Ý thức thuộc về và sự gắn kết xã hội đối với cộng đồng cư trú của lao động trẻ di dân tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT XÃ HỘI ĐỐI VỚI  
CỘNG ĐỒNG CƢ TRÚ CỦA LAO ĐỘNG TRẺ DI DÂN  
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY  
ĐỖ HỒNG QUÂN*  
Nghiên cứu tác động của ý thức thuộc về (sense of belonging) một cộng đồng  
mới ở đô thị đến sự gắn kết xã hội của lao động di dân là một hướng nghiên cứu  
tương đối mới ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc cộng đồng lao  
động di dân chủ yếu dựa vào những mối quan hệ liên cá nhân, mạng lưới xã hội  
đồng hương hay đồng nghiệp. Ranh giới cộng đồng của lao động di dân gồm cả  
cộng đồng hữu hình lẫn cộng đồng mạng lưới ảo. Mặt khác, ý thức thuộc về tác  
động đến sự gắn kết xã hội của lao động di dân trên bình diện mạng lưới xã hội.  
Từ khóa: ý thức thuộc về, gắn kết xã hội, cộng đồng  
Nhận bài ngày: 29/6/2020; đưa vào biên tập: 5/7/2020; phản biện: 15/7/2020; duyệt  
đăng: 16/11/2020  
1. DẪN NHẬP  
đồng nào; cấu trúc cộng đồng hay  
mức độ gắn kết xã hội của họ. Xét về  
mặt tác động, di dân cũng là quá trình  
làm mất đi các nguồn lực hỗ trợ một  
cách rõ nét và thường gắn với những  
thách thức tiêu cực về tâm lý, xã hội  
(Sonn, 2002; Berry, 1997). Do đó, để  
thích ứng với những tác động trên,  
những cộng đồng di dân thường được  
hình thành trên cơ sở những người có  
cùng hoàn cảnh, địa vị kinh tế, xã hội,  
văn hóa (Nguyễn Văn Phúc, 2017;  
Nguyễn Đức Lộc, 2016; Hickman,  
Crowley, Mai, 2008; Cheong - Goulbourne  
Nghiên cứu tác động của ý thức thuộc  
về (sense of belonging) đến sự gắn  
kết xã hội đóng vai trò quan trọng  
trong nghiên cứu lao động di dân đô  
thị. Điều này giúp trả lời cho những  
câu hỏi như: những hình thái gắn kết  
xã hội của lao động trẻ di dân hiện  
nay như thế nào; người lao động di  
dân tự xác định họ thuộc về cộng  
*
Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
2
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
và Solomos, 2007).  
Cohen và Pike, 2005); sự tin cậy trong  
cộng đồng như là yếu tố quan trọng  
giúp hình thành mối quan hệ gắn bó,  
cảm xúc kết nối, hạnh phúc (Bess,  
Fisher, Sonn & Bishop, 2002; Pretty et  
al., 2006); tầm quan trọng của hai biến  
số vốn xã hội và ý thức cộng đồng  
như là hai chỉ báo quan trọng ảnh  
hưởng đáng kể đến tình trạng loại trừ  
xã hội hay mức độ hạnh phúc/phúc lợi  
xã hội mà cá nhân được hưởng  
(Stanley, Janet Stanley và Hensher,  
2012).  
Tầm quan trọng của ý thức thuộc về  
còn được nhấn mạnh qua những  
phân tích của Anthony Giddens.  
Giddens (1994: 124) cho rằng “trên  
mỗi mặt của bình diện chính trị ngày  
hôm nay, chúng ta nhận thấy nỗi sợ  
hãi về sự tan rã xã hội và lời kêu gọi  
về sự hồi sinh của cộng đồng”. Xét về  
mặt xã hội, hầu như mọi người đều là  
thành viên của một hay nhiều cộng  
đồng nào đó. Đây là nơi cung cấp cho  
cá nhân những lợi ích và sự nương  
tựa khi đối mặt với những khó khăn  
trong cuộc sống. Bess, Fisher, Sonn &  
Bishop (2002: 3) lập luận rằng: với sự  
phát triển của các phương tiện truyền  
thông xuyên quốc gia hay quá trình đô  
thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, vai trò  
của các cộng đồng đô thị hầu như vẫn  
không bị suy giảm; đồng thời, cùng  
với sự gia tăng nỗi lo sợ về những gì  
chưa biết trước trong tương lai đã  
khiến cho cộng đồng, sự thuộc về  
(belonging) trở nên hết sức quan  
trọng trong đời sống hiện đại.  
Bên cạnh chiều kích sự tin cậy, vốn xã  
hội, gắn kết xã hội cũng là chủ đề  
được các nhà nghiên cứu quan tâm,  
nhất là tại những quốc gia có mức độ  
di dân lớn. Các công trình theo xu  
hướng này thường tìm hiểu mối quan  
hệ giữa người di dân với sự gắn kết  
vào xã hội sở tại (Alesina và La  
Ferrara, 2000; Putnam, 2007; Painter,  
2013). Các chỉ số về sự gắn kết xã hội  
như niềm tin khái quát, sự tham gia xã  
hội và các giá trị công dân (Uslaner,  
2012; Putnam 2007; Stolle và cộng sự,  
2008). Quá trình tự nhận diện và lựa  
chọn trở thành một phần của quốc gia  
(Soroka và cộng sự, 2016).  
Nhìn chung, những xu hướng phân  
tích về tác động của ý thức thuộc về  
trải rộng từ nhiều hướng khác nhau.  
Đó là mối quan hệ giữa ý thức thuộc  
về với vốn xã hội hay sự tin cậy của  
lao động di dân thông qua những  
phân tích về địa vị xã hội, việc sử  
dụng các nguồn lực khác nhau trong  
đó có vốn, mạng lưới xã hội như một  
nguồn lực giúp lao động di dân tồn tại  
trong môi trường đô thị (Stanley,  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa ý thức  
thuộc về với sự gắn kết xã hội của lao  
động di dân là một chủ đề lý thú đối  
với nhiều nhà khoa học xã hội. Trên  
phương diện lý thuyết, hướng nghiên  
cứu trên sẽ giúp trả lời cho những câu  
hỏi quan trọng như: cộng đồng đô thị  
là gì, đâu là những biểu hiện của ý  
Janet Stanley và Hensher, 2012; Xu, thức thuộc về hay sự gắn kết xã hội,  
Perkins, Chun và Chow, 2010; Pooley, cấu trúc của cộng đồng đô thị... Trên  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
thực tiễn, nghiên cứu ý thức thuộc về xúc gắn kết và tư cách thành viên  
sẽ giúp định hình chính sách xã hội (McMillan và Chavis, 1986). Các chỉ  
mà một quốc gia dành cho lao động di  
dân như: phúc lợi/an sinh xã hội dành  
cho lao động; hạn chế tình trạng bị  
loại trừ xã hội... Phạm vi bài viết này  
tập trung phân tích chủ yếu đến cộng  
đồng cư trú và mạng lưới xã hội xung  
quanh nơi sinh sống của lao động di  
dân tại TPHCM.  
báo đo lường cảm xúc gắn kết gồm: ý  
thức xem khu phố/cộng đồng nơi cá  
nhân là thành viên là nơi đáng sống,  
sự chia sẻ giữa các cá nhân với nhau  
khi gặp khó khăn (kinh tế, thông tin,  
tình cảm...), mức độ hỏi thăm nhau,  
cảm giác an toàn. Tư cách thành viên  
được đo lường qua các chỉ báo như:  
cá nhân tự biết mình thuộc về  
nhóm/cộng đồng nào, cá nhân được  
chấp nhận ở đâu, điểm chung giữa  
các thành viên trong nhóm/cộng đồng,  
đánh giá về tầm quan trọng của các  
thành viên lên nhau, cảm giác tự hào  
khi là thành viên trong nhóm, cộng  
đồng. Ngoài ra, ý thức thuộc về trong  
bài viết này chỉ tìm hiểu sự thuộc về  
đối với cộng đồng đô thị TPHCM nơi  
mà người lao động trẻ di dân hiện  
đang sinh sống.  
2. KHÁI NIỆM, PHƢƠNG PHÁP VÀ  
KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU  
2.1. Khái niệm  
Lao động trẻ di dân được hiểu là  
những lao động di dân có độ tuổi từ  
16 đến 30 theo quy định tại Điều 1 của  
Luật Thanh niên. Tuy nhiên, trong  
công trình nghiên cứu này chúng tôi  
chọn độ tuổi lao động trẻ di dân từ 16  
đến 35 vì một số chính sách hiện nay  
tại TPHCM sử dụng độ tuổi này trong  
hỗ trợ cho lao động trẻ di dân.  
Khái niệm gắn kết xã hội (social  
cohesion) đề cập đến mức độ hội  
nhập, sự tin cậy, tham gia xã hội, sự  
gắn bó xã hội của một cá nhân với  
những nhóm cộng đồng xung quanh  
hay xã hội rộng lớn (Hickman, Mai &  
Crowley, 2012: 10). Trong nghiên cứu  
này, các chỉ báo về gắn kết cộng đồng  
được đo lường thông qua các chiều  
kích như: sự tin cậy đối với những  
thành viên trong gia đình, bạn bè, lối  
xóm, cộng đồng xung quanh; nơi mà  
lao động di dân muốn gắn bó nhất; dự  
định dịch chuyển nơi ở; mức độ sẵn  
sàng giới thiệu cho người khác về nơi  
sinh sống; nỗ lực để làm cho khu phố  
nơi đang sinh sống ngày một tốt hơn;  
Ý thức thuộc về được xem như một  
nhu cầu cơ bản của con người, đóng  
vai trò quan trọng để hình thành  
những cảm xúc tích cực, thúc đẩy sự  
tin cậy, quan tâm tích cực đến người  
khác, cũng như cam kết gắn bó đối  
với nơi đang sinh sống (Arredondo,  
1984). Hagerty và cộng sự (1992: 173)  
cho rằng khái niệm sự thuộc về “mô tả  
những kinh nghiệm về sự tham gia  
của cá nhân vào trong một hệ thống  
xã hội hoặc môi trường để từ đó, con  
người nhận thấy mình là một phần  
không thể thiếu của hệ thống hoặc  
môi trường đó”. Trong phạm vi bài viết  
này, ý thức thuộc về được nhận diện  
thông qua các chiều kích gồm cảm  
4
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
mong muốn sự thành đạt tại nơi đang được xây dựng theo thang đo Likert  
với thang điểm từ một (hoàn toàn  
không đồng ý) đến năm (hoàn toàn  
đồng ý).  
sinh sống, mức độ sẵn sàng cộng tác  
với người khác tại nơi sinh sống và sự  
phát triển của khu phố nằm trong kế  
hoạch cá nhân trong tương lai.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
2.2. Phƣơng pháp và kỹ thuật nghiên  
cứu  
3.1. Cấu trúc cộng đồng của lao  
động trẻ di dân từ các tỉnh khác  
đến TPHCM  
Phương pháp nghiên cứu được sử  
dụng là phương pháp định lượng  
thông qua bộ công cụ khảo sát bằng  
bản câu hỏi từ công trình nghiên cứu  
“Tác động của ý thức thuộc về đến sự  
gắn kết xã hội của lao động trẻ di dân  
tại TPHCM hiện nay”(1). Với những  
câu hỏi về thái độ hay ý kiến cá nhân,  
chúng tôi sử dụng thang đo Likert để  
đánh giá.  
Là một thuật ngữ quan trọng trong xã  
hội học, cộng đồng (community) từ lâu  
đã được phổ biến trong giới nghiên  
cứu cũng như diễn ngôn khoa học.  
Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm cộng  
đồng xuất phát từ chữ La-tinh  
communus với com (cùng với hoặc với  
nhau) và unus (một số hoặc sự biệt  
lập/đặc biệt) (Delanty, 2010: x). Từ điển  
xã hội học Oxford thì cho rằng “cộng  
đồng đề cập đến một tập hợp những  
mối quan hệ xã hội được thiết lập một  
cách đặc thù dựa trên những cái mà  
các thành viên cùng có chung –  
thường là một cảm quan chung về  
bản sắc (common sense of identity)”  
(Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt  
Phương, Trịnh Huy Hóa, 2010: 121).  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử  
dụng mẫu định ngạch với 200 lao  
động có độ tuổi từ 16 đến 35, có trình  
độ học vấn cấp Hai trở xuống (65 lao  
động), cấp Ba (67 lao động), cao  
đẳng/đại học trở lên (68 lao động) di  
cư từ miền Bắc, miền Trung và Tây  
Nam Bộ vào sinh sống tại quận Bình  
Tân, quận 12, quận Thủ Đức và quận  
7; và dựa vào số liệu thống kê về số  
lượng người nhập cư sinh sống tại  
TPHCM trong công trình nghiên cứu  
của Nguyễn Văn Phúc (2017).  
Phân tích cấu trúc cộng đồng thường  
gắn với việc tìm hiểu cả hai hình thái  
cộng đồng: cộng đồng hữu hình và  
cộng đồng mạng lưới xã hội thông  
qua internet. Với hình thái cộng đồng  
hữu hình, những xu hướng phân tích  
thường gắn với việc tìm hiểu về không  
gian hữu hình. Do đó, những thuật  
ngữ như: “địa phương”, “nơi chốn”,  
“láng giềng/khu phố” đều là những  
khái niệm tham chiếu đến không gian  
địa lý, trong đó quan hệ mặt đối mặt  
giữa các cá nhân chiếm một ưu thế  
Với phân tích định lượng, chúng tôi sử  
dụng những kiểm định thống kê để  
phân tích sự tác động giữa các nhóm  
nhân tố. Hai kỹ thuật thống kê được  
sử dụng là phân tích nhân tố (Factor  
Analysis) và phân tích hệ số tương  
quan r (Pearsons). Để phân tích nhân  
tố, chúng tôi sử dụng 16 mệnh đề đại  
diện cho khái niệm ý thức thuộc về  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
lớn. Khái niệm này cũng giả định rằng Cấu trúc cộng đồng của lao động trẻ  
sự phân cách không gian như vậy kết di dân còn được thể hiện qua các hội  
hợp với sự hình thành và duy trì các nhóm/đoàn thể là người lao động  
nhóm cộng đồng khác nhau nhằm tham gia với tư cách thành viên  
mục tiêu thúc đẩy cảm giác an toàn, (Delanty, 2010). Ở đây, chúng tôi đã  
sự cam kết và ý thức về sự thuộc về. chia tách khái niệm cộng đồng thành  
Dựa trên phương pháp phân tích nội hai nhóm đó là cộng đồng hữu hình và  
dung, George Hillary (1955) cho rằng cộng đồng mạng lưới xã hội qua  
có đến 94 định nghĩa khác nhau về internet. Nhìn chung, không chỉ tồn tại  
cộng đồng với ba chiều kích gồm: (1) trong các không gian thực giữa các  
sự tương tác giữa người với người, (2) nhóm xã hội, mạng lưới xã hội thông  
một hoặc nhiều mối quan hệ được sẻ qua công cụ internet cũng là một yếu  
chia, và (3) phạm vi lãnh thổ. tố quan trọng góp phần định hình nên  
Zimmerman (2000) cho rằng, thuật ý niệm về cộng đồng của lao động trẻ  
ngữ cộng đồng được định nghĩa dựa di dân. Dưới sự phổ biến của những  
trên những đặc tính cấu thành. Có phần mềm công nghệ như Facebook,  
bốn đặc điểm để xác định một cộng Zalo, Twitter... sự gặp gỡ mặt đối mặt  
đồng, đó là: (1) sự hiện diện của sự đã có thể được thay đổi bởi các hình  
kiện xã hội (social fact), (2) sự phân thức tương tác khác trên mạng xã hội.  
định rõ ràng, (3) sự liên kết, và (4) sự  
giới hạn về lãnh thổ. Almgren (2000)  
cho rằng: lãnh thổ là ranh giới để  
phân biệt giữa cộng đồng này với  
cộng đồng khác. Bên cạnh đó, cấu  
trúc của cộng đồng mạng lưới xã hội  
thông qua internet được thể hiện  
thông qua các phương tiện truyền  
thông hiện đại như Facebook, Zalo,  
Twitter... Với nhiều lao động trẻ di dân,  
việc tham gia vào những mạng lưới xã  
hội thông qua những phương tiện  
truyền thông hiện đại cũng là một hình  
thức tương tác xã hội trong điều kiện  
sự tiếp xúc mặt giáp mặt bị hạn chế.  
Ngoài ra, sử dụng không gian mạng  
xã hội (social network) cũng là một  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho  
thấy, mối quan hệ cộng đồng của lao  
động di dân chủ yếu xoay xung quanh  
nhóm bạn bè những người nhập cư  
cùng quê. Để đánh giá về cấu trúc  
cộng đồng, chúng tôi khảo sát bạn bè,  
đồng hương, đồng nghiệp... của lao  
động di dân. Kết quả cho thấy trung  
bình một lao động trẻ di dân quen biết  
với 17,32 bạn bè đồng hương, 7,72  
bạn bè cùng vùng miền, 4,4 bạn bè là  
người đang sinh sống tại TPHCM,  
2,96 bạn bè ở cùng trong một khu  
phố/hẻm. So sánh giữa các nhóm học  
vấn, kết quả nghiên cứu cho thấy có  
sự khác biệt giữa các nhóm học vấn  
về tỷ lệ bạn bè là người gốc ở  
trong những điều kiện giúp cho TPHCM (sig=0,000) và bạn bè ở cùng  
khoảng cách về mặt địa lý không còn khu phố/hẻm nơi đang sinh sống. Cụ  
thể, những lao động có học vấn cao  
là rào cản cho những tương tác xã hội.  
6
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
thường sẽ có số lượng bạn bè là kinh doanh (10,6%) và cuối cùng là  
người gốc ở TPHCM cao hơn những những hội nhóm có cùng chung lối  
sống như chơi chung các môn thể  
thao, sở thích chung... (2,1%) (xem  
Biểu đồ 1).  
nhóm còn lại. Với nhóm học vấn từ  
đại học trở lên, trung bình một lao  
động có khoảng 4,43 bạn thân là  
người gốc ở TPHCM; Nhóm học vấn  
cấp 3 là 2,94 người và thấp nhất là ở  
cấp 2 trở xuống với 1,7 người. Ngoài  
ra, những lao động có học vấn thấp  
thường dựa chủ yếu vào cộng đồng  
đồng hương/cùng quê tại nơi cư trú,  
trong khi những lao động có học vấn  
cao (cao đẳng/đại học) có xu hướng  
mở rộng như hội nghề nghiệp, nhóm  
đồng nghiệp hoặc hội nhóm có chung  
lối sống, sở thích.  
So sánh giữa các khu vực vùng miền,  
kết quả cho thấy, mức độ tham gia  
vào các hội nhóm đồng hương/cùng  
quê của lao động miền Trung là cao  
nhất (89,5%), miền Bắc (78,8%) và  
miền Nam (35,3%).  
Về mức độ gặp gỡ giữa các nhóm lao  
động di dân thông qua gặp gỡ trực  
tiếp và gặp gỡ thông qua các mạng xã  
hội hay thiết bị công nghệ, kết quả cho  
thấy, cấu trúc của cộng đồng lao động  
di dân tồn tại trong cả hai hình thức  
cộng đồng hữu hình (thông qua mặt  
giáp mặt) và cộng đồng mạng lưới xã  
hội (thông qua internet). Sự tương tác  
xã hội trực tiếp và qua các phương  
tiện thông tin đại chúng đã có sự thay  
đổi giữa các nhóm. Với nhóm đồng  
hương/cùng quê, sự tương tác thông  
qua hình thức gặp gỡ trực tiếp chiếm  
tỷ lệ cao nhất ở mức thỉnh thoảng  
(76%), trong khi ở hình thức trao đổi  
Về cộng đồng hữu hình dựa trên sự  
tương tác trực tiếp, kết quả cho thấy  
có 70,5% lao động trẻ di dân đang  
tham gia với tư cách thành viên trong  
các hội nhóm/cộng đồng. Trong đó,  
cao nhất là các hội nhóm hội đồng  
hương/cùng quê (36,9%), hàng xóm/  
lối xóm trong cùng khu phố nơi lao  
động trẻ di dân sinh sống (26,2%),  
nhóm đồng nghiệp cùng làm việc  
chung (24,1%), hiệp hội nghề nghiệp/  
Biểu đồ 1. Các hội nhóm/cộng đồng mà lao động trẻ di dân tham gia  
(đvt:%)  
Nguồn: Tác giả khảo sát, 2020.  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
Bảng 1. Mức độ gặp gỡ trực tiếp và thông qua các phương tiện mạng xã hội/thiết bị  
công nghệ của lao động trẻ di dân (đvt: %)  
Nói chuyện/trao đổi qua mạng  
Mức độ gặp gỡ trực tiếp  
xã hội/thiết bị công nghệ  
Hội/nhóm  
Chưa Thỉnh Thường  
bao giờ thoảng xuyên  
Chưa Thỉnh Thường  
bao giờ thoảng xuyên  
Tổng  
Tổng  
Hội nhóm đồng  
6
152  
42  
200  
3
84  
113  
200  
hương/cùng quê  
3%  
76%  
21%  
100%  
1,5  
42%  
56,5% 100%  
111 200  
55,5% 100%  
Hội nhóm đồng nghiệp  
3
99  
98  
200  
21  
68  
1,5% 49,5% 49%  
37 62 101  
18,5% 31% 50,5% 100%  
100% 10,5% 34%  
Hàng xóm/láng  
giềng... tại nơi đang  
sinh sống  
200  
32  
70  
98  
200  
16%  
35%  
49%  
100%  
Các hội nhóm có  
chung lối sống: thể  
thao, sở thích  
122  
27  
51  
200  
63  
66  
71  
200  
61% 13,5% 25,5% 100% 31,5% 33%  
35,5% 100%  
Nguồn: Tác giả khảo sát, 2020.  
qua mạng xã hội/thiết bị công nghệ mọi người (16%), chùa/nhà thờ  
chiếm tỷ lệ cao nhất ở mức thường  
xuyên (56,5%). Ở hội nhóm có cùng  
chung sở thích, lối sống, gặp gỡ trực  
tiếp ở mức chưa bao giờ là cao nhất  
qua các phương tiện thông tin đại  
chúng có vẻ như gia tăng ở nhóm  
thỉnh thoảng và thường xuyên. Ở hội  
nhóm láng giềng/khu phố tại nơi đang  
sinh sống, mức độ gặp gỡ trực tiếp và  
qua các phương tiện thông tin đại  
chúng là tương đối giống nhau (xem  
Bảng 1).  
(14%)... Đồng thời, cũng có đến 18%  
người lao động cho rằng tại nơi mình  
đang sinh sống không có những dấu  
hiệu nào để nhận diện về khu  
phố/láng giềng. Trong khi đó ở cộng  
đồng mạng lưới xã hội thông qua  
internet, những dấu hiệu để nhận diện  
được đánh giá cao là những quy  
định/nội quy chỉ dành riêng cho các  
thành viên trong nhóm biết (21,5%),  
những ký hiệu, logo (12%).  
Nhìn chung, thông qua việc phân tích  
tư cách thành viên, mối quan hệ, sự  
tương tác bằng các hình thức khác  
nhau, chúng tôi nhận thấy sự hiện  
diện của cả hai hình thức cộng đồng  
hữu hình và cộng đồng mạng lưới xã  
hội thông qua internet của lao động trẻ  
di dân tại TPHCM hiện nay. Đồng thời,  
những người trẻ di dân vào đô thị  
Cấu trúc cộng đồng còn được thể hiện  
thông qua những dấu hiệu/nơi chốn  
mà người lao động trẻ di dân nhận  
thấy tại nơi mà mình đang sinh sống  
hay là thành viên. Đối với khu  
phố/láng giềng, những dấu hiệu được  
đánh giá cao gồm những biển  
hiệu/logo tại khu phố nơi họ ở (27%),  
công viên/khu công cộng dành cho không hoàn toàn bị cô lập, cấu trúc và  
8
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
cơ chế trong cộng đồng của họ cung trẻ di dân từ các tỉnh khác đến  
cấp sự nương tựa cho mục tiêu hội TPHCM  
nhập đô thị. Yếu tố học vấn có ảnh  
Để kiểm định ý thức thuộc về, chúng  
tôi đã sử dụng tổng cộng 16 mệnh đề  
hưởng đến số lượng những người  
bạn bè thân thiết là người có gốc ở  
được đo lường bằng thang đo Likert  
(từ (1) hoàn toàn không đồng ý – đến  
TPHCM và người tại khu phố đang  
sinh sống. Với những lao động có học  
(5) hoàn toàn đồng ý). Những mệnh  
vấn cao (cao đẳng/đại học), mạng  
đề này dựa trên quan điểm về khái  
lưới xã hội rộng và đa dạng giúp cho  
niệm ý thức thuộc về của Painter  
họ có nhiều cơ may về kinh tế. Trong  
(2013); McMillan và Chavis, (1986).  
khi đó, những lao động có học vấn  
thấp (cấp 2 trở xuống) thường dựa  
vào mạng lưới đồng hương/cùng quê  
để giúp họ thích ứng ban đầu với đời  
sống đô thị.  
Theo đó, có năm nhóm chiều kích đã  
được đề cập gồm: (1) tư cách thành  
viên; (2) sự ảnh hưởng/tin cậy; (3)  
nhu cầu liên kết và sẻ chia; (4) mức  
độ tham gia xã hội; và (5) sự tham gia  
và năng lực cộng đồng.  
3.2. Tác động của ý thức thuộc về  
đến sự gắn kết xã hội của lao động  
Để đánh giá mức độ phù hợp của các  
Bảng 2. Những biểu hiện của sự gắn kết xã hội của lao động di dân (đvt:%)  
Hoàn  
toàn  
không  
đồng ý  
Không đồng  
Hơi  
không  
đồng ý  
Hoàn  
toàn  
đồng ý  
ý cũng  
không phản đồng ý  
đối  
Hơi  
Tổng  
cộng  
Mệnh đề  
1. Tôi sẽ giới thiệu cho nhiều người  
về nơi tôi đang sinh sống  
36  
47  
53  
31  
33  
200  
18%  
23,5%  
26,5%  
15,5% 16,5% 100%  
55 28 200  
27,5% 14% 100%  
2. Tôi sẽ nỗ lực đề làm cho khu  
phố ngày càng tốt hơn  
22  
33  
62  
11%  
16,5%  
31%  
3. Tôi tin tưởng những người trong  
khu phố nơi đang ở  
20  
58  
37  
73  
12  
200  
10%  
29%  
18,5%  
36,5%  
6%  
100%  
4. Những người bạn cùng quê/  
đồng hương rất quan trọng đối với  
tôi  
37  
31  
59  
49  
24  
200  
18,5% 15,5%  
29,5%  
24,5% 12% 100%  
5. Tôi mong muốn mình đạt nhiều  
thành công tại nơi đang sinh sống  
8
37  
69  
52  
34  
200  
4%  
18,5%  
34,5%  
26%  
17% 100%  
6. Sự phát triển của khu phố chiếm  
một phần trong kế hoạch tương lai  
của tôi  
29  
39  
48  
68  
16  
200  
14,5% 19,5%  
24%  
34%  
8%  
100%  
7. Tôi sẵn sàng cộng tác với những  
người tôi tin tưởng  
19  
24  
54  
61  
42  
200  
9,5%  
12%  
27%  
30,5% 21% 100%  
Nguồn: Tác giả khảo sát, 2020.  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
Bảng 3. Số lượng các nhóm nhân tố được rút trích  
Mệnh đề  
Nhân tố  
1
2
3
4
5
1. Tôi có nhiều bạn bè tại khu phố nơi tôi đang  
sống và những người này quan trọng đối với tôi.  
0,815  
2. Tôi có nhiều bạn bè đồng hương/cùng quê tại  
TPHCM.  
0,886  
0,847  
3. Những người bạn đồng hương/cùng quê rất  
quan trọng với tôi.  
4. Tôi luôn cảm thấy an toàn khi nói chuyện với  
những người trong khu phố.  
0,840  
0,806  
0,673  
5. Tôi cảm thấy tự hào khi là thành viên của khu  
phố.  
6. Nỗ lực để trở thành thành viên của khu phố là  
một điều đáng làm.  
7. Hầu hết các thành viên trong khu phố đều biết  
đến các quy định của khu phố.  
0,931  
0,724  
0,813  
8. Các thành viên trong khu phố đều cố gắng tuân  
thủ các nội quy.  
9. Các giá trị chung trong khu phố đều được mọi  
người chia sẻ.  
10. Tôi muốn mình thành đạt nhiều hơn ở nơi tôi  
đang sinh sống.  
0,841  
0,805  
11. Các thành viên trong khu phố đều có những  
mong đợi chung về sự phát triển của khu phố.  
12. Sự phát triển của khu phố nơi tôi đang sống  
chiếm một phần lớn trong kế hoạch tương lai của  
tôi.  
0,785  
13. Mọi người trong khu phố đều cố gắng chia sẻ  
những khó khăn chung.  
0,729  
0,684  
14. Mỗi khi gia đình nào có việc, mọi thành viên  
trong khu phố đều giúp đỡ nhau.  
15. Tôi mong muốn mình được sinh sống tại khu  
phố trong một thời gian dài.  
0,825  
0,872  
16. Tôi nghĩ rằng khu phố là một nơi tốt để sinh sống.  
Nguồn: Tác giả xây dựng, 2020.  
mệnh đề với những chiều kích, chúng cho thấy mô hình phân tích nhân tố  
tôi tiến hành phân tích nhân tố để khám phá là phù hợp với dữ liệu thực  
khám phá mối tương quan giữa các tế. Tiếp theo, kiểm định Bartlett cho  
mệnh đề và nhóm thành các nhóm giá trị Sig.=0,000 (nhỏ hơn 0,05, hàm  
nhân tố. Kết quả phân tích EFA cho ý rằng các biến quan sát có tương  
thấy hệ số KMO=0,78 là ngưỡng chấp quan tuyến tính với nhân tố đại diện.  
nhận được (Kaiser, 1974). Điều này Tổng % phương sai trích rút bằng  
10  
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
75,81%, có thấy rằng năm nhân tố (sig=0,002, df=197). Kết quả này  
giống với nhận định của Julie Pooley,  
Lynne Cohen và Lisbeth Pike (2005)  
rằng nam giới và những người có  
trình độ học vấn càng cao thì ý thức  
cộng đồng càng tăng. Nam giới có ý  
thức cộng đồng cao hơn nữ giới do họ  
được kỳ vọng nhiều hơn vào vai trò xã  
hội của mình.  
được rút trích ra giải thích được  
75,81% độ biến thiên của dữ liệu.  
Kết quả phân tích cho thấy có năm  
nhân tố đại diện cho ý thức thuộc về  
của lao động trẻ di dân gồm: (1) tầm  
quan trọng của bạn bè/đồng hương;  
(2) mức độ hỗ trợ lẫn nhau tại cộng  
đồng; (3) sự an toàn và tư cách thành  
viên trong khu phố; (4) mong đợi về  
sự thành đạt và phát triển của khu phố  
và nhân tố (5) sự chia sẻ các giá trị  
chung tại khu phố (xem Bảng 4).  
Trong khi đó, công trình nghiên cứu  
của Obst, Zinkiewicz và Smith (2002)  
phát hiện lại bốn chiều kích của  
McMillan và David Chavis (1986) về  
(tư cách thành viên, sự ảnh hưởng,  
việc đáp ứng các nhu cầu và sự kết  
nối tình cảm chung) ở cả hai nhóm  
cộng đồng địa phương và cộng đồng  
lợi ích khi đề cập đến ý thức thuộc về.  
So sánh với các nhóm học vấn, kết  
quả kiểm định tương quan cho thấy:  
có sự khác nhau giữa các nhóm trình  
độ học vấn với nhân tố 1: (tầm quan  
trọng của bạn bè đồng hương); nhân  
tố 2 (mức độ hỗ trợ lẫn nhau tại cộng  
đồng). Cụ thể, ở nhóm đánh giá về  
tầm quan trọng của bạn bè đồng  
hương, kết quả nghiên cứu cho thấy  
rằng: những lao động có học vấn thấp  
sẽ có khuynh hướng đề cao tầm quan  
trọng của bạn bè đồng hương (hệ số  
tương quan (r) của nhóm học vấn cấp  
1 là 0,57; cấp 2 là 0,65. Trong khi  
nhóm lao động có học vấn cao  
đẳng/đại học có hệ số tương quan âm  
-0,65. Điều này cho thấy rằng những  
lao động có học vấn thấp thường sẽ  
có xu hướng đánh giá cao nhóm bạn  
bè/đồng hương gần gũi với mình. Mặt  
khác, những lao động có học vấn thấp  
cũng đánh giá cao sự hỗ trợ lẫn nhau  
tại khu phố nơi đang sinh sống so với  
những lao động có học vấn cao  
(sig=0,000).  
Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa  
các nhóm nhân tố với những biến số  
độc lập cho thấy: giữa nam và nữ có  
nhận thức khác nhau về tầm quan  
trọng của bạn bè (sig=0,002, df=198);  
khác nhau đối với nhận thức về sự an  
toàn và tư cách thành viên trong khu  
phố (sig=0,004, df=198). Cụ thể, nam  
giới đánh giá cao hơn nữ giới về tầm  
quan trọng của bạn bè cũng như nhận  
thức về sự an toàn và tư cách thành  
viên. Trong khi những chiều kích khác  
của ý thức cộng đồng, nam và nữ Để kiểm định mối quan hệ giữa ý thức  
thuộc về với sự gắn kết xã hội, chúng  
không có sự khác nhau. Ngoài ra,  
những người có thu nhập cao cũng có tôi tiến hành đo lường hệ số tương  
ý thức cao trong việc mong đợi về sự quan Pearson (Pearson Correlation  
thành đạt và phát triển của khu phố Coefficient) giữa các nhóm nhân tố  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
đại diện cho ý thức thuộc về với từng (Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng  
mệnh đề đại diện cho sự gắn kết xã Ngọc, 2008: 197). Nói cách khác, đo  
hội. Xét về mặt thống kê, hệ số tương lường mối quan hệ giữa hai biến số  
quan Pearson (ký hiệu là r) sẽ giúp hay mệnh đề sẽ giúp hiểu rõ hơn mối  
lượng hóa được mức độ chặt chẽ của quan hệ giữa tác động của ý thức  
mối quan hệ tuyến tính giữa hai biến thuộc về đến sự gắn kết xã hội được  
định lượng (khoảng cách hay tỷ lệ) thể hiện thông qua một số chỉ báo  
Bảng 4. Hệ số tương quan Pearson giữa những ý thức thuộc về và sự gắn kết xã hội  
Tôi sẽ giới Tôi sẽ nỗ Tôi tin Tôi mong Sự phát Tôi sẵn Những  
thiệu cho  
nhiều  
người về khu phố người  
nơi tôi  
đang sinh ở ngày  
lực để  
làm cho những đạt nhiều khu phố cộng tác  
thành chiếm một với  
tưởng  
đợi mình triển của  
sàng người bạn  
Những chiều  
kích của ý thức  
thuộc về  
đồng  
hương/  
tôi đang  
đang  
công tại phần trong những cùng quê  
khu phố kế hoạch người rất quan  
sống  
sống  
một tốt trong khu nơi tôi  
tương lai  
tôi tin trọng với  
hơn  
0,090  
0,206  
200  
phố  
0,146*  
0,039  
200  
sống  
0,044  
0,537  
200  
của tôi  
tưởng  
0,436**  
0,000  
200  
tôi  
0,428**(2)  
0,000(3)  
200(4)  
0,400**  
0,000  
200  
0,847**  
0,000  
200  
Tầm quan  
trọng của bạn  
bè/đồng hương  
0,463**  
0,337**  
0,000  
200  
-0,008  
0,913  
200  
0,168*  
0,017  
200  
0,413**  
0,000  
200  
0,071  
0,316  
200  
0,161*  
0,023  
200  
Mức độ hỗ trợ  
lẫn nhau tại  
cộng đồng  
0,000  
200  
Sự an toàn và  
tư cách thành  
viên trong khu  
phố  
0,469**  
0,284**  
0,409**  
0,118  
0,097  
0,563**  
-0,067  
0,347  
0,170*  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,016  
200  
200  
200  
200  
200  
200  
200  
Mong đợi về sự 0,286**  
0,178*  
0,012  
0,403**  
0,000  
0,301**  
0,000  
-0,154*  
0,030  
0,103  
0,146  
0,179*  
0,011  
thành đạt và  
0,000  
phát triển của  
200  
200  
200  
200  
200  
200  
200  
khu phố  
0,094  
0,184  
200  
0,295**  
0,000  
200  
0,334**  
0,000  
200  
-0,018  
0,797  
200  
0,132  
0,062  
200  
0,284**  
0,000  
200  
0,081  
0,254  
200  
Sự chia sẻ các  
giá trị chung tại  
khu phố  
* Tương quan có ý nghĩa ở mức 0,05 (2 phía).  
** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0,01 (2 phía).  
(2) Hệ số tương quan Pearson (r) (Pearson Correlation).  
(3) Mức ý nghĩa (sig).  
(4) Số lượng khách thể nghiên cứu (N).  
Nguồn: Tác giả tính toán, 2020.  
12  
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
điển hình.  
(r=0,56, sig=0,00); hay “Tin tưởng  
những người đang sống trong khu  
Kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy  
rằng giữa chiều kích: “Tầm quan trọng  
của bạn bè/đồng hương” có mối  
tương quan đồng biến thuận với  
những mệnh đề: “Tôi sẽ giới thiệu cho  
nhiều người về nơi tôi đang sinh  
sống” (r=0,428, sig=0,00); “Sự phát  
triển của khu phố chiếm một phần  
trong kế hoạch tương lai của tôi”  
phố” (r=0,4, sig=0,00). Cuối cùng,  
những người đánh giá cao về “Sự  
thành đạt và phát triển của khu phố”  
hay “Chia sẻ các giá trị chung tại khu  
phố” thì cũng có mức độ tin tưởng  
những người đang sống trong khu  
phố cao (r=0,43, r=0,33, sig=0,00).  
4. KẾT LUẬN  
(r=0,400, sig=0,00); “Tôi sẵn sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc  
cộng tác với những người tôi tin cộng đồng của lao động trẻ di dân tại  
hiện nay vẫn chủ yếu xoay xung  
quanh nhóm bạn bè đồng hương/cùng  
quê tại nơi cư trú. Mặt khác, cộng  
đồng của lao động di dân trẻ hiện nay  
không chỉ gói gọn trong không gian  
hữu hình. Thực tế, dưới sự tác động  
của internet và các phương tiện  
truyền thông khác đã giúp nối kết  
nhiều lao động di dân thành một mạng  
lưới xã hội. Điều này, giúp định hình  
lối sống, hành vi của nhiều lao động  
trẻ di dân cũng như hỗ trợ họ trong  
giai đoạn đầu thích ứng với đời sống  
đô thị.  
tưởng” (r=0,436, sig=0,00) và cao  
nhất là với biến “Những người bạn  
đồng hương/ cùng quê rất quan trọng  
với tôi” (r=0,84, sig=0,00). Nói cách  
khác, những người đánh giá cao tầm  
quan trọng của bạn bè đồng hương  
thì cũng đánh giá cao những biến số  
như đã đề cập ở trên.  
Ý thức thuộc về thông qua chiều kích  
“Mức độ hỗ trợ lẫn nhau tại cộng  
đồng” có mối quan hệ đồng biến với  
chỉ báo “Sẽ giới thiệu cho nhiều người  
về nơi tôi đang sinh sống” (r=0,46,  
sig=0,00); hay “Sự phát triển của khu  
phố chiếm một phần trong kế hoạch  
tương lai của tôi” (r=0,43, sig=0,00).  
Nói cách khác, những người đánh giá  
cao mức độ hỗ trợ lẫn nhau có xu  
hướng giới thiệu cho nhiều người  
cũng như cho rằng sự phát triển của  
khu phố chiếm một phần trong kế  
hoạch tương lai. Ngoài ra, những  
người đánh giá cao về “Sự an toàn và  
tư cách thành viên tại khu phố” thì  
cũng đánh giá cao về yếu tố: “Sự phát  
triển của khu phố chiếm một phần  
trong kế hoạch tương lai của tôi”  
Như vậy, năm chiều kích cấu thành  
nên ý thức thuộc về của lao động di  
dân tại TPHCM: (1) tầm quan trọng  
của bạn bè/đồng hương; (2) mức độ  
hỗ trợ lẫn nhau tại cộng đồng; (3) sự  
an toàn và tư cách thành viên trong  
khu phố; (4) mong đợi về sự thành đạt  
và phát triển của khu phố; và (5) sự  
chia sẻ các giá trị chung tại khu phố  
đã tác động đến sự gắn kết xã hội ở  
nhiều mức độ khác nhau. Trong đó,  
nam giới đánh giá cao hơn nữ giới về  
tầm quan trọng của bạn bè cũng như  
13  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
nhận thức về sự an toàn và tư cách nhau. Do đó, thách thức quan trọng là  
thành viên trong khu phố; những làm sao đánh thức được các nguồn  
người có thu nhập cao cũng có ý thức sức mạnh này thông qua sự công  
cao trong việc mong đợi về sự thành nhận và sẻ chia giữa các cộng đồng  
đạt và phát triển của khu phố. Bên khác nhau. Những lao động có học  
cạnh đó, những lao động di dân đánh vấn thấp thường sẽ gắn bó với những  
giá cao tầm quan trọng của bạn bè nhóm bạn đồng hương/cùng quê tại  
đồng hương cũng có xu hướng giới khu phố/hẻm. Trong khi những lao  
thiệu cho nhiều người về nơi đang động có học vấn cao có mạng lưới xã  
sinh sống hay xem sự phát triển của hội rộng hơn, mức độ tham gia các  
khu phố chiếm một phần trong kế hội nhóm trên internet của họ cũng  
hoạch tương lai. Những người đánh cao hơn so với nhóm có học vấn thấp.  
giá cao về sự hỗ trợ tại cộng đồng sẽ Những lao động có quê quán ở miền  
có xu hướng giới thiệu cho người Trung và Bắc có mức độ tham gia hội  
khác về nơi mình đang sinh sống hay nhóm cao hơn so với nhóm lao động  
đánh giá cao sự phát triển của khu ở miền Nam. Đồng thời, những lao  
phố. Những lao động di dân đánh giá động có học vấn thấp cũng đánh giá  
cao về sự an toàn và tư cách thành cao về tầm quan trọng của bạn bè  
viên tại khu phố thì cũng tin tưởng đồng hương và mức độ hỗ trợ lẫn  
những người đang sống trong khu nhau tại cộng đồng khu phố so với  
phố. Tuy nhiên, sự tin cậy chủ yếu nhóm lao động có học vấn cao.  
xoay quanh những người đã biết rõ về  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Đề tài “Tác động của ý thức thuộc về đến sự gắn kết xã hội của lao động trẻ di dân tại  
TPHCM hiện nay” do tác giả làm chủ nhiệm được thực hiện từ tháng 12/2019 đến tháng  
12/2020 theo hợp đồng số 11/2019/HĐ-KHCN-VƯ. Đề tài được thực hiện bằng nguồn kinh  
phí hỗ trợ từ Chương trình Vườn ươm Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Trẻ do Trung tâm  
Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ - Thành Đoàn TPHCM và Sở Khoa học và Công  
nghệ quản lý.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Alesina, Alberto and La Ferrara. 2000. “Participation in Heterogeneous Communities”.  
Quarterly Journal of Economics, 115, pp. 847-904.  
2. Almgren, G. 2000. “Community”. In B. &. Montgomery. Encyclopedia of Sociology.  
New York: The Gale Group, pp. 362-369.  
3. Arredondo. 1984. “Identity Themes for Immigrant Young Adults”. Adolescence, 19(76),  
pp. 977-993.  
4. Berry. 1997. “Immigration, Acculturation and Adaptation”. Applied Psychology: An  
International Review, pp. 5-34.  
14  
ĐỖ HỒNG QUÂN – Ý THỨC THUỘC VỀ VÀ SỰ GẮN KẾT…  
5. Bess, Kimberly; Fisher, Sonn and Bishop. 2002. Psychological Sense of Community:  
Theory, Research and Application. New York: Plenum Publishers.  
6. Bùi Thế Cường, Đặng Thị Việt Phương, Trịnh Huy Hóa (dịch). 2010. Từ điển Xã hội  
học Oxford. Hà Nội: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
7. Cantle, T. 2008. Community Cohesion: A New Framework for Race and Diversity.  
London: Palgrave Macmillan.  
8. Cheong, Edwards, Goulbourne and Solomos. 2007. “Immigration, Social Cohesion  
and Social Capital: A Critical Review”. Critical Sociology, pp. 24-49.  
9. Craven and Wellman. 1973. The Network City. University of Toronto.  
10. Delanty, G. 2010. Community. London: Routledge.  
11. Forrest, R. and Kearns, A. 2001. “Social Cohesion, Social Capital and the  
Neighbourhood”. Urban Studies, pp. 2125-2143.  
12. Giddens, A. 1994. Beyond Left and Right. Cambridge: Polity Press.  
13. Hagerty, Lynch-Sauer J, Patusky and Bouwsema Collier. 1992. “Sense of Belonging:  
a Vital Mental Health Concept”. Archives of Psychiatric Nursing, 6(3), pp. 172-177.  
14. Hewstone et al. 2007. “Prejudice, Intergroup Contact and Identity: Do  
Neighbourhoods Matter?”. In M.L.M. Wetherell. Identity, Ethnic Diversity and Community  
Cohesion. London: Sage.  
15. Hickman, Mary - Crowley Helen and Mai Nick. 2008. Immigration and Social  
Cohesion in the UK. The Rhythms and Realities of Everyday Life. York: Joseph  
Rowntree Foundation.  
16. Hickman, Mary J. - Nicola Mai and Helen Crowley. 2012. Migration and Social  
Cohesion in the UK. Basingstoke: Palgrave Macmillan.  
17. Hoàng Phê. 1996. Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng.  
18. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc. 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với  
SPSS. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.  
19. McMillan and David Chavis. 1986. “Sense of Community: A Definition and Theory”.  
Journal of Community Psychology, pp. 6-23.  
20. McMillan, D. 1996. “Sense of Community”. Journal of Community Psychology, 24,  
pp. 315-325.  
21. Nguyễn Đức Lộc (chủ nhiệm đề tài). 2017. Vai trò của các tổ chức xã hội trong việc  
hỗ trợ phúc lợi cho thanh niên công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TPHCM.  
TPHCM: Sở Khoa học Công nghệ TPHCM.  
22. Nguyễn Văn Phúc. 2016. Vốn xã hội và sự thành công của người lao động di cư đến  
TPHCM. TPHCM: Sở Khoa học Công nghệ TPHCM.  
23. Painter, C.V. 2013. Sense of Belonging: Literature Review. Citizenship and  
Immigration Canada or the Government of Canada.  
24. Patricia Obst, Lucy Zinkiewicz và Sandy G. Smith. 2002. “Sense of Community in  
Science Fiction Fandom”. Journal of Community Psychology, pp. 105-117.  
25. Pooley, J.A., Cohen, L. and Pike, L.T. 2005. “Can Sense of Community Inform  
Social Capital?”. The Social Science Journal, pp. 71-79.  
15  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
26. Putnam. 2000. Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community.  
New York: Simon & Schuster.  
27. Putnam, R.D. 2007. “E Pluribus Unum: Diversity and Community in the Twenty-First  
Century the 2006 Johan Skytte Prize Lecture”. Scandinavian Political Studies, Vol. 30 -  
No. 2, pp. 137-174.  
28. Reitz and Banerjee. 2007. “Racial Inequality, Social Cohesion, and Policy Issues in  
Canada”. In T.C. Banting. Belonging? Diversity, Recognition and Shared Citizenship in  
Canada Montreal: Institute for Research on Public Policy, pp. 489-545.  
29. Robinson D, Reeve K. 2006. Neighbourhood Experiences of New Immigration:  
Reflections from the Evidence Base. New York: Joseph Rowntree Foundation.  
30. Sonn, Christopher C. 2002. “Immigrant Adaptation: Understanding the Process  
Through Sense of Community”. In Fisher. Psychological Sense of Community: Research,  
Applications and Implications New York: Springer US. pp. 205-222.  
31. Soroka, Stuart et al. 2016. “Migration and Welfare State Spending”. European  
Political Science Review, pp. 173-194.  
32. Stanley, John; Janet Stanley and David Hensher. 2012. “Mobility, Social Capital and  
Sense of Community: What Value?”. Urban Studies, pp. 3595-3609.  
33. Stolle, Dietlind et al. 2008. “When Does Diversity Erode Trust? Neighborhood  
Diversity, Interpersonal Trust and the Mediating Effect of Social Interactions”. Political  
Studies, pp. 57-75.  
34. Uslaner, E. 2012. Segregation and Mistrust: Diversity, Isolation, and Social  
Cohesion. Cambridge University Press.  
35. Xu, Qingwen; Douglas D. Perkins; Julian Chun and Chung Chow. 2010. “Sense of  
Community, Neighboring, and Social Capital as Predictors of Local Political Participation  
in China”. Am J Community Psychology, pp. 259-271.  
36. Zimmerman. 2000. “Empowerment Theory: Psychological Organizational, and  
Community Levels of Analysis”. In Seidman. Handbook of Community Psychology. New  
York: Plenum Press, pp. 43-63.  
pdf 15 trang baolam 20960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ý thức thuộc về và sự gắn kết xã hội đối với cộng đồng cư trú của lao động trẻ di dân tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfy_thuc_thuoc_ve_va_su_gan_ket_xa_hoi_doi_voi_cong_dong_cu_tr.pdf