiện từ tháng 12/2019 đến tháng
12/2020 theo hợp đồng số 11/2019/HĐ-KHCN-VƯ. Đề tài được thực hiện bằng nguồn kinh
phí hỗ trợ từ Chương trình Vườn ươm Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Trẻ do Trung tâm
Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ - Thành Đoàn TPHCM và Sở Khoa học và Công
nghệ quản lý.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Alesina, Alberto and La Ferrara. 2000. “Participation in Heterogeneous Communities”.
Quarterly Journal of Economics, 115, pp. 847-904.
2. Almgren, G. 2000. “Community”. In B. &. Montgomery. Encyclopedia of Sociology.
New York: The Gale Group, pp. 362-369.
3. Arredondo. 1984. “Identity Themes for Immigrant Young Adults”. Adolescence, 19(76),
pp. 977-993.
4. Berry. 1997. “Immigration, Acculturation and Adaptation”. Applied Psychology: An
International Review, pp. 5-34.
14
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…
5. Bess, Kimberly; Fisher, Sonn and Bishop. 2002. Psychological Sense of Community:
Theory, Research and Application. New York: Plenum Publishers.
6. Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hóa (dịch). 2010. Từ điển Xã hội
học Oxford. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Cantle, T. 2008. Community Cohesion: A New Framework for Race and Diversity.
London: Palgrave Macmillan.
8. Cheong, Edwards, Goulbourne and Solomos. 2007. “Immigration, Social Cohesion
and Social Capital: A Critical Review”. Critical Sociology, pp. 24-49.
9. Craven and Wellman. 1973. The Network City. University of Toronto.
10. Delanty, G. 2010. Community. London: Routledge.
11. Forrest, R. and Kearns, A. 2001. “Social Cohesion, Social Capital and the
Neighbourhood”. Urban Studies, pp. 2125-2143.
12. Giddens, A. 1994. Beyond Left and Right. Cambridge: Polity Press.
13. Hagerty, Lynch-Sauer J, Patusky and Bouwsema Collier. 1992. “Sense of Belonging:
a Vital Mental Health Concept”. Archives of Psychiatric Nursing, 6(3), pp. 172-177.
14. Hewstone et al. 2007. “Prejudice, Intergroup Contact and Identity: Do
Neighbourhoods Matter?”. In M.L.M. Wetherell. Identity, Ethnic Diversity and Community
Cohesion. London: Sage.
15. Hickman, Mary - Crowley Helen and Mai Nick. 2008. Immigration and Social
Cohesion in the UK. The Rhythms and Realities of Everyday Life. York: Joseph
Rowntree Foundation.
16. Hickman, Mary J. - Nicola Mai and Helen Crowley. 2012. Migration and Social
Cohesion in the UK. Basingstoke: Palgrave Macmillan.
17. Hoàng Phê. 1996. Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng.
18. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc. 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.
19. McMillan and David Chavis. 1986. “Sense of Community: A Definition and Theory”.
Journal of Community Psychology, pp. 6-23.
20. McMillan, D. 1996. “Sense of Community”. Journal of Community Psychology, 24,
pp. 315-325.
21. Nguyễn Đức Lộc (chủ nhiệm đề tài). 2017. Vai trò của các tổ chức xã hội trong việc
hỗ trợ phúc lợi cho thanh niên công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TPHCM.
TPHCM: Sở Khoa học Công nghệ TPHCM.
22. Nguyễn Văn Phúc. 2016. Vốn xã hội và sự thành công của người lao động di cư đến
TPHCM. TPHCM: Sở Khoa học Công nghệ TPHCM.
23. Painter, C.V. 2013. Sense of Belonging: Literature Review. Citizenship and
Immigration Canada or the Government of Canada.
24. Patricia Obst, Lucy Zinkiewicz và Sandy G. Smith. 2002. “Sense of Community in
Science Fiction Fandom”. Journal of Community Psychology, pp. 105-117.
25. Pooley, J.A., Cohen, L. and Pike, L.T. 2005. “Can Sense of Community Inform
Social Capital?”. The Social Science Journal, pp. 71-79.
15
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020
26. Putnam. 2000. Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community.
New York: Simon & Schuster.
27. Putnam, R.D. 2007. “E Pluribus Unum: Diversity and Community in the Twenty-First
Century the 2006 Johan Skytte Prize Lecture”. Scandinavian Political Studies, Vol. 30 -
No. 2, pp. 137-174.
28. Reitz and Banerjee. 2007. “Racial Inequality, Social Cohesion, and Policy Issues in
Canada”. In T.C. Banting. Belonging? Diversity, Recognition and Shared Citizenship in
Canada Montreal: Institute for Research on Public Policy, pp. 489-545.
29. Robinson D, Reeve K. 2006. Neighbourhood Experiences of New Immigration:
Reflections from the Evidence Base. New York: Joseph Rowntree Foundation.
30. Sonn, Christopher C. 2002. “Immigrant Adaptation: Understanding the Process
Through Sense of Community”. In Fisher. Psychological Sense of Community: Research,
Applications and Implications New York: Springer US. pp. 205-222.
31. Soroka, Stuart et al. 2016. “Migration and Welfare State Spending”. European
Political Science Review, pp. 173-194.
32. Stanley, John; Janet Stanley and David Hensher. 2012. “Mobility, Social Capital and
Sense of Community: What Value?”. Urban Studies, pp. 3595-3609.
33. Stolle, Dietlind et al. 2008. “When Does Diversity Erode Trust? Neighborhood
Diversity, Interpersonal Trust and the Mediating Effect of Social Interactions”. Political
Studies, pp. 57-75.
34. Uslaner, E. 2012. Segregation and Mistrust: Diversity, Isolation, and Social
Cohesion. Cambridge University Press.
35. Xu, Qingwen; Douglas D. Perkins; Julian Chun and Chung Chow. 2010. “Sense of
Community, Neighboring, and Social Capital as Predictors of Local Political Participation
in China”. Am J Community Psychology, pp. 259-271.
36. Zimmerman. 2000. “Empowerment Theory: Psychological Organizational, and
Community Levels of Analysis”. In Seidman. Handbook of Community Psychology. New
York: Plenum Press, pp. 43-63.
Bạn đang xem tài liệu "Ý thức thuộc về và sự gắn kết xã hội đối với cộng đồng cư trú của lao động trẻ di dân tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
y_thuc_thuoc_ve_va_su_gan_ket_xa_hoi_doi_voi_cong_dong_cu_tr.pdf

