Giáo trình môn Dân số sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: DÂN SỐ SỨC KHỎE, KHHGĐ  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP  
Ban hành kèm theo Quyết định số:  
/QĐ-… ngày…….tháng….năm .........  
…………........... của……………………………….  
Ninh Bình, năm 2018  
1
MỤC LỤC  
2
3
Lời nói đầu  
Dân số sức khỏe – Kế hoạch hóa gia đình là môn khoa học về dân số và kế hoạch hóa  
gia đình. Nghiên cứu dân số học, kế hoạch hóa gia đình giúp cho người học nắm được hệ  
thống kiến thức cơ bản về dân số, những quá trình dân số học, những lý thuyết về dân số, kế  
hoạch hóa gia đình, những biện pháp phòng, tránh thai và những lĩnh vực ứng dụng lý thuyết  
và phương pháp nghiên cứu.  
Căn cứ váo chương trình khung đã được phê duyệt. Với mục đích đáp ứng nhu cầu  
học tập những kiến thức cơ bản về Dân số sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình. Cuốn sách này  
bao gồm 4 chương:  
Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về dân số  
Chương 2. Sức khỏe sinh sản  
Chương 3. Sức khỏe tình dục và kế hoạch hóa gia đình  
Chương 4. Các biện pháp phòng và tránh thai  
Giáo trình hoàn thành được sự giúp đỡ rất nhiều của chuyên gia. Đây là lần đầu tiên  
biên soạn giáo trình, tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi sự thiếu sót.  
Chúng tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp và bạn đọc  
để giáo trình được hoàn thiện hơn.  
Ninh Bình, tháng 6 năm 2016  
Tham gia biên soạn  
1. Chủ biên Vũ Ánh Dương  
2. Lê Hùng Cường  
4
 
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC  
Tên môn học: DÂN SỐ SỨC KHỎE KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH  
Mã số môn học: MH25  
Vị trí, tính chất của môn học:  
- Vị trí môn học: Dân số - sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình là môn học tự  
chọn trong chương trình đào tạo nghề công tác xã hội  
- Tính chất của môn học: Là môn học tự chọn  
Mục tiêu môn học:  
- Kiến thức:  
+ Trình bày được các khái niệm dân số, sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình;  
+ Trình bày được chất lượng dân số và các yếu tố ảnh hưởng;  
+ Trình bày được các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản; Các yếu tố ảnh hưởng đến  
chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản;  
+ Trình bày được kiến thức cơ bản về kế hoạch hóa gia đình;  
+ Trình bày được kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng điều phối nhóm;  
+ Phân tích được ưu và nhược điểm của một số biện pháp tránh thai.  
- Kỹ năng:  
+ Xác định được tầm quan trọng của sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình trong  
cuộc sống;  
+ Tuyên truyền được đúng các biện pháp tránh thai trong tình huống cụ thể;  
+ Thực hiện được công tác truyền thông về dân số kế hoạch hoá gia đình, phối hợp  
thực hiện chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ kế hoạch hoá gia đình và chăm  
sóc sức khoẻ sinh sản tại địa phương.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
+ Rèn luyện được tính tích cực trong học tập, có thái độ tuyên truyền sâu rộng trong  
xã hội;  
+ Khiêm tốn, trung thực, khách quan, có tinh thần tự học tập vươn lên;  
+ Tôn trọng, chân thành lắng nghe ý kiến của cộng đồng về các nhu cầu sức khoẻ.  
Nội dung môn học  
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về dân số  
Mục tiêu:  
- Kiến thức:  
+ Trình bày được các khái niệm dân số, quy mô, cơ cấu và phân bố dân số;  
5
 
+ Nêu được chất lượng dân số và các yếu tố ảnh hưởng;  
- Kỹ năng: Xác định được tầm quan trọng của dân số đối với phát triển xã hội.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện được tính tích cực trong học tập, có thái  
độ tuyên truyền sâu rộng trong xã hội.  
Nội dung chính:  
1. Khái niệm chung về dân số  
1.1. Khái niệm  
Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ: quy mô và cơ cấu. Nội hàm của  
khái niệm Dân cư không chỉ bao gồm số người, cơ cấu theo độ tuổi và giới tính mà nó  
còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ... tức là nó rộng hơn rất  
nhiều so với nội hàm của khái niệm Dân số.  
Dân số học được hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ nghiên cứu quy mô, cơ cấu và biến  
động dân số. Dân số đang là đối tượng quản lý của Nhà nước.  
1.2. Tình hình dân số thế giới và Việt Nam  
1.2.1. Tình hình dân số thế giới  
Qui mô dân số  
Nếu đầu công nguyên dân số thế giới chưa đầy 1/3 tỷ người thì đến năm 2000 dân số  
thế giới đã đạt 6,198 tỷ người, năm 2009 dân số thế giới đã đạt 6,810 tỷ người  
Quá trình phát triển dân số thế giới biểu hiện ở bảng sau:  
Bảng 1.1. Số lượng dân số thế giới qua các năm  
Năm Dân số (triệu)  
Diễn giải  
Đầu CN*  
300  
Sau hàng triệu năm số dân mới đạt tỷ người đầu tiên  
1700  
1800  
1820  
1900  
1930  
1955  
1960  
1975  
1987  
2000  
600  
900  
1000  
1600  
2000  
2325  
3037  
4067  
5000  
6198  
Sau 110 năm đạt tỷ thứ hai  
Sau 30 năm đạt tỷ thứ ba  
Sau 25 năm đạt tỷ thứ tư  
Sau 12 năm đạt tỷ thứ năm  
6
     
2008**  
2009**  
6705  
6810  
Nguồn:Dân số thế giới. Nhà xuất bản Thống kê Tài chính, Mockba, 1988, và  
* Đầu CN: Population Reference Bureau estimates ( Theo www.Prb.org)  
** 2008, 2009 World Population Data Sheet 2008, 2009 of Population Reference Bureau  
of United States.  
Nhìn vào bảng trên ta thấy: Để đạt tỷ người thứ nhất phải mất hàng triệu năm. Nhưng để  
đạt tiếp các tỷ người sau đó thời gian giảm dần. Đặc biệt năm 1900 trở lại đây, qui mô dân  
số tăng lên rất nhanh. Chỉ sau 90 năm (1900 đến 1990) dân số tăng từ 1,6 tỷ lên 5,3 tỷ  
người; tăng thêm 3,7 tỷ, bình quân mỗi năm tăng thêm 40 triệu người. Từ 1960 - 1990 tăng  
2,3 tỷ, bình quân mỗi năm tăng 76 triệu. Theo dự báo của Liên hiệp quốc, đến năm 2000  
dân số thế giới vào khoảng 6,2 tỷ người, mỗi năm tăng thêm gần 100 triệu người. Và thực  
tế đến năm 2000 thế giới đã có  
6.198 triệu người, năm 2009 thế giới đã có 6,810 tỷ người, tăng hơn so với 2008 là 105  
triệu người. Dự báo giữa năm 2011 dân số thế giới sẽ đạt 7 tỷ người.  
Tốc độ tăng dân số  
Nếu như trước đây trong xã hội nguyên thuỷ, hàng trăm năm dân số không tăng hoặc chỉ  
tăng một vài phần trăm thì từ thế kỷ 17 đến nay tốc độ tăng ngày càng cao, mặc dù từ  
cuối thế kỷ XX đến nay có giảm đi.  
Bảng 1.2: Tốc độ tăng dân số thế giới (%)  
Thời kỳ 1750-  
1985-  
1990  
1990- 1975-  
1985-  
1990  
2002  
1.36  
2009*  
1,2  
Khu vực  
1800  
1995  
1980  
Toàn thế giới  
Trong đó:  
0.4  
0.5  
0.8  
1.9  
1.7  
- Châu Phi  
0.1  
0.4  
0.3  
1.0  
0.8  
2.7  
2.0  
3.0  
1.8  
2.4  
1.3  
2,4  
1,2  
- Châu Á (không 0.5  
kể LX)  
- Mỹ la tinh  
- Bắc Mỹ  
0.8  
1.3  
2.3  
0.7  
1.6  
1.4  
0.6  
2.7  
1.0  
0.6  
2.2  
0.8  
0.2  
1.7  
0.6  
-0.1  
1,4  
0,6  
0
-
Châu Âu 0.4  
(không kể LX)  
7
Liên xô (cũ)  
0.6  
1.1  
0.6  
1.0  
0.8  
-0.5  
Nguồn xác định từ cuốn Dân số thế giới, Nxb Tài chính thống kê Mackba, 1988 và các  
biểu đồ dân số thế giới của LHQ.  
*2009: World Population Data Sheet 2009 of Population Reference Bureau of United  
States.  
Nhìn vào bảng trên ta thấy mức độ gia tăng dân số cao nhất là ở Châu Phi. Cuối thế kỷ XX, trên  
toàn thế giới, tốc độ tăng dân số có giảm, nhưng ở Châu Phi vẫn tiếp tục tăng. Châu Âu là nơi  
có tốc độ thấp nhất. Do tốc độ tăng dân số giữa các châu lục, giữa các nước khác nhau nên cán  
cân dân số cũng thay đổi khác nhau. Nếu năm 1990 các nước đang phát triển chiếm 2/3 dân số  
thế giới, thì đến năm 1980 đã lên tới gần 3/4 và đến năm 2009 chiếm 82% (hơn 4/5) dân số thế  
giới..  
Phân bố dân cư thế giới  
Có thể nói dân cư thế giới hầu hết tập trung ở hai châu Á và Phi. Quy mô và tỷ lệ của nó  
ngày càng tăng. Có thể nhìn thấy điều đó ở bảng sau:  
Bảng 1.3: Phân bố dân cư ở các châu lục  
Các châu lục  
Tỷ lệ so với dân số thế giới (%)  
1800  
100,0  
10,9  
0,7  
1900  
100,0  
8,1  
2000  
100,0  
13,4  
5,2  
2050  
100,0  
21,7  
4,8  
Thế giới  
Châu Phi  
Nam Mỹ  
5,0  
Châu Á  
64,9  
20,8  
0,2  
57,4  
24,7  
0,4  
60,3  
11,9  
0,5  
57,3  
27,2  
0,5  
Châu Âu  
Châu Đại dương  
Mỹ La tin và vùng Caribe 2,5  
4,5  
8,5  
8,4  
Nguồn: United Nations Population Division, Briefing Packet, 1998 Revision of World  
Population Prospects; and World Population Prospects, The 2006 Revision. (Theo  
www.Prb.org)  
Bảng 1.4: Phân bố dân cư ở các châu lục năm 2009  
8
Dân số  
Vùng  
Tỷ lệ % so với dân số thế giới  
(triệu người)  
Thế giới  
Châu Phi  
6810  
999  
920  
4.117  
738  
36  
100,0  
14,7  
13,5  
60,5  
10,8  
0,5  
Châu Mỹ  
Châu Á  
Châu Âu  
Châu Đại Dương  
Nguồn: World Population Data Sheet 2009 of Population Reference Bureau of United  
States.  
Đến năm 2009 dân số thế giới vẫn tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi (châu Á chiếm  
60,5 % và châu Phi chiếm 14,7 %)  
Do qui mô, tốc độ và việc phân bố dân cư thế giới như vậy nên người nghèo ngày càng  
nhiều, tỷ lệ số người này so với tổng dân số thế giới ngày càng tăng và dẫn đến nhiều hậu  
quả tiêu cực.  
1.2.2. Tình hình dân số Việt Nam  
Thời Hùng Vương dựng nước, dân số Việt Nam mới chỉ có khoảng 1 triệu người. Đến  
đầu công nguyên chưa đầy 2 triệu người và hiện nay đã là 85.789.573 người (Tổng điều  
tra 1/4/2009) đứng hàng thứ 13 trên thế giới về qui mô dân số. Đặc biệt trong vòng nửa  
thế kỷ, từ 1945 đến l995 dân số đã tăng từ 23 triệu lên 74 triệu (tăng hơn 3,2 lần).  
Bảng 1.5: Quy mô và tốc độ gia tăng dân số Việt Nam từ 1945 đến 2009  
Năm  
1945  
1955  
1965  
1975  
1985  
1990  
1999  
Dân số (triệu người)  
Tốc độ tăng dân số (%)  
23  
0.6  
3.4  
3.2  
3.2  
2.5  
2.2  
2.0  
25  
35  
47,6  
60  
66,7  
76,3  
9
2009*  
85, 789  
1,23  
Nguồn: Số liệu thông kê hàng năm của RIVCTK  
*Kết quả TĐT dân số 2009: TCTK  
Dân số nước ta đông, nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng trong nước. Đồng bằng mật  
độ dân số quá cao, số người tăng thêm hàng năm khá lớn, nhưng khả năng mở rộng sản xuất  
lại có hạn. Trong khi đó miền núi đất đai khá rộng, có ưu thế phát triển cây công nghiệp, chăn  
nuôi, nghề rừng, nhưng mật độ dân cư lại thưa thớt, thiếu lao động. Chẳng hạn, đến năm 1989  
Tây Nguyên chiếm 17% diện tích nhưng chỉ chiếm 2,8% dân số, trong khi đó đồng bằng Sông  
Hồng chỉ chiếm có 5,2% diện tích nhưng chiếm 21,1% dân số.  
Bên cạnh đó, một số tỉnh ở Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ có quy mô dân số  
không tăng thậm chí giảm chút ít sau 10 năm, do số dân tăng tự nhiên không thể bù đắp  
được số người chuyển đi làm ăn, sinh sống ở các tỉnh, thành phố khác như: Hà Nam,  
Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh...  
Theo báo cáo sơ bộ kết quả TĐTDS năm 2009 của Tổng cục thống kê: Quy mô dân số  
nước ta là 85.789.573 người được phân bố trên sáu vùng kinh tế - xã hội của đất nước.  
Vùng đông dân nhất là Đồng bằng sông Hồng (19.577.944 người), tiếp đến là Bắc Trung  
Bộ và Duyên hải miền Trung (18.835.485 người) và Đồng bằng sông Cửu Long  
(17.178.871 người). Vùng có số dân ít nhất là Tây Nguyên, gồm 5 tỉnh với dân số là  
5.107.437 người.  
Số liệu cho thấy, dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng.  
Hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, là châu thổ của hai sông  
lớn, nơi có đất đai màu mỡ và điều kiện canh tác nông nghiệp thuận lợi, có 43% dân số của  
cả nước sinh sống. Ngược lại, hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, là  
những vùng núi cao điều kiện đi lại khó khăn và là nơi các dân tộc thiểu số sinh sống chủ  
yếu, chỉ chiếm dưới một phần năm (gần 19%) dân số của cả nước.  
2. Quy mô, cơ cấu và phân bố dân số  
2.1. Quy mô và phân bố dân số  
2.1.1. Qui mô và sự biến đổi qui mô dân số  
Qui mô dân số là tổng số dân sinh sống (cư trú) trong những vùng lãnh thổ nhất định vào  
những thời điểm xác định  
Qui mô dân số là chỉ tiêu dân số học cơ bản. Thông tin về qui mô dân số được dùng để  
tính số dân bình quân và nhiều chỉ tiêu dân số khác. Nó là đại lượng không thể thiếu được  
trong việc xác định các thước đo chủ yếu về mức sinh, chết, di dân . Đồng thời, nó còn  
10  
   
được sử dụng để so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội nhằm lý giải nguyên nhân của tình  
hình và hoạch định chiến lược phát triển.  
Để nghiên cứu quy mô dân số, người ta thường sử dụng các thước đo sau:  
Số dân thời điểm: là tổng số người sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định vào những  
thời điểm xác định (có thể là đầu năm, cuối năm, giữa năm hoặc thời điểm t bất kỳ nào  
đó...).  
Các ký hiệu thường dùng như:  
+ PO: số dân đầu năm (hoặc đầu kỳ);  
+ P1: số dân cuối năm (hoặc cuối kỳ);  
+ Pt: số dân tại thời điểm t.  
Thông tin về quy mô dân số thời điểm được sử dụng để tính tốc độ tăng hay giảm dân số  
theo thời gian.  
Số dân trung bình (Ký hiệu thường dùng: P ) là số trung bình cộng của các dân số thời  
điểm.  
Khi có số dân đầu năm và cuối năm, hoặc là đầu và cuối một thời kỳ ngắn, nếu số dân  
biến động tăng hoặc giảm tương đối đều đặn, không có những biến đổi mang tính chất đột  
biến ta có công thức tính số dân trung bình như sau:  
P0 + P1  
P=  
2
Trong đó:  
Po là số dân đầu năm (đầu kỳ)  
P1 là số dân cuối năm (cuối kỳ)  
Trong trường hợp không đủ số liệu để tính toán, người ta cũng có thể lấy số dân có vào thời  
điểm giữa năm (1/7 hàng năm) làm số dân trung bình của năm đó.  
Tốc độ gia tăng dân số  
Tốc độ gia tăng dân số (r) là một số tương đối biểu thị nhịp độ tăng giảm quy mô dân số trong  
một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Công thức tính:  
P1 – P0  
P=  
x 100  
P0  
Trong đó:  
r: Tốc độ gia tăng dân số  
P1: số lượng dân ở cuối kỳ (cuối năm)  
P0: số dân ở đầu kỳ (đầu năm)  
2.1.2. Phân bố dân số  
11  
- Khái niệm: Phân bố dân số là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện  
sống của người dân và với các yêu cầu nhất định của xã hội.  
Bản chất của phân bố dân số: Phân bố dân số là một hiện tượng xã hội có tính quy luật.  
Sự phân bố dân số có thể tuân theo các qui luật sau:  
Thứ nhất: Phân bố dân số theo quy hoạch thống nhất, đồng đều: là sự sắp xếp dân cư một  
cách đồng đều giữa các vùng lãnh thổ, dưới sự điều tiết của Chính PhủThứ hai: Phân bố  
dân số một cách ngẫu nhiên: là sự sắp xếp tự phát số dân tương đối đồng đều trong một  
vùng lãnh thổ mà không chịu ảnh hưởng của các chính sách can thiệp của Chính phủ.  
Thứ ba: Một dạng phân bố dân số khác thường xảy ra hơn so với hai dạng phân bố dân số trên  
đó là dân số sắp xếp có xu hướng co cụm vào một số vùng lãnh thổ này hơn các vùng lãnh thổ  
khác  
- Các chỉ tiêu đánh giá sự phân bố dân cư:  
Mật độ dân số: Là chỉ số xác định mức độ tập trung của số dân sinh sống trên một lãnh  
thổ và được tính bằng tương quan giữa số dân trên một đơn vị diện tích ứng với số dân đó.  
Tỷ trọng dân số từng vùng: là tỷ lệ phần trăm dân số ở một vùng so với toàn bộ dân số của  
một lãnh thổ, ví dụ như: tỷ lệ dân số thành thị và dân số nông thôn, tỷ lệ dân số ở từng châu  
lục.  
2.2. Cơ cấu dân số  
Ngoài quy mô và phân bố dân số, cơ cấu dân số là đặc tính thứ ba, được hình thành  
dưới tác động của sự thay đổi mức sinh, mức chết và di dân. Sự phân chia tổng số dân  
của một nước hay một vùng thành các nhóm, các bộ phận theo một tiêu thức đặc trưng  
nhất định gọi là cơ cấu dân số. Ví dụ: như cơ cấu tự nhiên (tuổi và giới tính), cơ cấu dân  
tộc và cơ cấu xã hội tình trạng hôn nhân, tôn giáo, trình độ học vấn...). Trong đó cơ cấu  
tuổi và giới tính của dân số là quan trọng nhất bởi vì không những nó ảnh hưởng tới mức  
sinh, mức chết và di dân mà còn ảnh hưởng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.  
2.2.1. Cơ cấu dân số theo tuổi.  
Tuổi là một tiêu thức được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu về dân số và xã hội.  
Trong dân số, tuổi được xác định theo tuổi tròn (lấy tròn theo số lần đã qua ngày kỷ niệm  
sinh nhật.  
Để đánh giá cơ cấu tuổi của dân số, ta chia tổng số dân theo từng độ tuổi hay nhóm tuổi  
(nhóm tuổi có khoảng cách đều nhau 5 năm, 10 năm, hoặc khoảng cách tuổi không đều  
nhau tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu như các nhóm dưới tuổi lao động (0-14), trong tuổi  
lao động (15-60), và trên tuổi lao động (từ 60 trở lên)… rồi tính tỷ trọng dân số của từng độ  
tuổi hay nhóm tuổi trong tổng số dân.  
12  
Cơ cấu tuổi là biến số quan trọng trong quá trình phát triển và để lập kế hoạch phát triển  
KTXH, trong quá trình kế hoạch hoá nguồn lao động. Nó cũng là cơ sở quan trọng để đánh  
giá các quá trình dân số, tái sản xuất dân số, lập các kế hoạch và theo dõi tình hình thực hiện  
KHHGĐ…  
Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu dân số theo tuổi:  
- Tỷ trọng dân số ở từng độ tuổi, nhóm tuổi: Được xác định bằng cách so sánh số dân ở độ  
tuổi (hay nhóm tuổi) i nào đó với tổng tổng số dân theo công thức sau  
Trong đó:  
Ti : tỷ trọng dân số tuổi (nhóm tuổi) i;  
P: Tổng số dân  
Pi : là số dân tuổi (nhóm tuổi) i  
I: là tổng độ tuổi, nhóm tuổi, khoảng tuổi  
Bảng 2.2. Biến đổi cơ cấu dân số Việt Nam theo tuổi từ 1979-2008  
Tỷ trọng từng nhóm tuổi trong tổng số dân (%)  
Tổng số  
0-14  
41,7  
39,2  
33,0  
25,0  
15-59  
51,3  
53,7  
59,0  
65,1  
60+  
7,1  
7,0  
8,0  
9,9  
Năm  
1979  
100  
100  
100  
100  
1989  
1999  
1.4.2008  
Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số 1979, 1989 và 1999  
Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2008 - TCTK  
Nhìn vào số liệu của bảng 2.2. ta thấy năm 1979, 1989 tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi của  
Việt Nam chiếm trên 35% so với tổng dân số và tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm  
dưới 10 % so với tổng dân số, chỉ khoảng 7%, như vậy trong thời kỳ này dân số Việt Nam  
thuộc loại dân số trẻ. Nhưng đến năm 2008 tỷ trọng đó có thay đổi. Tỷ trọng trẻ em dưới  
15 tuổi chiếm 25 % và tỷ trọng dân số trên 60 tuổi chiếm xấp xỉ 10 %, như vậy dân số  
Việt Nam có xu hướng chuyển từ dân số trẻ sang dân số già.  
- Tỷ số phụ thuộc của dân số  
13  
Tỷ số phụ thuộc của dân số biểu hiện quan hệ so sánh giữa dân số ngoài độ tuổi lao động  
(dưới 15 và 60 tuổi trở lên) với tổng số người trong độ tuổi lao động (15- 59). Công thức để  
tính tỷ số phụ thuộc của dân số như sau:  
Tỷ số phụ thuộc của dân số có thể chia ra tỷ số phụ thuộc trẻ và tỷ số phụ thuộc già:  
Tỷ số phụ thuộc trẻ  
Tỷ số phụ thuộc già  
Cơ cấu dân số vàng hay còn gọi là dư lợi dân số là thuật ngữ dùng để phản ảnh một dân số  
có tỷ lệ người lao động (15-59) đạt tối đa và tỷ lệ người phụ thuộc đạt ở mức thấp nhất  
(người từ 0-14 và trên 60 tuổi); tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50 %.  
Biểu 2.3. Tỷ lệ phụ thuộc (%), Việt Nam 1979, 1989, 1999 và 2006  
1979  
84,5  
1989  
73,0  
13,3  
86,3  
1999  
56,3  
13,7  
69,9  
2006  
40,7  
14,3  
55,0  
Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (0-14)  
Tỷ lệ phụ thuộc người già (60+) 14,0  
Tỷ lệ phụ thuộc chung  
98,5  
Nguồn số liệu: TCTK- Theo Gso.gov.vn  
-1979: Tổng điều tra Dân số Việt Nam 1979, Biểu 5, trang 34.  
-1989: Tổng điều tra Dân số Việt Nam 1989, Kết quảđiều tra toàn diện, Tập 1, Biểu 1.2,  
trang 16.  
-1999: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 1999, Kết quảđiều tra toàn bộ, Biểu 1.5,  
trang 20.  
Ở Việt Nam hiện nay, cơ cấu dân số có thể gọi là cơ cấu dân số vàng. Bởi vì nếu tỷ số phụ  
thuộc của dân số nước ta giống như năm 79, thì 54 triệu người trong độ tuổi lao động sẽ  
phải nuôi tới 51,3 triệu người ngoài tuổi lao đông (54 triệu x 0,95). Nhưng tỷ số phụ  
thuộc năm 2006 của Việt Nam chỉ là 55%. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở  
2009, tỷ số phụ thuộc là: 44,7 %.  
14  
Tuổi trung vị (AM): Để đánh giá mức độ già hay trẻ của một tổng thể dân số người ta còn sử  
dụng thước đo độ tuổi trung vị (AM). Tuổi trung vị là độ tuổi chia tổng dân số thành hai  
nửa bằng nhau, một nửa có độ tuổi già hơn tuổi trung vị và một nửa có độ tuổi trẻ hơn tuổi  
trung vị.  
Công thức tính tuổi trung vị:  
Trong đó:  
AM: Tuổi trung vị của dân số  
AM(min): Độ tuổi là giới hạn dưới của nhóm có chứa tuổi trung vị h: Khoảng cách tổ của nhóm có  
chứa tuổi trung vị  
P/2: nửa tổng dân số  
Pi: Số dân được cộng dồn từ nhóm tuổi nhỏ nhất cho đến nhóm sát trước nhóm có chứa tuổi  
trung vị  
PM: Số dân của nhóm có chứa tuổi trung vị  
2.2.2. Cơ cấu dân số theo giới tính  
- Tỷ số giới tính (sex ratio - SR), là tỷ số giữa dân số nam và dân số nữ trong cùng tổng thể  
dân số tại một thời điểm nhất định:  
Tỷ số giới tính có thể được tính cho từng độ tuổi, nhóm tuổi cụ thể, ví dụ cho trẻ em  
dưới 1 tuổi hoặc cho nhóm trên 65 tuổi.  
- Tỷ số giới tính khi sinh: (SRB)  
Công thức trên cho ta thấy cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có bao nhiêu bé trai được sinh ra.  
Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 102 đến 107 bé trai.  
Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ, chẳng những sự phát triển của dân số tương lai bị ảnh  
hưởng nặng nề, mà nó còn gây nên những tiêu cực về mặt xã hội: bắt cóc, lừa đảo, buôn bán  
phụ nữ, mại dâm, nhập khẩu cô dâu….tăng cao khó kiểm soát. Mặt khác nó còn ảnh hưởng đến  
suy giảm chất lượng dân số. Do vậy người ta thường chú ý đến tính cân bằng giữa nam và nữ ở  
nhóm tuổi trẻ đặc biệt là với số trẻ mới sinh ra.  
15  
Bảng 2.2: Tỷ số giới tính khi sinh theo các nguồn dữ liệu khác nhau  
Năm  
2001 2002 2003 2004  
2005 2006 2007*  
Điều tra  
DS-  
109  
107  
104  
108  
106  
106  
111,0  
KHHGĐ 1.4  
Thẻ khám và chữa bệnh 108  
107  
107  
108  
109  
109  
Nguồn: PGS.TS. Nguyễn Đình Cử (2007). “Những xu hướng biến đổi dân số ở Việt  
Nam”. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, trang 33.  
2007*: Điều tra 1/4/2007, Theo Phạm Đại Đồng (2009) “Các nhân tố ảnh hưởng  
đến mức sinh ở Việt Nam”, tr73, NXB Đại học Kinh tế quốc dân.  
- Tỷ trọng nam (nữ) trong tổng số dân  
Tỷ trọng nam hoặc nữ trong tổng số dân là quan hệ so sánh giữa bộ phận dân số nam hoặc  
nữ với tổng dân số của một vùng, một nước thường biểu thị bằng %. Công thức tính như  
sau:  
Những chỉ tiêu trên có thể vận dụng để tính cho dân số cả nước, của từng vùng riêng biệt,  
hoặc cho các bộ phận dân số khác nhau. Chi tiết hơn cơ cấu tuổi và giới tính được phân ra cho  
các nhóm nhỏ hơn, cho từng độ tuổi hoặc nhóm tuổi (5 năm).  
2.2.3. Tháp dân số  
Tháp dân số (tháp tuổi - giới tính) là cách biểu thị cơ cấu tuổi và giới tính của dân số  
bằng hình học. Tháp dân số được phân chia thành 2 phần bằng một trục thẳng đứng ở giữa  
được gọi là trục tuổi dùng để biểu diễn độ tuổi hoặc nhóm tuổi của dân số. Trên trục này,  
độ tuổi có thể được chia chi tiết theo từng tuổi, hoặc các nhóm tuổi với khoảng cách đều  
nhau, thường là 5 hoặc 10 tuổi. Các thanh hình chữ nhật nằm ngang hai bên trục tuổi biểu  
thị cơ cấu dân số theo tuổi của nam và nữ, bên trái là nam, bên phải là nữ.  
Chiều dài của các thanh nằm ngang biểu diễn số nam, nữ của từng độ tuổi hay nhóm tuổi  
hoặc tỷ lệ nam, nữ trong từng độ tuổi, nhóm tuổi trong tổng số dân. Hình dạng của tháp dân  
số không chỉ cung cấp các thông tin khái quát về cơ cấu tuổi và giới tính của dân số vào thời điểm  
xác định, mà còn có thể cho phép đánh giá đặc điểm cơ bản của tái sản xuất dân số trong quá  
khứ phân tích các yếu tố tác động làm thay đổi quy mô và cơ cấu tuổi, giới tính của dân số trong  
những thời gian trước đó, đặc biệt các yếu tố như chiến tranh, di dân hàng loạt, nạn đói, bệnh dịch  
16  
… Đồng thời, tháp dân số còn cho ta phán đoán được xu hướng phát triển của dân số trong  
tương lai.  
Hình 2.6: Ba dạng mô hình tháp dân số cơ bản: Dựa vào hình dạng của các tháp dân số, ta có thể  
phân chia thành 3 loại tháp cơ bản: mở rộng, ổn định, và thu hẹp.  
Tháp dân số mở rộng có hình nón, đáy tháp mở rộng, càng lên cao càng thu hẹp lại nhanh  
thể hiện mức sinh cao, tuổi thọ trung bình thấp, đây là đặc trưng của dân số các nước đang  
phát triển, như Maroc, có dân số trẻ tăng nhanh.  
Hình 2.6: Ba dạng mô hình tháp dân số cơ bản  
Ma Rốc (Mở rộng) Ca-na-đa (Thu hẹp)  
Nam  
N÷  
Nam  
N÷  
Thụy Điển (Ổn định)  
Nam  
N÷  
Tháp dân số thu hẹp, điển hình là tháp dân số của Canada. Tháp có đáy tháp thu hẹp hơn so  
với kiểu mở rộng, phần giữa phình to ra, phần trên của tháp mở rộng hơn thể hiện mức sinh  
có xu hướng giảm, tuổi thọ trung bình gia tăng, đặc biệt tỷ lệ dân số trong tuổi lao động  
cao, đây là đặc trưng cho dân số trưởng thành, dân số tăng chậm.  
17  
Tháp dân số ổn định, Tháp có đa số các phần tương đương nhau, thể hiện số người trong  
phần lớn số các nhóm tuổi gần bằng nhau, có mức sinh thấp, tuổi thọ trung bình cao. Đây  
là đặc trưng của dân số các nước phát triển, như Thụy Điển, có dân số già tăng rất chậm,  
hoặc không tăng.  
Tháp dân số Việt Nam qua các năm 1989 và 1999 trong hình cho thấy đáy tháp dân số thu  
hẹp dần trong khi phần giữa và phần trên của tháp mở rộng dần thể hiện những đoàn hệ sinh  
sau khi thống nhất đất nước (sau năm 1975) đang già đi và dịch chuyển dần lên trên, trong  
khi mức sinh đang giảm dần, tốc độ tăng dân số cũng có xu hướng giảm.  
3. Mức sinh, mức chết và các yếu tố ảnh hưởng  
3.1. Mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng  
3.1.1. Các khái niệm và chỉ tiêu đánh giá  
-Sinh sản – reproductive là nói đến việc tái sinh của một dân số  
-Khả năng sinh sản – fertility: Là năng lực sinh sản thực tế của một cá nhân,một cặp,một  
nhóm hoặc một dân số  
-Sự mắn đẻ (khả năng thụ thai) – fecundity: Là khả năng sinh sản về sinh lý học của một  
cặp.  
-Sự vô sinh – infertility: Là hiện tượng người đàn ông,đàn bà hay cặp vợ chồng thiếu  
khả năng sinh ra một đứa trẻ còn sống dù rất khó. Hay nói một cách ngắn gọn là sự mất khả  
năng mang thai ở người phụ nữ hay mất khả năng gây mang thai ở nam giới.  
-Mức sinh sản – fertility level: Biểu thị sinh đẻ của một phụ nữ, lien quan đến số trẻ sinh  
sống mà một người phụ nữ thực có trong suốt cuộc đời sinh sản của mình.  
-Số lần mang thai của phụ nữ - gradivity: Là số lần có thai bao gồm những thai sinh ra  
còn sống, thai chết trong khi chuyển dạ, thai chết lưu, sẩy thai và thai nạo hút.  
-Số lần sinh con sống – parity : Là số trẻ đẻ ra sống mà một người phụ nữ có được.  
- Mức sinh thay thế: Là mức sinh mà một nhóm phụ nữ (hay 1 phụ nữ) có vừa đủ số con  
gái để thay thế mình trong dân số, nghĩa là mỗi một bà mẹ sẽ sinh ra 1 người con gái đạt  
đến tuổi sinh đẻ để thay thế mình. Khi đạt mức sinh thay thế, TFR tương đương khoảng  
2,1 con.  
- Thời gian tăng gấp đôi dân số: Đây là số năm cần thiết để số dân của một nước, một vùng  
hay một địa phương có thể tăng lên gấp hai lần tính từ một năm gốc nào đó. Nếu mức sinh  
cao, khoảng thời gian này càng ngắn và ngược lại. Vì vậy, thời gian để dân số tăng gấp đôi  
cũng là một thước đo quan trọng để nghiên cứu mức sinh và tái sinh sản. Chỉ tiêu này  
được tính trên cơ sở giả thiết rằng dân số tăng liên tục trong một thời gian khá dài với tốc  
18  
   
độ không đổi của năm nghiên cứu. Khi đó hàm số biểu diễn số dân phát triển theo thời  
gian có dạng:  
P0, Pt: Số dân có tại thời điểm gốc và thời điểm t.  
r: Tốc độ tăng dân số trung bình năm.  
t: Khoảng cách thời gian (số năm) tính từ thời điểm gốc đến thời điểm t.  
3.1.2. Các đặc trưng chủ yếu của quá trình sinh:  
- Đặc trưng về sinh theo tuổi: Mỗi độ tuổi khác nhau có mức sinh khác nhau, người ta thường  
tính tỷ suất sinh đặc trưng theo từng nhóm tuổi (5 năm).  
- Đặc trưng về sinh theo thành thị và nông thôn: Dân số thành thị là dân số sống ở các  
thành phố, thị xã, thị trấn. Do đặc điểm kinh tế - xã hội khác nhau nên mức sinh giữa hai  
vùng khác nhau, nông thôn có mức sinh cao hơn thành thị. Năm 2008 Ở thành thị tổng tỷ  
suất sinh là 1,84 con trên một phụ nữ và ở nông thôn là 2,22 (Dân số và phát triển số 7  
(100) -2009)  
- Đặc trưng về sinh theo vùng dân cư: Mỗi vùng dân cư khác nhau có mức sinh khác nhau,  
do trình độ nhận thức, do tập quán lối sống và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Ở Việt  
Nam Vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long có tỷ suất sinh  
thấphơnhẳnsovớivùngnúiphíabắcvàTâynguyên.  
- Đặc trưng về sinh theo theo nghề nghiệp và trình độ văn hoá  
Số liệu điều tra tiếp tục khẳng định mối quan hệ giữa mức sinh và trình độ hoặc vấn của  
phụ nữ. Mức sinh cao tập trung ở nhóm phụ nữ có trình độ học vấn thấp.(Dân số và phát  
triển số 7 (100) -2009)  
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh  
Những yếu tố tự nhiên sinh vật  
Sinh đẻ trước hết là hiện tượng sinh học, vì vậy nó phải chịu sự tác động của các yếu tố này.  
Khả năng sinh sản chỉ có ở một nhóm tuổi nhất định (tuổi có khả năng sinh sản). Nơi nào  
có số phụ nữ trong tuổi có khả năng sinh sản càng cao (đặc biệt độ tuổi từ 20 đến 30) thì  
mức sinh cao và ngược lại. Cơ cấu giới tính càng phù hợp càng tạo điều kiện thuận lợi cho  
mức sinh.  
Điều kiện tự nhiên môi trường sống cũng ảnh hưởng đến mức sinh. Nơi nào có điều kiện  
tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển sinh sản thì nơi đó dân số tăng nhanh. Dân tộc cũng  
là yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh. Dân tộc được xét đến nhiều khía cạnh khác nhau. Về  
19  
mặt tự nhiên sinh vật, trước hết mỗi dân tộc là một giống người và mỗi giống người đều có  
khả năng sinh đẻ khác nhau.  
Phong tục tập quán và tâm lý xã hội  
Mỗi nước, mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc, mỗi hình thái kinh tế-xã hội đều có các phong tục tập  
quán và tâm lý xã hội khác nhau. Những tập quán và tâm lý này xuất hiện và tồn tại trên  
những cơ sở thực tế khách quan của nó.  
Tập quán và tâm lý xã hội có tác động lớn đến mức sinh đẻ. Tập quán kết hôn sớm, muốn có  
nhiều con, thích con trai, có nếp có tẻ... là tập quán và tâm lý chung của xã hội cũ những xã hội  
có trình độ kinh tế, văn hoá thấp kém.  
Những yếu tố kinh tế  
Ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế, mức sống tới mức sinh là đối tượng nghiên  
cứu của nhiều người. Người đầu tiên nghiên cứu về mối quan hệ này là A. Xmit. Từ những  
nghiên cứu của mình, ông ta đã rút ra kết luận nổi tiếng là: "Nghèo đói tạo khả năng cho  
sự sinh đẻ" .  
Các Mác khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập và sinh đẻ cũng đã xác định rằng,  
dưới chủ nghĩa tư bản, số sinh đẻ tỷ lệ nghịch với quy mô của cải mà người công nhân  
có.  
Dưới chủ nghĩa xã hội, nhiều nhà khoa học cũng nghiên cứu về mối quan hệ này và cho  
rằng, quy luật được hình thành bởi Các Mác về sự phụ thuộc nghịch giữa mức sống và  
sinh đẻ tác động cả dưới chủ nghĩa xã hội.  
Tất nhiên, mối quan hệ giữa trình độ phát triển kinh tế, mức sống và mức sinh trong các  
thời kỳ khác nhau có khác nhau.  
Khi mức sống còn rất thấp, thu nhập không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu thì mối quan hệ  
đó là phụ thuộc thuận.  
Khi đời sống đã nâng cao đến mức độ nhất định, nhưng chưa thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu  
cuộc sống thì mối quan hệ đó lại là nghịch.  
Khi đời sống đã đạt đến mức rất cao, có thể thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu vật chất và tinh  
thần của người dân, mối quan hệ đó có thể là thuận. Tuy nhiên chỉ giới hạn ở mức độ nhất  
định.  
Các yếu tố kỹ thuật  
Trình độ phát triển kỹ thuật càng cao, đặc biệt những thành tựu về y học, càng tạo điều  
kiện cho loài người chủ động điều tiết mức sinh. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng  
nước trong từng thời kỳ hoặc là khuyến khích hay hạn chế mức sinh, Nhà nước áp dụng  
các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Đối với các gia đình, các cặp vợ chồng không có khả  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 64 trang baolam 26480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Dân số sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_mon_dan_so_suc_khoe_ke_hoach_hoa_gia_dinh.docx