Thực trạng giảm nghèo bền vững của người Stiêng

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
68  
THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG  
CỦA NGƢỜI STIÊNG(*)  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT*  
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của người Stiêng thời gian qua đã  
đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, khi phân tích ở khía cạnh đa  
chiều tỷ lệ nghèo vẫn cao do những thiếu hụt về bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục  
của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em và tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.  
Có nhiều yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững của người Stiêng, như:  
trình độ học vấn và tay nghề còn thấp, bất bình đẳng giới trong giáo dục và đào  
tạo, phần lớn người lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, việc làm  
chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và lao động giản đơn, y tế và chăm sóc sức  
khỏe hạn chế…  r n cơ sở ph n t ch thực trạng các yếu tố tác động, bài viết đề  
 uất giải pháp về nh m giảm nghèo bền vững cho người  ti ng  
Từ khóa: giảm nghèo bền vững, thực hiện chính sách, thách thức, người Stiêng  
Nhận bài ngày: 26/8/2020; đưa vào bi n tập: 28/8/2020; phản biện: 2/9/2020; duyệt  
đăng: 24/9/2020  
1. MỞ ĐẦU  
những thành tựu nổi bật về giảm  
nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi  
nhận, trong đó có các dân tộc thiểu  
số(1). Tuy nhiên, 53 dân tộc thiểu số  
có sự khác biệt lớn về kinh tế, xã hội  
và văn hóa, vì vậy, hiệu quả của chính  
sách giảm nghèo ở các dân tộc thiểu  
số là không đồng đều. Một số dân tộc  
thiểu số có tỷ lệ nghèo đa chiều thấp  
và tốc độ giảm nghèo nhanh, như:  
Tày (tỷ lệ 27,5% năm 2012 giảm còn  
11,9% năm 2016); Mường (tỷ lệ  
23,6% giảm còn 7,3%); Nùng (tỷ lệ  
32,3% giảm còn 12,9%)…; trong khi  
một số dân tộc thiểu số khác lại có tỷ  
lệ nghèo đa chiều cao, tốc độ giảm  
nghèo chậm và có khoảng cách xa so  
với người Kinh (tỷ lệ 12,8% năm 2012  
giảm còn 6,4% năm 2016), như:  
Giảm nghèo là một trong những  
nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của  
Đảng và Nhà nước Việt Nam trong  
quá trình xây dựng và phát triển kinh  
tế - xã hội của đất nước. Công cuộc  
giảm nghèo được nhìn nhận, tiếp cận  
một cách toàn diện từ Đại hội lần thứ  
VIII của Đảng (năm 1996) và tiếp tục  
được duy trì, phát triển trong những  
kỳ đại hội sau. Hệ thống chính sách  
giảm nghèo được xây dựng phù hợp  
với thực tiễn từng giai đoạn, ngày  
càng được hoàn thiện theo hướng  
bền vững.  
Đến nay, Việt Nam đã đạt được  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
69  
Hmông (tỷ lệ 88,7% giảm còn 76,2%); 2011, 2016) do Tổng cục Thống kê  
Dao (tỷ lệ 56,2% giảm còn 37,5%)… tiến hành.  
(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt  
2. KHÁI NIỆM VÀ PHƢƠNG PHÁP  
Nam - Bộ Lao động - Thương binh và  
ĐO LƢỜNG NGHÈO  
Xã hội - UNDP, 2018: 46).  
2.1. Khái niệm nghèo  
Người Stiêng là một trong bốn dân tộc  
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đói  
thiểu số tại chỗ ở vùng Đông Nam Bộ  
nghèo, song, nhìn chung đều phản  
(Mạ, Chơ ro, Mnông và Stiêng), có  
ánh các khía cạnh không có hoặc ít  
23.875 hộ, 100.752 nhân khẩu (Ủy  
được hưởng thụ những nhu cầu cơ  
ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê,  
bản ở mức tối thiểu của con người;  
2020: 45), sinh sống tập trung ở tỉnh  
mức sống thấp hơn mức sống trung  
Bình Phước và một số ở tỉnh Đồng  
bình của cư dân địa phương; thiếu  
Nai, Tây Ninh… Công cuộc giảm  
nghèo ở người Stiêng trong những  
thập kỷ qua đã đạt được những kết  
quả tích cực, tuy nhiên, vẫn còn nhiều  
thách thức cho giảm nghèo bền vững.  
Nghiên cứu về giảm nghèo bền vững  
ở người Stiêng, bài viết tập trung vào  
ba nội dung chính, đó là: 1) Khái niệm  
và phương pháp đo lường nghèo; 2)  
Chính sách và kết quả thực hiện chính  
sách giảm nghèo bền vững ở người  
Stiêng; 3) Một số yếu tố thách thức  
đối với giảm nghèo bền vững ở người  
Stiêng. Bài viết cũng đề xuất một số  
hoặc không có cơ hội lựa chọn để  
tham gia vào quá trình phát triển của  
cộng đồng. Việt Nam thừa nhận định  
nghĩa về đói nghèo của Hội nghị  
Chống đói nghèo khu vực Châu Á -  
Thái Bình Dương, do Ủy ban Kinh tế -  
Xã hội Châu Á và Thái Bình Dương  
(ESCAP) tổ chức tháng 9/1993 tại  
Bangkok (Thái Lan): đói nghèo “là tình  
trạng một bộ phận dân cư không  
được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu  
cơ bản của con người mà những nhu  
cầu này đã được xã hội thừa nhận  
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội  
giải pháp góp phần giảm nghèo bền và phong tục tập quán của địa  
vững ở người Stiêng.  
phương” (Thủ tướng Chính phủ, 2003:  
17). Như vậy, không có chuẩn nghèo  
chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo  
cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện  
cụ thể của từng quốc gia và thay đổi  
theo thời gian và không gian.  
Nguồn số liệu chủ yếu của bài viết từ  
“Kết quả điều tra thực trạng kinh tế -  
xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015”  
và “Kết quả điều tra thu thập thông tin  
về thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân  
tộc thiểu số năm 2019” (viết tắt là Điều  
tra dân tộc thiểu số 2015, 2019) do Ủy  
ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê  
2.2. Phƣơng pháp đo lƣờng nghèo  
Trước năm 2015, Việt Nam sử dụng  
phương pháp đo lường nghèo đơn  
thực hiện và Tổng điều tra nông thôn, chiều dựa vào mức thu nhập hoặc chi  
nông nghiệp và thủy sản năm 2011 và tiêu của cư dân. Tuy nhiên, cách tiếp  
2016 (viết tắt là Điều tra nông thôn cận này cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
70  
Từ năm 2016, Việt Nam chuyển đổi 3.1.1. Chương trình mục tiêu quốc  
gia về giảm nghèo  
phương pháp đo lường nghèo sang  
tiếp cận nghèo đa chiều. Các tiêu chí  
tiếp cận đo lường nghèo đa chiều giai  
đoạn 2016-2020 gồm có: tiêu chí về  
thu nhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt  
tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Tiếp  
cận dịch vụ xã hội cơ bản được xem  
xét ở 5 lĩnh vực, có 10 chỉ số đo  
lường, đó là: 1) Y tế (tiếp cận các dịch  
vụ y tế, bảo hiểm y tế); 2) Giáo dục  
(trình độ giáo dục của người lớn, tình  
trạng đi học của trẻ em); 3) Nhà ở  
(chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở  
bình quân đầu người); 4) Điều kiện  
sống (nước sạch và vệ sinh); 5) Tiếp  
cận thông tin (sử dụng dịch vụ viễn  
thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông  
tin). Như vậy, chuẩn nghèo của Việt  
Nam áp dụng cho giai đoạn 2016-  
2020 áp dụng theo Quyết định số  
59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính  
phủ ngày 19/11/2015(2).  
Năm 1996, lần đầu tiên vấn đề xóa đói  
giảm nghèo được đặt thành Chương  
trình xóa đói giảm nghèo (Đảng Cộng  
sản Việt Nam, 1996: 221). Năm 1998,  
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh  
mục 7 chương trình mục tiêu quốc gia,  
trong đó có Chương trình xóa đói  
giảm nghèo (viết tắt là Chương trình).  
Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt  
Nam thực sự bứt phá khi trở thành  
một hệ thống chính sách xã hội của  
quốc gia. Chương trình được thực  
hiện trên phạm vi cả nước, ưu tiên  
nguồn lực đầu tư cho các địa bàn  
nghèo và khó khăn để giảm sự cách  
biệt giữa các vùng miền. Chương  
trình được ban hành phù hợp với tình  
hình thực tiễn trong từng giai đoạn.  
Giai đoạn năm 2016-2020, các dự án  
thành phần của Chương trình bao  
gồm: 1) Chương trình 30a; 2) Chương  
trình 135; 3) Dự án hỗ trợ phát triển  
sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và  
nhân rộng mô hình giảm nghèo trên  
địa bàn các xã ngoài Chương trình  
30a và Chương trình 135; 4) Dự án  
truyền thông và giảm nghèo về thông  
tin; 5) Dự án nâng cao năng lực giám  
sát, đánh giá thực hiện Chương trình.  
3. CHÍNH SÁCH VÀ KẾT QUẢ THỰC  
HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO  
BỀN VỮNG Ở NGƢỜI STIÊNG  
3.1. Chính sách giảm nghèo bền  
vững ở Việt Nam  
Hệ thống chương trình, chính sách  
giảm nghèo ở Việt Nam bao gồm hai  
phần chính: Chương trình mục tiêu  
quốc gia về giảm nghèo (nay là giảm  
nghèo bền vững) và Các chính sách  
hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.  
Hầu hết chính sách giảm nghèo giai  
đoạn 2016-2020 không phải là chính  
sách mới mà được kế thừa từ giai  
đoạn trước, có tác động trực tiếp hoặc  
gián tiếp đến người nghèo.  
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm  
nghèo bền vững có các nội dung, hoạt  
động chính, đó là:  
- Tăng cường cơ sở hạ tầng thiết yếu  
phục vụ cho sản xuất và dân sinh ở  
các địa bàn nghèo và khó khăn;  
- Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng  
hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
71  
nghèo;  
thuộc hộ cận nghèo, hộ mới thoát  
nghèo.  
- Hỗ trợ cho lao động thuộc hộ nghèo,  
hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc  
thiểu số trên địa bàn các huyện nghèo  
đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài;  
+ Nhóm chính sách về nhà ở: cho hộ  
vay vốn với lãi suất ưu đãi để xây  
dựng mới hoặc sửa chữa nhà ở, hỗ  
trợ tiền mặt để hộ tự tổ chức xây  
dựng nhà ở.  
- Truyền thông và giảm nghèo về thông  
tin;  
+ Chính sách hỗ trợ tiền điện: hỗ trợ  
- Nâng cao năng lực và giám sát,  
đánh giá thực hiện Chương trình mục tiền điện cho mục đích sinh hoạt hàng  
tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.  
tháng hoặc tiền mặt hàng năm cho  
các loại nhiên liệu thay thế cho điện  
(đối với hộ không tiếp cận được điện  
lưới quốc gia).  
3.1.2. Các chính sách hỗ trợ cho hộ  
nghèo, hộ cận nghèo  
Có thể chia thành hai nhóm chính  
sách, đó là:  
+ Nhóm chính sách về trợ giúp pháp  
lý: cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí  
cho người nghèo; tổ chức một số hoạt  
động tuyên truyền, trợ giúp pháp lý  
hướng đến cộng đồng nghèo (xã  
nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn).  
- Nhóm chính sách hỗ trợ nâng cao  
thu nhập, gồm: chính sách đào tạo  
nghề và giải quyết việc làm; chính  
sách hỗ trợ đất sản xuất và nhóm  
chính sách về tín dụng ưu đãi.  
3.2. Kết quả giảm nghèo bền vững  
ở ngƣời Stiêng  
- Nhóm chính sách cải thiện tiếp cận  
các dịch vụ cơ bản, bao gồm:  
Tăng trưởng kinh tế là tiền đề cho  
giảm nghèo bền vững. Tăng trưởng  
+ Nhóm chính sách về giáo dục và  
đào tạo: hỗ trợ trực tiếp cho người đi  
học (cấp học bổng, miễn  
Biểu đồ 1. Thu nhập và chi tiêu bình quân của người  
Stiêng (triệu đồng/người/năm)  
giảm học phí, hỗ trợ chi phí  
học tập, hỗ trợ bán trú…);  
tín dụng giáo dục (cho vay  
học sinh, sinh viên); cử  
tuyển; thu hút giáo viên về  
các vùng khó khăn; giáo dục  
song ngữ cho trẻ em dân tộc  
thiểu số và đầu tư cơ sở hạ  
tầng cho giáo dục.  
+ Nhóm chính sách hỗ trợ y  
tế: chính sách cấp thẻ bảo  
hiểm y tế miễn phí cho thành  
viên hộ nghèo; hỗ trợ mua  
bảo hiểm y tế cho đối tượng  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả Điều tra nông  
thôn 2011 và 2016; Phạm Linh Chi và các tác giả,  
2018: 141.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
72  
kinh tế giúp cho hộ tăng thu nhập và nghèo là 11,9% và tỷ lệ hộ cận nghèo  
là 7,4% (Ủy ban Dân tộc - UNDP,  
2016: 49, 53); năm 2019, tỷ lệ hộ  
nghèo là 13,8% và tỷ lệ hộ cận nghèo  
là 8,5% (Ủy ban Dân tộc - Tổng cục  
Thống kê, 2020: 45). Năm 2019, tỷ lệ  
hộ nghèo và hộ cận nghèo tăng so với  
năm 2015, bởi từ năm 2016 phương  
pháp đo lường nghèo đã chuyển đổi  
từ đơn chiều sang đa chiều và theo  
chuẩn nghèo quốc gia áp dụng cho  
giai đoạn 2016-2020. Như vậy, tỷ lệ  
nghèo ở người Stiêng đã giảm mạnh  
dù đo lường nghèo theo thu nhập hay  
đa chiều. Tuy tỷ lệ nghèo theo thu  
nhập đã giảm mạnh và ở mức thấp,  
song khi xét đến tỷ lệ nghèo theo  
chuẩn nghèo đa chiều, tỷ lệ này ở  
người Stiêng còn cao.  
chi tiêu, từ đó có thể giảm nghèo về  
tiền tệ và giảm nghèo đa chiều (Viện  
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam -  
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội -  
UNDP, 2018: 27). Thu nhập và chi  
tiêu bình quân nhân khẩu của người  
Stiêng năm 2016 so với năm 2011  
tăng rõ rệt. Năm 2011, mức thu nhập  
bình quân không đáp ứng cho chi tiêu  
bình quân, đến năm 2016, mức thu  
nhập bình quân đã lớn hơn chi tiêu  
bình quân.  
Để đánh giá tình trạng nghèo, Bộ Lao  
động - Thương binh và Xã hội xác  
định tỷ lệ hộ nghèo nhằm mục đích  
không chỉ giảm sát nghèo mà còn để  
xác định đối tượng phân bổ ngân sách  
hỗ trợ. Nhiều báo cáo của các tổ chức  
đo lường tỷ lệ người nghèo thay vì tỷ  
lệ hộ nghèo, vì nó phản ánh chính xác  
số lượng người nghèo  
Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở  
người Stiêng là 69,9%. Trong đó, xét  
theo chỉ số của từng tiêu chí, tỷ lệ hộ  
thực tế.  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ hộ thiếu hụt các chỉ số đo lường nghèo  
đa chiều ở người Stiêng năm 2015  
Theo kết quả Điều tra  
nông thôn 2011 và 2016,  
ở người Stiêng, tỷ lệ  
người nghèo căn cứ  
theo thu nhập là 42,3%  
(năm 2011) giảm mạnh  
còn 14,4% (năm 2016);  
tương tự tỷ lệ người  
nghèo đa chiều là  
74,1% (năm 2011) giảm  
mạnh còn 42,9% (năm  
2016) (Phạm Linh Chi  
và các tác giả, 2018:  
141). Theo kết quả điều  
tra 53 dân tộc thiểu số,  
Nguồn: Tác giả xây dựng từ kết quả Điều tra 53 dân tộc  
năm 2015, tỷ lệ hộ thiểu số 2015 (Ủy ban Dân tộc, UNDP, 2016: 52).  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
73  
thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, thách thức với giảm nghèo (Oxfam,  
thiếu hụt lớn nhất là bảo hiểm y tế (tỷ 2008: 11)… Ở người Stiêng, một số  
lệ 55,7%) và trình độ giáo dục của yếu tố thách thức đối với giảm nghèo  
người lớn (tỷ lệ 55,3%); mức độ thiếu bền vững có thể kể đến đó là: trình độ  
hụt thấp nhất là tài sản phục vụ tiếp học vấn và trình độ chuyên môn kỹ  
cận thông tin (tỷ lệ 19,5%) và tình thuật, bất bình đẳng trong giáo dục và  
trạng đi học của trẻ em (tỷ lệ 20,6%); đào tạo, lao động và việc làm, y tế và  
các chỉ số khác ở mức trung gian, sử chăm sóc sức khỏe…  
dụng dịch vụ viễn thông (tỷ lệ 40,8%),  
4.1. Trình độ học vấn và trình độ  
nhà tiêu hợp vệ sinh (tỷ lệ 30,3%),  
chuyên môn kỹ thuật  
nguồn nước sinh hoạt (tỷ lệ 22,7%),  
Hội đồng Quốc tế về khoa học (ICSU)  
diện tích nhà ở (tỷ lệ 22%) và chất  
và Hội đồng Khoa học xã hội Quốc tế  
lượng nhà ở (tỷ lệ 21,6%)(3) (Ủy ban  
(ISSC) (2015) đã chỉ ra: “Giáo dục  
Dân tộc - UNDP, 2016: 52).  
đóng vai trò then chốt đưa con người  
Kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số  
năm 2019 của Ủy ban Dân tộc cho  
thấy, mặc dù tỷ lệ nghèo của người  
Stiêng theo chuẩn nghèo đa chiều đã  
giảm đáng kể, song tỷ lệ hộ cận  
nghèo vẫn còn cao, tính chung tỷ lệ  
hộ nghèo và cận nghèo là 22,3%.  
thoát khỏi nghèo đói” (dẫn theo  
UNESCO, 2016: 8). Theo UNESCO  
(2015: 1): Giáo dục mang lại sinh kế  
tốt hơn, nâng cao thu nhập, ngăn  
chặn nghèo đói kinh niên truyền qua  
các thế hệ.  
Phần lớn các chỉ số đạt được về giáo  
4. MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN dục và đào tạo của người Stiêng hiện  
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở NGƢỜI vẫn ở mức thấp, thấp hơn mức chung  
STIÊNG  
53 dân tộc thiểu số, có khoảng cách  
xa so với người Kinh, thường ở vị trí  
thứ 40 trở xuống, có những chỉ số xếp  
thứ 53 trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt  
Nam.  
Có nhiều yếu tố tác động đến công  
cuộc giảm nghèo, như việc hoạch  
định và tổ chức thực hiện chính sách,  
đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của  
địa phương (Đỗ Kim Chung và các tác  
giả, 2015); vai trò của vốn con người  
(Trần Phúc Thành, 2014); số năm đi  
học bình quân thấp; tỷ lệ lao động qua  
đào tạo thấp; chăm sóc sức khỏe sinh  
sản của phụ nữ thấp; tỷ lệ hôn nhân  
cận huyết cao; cơ cấu thu nhập của  
hộ cũng là yếu tố quan trọng (Viện  
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam –  
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội  
và UNDP, 2018: 14); biến đổi khí hậu  
Năm 2019, tỷ lệ người Stiêng trong độ  
tuổi đi học phổ thông nhưng không đi  
học, ở cấp tiểu học (tỷ lệ 7,5%) chỉ  
thấp hơn người Gia Rai (tỷ lệ 8,3%); ở  
hai cấp học là trung học cơ sở (tỷ lệ  
39,6%) và trung học phổ thông (tỷ lệ  
14,1%) có tỷ lệ cao nhất trong 53 dân  
tộc thiểu số.  
Mặc dù, tỷ lệ người Stiêng từ 15 tuổi  
trở lên biết đọc biết viết chữ phổ thông  
tăng, từ 61% (năm 2015) lên 62,6%  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
74  
Bảng 1. Tình hình giáo dục ở người Stiêng năm 2015 và 2019  
Năm 2015  
Năm 2019  
Chỉ tiêu  
Tỷ lệ Xếp Tỷ lệ Xếp  
(%)  
thứ  
(%)  
thứ  
Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết chữ phổ  
61,0  
39  
62,6  
41  
thông  
Tỷ lệ người đi học đúng tuổi ở cấp tiểu học  
86,2  
44,3  
9,0  
42  
53  
50  
91,2  
51,3  
14,1  
52  
52  
53  
Tỷ lệ người đi học đúng tuổi ở cấp trung học cơ sở  
Tỷ lệ người đi học đúng tuổi ở cấp trung học phổ thông  
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc, 2015 và 2019.  
(năm 2019), nhưng lại tụt  
hạng từ thứ 39 (năm 2015)  
xuống thứ 41 (năm 2019)  
trong 53 dân tộc thiểu số. Tỷ  
lệ người Stiêng đi học đúng  
tuổi theo cấp học, năm 2019  
tăng so với năm 2015,  
nhưng vẫn ở thứ hạng thứ  
52 và 53 trong 53 dân tộc  
thiểu số (Bảng 1).  
Biểu đồ 3. Trình độ giáo dục cao nhất của người  
Stiêng từ 15 tuổi trở lên đạt được năm 2019  
Năm 2019, trình độ giáo  
dục cao nhất của người  
Stiêng từ 15 tuổi trở lên đạt  
được phần lớn là tiểu học  
và dưới tiểu học (chiếm  
83,1%), cao hơn nhiều so  
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc,  
2019.  
53 dân tộc thiểu số (tỷ lệ 9,1%).  
với tỷ lệ chung 53 dân tộc thiểu số (tỷ  
lệ 51,7%). Trình độ học vấn tốt  
nghiệp trung học cơ sở và trung học  
phổ thông chính là nền tảng để tiếp  
tục được đào tạo nghề, tuy nhiên, tỷ  
Ở xã Tân Hiệp(4) (huyện Long Thành,  
tỉnh Đồng Nai), nhiều học sinh tiểu  
học người Stiêng sử dụng tiếng Việt  
còn hạn chế, ảnh hưởng việc tiếp thu  
lệ người Stiêng có trình độ trung học kiến thức các môn học, khó khăn khi  
cơ sở (chiếm 12,7%) và trung học phổ theo học ở cấp cao hơn. Bên cạnh đó,  
thông (chiếm 2,9%), thấp hơn mức ở các cấp học (Trường Tiểu học Tân  
Hiệp và Trường Trung học cơ sở Tân  
Hiệp), không có giáo viên nào là  
người Stiêng và cũng không có giáo  
viên người Kinh thông thạo tiếng  
chung 53 dân tộc thiểu số (tỷ lệ là  
28,1% và 11,1%). Tỷ lệ người có trình  
độ từ sơ cấp trở lên chiếm chưa tới  
2% (Biểu đồ 3), thấp hơn mức chung  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
75  
Stiêng để có thể hỗ trợ việc học tập có sự khác biệt trong các chỉ số phát  
của học sinh Stiêng được tốt hơn. triển giữa nam và nữ, và sự phát triển  
Theo ông Điểu P. Trưởng Khu dân tộc, năng lực của phụ nữ thấp hơn nam  
xã Tân Hiệp cho biết: “ inh hoạt trong giới, nhất là ở những quốc gia chậm  
gia đình, trong Khu d n tộc, đồng bào phát triển. Bất bình đẳng giới thực sự  
chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ. Khi vào vừa là một trong những nguyên nhân  
lớp 1, trẻ con học b ng tiếng Việt thì cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa  
rất bỡ ngỡ. Cô giáo không biết tiếng là rào cản lớn đối với sự phát triển  
dân tộc, khi dạy mà chúng nó không bền vững và tác động tiêu cực không  
hiểu thì cũng chịu thôi chẳng biết phải chỉ đến phụ nữ mà đến tất cả các  
giải thích thế nào… Lớp 1 lên lớp 2 thì thành viên trong xã hội (Nguyễn Duy  
lên thôi chứ đọc viết tiếng Việt được Dũng, 2020).  
cũng phải lớp 4, lớp 5” (Phỏng vấn  
Theo ICSU và ISSC: “Nếu được tiếp  
sâu ông Điểu P, 54 tuổi).  
cận bình đẳng, giáo dục tạo nên một  
Kết quả khảo sát 90 học sinh Stiêng  
từ lớp 3 đến lớp 5 tại 6 trường tiểu  
học(5) ở thị xã Đồng Xoài, huyện Hớn  
Quản và huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình  
Phước) vào tháng 4/2019 trong  
nghiên cứu của Hồ Xuân Mai (2019: 1,  
11) cũng cho thấy “trên thực tế, các  
em sử dụng tiếng Việt chưa thực sự  
tốt, ngay trong phạm vi trường học”,  
có 98% học sinh Stiêng diễn đạt kém  
ở cả văn viết và văn nói, “nguyên  
nhân chính là do các em không đủ  
vốn từ, không thường xuyên giao tiếp  
bằng tiếng Việt, không biết cách diễn  
đạt”.  
sự khác biệt rõ rệt trong công tác giảm  
thiểu bất bình đẳng về kinh tế - xã hội”  
(dẫn theo UNESCO, 2016: 8). Thực  
tế, phụ nữ dân tộc thiểu số còn gặp  
rất nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận  
hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay  
(UNFPA, 2011: 24). Ở các dân tộc  
thiểu số, nhìn chung các chỉ số đạt  
được về giáo dục và đào tạo ở nam  
đều cao hơn nữ, điều này cho thấy  
tình trạng bất bình đẳng giới trong  
giáo dục và đào tạo vẫn tồn tại (Phạm  
Linh Chi và các tác giả, 2018: 61), và  
xu hướng này cũng xảy ra ở người  
Stiêng.  
4.2. Bất bình đẳng giới trong giáo  
dục và đào tạo  
Ở tất cả các dân tộc thiểu số, tỷ lệ  
nam biết đọc, biết viết chữ phổ thông  
đều cao hơn tỷ lệ này ở nữ, tuy mức  
chênh lệch có khác nhau ở mỗi tộc  
người. Mức chênh lệch này giữa nam  
và nữ ở người Stiêng rõ rệt, cao hơn  
nhiều so với mức chênh lệch này ở trị  
số chung 53 dân tộc thiểu số và có sự  
cải thiện không đáng kể trong năm  
2019 so với năm 2015 (Bảng 2).  
Theo Báo cáo phát triển con người  
năm 2019 của Chương trình Phát  
triển Liên hợp quốc (UNDP), hai thập  
kỷ đầu thế kỷ XXI, mặc dù các quốc  
gia đã đạt được những bước tiến  
đáng kể về phát triển con người, song  
tình trạng bất bình đẳng vẫn còn phổ  
biến (UNDP, 2019: 1). Các quốc gia  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
76  
Bảng 2. Tỷ lệ nam, nữ biết đọc biết viết  
chữ phổ thông ở người Stiêng so với 53  
dân tộc thiểu số năm 2015 và 2019  
Đơn vị: %  
lực lượng lao động là cơ sở quan  
trọng cho phát triển kinh tế - xã hội ở  
đồng bào dân tộc thiểu số, cho xây  
dựng, hoạch định các chính sách  
giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao  
giáo dục và đào tạo nghề, đảm bảo an  
sinh xã hội. Để giảm nghèo bền vững,  
việc làm không chỉ tác động đến thu  
nhập, mà còn đem lại lợi ích xã hội,  
như: những chuyển đổi tích cực trong  
đời sống xã hội, cân bằng cuộc sống  
(Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê,  
2020: 83).  
Năm 2015  
Nam  
Năm 2019  
Dân tộc  
Stiêng  
Nữ Nam  
Nữ  
72,5 49,8 72,8 53,6  
85,6 72,8 86,7 75,1  
53 dân tộc  
thiểu số  
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban  
Dân tộc, 2015 và 2019.  
Bảng 3. Trình độ giáo dục cao nhất đạt  
được của nam, nữ người Stiêng năm  
2019  
Mười năm qua, tỷ lệ người Stiêng từ  
15 tuổi trở lên có việc làm giảm từ  
99,5% (năm 2009) xuống còn 95,3%  
(năm 2015) và tăng lên 96% (năm  
2019). Do học vấn của người Stiêng  
thấp và đào tạo nghề hạn chế nên hầu  
hết lao động có việc làm của người  
Stiêng từ 15 tuổi trở lên không có trình  
độ chuyên môn kỹ thuật (tỷ lệ 97,9%),  
bằng tỷ lệ này ở người Xinh Mun và  
chỉ xếp sau người La Hủ (tỷ lệ 98,3%)  
trong 53 dân tộc thiểu số, cao hơn  
mức chung 53 dân tộc thiểu số (tỷ lệ  
89,7%) (Bảng 4).  
Đơn vị: %  
Người  
Stiêng  
53 dân tộc  
thiểu số  
Chỉ tiêu  
Nam Nữ Nam Nữ  
43,8 55,4 20,4 30,8  
38,3 28,3 27,4 24,8  
Dưới tiểu học  
Tiểu học  
Trung học cơ sở 13,0 12,5 30,5 25,5  
Trung học phổ  
thông  
3,2  
2,6 12,1 10,2  
Sơ cấp  
0,5  
0,4  
0,2  
0,4  
0,3 2,0 1,3  
0,2 2,8 2,3  
0,3 1,4 1,9  
0,3 3,3 3,3  
Trung cấp  
Cao đẳng  
Đại học trở lên  
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban  
Dân tộc, 2019.  
Bảng 4. Tỷ lệ lao động có việc làm của  
người Stiêng từ 15 tuổi trở lên theo trình  
độ chuyên môn cao nhất đạt được so với  
53 dân tộc thiểu số năm 2019.  
Số liệu từ Bảng 3 cho thấy mức chung  
so với 53 dân tộc thiểu số thì trình độ  
giáo dục cao nhất đạt được của người  
Stiêng từ 15 tuổi trở lên ở nữ dưới  
tiểu học (chiếm 55,4%) cao hơn ở  
nam (chiếm 43,8%); từ cấp tiểu học  
trở lên thấp hơn ở nam.  
Đơn vị: %  
53 dân tộc  
thiểu số  
Chỉ tiêu  
Stiêng  
97,9  
Không có trình độ  
89,7  
chuyên môn kỹ thuật  
Sơ cấp  
1,3  
0,3  
0,2  
2,8  
2,8  
1,7  
4.3. Lao động và việc làm  
Trung cấp  
Cao đẳng  
Mức độ tham gia thị trường lao động,  
chất lượng chuyên môn kỹ thuật của  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
77  
động nên ảnh hưởng đến sinh kế, chi  
phí cho điều trị bệnh chiếm một tỷ  
trọng lớn trong chi tiêu của người dân,  
nhất là người nghèo (Huy Hà, 2014).  
Vì vậy, hệ thống y tế, chăm sóc sức  
khỏe và bệnh tật có mối liên hệ chặt  
chẽ với đói nghèo.  
Đại học trở lên  
Tổng số  
0,3  
3,0  
100  
100  
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban  
Dân tộc, 2019.  
Một thập kỷ qua, phần lớn lao động  
người Stiêng làm nông và lao động  
giản đơn. Tỷ lệ lao động làm việc  
trong khu vực dịch vụ và các ngành  
nghề khác năm 2019 tăng hơn so với  
năm 2015 và năm 2009, nhưng mức  
tăng thấp. Trong 53 dân tộc thiểu số,  
người Stiêng là 1 trong 4 dân tộc thiểu  
số (Chơ ro, Ơ đu, Brâu và Stiêng)  
không có lao động là “lãnh đạo trong  
các ngành, các cấp và các đơn vị”  
(Bảng 5).  
Đến năm 2019, hệ thống y tế và sức  
khỏe ở vùng đồng bào Stiêng được  
cải thiện rõ rệt. Vùng Đông Nam Bộ có  
100% xã có trạm y tế kiên cố và bán  
kiên cố. Tỷ lệ trạm y tế xã đạt chuẩn  
quốc gia ở vùng Đông Nam Bộ là  
92,5% (Bình Phước là 88,3%; Đồng  
Nai là 99%; Tây Ninh là 100%). Tuy  
nhiên, tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ, ở  
vùng Đông Nam Bộ chỉ có 72,9%  
(Bình Phước là 58,3%; Tây Ninh là  
47%). Nhiều chỉ số đạt được về sức  
khỏe của người Stiêng tăng so với  
năm 2015, tuy nhiên nhìn tổng thể vẫn  
thấp hơn mức chung 53 dân tộc thiểu  
số; tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận  
huyết mặc dù có giảm mạnh, nhưng  
vẫn còn phổ biến (Bảng 6).  
Bảng 5. Tỷ lệ lao động có việc làm theo  
nghề nghiệp ở người Stiêng  
Đơn vị: %  
Năm  
Chỉ tiêu  
2009 2015 2019  
Tỷ lệ lao động làm việc  
trong khu vực nông  
nghiệp  
96,3 80,6 75,4(6)  
Tỷ lệ lao động làm việc  
trong khu vực dịch vụ  
Năm 2015, tỷ lệ người người Stiêng  
có thẻ bảo hiểm y tế đạt 51,9% thấp  
nhất trong 53 dân tộc thiểu số và tỷ lệ  
người sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trong  
khám, chữa bệnh chỉ có 30,4% (đứng  
thứ 52); có 43% phụ nữ mang thai  
khám thai ít nhất 3 lần tại các cơ sở y  
tế. Năm 2019, còn 7,6% phụ nữ  
Stiêng sinh con tại nhà, trong đó, sinh  
không có cán bộ chuyên môn đỡ là  
5,2%. Hiện nay còn 13,5% hộ người  
Stiêng sử dụng nguồn nước không  
đảm bảo vệ sinh và 58,6% hộ sử dụng  
hố xí không hợp vệ sinh.  
1,7 4,7  
1,4  
Tỷ lệ lao động làm việc  
trong các khu vực khác  
(công nghiệp, nhân  
2
14,7 23,2  
viên, thợ thủ công…)  
Tổng cộng  
100 100 100  
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011; Cổng  
Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc, 2015  
và 2019.  
4.4. Y tế và chăm sóc sức khỏe  
Bệnh tật là một trong những nguyên  
nhân hàng đầu dẫn đến nghèo đói.  
Bệnh tật làm giảm hoặc mất sức lao  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
78  
Bảng 6. Một số chỉ số về sức khỏe của người Stiêng so với 53 dân tộc thiểu số năm  
2015 và 2019  
Năm 2015  
Năm 2019  
53 dân tộc  
thiểu số  
53 dân tộc  
thiểu số  
Chỉ tiêu  
Stiêng  
Stiêng  
Tuổi thọ bình quân (tuổi)  
Tỷ suất chết thô (%o)  
67,1  
8,04  
69,9  
69,2  
7,92  
27,60  
32,6  
9,6  
70,7  
7,28  
7,65  
Tỷ suất tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi (%o)  
Tỷ lệ tảo hôn (%)  
25,24  
37,6  
30,00*  
26,6  
22,13  
21,9  
Hôn nhân cận huyết (%o)  
36,7  
6,5  
5,6  
* Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2011 (Tổng cục Thống kê, UNICEF,  
UNFPA, 2011: 45).  
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc, 2015 và 2019 .  
5. KẾT LUẬN  
Ngày 15/7/2016, Bình Phước công bố  
dịch bệnh bạch hầu quy mô cấp  
huyện, địa điểm xuất hiện ở 3 xã  
Thuận Lợi, Thuận Phú và Đồng Tiến  
(huyện Đồng Phú), đến cuối ngày ghi  
nhận tổng số ca nghi nhiễm và đưa  
vào giám sát điều trị theo phác đồ của  
bệnh bạch hầu là 55 ca, có 3 ca tử  
vong.  
Trong những thập kỷ qua, Đảng và  
Nhà nước Việt Nam đã ban hành  
nhiều chủ trương, chính sách giảm  
nghèo bền vững. Thực hiện chính  
sách giảm nghèo bền vững ở người  
Stiêng đã đem lại những kết quả tích  
cực, bên cạnh đó những vấn đề như:  
trình độ học vấn và tay nghề còn thấp,  
vẫn tồn tại bất bình đẳng giới trong  
giáo dục và đào tạo, phần lớn người  
lao động không có trình độ chuyên  
môn kỹ thuật, làm việc trong lĩnh vực  
nông nghiệp và lĩnh vực lao động giản  
đơn, những hạn chế về y tế và chăm  
sóc sức khỏe… hiện là thách thức đối  
với giảm nghèo bền vững ở người  
Stiêng.  
Nhiều năm qua bệnh bạch hầu gần  
như đã “biến mất” khi vắc xin phòng  
bệnh này được đưa vào Chương  
trình tiêm chủng mở rộng. Tuy nhiên,  
gần đây đã xuất hiện trở lại một số ổ  
dịch bạch hầu nhỏ ở một vài địa  
phương, trong đó có vùng người  
Stiêng ở tỉnh Bình Phước. Đến ngày  
02/8/2020, Sở Y tế Bình Phước xác  
nhận trường hợp thứ hai mắc bệnh  
bạch hầu là bệnh nhân 5 tuổi, người  
Stiêng trú tại ấp Tà Tê 1, xã Lộc  
Thành (huyện Lộc Ninh), bệnh nhân  
có tiền sử tiêm chủng không đầy đủ  
(Đức Trí, 2020).  
Một số đề xuất để giảm nghèo bền  
vững ở người Stiêng, nâng cao đời  
sống vật chất và tinh thần cho đồng  
bào, như sau:  
- Người Stiêng có 2 nhóm, đó là nhóm  
Bù Đek ở vùng thấp và nhóm Bù Lơ ở  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
79  
vùng cao, do môi trường sinh thái và việc ở địa bàn người Stiêng sinh sống.  
điều kiện kinh tế - xã hội ở các vùng là  
- Cần xây dựng những kịch bản ứng  
khác nhau, vì vậy, khi xây dựng và triển  
phó với tình trạng dịch bệnh truyền  
khai chính sách giảm nghèo cần chú ý  
nhiễm xảy ra ở vùng người Stiêng  
đến điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã  
sinh sống để đảm bảo đủ nhân lực,  
hội ở từng vùng, từng địa phương.  
vật lực cứu chữa và chăm sóc sức  
- Cần tiếp tục có những chính sách khỏe cho đồng bào. Đặc biệt là trong  
phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn ra  
và văn hóa ở vùng người Stiêng sinh khó lường, chú trọng tới vùng người  
sống, trong đó, tập trung nguồn lực Stiêng sinh sống ở khu vực biên giới  
chính sách cho giáo dục đào tạo, y tế Việt Nam - Campuchia.  
và chăm sóc sức khỏe, nâng cao  
- Một vấn đề quan trọng nữa đó là  
nhận thức về bình đẳng giới, vệ sinh  
phát huy nội lực của người Stiêng để  
môi trường.  
giảm nghèo bền vững. Điều đó đòi hỏi  
- Xây dựng kế hoạch dài hạn tăng có sự chuyển biến và nâng cao nhận  
cường đào tạo đội ngũ giáo viên và thức và hành vi của người Stiêng,  
cán bộ y tế là người Stiêng và đưa nhất là trong giáo dục và đào tạo thế  
những cán bộ đã được đào tạo về làm hệ trẻ.  
CHÚ THÍCH  
(*) Bài viết trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở năm 2020: “Tác động  
của chính sách giảm nghèo đến hộ người Stiêng ở xã Tân Hiệp, huyện Long Thành, tỉnh  
Đồng Nai”, do tác giả là chủ nhiệm, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ chủ trì.  
(1) Bài viết sử dụng thuật ngữ “dân tộc thiểu số” để thống nhất với các văn bản của nhà nước.  
Ở đây, nội hàm “dân tộc thiểu số” được hiểu đồng nghĩa với “tộc người thiểu số” (ethnic  
minority), theo Điều 4 Chương 1 Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ  
về Công tác dân tộc, “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa  
số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; “Dân tộc đa số” là dân  
tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Như  
vậy, ở Việt Nam, người Kinh là dân tộc đa số/tộc người đa số và 53 dân tộc thiểu số/tộc  
người thiểu số.  
(2) Các tiêu chí và chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 theo  
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19/11/2015.  
(3) Hộ gia đình được xếp loại là hộ nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên. Số liệu  
điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2015 thu thập 9 trên tổng số 10 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã  
hội cơ bản sử dụng cho đánh giá nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020. Chỉ số về tiếp cận  
các dịch vụ y tế không được thu thập trong điều tra này. Do vậy, trong báo cáo của Ủy ban  
Dân tộc và UNDP (2016), phân tích nghèo đa chiều của các nhóm dân tộc thiểu số dựa vào  
9 chỉ số được trình bày trong Bảng 3.  
(4) Ở xã Tân Hiệp, người Stiêng có 70 hộ, 283 nhân khẩu sinh sống tập trung trong Khu dân  
tộc (Xã Tân Hiệp, 2020).  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
80  
(5) Mỗi trường chọn ngẫu nhiên 5 học sinh/1 khối (khối 3, 4 và 5), tổng cộng là 90 học sinh.  
(6)  
Bao gồm tỷ lệ lao động trong ngành nông - lâm nghiệp là 25,8% và ngành giản đơn là  
49,6%.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Ban Tuyên giáo Trung ương. 2015. “30 năm đổi mới hệ thống y tế tại Việt Nam:  
Thành tựu, thách thức và giải pháp”. http://dangcongsan.vn/thoi-su/30-nam-doi-moi-he-  
thong-y-te-tai-viet-nam-thanh-tuu-thach-thuc-va-giai-phap-287519.html, truy cập ngày  
20/5/2020.  
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. 2015. Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp  
tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều áp dụng trong  
giai đoạn 2016-2020, Hà Nội tháng 4/2015.  
3. Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc. 2015. “Kết quả điều tra thu thập thông tin 53  
dan-toc-thieu-so-nam-2015.htm, truy cập ngày 20/4/2020.  
4. Cổng Thông tin điện tử Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. 2020. Kết quả điều tra  
thu thập thông tin 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. 1996. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII. Hà Nội: Nxb.  
Chính trị Quốc gia.  
6. Đỗ Kim Chung và các tác giả. 2015. “Ảnh hưởng của một số yếu tố đến giảm nghèo  
ở vùng Tây Bắc”. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, tr. 32-43.  
7. Đức Trí. 2020. “Ca dương tính thứ hai với bệnh bạch hầu ở Bình Phước”. http://cand.  
com.vn/y-te/Ca-duong-tinh-thu-hai-voi-benh-bach-hau-o-Binh-Phuoc-605383/, truy cập  
ngày 20/8/2020.  
8. Hồ Xuân Mai. 2019. “Tình hình sử dụng tiếng Việt của học sinh người Stiêng lớp 3  
đến lớp 5 (Khảo sát tại 6 trường ở tỉnh Bình Phước)”, trong Hội thảo khoa học giữa kỳ  
năm 2019 của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ. TPHCM, ngày 08/8/2019.  
9. Nguyễn Duy Dũng. 2020. “Một số giải pháp thực hiện bình đẳng giới trong vùng đồng  
bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay”. https://moha.gov.vn/congtaccanbonu/binh  
danggioi/mot-so-giai-phap-thuc-hien-binh-dang-gioi-trong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-  
so-va-mien-nui-hien-nay-41719.html, truy cập ngày 20/5/2020.  
10. Oxfam. 2008. “Việt Nam, biến đổi khí hậu và người nghèo”. Báo cáo, Hà Nội, tháng  
10/2008.  
11. Phạm Linh Chi và các tác giả. 2018. 54 dân tộc vì sao khác biệt. Hà Nội: Nxb.  
Thanh niên.  
12. Thủ tướng Chính phủ. 2003. “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm  
nghèo”, Hà Nội.  
13. Thủ tướng Chính phủ. 2015. Quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa  
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày  
19/11/2015.  
14. Tổng cục Thống kê, UNICEF. 2011. Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ  
nữ 2011. Báo cáo Chương trình.  
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT – THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG…  
81  
15. UNDP. 2019. “Báo cáo tóm tắt Báo cáo phát triển con người. Bất bình đẳng trong  
phát triển con người ở thế kỷ XXI: Không chỉ về thu nhập, mức trung bình và hiện tại”.  
New York: USA.  
16. UNESCO. 2015. “Sustainable Development Begins With Education. How Education  
Can Contribute to Proposed Post-2015 Goals”. https://sustainabledevelopment.un.org/  
content/documents/2275sdbeginswitheducation.pdf, truy cập ngày 20/5/2020.  
17. UNESCO. 2016. “Báo cáo giảm sát toàn cầu về giáo dục 2016 - Giáo dục vì con  
người và hành tinh: Xây dựng tương lai bền vững cho mọi người”. https://www.gcedc  
learinghouse.org/sites/default/files/resources/245745vie.pdf, truy cập ngày 20/5/2020.  
18. UNFPA. 2011. Các dân tộc Việt Nam: Phân tích các chỉ tiêu chính từ Tổng điều tra  
dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009. Hà Nội, tháng 12/2011.  
19. Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. 2020. Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu  
số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
20. Ủy ban Dân tộc và UNDP. 2016. Dân tộc thiểu số với mục tiêu phát triển bền vững:  
Ai có nguy cơ bị bỏ lại phía sau. Báo cáo, Hà Nội, tháng 12/2016.  
21. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và  
UNDP. 2018. Báo cáo nghèo đa chiều ở Việt Nam: Giảm nghèo ở tất cả các chiều cạnh  
để đảm bảo cuộc sống có chất lượng cho mọi người. Báo cáo nghiên cứu.  
pdf 14 trang baolam 19040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng giảm nghèo bền vững của người Stiêng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_giam_ngheo_ben_vung_cua_nguoi_stieng.pdf