Thực trạng giảm nghèo bền vững của người Stiêng
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
68
THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
CỦA NGƢỜI STIÊNG(*)
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT*
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của người Stiêng thời gian qua đã
đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, khi phân tích ở khía cạnh đa
chiều tỷ lệ nghèo vẫn cao do những thiếu hụt về bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục
của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em và tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Có nhiều yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững của người Stiêng, như:
trình độ học vấn và tay nghề còn thấp, bất bình đẳng giới trong giáo dục và đào
tạo, phần lớn người lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, việc làm
chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và lao động giản đơn, y tế và chăm sóc sức
khỏe hạn chế… r n cơ sở ph n t ch thực trạng các yếu tố tác động, bài viết đề
uất giải pháp về nh m giảm nghèo bền vững cho người ti ng
Từ khóa: giảm nghèo bền vững, thực hiện chính sách, thách thức, người Stiêng
Nhận bài ngày: 26/8/2020; đưa vào bi n tập: 28/8/2020; phản biện: 2/9/2020; duyệt
đăng: 24/9/2020
1. MỞ ĐẦU
những thành tựu nổi bật về giảm
nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi
nhận, trong đó có các dân tộc thiểu
số(1). Tuy nhiên, 53 dân tộc thiểu số
có sự khác biệt lớn về kinh tế, xã hội
và văn hóa, vì vậy, hiệu quả của chính
sách giảm nghèo ở các dân tộc thiểu
số là không đồng đều. Một số dân tộc
thiểu số có tỷ lệ nghèo đa chiều thấp
và tốc độ giảm nghèo nhanh, như:
Tày (tỷ lệ 27,5% năm 2012 giảm còn
11,9% năm 2016); Mường (tỷ lệ
23,6% giảm còn 7,3%); Nùng (tỷ lệ
32,3% giảm còn 12,9%)…; trong khi
một số dân tộc thiểu số khác lại có tỷ
lệ nghèo đa chiều cao, tốc độ giảm
nghèo chậm và có khoảng cách xa so
với người Kinh (tỷ lệ 12,8% năm 2012
giảm còn 6,4% năm 2016), như:
Giảm nghèo là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của
Đảng và Nhà nước Việt Nam trong
quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Công cuộc
giảm nghèo được nhìn nhận, tiếp cận
một cách toàn diện từ Đại hội lần thứ
VIII của Đảng (năm 1996) và tiếp tục
được duy trì, phát triển trong những
kỳ đại hội sau. Hệ thống chính sách
giảm nghèo được xây dựng phù hợp
với thực tiễn từng giai đoạn, ngày
càng được hoàn thiện theo hướng
bền vững.
Đến nay, Việt Nam đã đạt được
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
69
Hmông (tỷ lệ 88,7% giảm còn 76,2%); 2011, 2016) do Tổng cục Thống kê
Dao (tỷ lệ 56,2% giảm còn 37,5%)… tiến hành.
(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
2. KHÁI NIỆM VÀ PHƢƠNG PHÁP
Nam - Bộ Lao động - Thương binh và
ĐO LƢỜNG NGHÈO
Xã hội - UNDP, 2018: 46).
2.1. Khái niệm nghèo
Người Stiêng là một trong bốn dân tộc
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đói
thiểu số tại chỗ ở vùng Đông Nam Bộ
nghèo, song, nhìn chung đều phản
(Mạ, Chơ ro, Mnông và Stiêng), có
ánh các khía cạnh không có hoặc ít
23.875 hộ, 100.752 nhân khẩu (Ủy
được hưởng thụ những nhu cầu cơ
ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê,
bản ở mức tối thiểu của con người;
2020: 45), sinh sống tập trung ở tỉnh
mức sống thấp hơn mức sống trung
Bình Phước và một số ở tỉnh Đồng
bình của cư dân địa phương; thiếu
Nai, Tây Ninh… Công cuộc giảm
nghèo ở người Stiêng trong những
thập kỷ qua đã đạt được những kết
quả tích cực, tuy nhiên, vẫn còn nhiều
thách thức cho giảm nghèo bền vững.
Nghiên cứu về giảm nghèo bền vững
ở người Stiêng, bài viết tập trung vào
ba nội dung chính, đó là: 1) Khái niệm
và phương pháp đo lường nghèo; 2)
Chính sách và kết quả thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững ở người
Stiêng; 3) Một số yếu tố thách thức
đối với giảm nghèo bền vững ở người
Stiêng. Bài viết cũng đề xuất một số
hoặc không có cơ hội lựa chọn để
tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng. Việt Nam thừa nhận định
nghĩa về đói nghèo của Hội nghị
Chống đói nghèo khu vực Châu Á -
Thái Bình Dương, do Ủy ban Kinh tế -
Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương
(ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại
Bangkok (Thái Lan): đói nghèo “là tình
trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu
cầu này đã được xã hội thừa nhận
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội
giải pháp góp phần giảm nghèo bền và phong tục tập quán của địa
vững ở người Stiêng.
phương” (Thủ tướng Chính phủ, 2003:
17). Như vậy, không có chuẩn nghèo
chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo
cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện
cụ thể của từng quốc gia và thay đổi
theo thời gian và không gian.
Nguồn số liệu chủ yếu của bài viết từ
“Kết quả điều tra thực trạng kinh tế -
xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015”
và “Kết quả điều tra thu thập thông tin
về thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân
tộc thiểu số năm 2019” (viết tắt là Điều
tra dân tộc thiểu số 2015, 2019) do Ủy
ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê
2.2. Phƣơng pháp đo lƣờng nghèo
Trước năm 2015, Việt Nam sử dụng
phương pháp đo lường nghèo đơn
thực hiện và Tổng điều tra nông thôn, chiều dựa vào mức thu nhập hoặc chi
nông nghiệp và thủy sản năm 2011 và tiêu của cư dân. Tuy nhiên, cách tiếp
2016 (viết tắt là Điều tra nông thôn cận này cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
70
Từ năm 2016, Việt Nam chuyển đổi 3.1.1. Chương trình mục tiêu quốc
gia về giảm nghèo
phương pháp đo lường nghèo sang
tiếp cận nghèo đa chiều. Các tiêu chí
tiếp cận đo lường nghèo đa chiều giai
đoạn 2016-2020 gồm có: tiêu chí về
thu nhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt
tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Tiếp
cận dịch vụ xã hội cơ bản được xem
xét ở 5 lĩnh vực, có 10 chỉ số đo
lường, đó là: 1) Y tế (tiếp cận các dịch
vụ y tế, bảo hiểm y tế); 2) Giáo dục
(trình độ giáo dục của người lớn, tình
trạng đi học của trẻ em); 3) Nhà ở
(chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở
bình quân đầu người); 4) Điều kiện
sống (nước sạch và vệ sinh); 5) Tiếp
cận thông tin (sử dụng dịch vụ viễn
thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông
tin). Như vậy, chuẩn nghèo của Việt
Nam áp dụng cho giai đoạn 2016-
2020 áp dụng theo Quyết định số
59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ ngày 19/11/2015(2).
Năm 1996, lần đầu tiên vấn đề xóa đói
giảm nghèo được đặt thành Chương
trình xóa đói giảm nghèo (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 1996: 221). Năm 1998,
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh
mục 7 chương trình mục tiêu quốc gia,
trong đó có Chương trình xóa đói
giảm nghèo (viết tắt là Chương trình).
Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam thực sự bứt phá khi trở thành
một hệ thống chính sách xã hội của
quốc gia. Chương trình được thực
hiện trên phạm vi cả nước, ưu tiên
nguồn lực đầu tư cho các địa bàn
nghèo và khó khăn để giảm sự cách
biệt giữa các vùng miền. Chương
trình được ban hành phù hợp với tình
hình thực tiễn trong từng giai đoạn.
Giai đoạn năm 2016-2020, các dự án
thành phần của Chương trình bao
gồm: 1) Chương trình 30a; 2) Chương
trình 135; 3) Dự án hỗ trợ phát triển
sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và
nhân rộng mô hình giảm nghèo trên
địa bàn các xã ngoài Chương trình
30a và Chương trình 135; 4) Dự án
truyền thông và giảm nghèo về thông
tin; 5) Dự án nâng cao năng lực giám
sát, đánh giá thực hiện Chương trình.
3. CHÍNH SÁCH VÀ KẾT QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở NGƢỜI STIÊNG
3.1. Chính sách giảm nghèo bền
vững ở Việt Nam
Hệ thống chương trình, chính sách
giảm nghèo ở Việt Nam bao gồm hai
phần chính: Chương trình mục tiêu
quốc gia về giảm nghèo (nay là giảm
nghèo bền vững) và Các chính sách
hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Hầu hết chính sách giảm nghèo giai
đoạn 2016-2020 không phải là chính
sách mới mà được kế thừa từ giai
đoạn trước, có tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến người nghèo.
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo bền vững có các nội dung, hoạt
động chính, đó là:
- Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu
phục vụ cho sản xuất và dân sinh ở
các địa bàn nghèo và khó khăn;
- Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng
hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
71
nghèo;
thuộc hộ cận nghèo, hộ mới thoát
nghèo.
- Hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo,
hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc
thiểu số trên địa bàn các huyện nghèo
đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài;
+ Nhóm chính sách về nhà ở: cho hộ
vay vốn với lãi suất ưu đãi để xây
dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở, hỗ
trợ tiền mặt để hộ tự tổ chức xây
dựng nhà ở.
- Truyền thông và giảm nghèo về thông
tin;
+ Chính sách hỗ trợ tiền điện: hỗ trợ
- Nâng cao năng lực và giám sát,
đánh giá thực hiện Chương trình mục tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng
tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.
tháng hoặc tiền mặt hàng năm cho
các loại nhiên liệu thay thế cho điện
(đối với hộ không tiếp cận được điện
lưới quốc gia).
3.1.2. Các chính sách hỗ trợ cho hộ
nghèo, hộ cận nghèo
Có thể chia thành hai nhóm chính
sách, đó là:
+ Nhóm chính sách về trợ giúp pháp
lý: cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
cho người nghèo; tổ chức một số hoạt
động tuyên truyền, trợ giúp pháp lý
hướng đến cộng đồng nghèo (xã
nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn).
- Nhóm chính sách hỗ trợ nâng cao
thu nhập, gồm: chính sách đào tạo
nghề và giải quyết việc làm; chính
sách hỗ trợ đất sản xuất và nhóm
chính sách về tín dụng ưu đãi.
3.2. Kết quả giảm nghèo bền vững
ở ngƣời Stiêng
- Nhóm chính sách cải thiện tiếp cận
các dịch vụ cơ bản, bao gồm:
Tăng trưởng kinh tế là tiền đề cho
giảm nghèo bền vững. Tăng trưởng
+ Nhóm chính sách về giáo dục và
đào tạo: hỗ trợ trực tiếp cho người đi
học (cấp học bổng, miễn
Biểu đồ 1. Thu nhập và chi tiêu bình quân của người
Stiêng (triệu đồng/người/năm)
giảm học phí, hỗ trợ chi phí
học tập, hỗ trợ bán trú…);
tín dụng giáo dục (cho vay
học sinh, sinh viên); cử
tuyển; thu hút giáo viên về
các vùng khó khăn; giáo dục
song ngữ cho trẻ em dân tộc
thiểu số và đầu tư cơ sở hạ
tầng cho giáo dục.
+ Nhóm chính sách hỗ trợ y
tế: chính sách cấp thẻ bảo
hiểm y tế miễn phí cho thành
viên hộ nghèo; hỗ trợ mua
bảo hiểm y tế cho đối tượng
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả Điều tra nông
thôn 2011 và 2016; Phạm Linh Chi và các tác giả,
2018: 141.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
72
kinh tế giúp cho hộ tăng thu nhập và nghèo là 11,9% và tỷ lệ hộ cận nghèo
là 7,4% (Ủy ban Dân tộc - UNDP,
2016: 49, 53); năm 2019, tỷ lệ hộ
nghèo là 13,8% và tỷ lệ hộ cận nghèo
là 8,5% (Ủy ban Dân tộc - Tổng cục
Thống kê, 2020: 45). Năm 2019, tỷ lệ
hộ nghèo và hộ cận nghèo tăng so với
năm 2015, bởi từ năm 2016 phương
pháp đo lường nghèo đã chuyển đổi
từ đơn chiều sang đa chiều và theo
chuẩn nghèo quốc gia áp dụng cho
giai đoạn 2016-2020. Như vậy, tỷ lệ
nghèo ở người Stiêng đã giảm mạnh
dù đo lường nghèo theo thu nhập hay
đa chiều. Tuy tỷ lệ nghèo theo thu
nhập đã giảm mạnh và ở mức thấp,
song khi xét đến tỷ lệ nghèo theo
chuẩn nghèo đa chiều, tỷ lệ này ở
người Stiêng còn cao.
chi tiêu, từ đó có thể giảm nghèo về
tiền tệ và giảm nghèo đa chiều (Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam -
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội -
UNDP, 2018: 27). Thu nhập và chi
tiêu bình quân nhân khẩu của người
Stiêng năm 2016 so với năm 2011
tăng rõ rệt. Năm 2011, mức thu nhập
bình quân không đáp ứng cho chi tiêu
bình quân, đến năm 2016, mức thu
nhập bình quân đã lớn hơn chi tiêu
bình quân.
Để đánh giá tình trạng nghèo, Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội xác
định tỷ lệ hộ nghèo nhằm mục đích
không chỉ giảm sát nghèo mà còn để
xác định đối tượng phân bổ ngân sách
hỗ trợ. Nhiều báo cáo của các tổ chức
đo lường tỷ lệ người nghèo thay vì tỷ
lệ hộ nghèo, vì nó phản ánh chính xác
số lượng người nghèo
Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở
người Stiêng là 69,9%. Trong đó, xét
theo chỉ số của từng tiêu chí, tỷ lệ hộ
thực tế.
Biểu đồ 2. Tỷ lệ hộ thiếu hụt các chỉ số đo lường nghèo
đa chiều ở người Stiêng năm 2015
Theo kết quả Điều tra
nông thôn 2011 và 2016,
ở người Stiêng, tỷ lệ
người nghèo căn cứ
theo thu nhập là 42,3%
(năm 2011) giảm mạnh
còn 14,4% (năm 2016);
tương tự tỷ lệ người
nghèo đa chiều là
74,1% (năm 2011) giảm
mạnh còn 42,9% (năm
2016) (Phạm Linh Chi
và các tác giả, 2018:
141). Theo kết quả điều
tra 53 dân tộc thiểu số,
Nguồn: Tác giả xây dựng từ kết quả Điều tra 53 dân tộc
năm 2015, tỷ lệ hộ thiểu số 2015 (Ủy ban Dân tộc, UNDP, 2016: 52).
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
73
thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, thách thức với giảm nghèo (Oxfam,
thiếu hụt lớn nhất là bảo hiểm y tế (tỷ 2008: 11)… Ở người Stiêng, một số
lệ 55,7%) và trình độ giáo dục của yếu tố thách thức đối với giảm nghèo
người lớn (tỷ lệ 55,3%); mức độ thiếu bền vững có thể kể đến đó là: trình độ
hụt thấp nhất là tài sản phục vụ tiếp học vấn và trình độ chuyên môn kỹ
cận thông tin (tỷ lệ 19,5%) và tình thuật, bất bình đẳng trong giáo dục và
trạng đi học của trẻ em (tỷ lệ 20,6%); đào tạo, lao động và việc làm, y tế và
các chỉ số khác ở mức trung gian, sử chăm sóc sức khỏe…
dụng dịch vụ viễn thông (tỷ lệ 40,8%),
4.1. Trình độ học vấn và trình độ
nhà tiêu hợp vệ sinh (tỷ lệ 30,3%),
chuyên môn kỹ thuật
nguồn nước sinh hoạt (tỷ lệ 22,7%),
Hội đồng Quốc tế về khoa học (ICSU)
diện tích nhà ở (tỷ lệ 22%) và chất
và Hội đồng Khoa học xã hội Quốc tế
lượng nhà ở (tỷ lệ 21,6%)(3) (Ủy ban
(ISSC) (2015) đã chỉ ra: “Giáo dục
Dân tộc - UNDP, 2016: 52).
đóng vai trò then chốt đưa con người
Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số
năm 2019 của Ủy ban Dân tộc cho
thấy, mặc dù tỷ lệ nghèo của người
Stiêng theo chuẩn nghèo đa chiều đã
giảm đáng kể, song tỷ lệ hộ cận
nghèo vẫn còn cao, tính chung tỷ lệ
hộ nghèo và cận nghèo là 22,3%.
thoát khỏi nghèo đói” (dẫn theo
UNESCO, 2016: 8). Theo UNESCO
(2015: 1): Giáo dục mang lại sinh kế
tốt hơn, nâng cao thu nhập, ngăn
chặn nghèo đói kinh niên truyền qua
các thế hệ.
Phần lớn các chỉ số đạt được về giáo
4. MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN dục và đào tạo của người Stiêng hiện
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở NGƢỜI vẫn ở mức thấp, thấp hơn mức chung
STIÊNG
53 dân tộc thiểu số, có khoảng cách
xa so với người Kinh, thường ở vị trí
thứ 40 trở xuống, có những chỉ số xếp
thứ 53 trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt
Nam.
Có nhiều yếu tố tác động đến công
cuộc giảm nghèo, như việc hoạch
định và tổ chức thực hiện chính sách,
đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của
địa phương (Đỗ Kim Chung và các tác
giả, 2015); vai trò của vốn con người
(Trần Phúc Thành, 2014); số năm đi
học bình quân thấp; tỷ lệ lao động qua
đào tạo thấp; chăm sóc sức khỏe sinh
sản của phụ nữ thấp; tỷ lệ hôn nhân
cận huyết cao; cơ cấu thu nhập của
hộ cũng là yếu tố quan trọng (Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam –
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
và UNDP, 2018: 14); biến đổi khí hậu
Năm 2019, tỷ lệ người Stiêng trong độ
tuổi đi học phổ thông nhưng không đi
học, ở cấp tiểu học (tỷ lệ 7,5%) chỉ
thấp hơn người Gia Rai (tỷ lệ 8,3%); ở
hai cấp học là trung học cơ sở (tỷ lệ
39,6%) và trung học phổ thông (tỷ lệ
14,1%) có tỷ lệ cao nhất trong 53 dân
tộc thiểu số.
Mặc dù, tỷ lệ người Stiêng từ 15 tuổi
trở lên biết đọc biết viết chữ phổ thông
tăng, từ 61% (năm 2015) lên 62,6%
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
74
Bảng 1. Tình hình giáo dục ở người Stiêng năm 2015 và 2019
Năm 2015
Năm 2019
Chỉ tiêu
Tỷ lệ Xếp Tỷ lệ Xếp
(%)
thứ
(%)
thứ
Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết chữ phổ
61,0
39
62,6
41
thông
Tỷ lệ người đi học đúng tuổi ở cấp tiểu học
86,2
44,3
9,0
42
53
50
91,2
51,3
14,1
52
52
53
Tỷ lệ người đi học đúng tuổi ở cấp trung học cơ sở
Tỷ lệ người đi học đúng tuổi ở cấp trung học phổ thông
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc, 2015 và 2019.
(năm 2019), nhưng lại tụt
hạng từ thứ 39 (năm 2015)
xuống thứ 41 (năm 2019)
trong 53 dân tộc thiểu số. Tỷ
lệ người Stiêng đi học đúng
tuổi theo cấp học, năm 2019
tăng so với năm 2015,
nhưng vẫn ở thứ hạng thứ
52 và 53 trong 53 dân tộc
thiểu số (Bảng 1).
Biểu đồ 3. Trình độ giáo dục cao nhất của người
Stiêng từ 15 tuổi trở lên đạt được năm 2019
Năm 2019, trình độ giáo
dục cao nhất của người
Stiêng từ 15 tuổi trở lên đạt
được phần lớn là tiểu học
và dưới tiểu học (chiếm
83,1%), cao hơn nhiều so
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc,
2019.
53 dân tộc thiểu số (tỷ lệ 9,1%).
với tỷ lệ chung 53 dân tộc thiểu số (tỷ
lệ 51,7%). Trình độ học vấn tốt
nghiệp trung học cơ sở và trung học
phổ thông chính là nền tảng để tiếp
tục được đào tạo nghề, tuy nhiên, tỷ
Ở xã Tân Hiệp(4) (huyện Long Thành,
tỉnh Đồng Nai), nhiều học sinh tiểu
học người Stiêng sử dụng tiếng Việt
còn hạn chế, ảnh hưởng việc tiếp thu
lệ người Stiêng có trình độ trung học kiến thức các môn học, khó khăn khi
cơ sở (chiếm 12,7%) và trung học phổ theo học ở cấp cao hơn. Bên cạnh đó,
thông (chiếm 2,9%), thấp hơn mức ở các cấp học (Trường Tiểu học Tân
Hiệp và Trường Trung học cơ sở Tân
Hiệp), không có giáo viên nào là
người Stiêng và cũng không có giáo
viên người Kinh thông thạo tiếng
chung 53 dân tộc thiểu số (tỷ lệ là
28,1% và 11,1%). Tỷ lệ người có trình
độ từ sơ cấp trở lên chiếm chưa tới
2% (Biểu đồ 3), thấp hơn mức chung
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
75
Stiêng để có thể hỗ trợ việc học tập có sự khác biệt trong các chỉ số phát
của học sinh Stiêng được tốt hơn. triển giữa nam và nữ, và sự phát triển
Theo ông Điểu P. Trưởng Khu dân tộc, năng lực của phụ nữ thấp hơn nam
xã Tân Hiệp cho biết: “ inh hoạt trong giới, nhất là ở những quốc gia chậm
gia đình, trong Khu d n tộc, đồng bào phát triển. Bất bình đẳng giới thực sự
chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ. Khi vào vừa là một trong những nguyên nhân
lớp 1, trẻ con học b ng tiếng Việt thì cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa
rất bỡ ngỡ. Cô giáo không biết tiếng là rào cản lớn đối với sự phát triển
dân tộc, khi dạy mà chúng nó không bền vững và tác động tiêu cực không
hiểu thì cũng chịu thôi chẳng biết phải chỉ đến phụ nữ mà đến tất cả các
giải thích thế nào… Lớp 1 lên lớp 2 thì thành viên trong xã hội (Nguyễn Duy
lên thôi chứ đọc viết tiếng Việt được Dũng, 2020).
cũng phải lớp 4, lớp 5” (Phỏng vấn
Theo ICSU và ISSC: “Nếu được tiếp
sâu ông Điểu P, 54 tuổi).
cận bình đẳng, giáo dục tạo nên một
Kết quả khảo sát 90 học sinh Stiêng
từ lớp 3 đến lớp 5 tại 6 trường tiểu
học(5) ở thị xã Đồng Xoài, huyện Hớn
Quản và huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình
Phước) vào tháng 4/2019 trong
nghiên cứu của Hồ Xuân Mai (2019: 1,
11) cũng cho thấy “trên thực tế, các
em sử dụng tiếng Việt chưa thực sự
tốt, ngay trong phạm vi trường học”,
có 98% học sinh Stiêng diễn đạt kém
ở cả văn viết và văn nói, “nguyên
nhân chính là do các em không đủ
vốn từ, không thường xuyên giao tiếp
bằng tiếng Việt, không biết cách diễn
đạt”.
sự khác biệt rõ rệt trong công tác giảm
thiểu bất bình đẳng về kinh tế - xã hội”
(dẫn theo UNESCO, 2016: 8). Thực
tế, phụ nữ dân tộc thiểu số còn gặp
rất nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận
hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay
(UNFPA, 2011: 24). Ở các dân tộc
thiểu số, nhìn chung các chỉ số đạt
được về giáo dục và đào tạo ở nam
đều cao hơn nữ, điều này cho thấy
tình trạng bất bình đẳng giới trong
giáo dục và đào tạo vẫn tồn tại (Phạm
Linh Chi và các tác giả, 2018: 61), và
xu hướng này cũng xảy ra ở người
Stiêng.
4.2. Bất bình đẳng giới trong giáo
dục và đào tạo
Ở tất cả các dân tộc thiểu số, tỷ lệ
nam biết đọc, biết viết chữ phổ thông
đều cao hơn tỷ lệ này ở nữ, tuy mức
chênh lệch có khác nhau ở mỗi tộc
người. Mức chênh lệch này giữa nam
và nữ ở người Stiêng rõ rệt, cao hơn
nhiều so với mức chênh lệch này ở trị
số chung 53 dân tộc thiểu số và có sự
cải thiện không đáng kể trong năm
2019 so với năm 2015 (Bảng 2).
Theo Báo cáo phát triển con người
năm 2019 của Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc (UNDP), hai thập
kỷ đầu thế kỷ XXI, mặc dù các quốc
gia đã đạt được những bước tiến
đáng kể về phát triển con người, song
tình trạng bất bình đẳng vẫn còn phổ
biến (UNDP, 2019: 1). Các quốc gia
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
76
Bảng 2. Tỷ lệ nam, nữ biết đọc biết viết
chữ phổ thông ở người Stiêng so với 53
dân tộc thiểu số năm 2015 và 2019
Đơn vị: %
lực lượng lao động là cơ sở quan
trọng cho phát triển kinh tế - xã hội ở
đồng bào dân tộc thiểu số, cho xây
dựng, hoạch định các chính sách
giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao
giáo dục và đào tạo nghề, đảm bảo an
sinh xã hội. Để giảm nghèo bền vững,
việc làm không chỉ tác động đến thu
nhập, mà còn đem lại lợi ích xã hội,
như: những chuyển đổi tích cực trong
đời sống xã hội, cân bằng cuộc sống
(Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê,
2020: 83).
Năm 2015
Nam
Năm 2019
Dân tộc
Stiêng
Nữ Nam
Nữ
72,5 49,8 72,8 53,6
85,6 72,8 86,7 75,1
53 dân tộc
thiểu số
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban
Dân tộc, 2015 và 2019.
Bảng 3. Trình độ giáo dục cao nhất đạt
được của nam, nữ người Stiêng năm
2019
Mười năm qua, tỷ lệ người Stiêng từ
15 tuổi trở lên có việc làm giảm từ
99,5% (năm 2009) xuống còn 95,3%
(năm 2015) và tăng lên 96% (năm
2019). Do học vấn của người Stiêng
thấp và đào tạo nghề hạn chế nên hầu
hết lao động có việc làm của người
Stiêng từ 15 tuổi trở lên không có trình
độ chuyên môn kỹ thuật (tỷ lệ 97,9%),
bằng tỷ lệ này ở người Xinh Mun và
chỉ xếp sau người La Hủ (tỷ lệ 98,3%)
trong 53 dân tộc thiểu số, cao hơn
mức chung 53 dân tộc thiểu số (tỷ lệ
89,7%) (Bảng 4).
Đơn vị: %
Người
Stiêng
53 dân tộc
thiểu số
Chỉ tiêu
Nam Nữ Nam Nữ
43,8 55,4 20,4 30,8
38,3 28,3 27,4 24,8
Dưới tiểu học
Tiểu học
Trung học cơ sở 13,0 12,5 30,5 25,5
Trung học phổ
thông
3,2
2,6 12,1 10,2
Sơ cấp
0,5
0,4
0,2
0,4
0,3 2,0 1,3
0,2 2,8 2,3
0,3 1,4 1,9
0,3 3,3 3,3
Trung cấp
Cao đẳng
Đại học trở lên
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban
Dân tộc, 2019.
Bảng 4. Tỷ lệ lao động có việc làm của
người Stiêng từ 15 tuổi trở lên theo trình
độ chuyên môn cao nhất đạt được so với
53 dân tộc thiểu số năm 2019.
Số liệu từ Bảng 3 cho thấy mức chung
so với 53 dân tộc thiểu số thì trình độ
giáo dục cao nhất đạt được của người
Stiêng từ 15 tuổi trở lên ở nữ dưới
tiểu học (chiếm 55,4%) cao hơn ở
nam (chiếm 43,8%); từ cấp tiểu học
trở lên thấp hơn ở nam.
Đơn vị: %
53 dân tộc
thiểu số
Chỉ tiêu
Stiêng
97,9
Không có trình độ
89,7
chuyên môn kỹ thuật
Sơ cấp
1,3
0,3
0,2
2,8
2,8
1,7
4.3. Lao động và việc làm
Trung cấp
Cao đẳng
Mức độ tham gia thị trường lao động,
chất lượng chuyên môn kỹ thuật của
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
77
động nên ảnh hưởng đến sinh kế, chi
phí cho điều trị bệnh chiếm một tỷ
trọng lớn trong chi tiêu của người dân,
nhất là người nghèo (Huy Hà, 2014).
Vì vậy, hệ thống y tế, chăm sóc sức
khỏe và bệnh tật có mối liên hệ chặt
chẽ với đói nghèo.
Đại học trở lên
Tổng số
0,3
3,0
100
100
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban
Dân tộc, 2019.
Một thập kỷ qua, phần lớn lao động
người Stiêng làm nông và lao động
giản đơn. Tỷ lệ lao động làm việc
trong khu vực dịch vụ và các ngành
nghề khác năm 2019 tăng hơn so với
năm 2015 và năm 2009, nhưng mức
tăng thấp. Trong 53 dân tộc thiểu số,
người Stiêng là 1 trong 4 dân tộc thiểu
số (Chơ ro, Ơ đu, Brâu và Stiêng)
không có lao động là “lãnh đạo trong
các ngành, các cấp và các đơn vị”
(Bảng 5).
Đến năm 2019, hệ thống y tế và sức
khỏe ở vùng đồng bào Stiêng được
cải thiện rõ rệt. Vùng Đông Nam Bộ có
100% xã có trạm y tế kiên cố và bán
kiên cố. Tỷ lệ trạm y tế xã đạt chuẩn
quốc gia ở vùng Đông Nam Bộ là
92,5% (Bình Phước là 88,3%; Đồng
Nai là 99%; Tây Ninh là 100%). Tuy
nhiên, tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ, ở
vùng Đông Nam Bộ chỉ có 72,9%
(Bình Phước là 58,3%; Tây Ninh là
47%). Nhiều chỉ số đạt được về sức
khỏe của người Stiêng tăng so với
năm 2015, tuy nhiên nhìn tổng thể vẫn
thấp hơn mức chung 53 dân tộc thiểu
số; tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận
huyết mặc dù có giảm mạnh, nhưng
vẫn còn phổ biến (Bảng 6).
Bảng 5. Tỷ lệ lao động có việc làm theo
nghề nghiệp ở người Stiêng
Đơn vị: %
Năm
Chỉ tiêu
2009 2015 2019
Tỷ lệ lao động làm việc
trong khu vực nông
nghiệp
96,3 80,6 75,4(6)
Tỷ lệ lao động làm việc
trong khu vực dịch vụ
Năm 2015, tỷ lệ người người Stiêng
có thẻ bảo hiểm y tế đạt 51,9% thấp
nhất trong 53 dân tộc thiểu số và tỷ lệ
người sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trong
khám, chữa bệnh chỉ có 30,4% (đứng
thứ 52); có 43% phụ nữ mang thai
khám thai ít nhất 3 lần tại các cơ sở y
tế. Năm 2019, còn 7,6% phụ nữ
Stiêng sinh con tại nhà, trong đó, sinh
không có cán bộ chuyên môn đỡ là
5,2%. Hiện nay còn 13,5% hộ người
Stiêng sử dụng nguồn nước không
đảm bảo vệ sinh và 58,6% hộ sử dụng
hố xí không hợp vệ sinh.
1,7 4,7
1,4
Tỷ lệ lao động làm việc
trong các khu vực khác
(công nghiệp, nhân
2
14,7 23,2
viên, thợ thủ công…)
Tổng cộng
100 100 100
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011; Cổng
Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc, 2015
và 2019.
4.4. Y tế và chăm sóc sức khỏe
Bệnh tật là một trong những nguyên
nhân hàng đầu dẫn đến nghèo đói.
Bệnh tật làm giảm hoặc mất sức lao
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
78
Bảng 6. Một số chỉ số về sức khỏe của người Stiêng so với 53 dân tộc thiểu số năm
2015 và 2019
Năm 2015
Năm 2019
53 dân tộc
thiểu số
53 dân tộc
thiểu số
Chỉ tiêu
Stiêng
Stiêng
Tuổi thọ bình quân (tuổi)
Tỷ suất chết thô (%o)
67,1
8,04
69,9
69,2
7,92
27,60
32,6
9,6
70,7
7,28
7,65
Tỷ suất tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi (%o)
Tỷ lệ tảo hôn (%)
25,24
37,6
30,00*
26,6
22,13
21,9
Hôn nhân cận huyết (%o)
36,7
6,5
5,6
* Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2011 (Tổng cục Thống kê, UNICEF,
UNFPA, 2011: 45).
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc, 2015 và 2019 .
5. KẾT LUẬN
Ngày 15/7/2016, Bình Phước công bố
dịch bệnh bạch hầu quy mô cấp
huyện, địa điểm xuất hiện ở 3 xã
Thuận Lợi, Thuận Phú và Đồng Tiến
(huyện Đồng Phú), đến cuối ngày ghi
nhận tổng số ca nghi nhiễm và đưa
vào giám sát điều trị theo phác đồ của
bệnh bạch hầu là 55 ca, có 3 ca tử
vong.
Trong những thập kỷ qua, Đảng và
Nhà nước Việt Nam đã ban hành
nhiều chủ trương, chính sách giảm
nghèo bền vững. Thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững ở người
Stiêng đã đem lại những kết quả tích
cực, bên cạnh đó những vấn đề như:
trình độ học vấn và tay nghề còn thấp,
vẫn tồn tại bất bình đẳng giới trong
giáo dục và đào tạo, phần lớn người
lao động không có trình độ chuyên
môn kỹ thuật, làm việc trong lĩnh vực
nông nghiệp và lĩnh vực lao động giản
đơn, những hạn chế về y tế và chăm
sóc sức khỏe… hiện là thách thức đối
với giảm nghèo bền vững ở người
Stiêng.
Nhiều năm qua bệnh bạch hầu gần
như đã “biến mất” khi vắc xin phòng
bệnh này được đưa vào Chương
trình tiêm chủng mở rộng. Tuy nhiên,
gần đây đã xuất hiện trở lại một số ổ
dịch bạch hầu nhỏ ở một vài địa
phương, trong đó có vùng người
Stiêng ở tỉnh Bình Phước. Đến ngày
02/8/2020, Sở Y tế Bình Phước xác
nhận trường hợp thứ hai mắc bệnh
bạch hầu là bệnh nhân 5 tuổi, người
Stiêng trú tại ấp Tà Tê 1, xã Lộc
Thành (huyện Lộc Ninh), bệnh nhân
có tiền sử tiêm chủng không đầy đủ
(Đức Trí, 2020).
Một số đề xuất để giảm nghèo bền
vững ở người Stiêng, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho đồng
bào, như sau:
- Người Stiêng có 2 nhóm, đó là nhóm
Bù Đek ở vùng thấp và nhóm Bù Lơ ở
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
79
vùng cao, do môi trường sinh thái và việc ở địa bàn người Stiêng sinh sống.
điều kiện kinh tế - xã hội ở các vùng là
- Cần xây dựng những kịch bản ứng
khác nhau, vì vậy, khi xây dựng và triển
phó với tình trạng dịch bệnh truyền
khai chính sách giảm nghèo cần chú ý
nhiễm xảy ra ở vùng người Stiêng
đến điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã
sinh sống để đảm bảo đủ nhân lực,
hội ở từng vùng, từng địa phương.
vật lực cứu chữa và chăm sóc sức
- Cần tiếp tục có những chính sách khỏe cho đồng bào. Đặc biệt là trong
phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn ra
và văn hóa ở vùng người Stiêng sinh khó lường, chú trọng tới vùng người
sống, trong đó, tập trung nguồn lực Stiêng sinh sống ở khu vực biên giới
chính sách cho giáo dục đào tạo, y tế Việt Nam - Campuchia.
và chăm sóc sức khỏe, nâng cao
- Một vấn đề quan trọng nữa đó là
nhận thức về bình đẳng giới, vệ sinh
phát huy nội lực của người Stiêng để
môi trường.
giảm nghèo bền vững. Điều đó đòi hỏi
- Xây dựng kế hoạch dài hạn tăng có sự chuyển biến và nâng cao nhận
cường đào tạo đội ngũ giáo viên và thức và hành vi của người Stiêng,
cán bộ y tế là người Stiêng và đưa nhất là trong giáo dục và đào tạo thế
những cán bộ đã được đào tạo về làm hệ trẻ.
CHÚ THÍCH
(*) Bài viết trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2020: “Tác động
của chính sách giảm nghèo đến hộ người Stiêng ở xã Tân Hiệp, huyện Long Thành, tỉnh
Đồng Nai”, do tác giả là chủ nhiệm, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ chủ trì.
(1) Bài viết sử dụng thuật ngữ “dân tộc thiểu số” để thống nhất với các văn bản của nhà nước.
Ở đây, nội hàm “dân tộc thiểu số” được hiểu đồng nghĩa với “tộc người thiểu số” (ethnic
minority), theo Điều 4 Chương 1 Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ
về Công tác dân tộc, “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa
số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; “Dân tộc đa số” là dân
tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Như
vậy, ở Việt Nam, người Kinh là dân tộc đa số/tộc người đa số và 53 dân tộc thiểu số/tộc
người thiểu số.
(2) Các tiêu chí và chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 theo
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/11/2015.
(3) Hộ gia đình được xếp loại là hộ nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên. Số liệu
điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2015 thu thập 9 trên tổng số 10 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã
hội cơ bản sử dụng cho đánh giá nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020. Chỉ số về tiếp cận
các dịch vụ y tế không được thu thập trong điều tra này. Do vậy, trong báo cáo của Ủy ban
Dân tộc và UNDP (2016), phân tích nghèo đa chiều của các nhóm dân tộc thiểu số dựa vào
9 chỉ số được trình bày trong Bảng 3.
(4) Ở xã Tân Hiệp, người Stiêng có 70 hộ, 283 nhân khẩu sinh sống tập trung trong Khu dân
tộc (Xã Tân Hiệp, 2020).
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020
80
(5) Mỗi trường chọn ngẫu nhiên 5 học sinh/1 khối (khối 3, 4 và 5), tổng cộng là 90 học sinh.
(6)
Bao gồm tỷ lệ lao động trong ngành nông - lâm nghiệp là 25,8% và ngành giản đơn là
49,6%.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Ban Tuyên giáo Trung ương. 2015. “30 năm đổi mới hệ thống y tế tại Việt Nam:
thong-y-te-tai-viet-nam-thanh-tuu-thach-thuc-va-giai-phap-287519.html, truy cập ngày
20/5/2020.
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. 2015. Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp
tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều áp dụng trong
giai đoạn 2016-2020, Hà Nội tháng 4/2015.
3. Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc. 2015. “Kết quả điều tra thu thập thông tin 53
dan-toc-thieu-so-nam-2015.htm, truy cập ngày 20/4/2020.
4. Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. 2020. Kết quả điều tra
thu thập thông tin 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. 1996. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII. Hà Nội: Nxb.
Chính trị Quốc gia.
6. Đỗ Kim Chung và các tác giả. 2015. “Ảnh hưởng của một số yếu tố đến giảm nghèo
ở vùng Tây Bắc”. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, tr. 32-43.
com.vn/y-te/Ca-duong-tinh-thu-hai-voi-benh-bach-hau-o-Binh-Phuoc-605383/, truy cập
ngày 20/8/2020.
8. Hồ Xuân Mai. 2019. “Tình hình sử dụng tiếng Việt của học sinh người Stiêng lớp 3
đến lớp 5 (Khảo sát tại 6 trường ở tỉnh Bình Phước)”, trong Hội thảo khoa học giữa kỳ
năm 2019 của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ. TPHCM, ngày 08/8/2019.
9. Nguyễn Duy Dũng. 2020. “Một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong vùng đồng
danggioi/mot-so-giai-phap-thuc-hien-binh-dang-gioi-trong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-
so-va-mien-nui-hien-nay-41719.html, truy cập ngày 20/5/2020.
10. Oxfam. 2008. “Việt Nam, biến đổi khí hậu và người nghèo”. Báo cáo, Hà Nội, tháng
10/2008.
11. Phạm Linh Chi và các tác giả. 2018. 54 dân tộc vì sao khác biệt. Hà Nội: Nxb.
Thanh niên.
12. Thủ tướng Chính phủ. 2003. “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm
nghèo”, Hà Nội.
13. Thủ tướng Chính phủ. 2015. Quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày
19/11/2015.
14. Tổng cục Thống kê, UNICEF. 2011. Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ
nữ 2011. Báo cáo Chương trình.
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…
81
15. UNDP. 2019. “Báo cáo tóm tắt Báo cáo phát triển con người. Bất bình đẳng trong
phát triển con người ở thế kỷ XXI: Không chỉ về thu nhập, mức trung bình và hiện tại”.
New York: USA.
16. UNESCO. 2015. “Sustainable Development Begins With Education. How Education
content/documents/2275sdbeginswitheducation.pdf, truy cập ngày 20/5/2020.
17. UNESCO. 2016. “Báo cáo giảm sát toàn cầu về giáo dục 2016 - Giáo dục vì con
learinghouse.org/sites/default/files/resources/245745vie.pdf, truy cập ngày 20/5/2020.
18. UNFPA. 2011. Các dân tộc Việt Nam: Phân tích các chỉ tiêu chính từ Tổng điều tra
dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009. Hà Nội, tháng 12/2011.
19. Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. 2020. Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu
số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
20. Ủy ban Dân tộc và UNDP. 2016. Dân tộc thiểu số với mục tiêu phát triển bền vững:
Ai có nguy cơ bị bỏ lại phía sau. Báo cáo, Hà Nội, tháng 12/2016.
21. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và
UNDP. 2018. Báo cáo nghèo đa chiều ở Việt Nam: Giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh
để đảm bảo cuộc sống có chất lượng cho mọi người. Báo cáo nghiên cứu.
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng giảm nghèo bền vững của người Stiêng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_giam_ngheo_ben_vung_cua_nguoi_stieng.pdf

