Income in the southeast region in the period of 2010-2020
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
INCOME IN THE SOUTHEAST REGION
IN THE PERIOD OF 2010-2020*
Nguyen Quang Giai
Thu Dau Mot University
Email: [email protected]
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
16/7/2021
20/8/2021
07/9/2021
20/9/2021
30/9/2021
rccording to on the data set of the results of the Vietnam Household Living Standards Survey
A
2010-2020 (VHLSS) of the General Statistics Office (GSO), the article aimed to analyze empirical
evidences on the progress of income inequality in the South East of Vietnam over the past decade (2010-
2020) in which the gaps of the rich and the poor; urban - rural areas; and the inequality between this regieon
and others in Vietnam have been diversified and differentiated significantly. The study also presented and
discussed the drivers of income inequality; and proposed the possibility to solve them by using Income
Gap Coefficient, Gini Coefficient and the 40WB criteria.
Keywords: Income inequality; Social mobility; Southeastern Area; Economy; Income.
1. Đặt vấn đề
các nhóm xã hội, vùng, khu vực cả nước. Điều này
đồng nghĩa, vấn đề này vẫn còn nhiều thách thức,
tồn tại cần nỗ lực giải quyết.
Trải qua 35 năm, Việt Nam duy trì là một trong
những quốc gia phát triển kinh tế nhanh nhất thế
giới và đạt được thành tựu đáng kể trong công cuộc
xóa đói giảm nghèo. Kể từ sau đổi mới năm 1986
đến nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn tăng
trưởng kinh tế ấn tượng với tốc độ bình quân 7,40%/
năm,1990-2008 (WB1, 2015), sau đó giảm chậm
với tốc độ 6,63%/năm trong một thập niên gần đây
(giai đoạn từ năm 2010-2020) (GSO, 2020). Thành
quả kinh tế đã tạo động lực quan trọng phát triển đất
nước trên mọi phương diện, trong đó hành trình rõ
nét nhất là thu nhập và chi tiêu ngày càng được nâng
lên, mức sống của đại đa số dân cư tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên, bất bình đẳng thu nhập, chênh lệch mức
sống ngày càng gia tăng, khoảng cách giàu nghèo,
phân tầng xã hội rõ rệt hơn giữa và trong hầu hết
Chính vì vậy, bất bình đẳng thu nhập dành được
sự quan tâm nghiên cứu bởi các nhà kinh tế, xã hội
học, chính trị và cơ quan hoạch định chính sách,
song bất bình đẳng thu nhập chưa được nghiên cứu
nhiều, đặc biệt với quốc gia đang phát triển như
Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu bất bình đẳng thu
nhập giúp hiểu được lợi ích của tăng trưởng kinh
tế được chia sẻ như thế nào trong dân chúng, sự di
động và dịch chuyển xã hội giữa các nhóm dân cư.
Thông qua đó đề xuất một số giải pháp khắc phục
hiệu quả sự bất bình đẳng thu nhập trong dân cư.
2. Tổng quan nghiên cứu
Tăng trưởng và phát triển của một quốc gia
không thể tránh khỏi vấn đề bất bình đẳng, trong đó
bất bình đẳng thu nhập là một trong những khía cạnh,
1. World Bank (Ngân hàng Thế giới).
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Thủ Dầu Một thuộc đề tài: “Mức sống dân cư vùng Đông Nam Bộ qua
kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2008, 2010, 2012, 2014, 2016, 2018”, mã số: ĐT 20-037.
Volume 10, Issue 3
35
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nội dung quan trọng thu hút sự quan tâm nghiên cứu với tại các nền kinh tế tăng trưởng nhanh khác ở
của một số học giả và cơ quan chuyên môn.
Châu Á (WB, 2014, tr.40-41).
3. Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu và công cụ đo lường.
World Bank (2014) đã đưa ra thông điệp mang
tính đúc kết, bất bình đẳng là vấn đề quan ngại chung
ở Việt Nam và trên toàn thế giới. Cùng quan điểm
này, nhóm nghiên cứu Alesina & Roberto (1996)
qua công trình “Income Distribution, Political
Instability and Investment” công bố trên tạp chí
European Economic Review, Vol 40, issue 6 cho
rằng bất bình đẳng có thể làm suy giảm sự gắn kết
xã hội, chính trị của một quốc gia. Theo đó, nếu sự
dịch chuyển xã hội một khi bị hạn chế hay cản trở
kết hợp với tình trạng bất bình đẳng ngày một leo
thang vượt quá giới hạn không thể chịu đựng được
sẽ góp phần dẫn tới tình trạng bất ổn - kết luận này
được đưa ra từ nhóm tác giả Demombynes & Berk
(2005) qua bài báo “Crime and local inequality in
South Africa”, đăng trên Journal of Development
Economics, Vol 76, issue 2. Ngoài ra, bất bình đẳng
còn ảnh hưởng tới niềm tin và có thể cản trở nỗ lực
hợp tác giải quyết vấn đề, đặc biệt trong quản lý các
nguồn lực chung và cung cấp dịch vụ công.
Bài viết này sử dụng và khai thác từ bộ dữ liệu
VHLSS trong 10 năm gần đây nhất (2010-2020) và
một số tài liệu thứ cấp khác liên quan. Để đo lường
và đánh giá bất bình đẳng thu nhập ở Đông Nam Bộ
giai đoạn 2010-2020 diễn ra như thế nào, nghiên
cứu đồng thời sử dụng thước đo hệ số Gini, hệ số
giãn cách thu nhập/hệ số chênh lệch giàu nghèo;
tiêu chuẩn 40WB (Hung, 2020; Hang, 2019). (1)
Hệ số giãn cách thu nhập: Hệ số này được tính bằng
tỷ số giữa thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao
nhất (nhóm giàu - nhóm 5) trên thu nhập của 20%
dân số có thu nhập thấp nhất (nhóm nghèo - nhóm
1). Hệ số này càng lớn thì bất bình đẳng càng cao
và ngược lại. (2) Tiêu chuẩn 40WB: tiêu chuẩn này
được World Bank khởi xướng, tính bằng tỷ lệ thu
nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất
trong xã hội trên tổng thu nhập của toàn bộ dân cư.
Nếu tỷ lệ này trên 17% thì bất bình đẳng thấp, từ
12% đến 17% bất bình đẳng vừa, dưới 12% bất bình
đẳng cao (Hang, 2019). (3) Hệ số Gini: Hệ số Gini
hay còn gọi hệ số Lorenz3, hệ số Gini mang tên nhà
thống kê người Ý Corrado Gini (1884-1965), là số
đo về sự bất bình đẳng phân phối thu nhập dân cư
được sử dụng phổ biến nhất.
Như vậy, nhìn chung có một sự thừa nhận và
đồng thuận khá rộng rãi, bất bình đẳng là một vấn
đề xã hội đáng quan ngại. Nếu bất bình đẳng ngày
một gia tăng, không được kiểm soát thì sự gắn kết
xã hội càng trở nên yếu ớt, điều này cũng đồng
nghĩa vấn đề trật tự xã hội trở nên phức tạp hơn.
Ngày nay, dịch chuyển xã hội trở thành thước đo
sự bình đẳng về cơ hội, phản ánh các cơ hội được
chuyển hóa thành các kết quả kinh tế-xã hội. Trong
17 mục tiêu phát triển bền vững do Liên hợp quốc
đưa ra giai đoạn 2015-2030, có 5 mục tiêu liên quan
mật thiết dịch chuyển xã hội gồm2: (1) xóa nghèo,
(4) giáo dục chất lượng cao, (5) bình đẳng giới, (8)
tăng trưởng việc làm phát triển nền kinh tế, (10)
giảm bất bình đẳng.
Bảng 1. Hệ số Gini về thu nhập
0 ≤ G ≤ 1
Gini = 0
Tên gọi
Bình đẳng tuyệt đối
Bất bình đẳng tuyệt đối
Bất bình đẳng thấp
Bất bình đẳng trung bình
Bất bình đẳng cao
Gini = 1
Gini < 0,4
Gini = 0,4; 0,5
Gini > 0,5
Đạt mức tăng trưởng cao trong khi bất bình đẳng
thu nhập chỉ ở mức tăng “khiêm tốn”. Đây là kết
luận chung nhất được World Bank (2014) chỉ ra
khi so sánh và xem xét mức độ bất bình đẳng thu
nhập Việt Nam so với một số quốc gia trên thế giới.
Tăng trưởng dài hạn ở Việt Nam khá bình đẳng và
đã đạt được “chia sẻ thịnh vượng” liên tục kể từ
những năm 1990. World Bank lấy tiêu chuẩn 40WB
làm thước đo chia sẻ thịnh vượng. Theo tham số
này, trong giai đoạn 1993-2012, Việt Nam đạt được
những kết quả rất tốt - thu nhập của nhóm 40% dân
số nghèo nhất tăng 8,9%/năm, vượt tốc độ tăng
trưởng 7% của nhóm 60% dân số giàu nhất. Theo
đó, trong 20 năm trở lại đây, gia tăng bất bình đẳng
thu nhập Việt Nam thấp hơn, với mức khiêm tốn so
Nguồn. So sánh chỉ số phát triển giữa Việt Nam và
Indonesia giai đoạn hiện nay (Giai, 2016)
Cách tiếp cận
Tiếp cận vùng (vùng kinh tế-xã hội), sẽ giúp
nhận diện, phân tích động thái, thực trạng và xu
hướng bất bình đẳng thu nhập, chi tiêu ở Đông Nam
Bộ trong tầm nhìn đối sánh vùng. Vùng là một bộ
phận của lãnh thổ quốc gia, gồm một số tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương có các hoạt động kinh
tế-xã hội (KT-XH) tương đối độc lập, thực hiện sự
phân công lao động xã hội của cả nước. Đây là loại
vùng phục vụ việc hoạch định chiến lược và quy
hoạch phát triển KT-XH theo lãnh thổ cũng như để
2. Giữ theo thứ tự của mục tiêu.
3. Trong tiếng Anh gọi là Gini coefficient.
36
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
quản lý các quá trình phát triển KT-XH trên mỗi lần năm 2010. Cùng thời gian này, thu nhập các địa
vùng của đất nước. Theo cách hiểu này, Việt Nam phương trong vùng ĐNB cũng được nâng lên, trong
hiện có 6 vùng, gồm Trung du và miền núi phía Bắc đó Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương đạt mức
(TDMNPB); Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH); Bắc cao hơn. Thu nhập người dân Thành phố Hồ Chí
Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (BTBDHMT), Minh nhiều hơn khoảng nửa triệu đồng (524,2 nghìn
Tây Nguyên (TN); Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng đồng) (4.871,0 nghìn đồng so với 4.346,8 nghìn
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (Giai, 2019, tr.29). đồng) so với toàn vùng, Bình Dương hơn 468,3
nghìn đồng (4.815,1 nghìn đồng so với 4.346,8 nghìn
đồng) (Tổng hợp từ VHLSS, 2010-2020).
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thực trạng thu nhập cả nước giai đoạn
2010-2020
Giai đoạn 2010-2020, kinh tế Việt Nam liên tục
tăng trưởng khá đạt mức bình quân 6,63%/năm, cao
hơn 1,3 lần và ngày càng vượt xa khu vực Đông
Nam Á (GSO, 2019; 2020). GDP năm 2020 đạt
khoảng 2,91%, tuy là mức thấp nhất của các năm
(từ năm 2010 đến năm 2020), nhưng trong bối cảnh
dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng
tiêu cực mọi lĩnh vực KT-XH, thì đây là thành công
của Việt Nam với mức tăng trưởng thuộc nhóm cao
nhất thế giới (GSO, 2020, tr.187).
Biểu đồ 1. Thu nhập vùng Đông Nam Bộ so với cả
Những thành tựu kinh tế đã lan tỏa đến đời sống
các tầng lớp dân cư trong xã hội. Biểu hiện rõ nhất
là thu nhập của người dân liên tục được nâng lên,
tăng 3,1 lần sau 10 năm.
nước 2010-2020 (1.000 đồng)
Nguồn. Viet Nam Household Living Standards
Survey, 2010-2020
4.2. Bất bình đẳng thu nhập ở vùng Đông
Nam Bộ phân theo giàu - nghèo trong giai đoạn
2010-2020
Trong thời gian này, thu nhập ở vùng ĐNB cao
nhất so với các vùng khác trong cả nước, bình quân
hơn khoảng 1,5 lần cả nước (4.346,8 nghìn đồng so
với 2.874,1 nghìn đồng). Thu nhập năm 2020 gấp
2,6 lần năm 2010; vùng ĐBSH 3.489,8 nghìn đồng,
năm 2020 gấp 3,2 lần năm 2010; vùng BTBDHMT
2.213,3 nghìn đồng, năm 2020 gấp 3,3 lần năm 2010;
vùng TN 2.135,7 nghìn đồng, năm 2020 gấp 2,6 lần
năm 2010; vùng ĐBSCL 2.600,9 nghìn đồng, năm
2020 gấp 3,1 lần năm 2010; và thấp nhất là vùng
TDMNPB 1.822,7 nghìn đồng, năm 2020 gấp 3,0
Trong bối cảnh thu nhập tăng lên của cả nước,
thu nhập các nhóm dân cư vùng ĐNB đều tăng
nhanh do mức tăng người nghèo có phần cao hơn
người giàu. Năm 2020, thu nhập nhóm nghèo nhất
từ 2,5 triệu đồng/tháng/người, tăng 3,6 lần năm
2010 (720 nghìn đồng); nhóm giàu nhất, năm 2020
đạt 11,4 triệu/tháng/người, tăng 2,1 lần năm 2010
(5,5 triệu) (Bảng 2).
Bảng 2. Thu nhập ĐNB theo 5 nhóm thu nhập (1.000 đồng)
Chênh lệch
nhóm 5/1 (lần)
Năm
Chung
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
2010
2012
2014
2016
2018
2020
2.304,3
3.172,8
4.124,9
4.661,7
5.792,2
6.025,0
720,0
1.205,2
1.724,5
2.273,0
2.625,8
1.821,3
4.120,0
1.683,7
2.406,1
2.990,6
3.452,4
4.554,5
5.249,0
2.340,7
3.319,6
3.971,8
4.637,4
6.241,5
6.717,0
5.572,7
7.361,0
9.979,4
10.998,6
13.084,0
11.460,0
7,7
7,0
7,1
6,8
7,2
4,4
1.053,8
1.397,5
1.608,0
1.821,3
2.582,0
Nguồn. Viet Nam Household Living Standards Survey, 2010-2020
Volume 10, Issue 3
37
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Mặc dù, thu nhập và tốc độ cải thiện nguồn thu VHLSS, 2010-2020). Được xem là vựa lúa lớn nhất
các nhóm dân cư ngày được nâng lên rõ rệt, nhưng nước, nơi cung cấp sản lượng lương thực chủ yếu
thu nhập của người giàu và người nghèo còn khá cho cả nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, nguồn thu
chênh nhau. Mức chênh lệch 7,7 lần năm 2010, 7,0 và hoạt động sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL
(2012), 7,1 (2014), 6,8 (2016), 7,2 (2018) và 4,4 lần đặc biệt những năm gần đây đang đứng trước những
năm 2020. Khoảng cách chênh lệch tuy có dấu hiệu thách thức và rủi ro lớn do ảnh hưởng và tác động
giảm, nhưng vẫn còn khá xa với bình quân giai đoạn của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn… ngày một
2010-2020 là 6,7 lần. Điều này cho thấy phân hóa nặng nề.
giàu nghèo vẫn còn phổ biến ở vùng ĐNB (Bảng 2).
4.4. Bất bình đẳng thu nhập ở vùng Đông Nam
Nếu tính theo tiêu chuẩn 40WB của World Bank Bộ theo đối sánh vùng, đô thị - nông thôn Việt Nam
trong giai đoạn này, vùng ĐNB luôn ở mức trên 17%
(3.825,3 nghìn đồng so với 4.346,8 nghìn đồng). Cụ
thể, đạt 88,0%, gấp 5,2 lần so với định mức 17%
nên bất bình đẳng thấp so với thế giới, nằm trong
ngưỡng an toàn và có xu hướng ổn định trong cả
giai đoạn (tính toán từ VHLSS, 2010-2020).
Theo dõi hệ số Gini theo vùng, khu vực đô thị
- nông thôn Việt Nam trong 10 năm gần đây có
thể rút ra một số thông tin cần quan tâm sau: (1)
nhìn chung trên phạm vị cả nước, hệ số Gini diễn
ra theo xu hướng ngày thu hẹp lại, tuy mức độ còn
chậm; (2) có sự khác biệt đáng kể về hệ số Gini giữa
4.3. Cơ cấu nguồn thu nhập ở vùng Đông Nam các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn. Cụ thể,
Bộ trong giai đoạn 2010-2020
Gini gia tăng tại những vùng kém phát triển như
TDMNPB, TN, ĐBSCL, khu vực nông thôn. Thực
trạng và động thái này phần lớn là do suy giảm kinh
tế và nghèo đói (Bo Ke hoach va Dau tu, 2015).
Ví dụ, TDMNPB là vùng nghèo nhất của đất nước
(VHLSS, 2008-20184), nơi mà phần lớn các hộ
nghèo kinh niên sinh sống. Theo đó, trong khi một
nhóm nhỏ hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh
tế và cải thiện mức sống thì một bộ phận lớn hơn
bị tụt lùi phía sau, gây nên tình trạng bất bình đẳng
trong khu vực. Mặt khác, ở nông thôn khi kinh tế
ngày càng phát triển thì sự thay đổi cơ cấu lao động
trong các ngành nghề diễn ra nhanh và ngày càng
lớn dẫn đến bất bình đẳng thu nhập giữa người giàu
và nghèo ngày thêm cao (Hung, 2020). Tiếp đến,
tăng trưởng đã lan rộng trên khắp các khu vực địa
lý chứ không chỉ giới hạn ở Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh và thu nhập cũng ngày một tăng lên ở khu
vực nông thôn (WB, 2015, tr.41). Vùng TDMNPB
năm 2010, hệ số Gini đạt 0,406 (vị trí 4/6 vùng);
Gini tiếp tục gia tăng theo thời gian và đạt 0,420
năm 2020, đây là mức cao nhất các vùng trong cả
nước. Nếu xét hệ số giãn cách thu nhập giai đoạn
2010-2020, kết quả chỉ ra bất bình đẳng thu nhập
giữa người giàu và nghèo ở nông thôn đều cao hơn
đô thị (8,2 lần so với 7,0 lần).
Thu nhập người dân có được từ hai nguồn chính:
(1) nguồn thu từ tiền lương/lao động hưởng lương;
(2) nguồn thu tự làm. Xem xét nguồn thu ĐNB giai
đoạn 2010-2020 cho thấy: (1) Hơn một nửa (56,4%)
nguồn thu nhập người dân có được là từ công việc
hưởng lương và gần một nửa nguồn thu còn lại là
do người dân tự làm (46,6%). Trong nguồn thu tự
làm, bình quân thu từ nông, lâm nghiệp, thủy sản
chiếm khoảng 6,4%; phi nông, lâm nghiệp, thủy
sản khoảng 29,3% và nguồn thu khác 10,9%; (2)
Tỷ trọng thu nhập diễn ra theo hướng tăng dần từ
công việc hưởng lương và giảm nguồn thu tự làm.
Năm 2020, thu từ lao động hưởng lương đạt 65,3%,
tăng 13,1% năm 2010 (52,5%); trong khi thu nhập
tự làm từ 47,5% năm 2010, còn 34,7% năm 2020
(giảm 12,8%). Điều này phản ánh xu hướng thu
nhập người dân ngày được cải thiện và đây là một
trong những yếu tố quan trọng để nâng cao mức
sống (tổng hợp từ VHLSS, 2010-2020)
Có thể rút ra một số đặc điểm về nguồn thu của
vùng ĐBSCL và vùng ĐNB như sau: Có sự tương
đồng và khác biệt khá lớn về cơ cấu nguồn thu của
người dân ở hai vùng phía Nam của Tổ quốc: (1)
Cả hai vùng này đều chứng kiến xu hướng tăng
nguồn thu từ lao động hưởng lương và thu hẹp
dần nguồn thu tự làm; (2) Tại vùng ĐNB, với 1
đồng tạo ra thì hơn một nửa là từ lao động hưởng
lương và phần còn lại là do tự làm; trong khi vùng
ĐBSCL lao động hưởng lương chỉ chiếm khoảng
0,3 đồng, phần thu nhập còn lại là người dân tự làm.
Rõ ràng, lao động tự làm ở khu vực kinh tế nông
nghiệp là công việc và nguồn thu nhập chính của
cư dân Tây Nam Bộ, tuy vậy, nguồn thu này đang
ngày một giảm dần, năm 2020 so 2010 giảm 1,7 lần
(năm 2010: 33,1%; năm 2020: 20,0%) (tổng hợp từ
Ngược lại, Gini ngày giảm dần đối với khu vực
phát triển, có tiềm lực kinh tế như khu vực đô thị,
vùng ĐBSH, vùng ĐNB. Ở khu vực đô thị, vùng
kinh tế phát triển, người dân bình đẳng và dễ dàng
hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển chuyên môn
nghề nghiệp, kỹ năng làm việc thông qua giáo dục -
4. Theo chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2011-2015 là:
29,4% (2010); 23,8% (2012); 18,4% (2014); 13,8% (2016).
Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của Chính phủ giai đoạn
2016-2020 là: 23,0% (2016); 21,0% (2017); 18,4% (2018).
38
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Bảng 3. Hệ số Gini về thu nhập ĐNB trong đối sánh vùng, đô thị - nông thôn giai đoạn 2010-2020
Năm
Cả nước
Đô thị
2010
0,433
0,402
0,395
0,408
0,406
0,385
0,408
0,414
0,398
2012
0,424
0,385
0,399
0,393
0,411
0,384
0,397
0,391
0,403
2014
0,430
0,397
0,398
0,407
0,416
0,385
0,408
0,397
0,395
2016
0,431
0,391
0,408
0,401
0,433
0,393
0,439
0,387
0,405
2018
0,424
0,372
0,407
0,392
0,443
0,383
0,440
0,373
0,399
2020
0,375
0.330
0.373
0.327
0.420
0.354
0.406
0.291
0.368
Nông thôn
ĐBSH
TDMNPB
BTBDHMT
TN
ĐNB
ĐBSCL
Nguồn. Viet Nam Household Living Standards Survey, 2010-2020
đào tạo nên có nhiều sự lựa chọn công việc với mức trở về sau Gini đều ở mức thấp (2012: 0,391; 2014:
lương tương xứng. Thành quả tăng trưởng được 0,397; 2016: 0,387: 2018; 0,373: 2020: 0,291).
phân phối tới người lao động nhiều hơn, nên bất
bình đẳng thu nhập dần được cải thiện và thấp hơn
nông thôn, vùng kém phát triển. Điều này có nghĩa,
khoảng cách bất bình đẳng thu nhập tại những nơi
này ngày càng được thu hẹp. Đơn cử, vùng ĐNB là
vùng kinh tế tăng trưởng cao, phát triển cao nhất so
với các vùng trên lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận
lớn người dân hưởng lợi từ các chính sách kinh tế
xã hội trên diện rộng và khả năng tiếp cận với các
cơ hội phát triển của người dân nhiều hơn, thu nhập
cao, hộ nghèo ít hơn.
5. Thảo luận
5.1. Chính sách giảm bất bình đẳng thu nhập,
thúc đẩy phát triển bền vững
Trong 10 năm gần đây, thu nhập vùng ĐNB nói
riêng, các vùng miền cả nước nói chung đều tăng,
tuy nhiên chênh lệch thu nhập là khá xa nhau. Mức
thu nhập cao nhất thuộc về vùng ĐNB và thấp nhất
là vùng TDMNPB. Vấn đề quan tâm hơn chênh
lệch thu nhập dẫn tới chênh lệch trong tiếp cận y
tế - chăm sóc sức khỏe, giáo dục và việc làm, khiến
bất bình đẳng thu nhập ngày càng xa hơn, điều này
góp phần làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo,
chênh lệch mức sống và phân tầng xã hội. Thực tế
cho thấy, bất bình đẳng về kinh tế và bất bình đẳng
trong tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản có tác động qua
lại với nhau (Sơn & Tiến, 2014). Hơn một nửa thu
nhập vùng ĐNB là lao động hưởng lương và gần
một nửa nguồn thu còn lại là do tự làm. Xu hướng
thu nhập của lao động hưởng lương ngày một tăng,
trong khi nguồn thu tự làm giảm. Theo khuyến cáo
các nhà kinh tế, những nền kinh tế đang phát triển
với lực lượng lao động dồi dào nên chuyển dần một
lượng lớn lao động tự làm với năng suất thấp sang
tỷ lệ lao động hưởng lương năng suất lao động cao
hơn (GSO, 2019). Nghiên cứu của Nguyễn Thúy
Hà (2013) cũng chỉ ra, tại những quốc gia có nền
kinh tế phát triển thường có tỷ trọng người làm
công ăn lương chiếm trên 80%.
Giai đoạn 2010-2020, bất bình đẳng thu nhập
Việt Nam ở mức trung bình. Gini chung 10 năm
này là 0,419. Nếu xét từng năm bất bình đẳng đều ở
mức trung bình. Hệ số bất bình đẳng có sự khác biệt
đáng kể giữa đô thị và nông thôn. Ở đô thị, Gini bình
quân toàn giai đoạn là 0,379, nghĩa là bất bình đẳng
thấp, tuy nhiên năm 2010, bất bình đẳng trung bình
(0,402), từ năm 2012 đến 2020, Gini giảm dần và
đều ở mức bất bình đẳng thấp. Tại nông thôn, Gini
bình quân giai đoạn này là 0,396, thuộc bất bình
đẳng thấp, Gini những năm 2016 (0,408) năm 2018
(0,403) thuộc mức trung bình, những năm trước
đó (2010-2014) bất bình đẳng thấp. Như vậy, nhìn
chung trong 1 thập niên qua, bất bình đẳng thu nhập
ở đô thị và nông thôn Việt Nam đều ở mức thấp, tuy
nhiên hệ số Gini có sự dịch chuyển và biến động
nhẹ theo thời gian. Tại ĐNB, bình quân hệ số Gini
trong 10 năm đạt 0,375, bất binh đẳng ở mức thấp
và ngày giảm rõ rệt. Bất bình đẳng thuộc mức trung
bình chỉ duy nhất vào năm 2010 (0,414), và từ đó
Khác biệt về kinh tế, vùng, điều kiện tự nhiên -
xã hội có ảnh hưởng và quyết định cơ cấu nguồn thu
Volume 10, Issue 3
39
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nhập giữa vùng ĐNB và vùng ĐBSCL nói riêng, chiều giữa người giàu và nghèo về bất bình đẳng.
cũng như giữa vùng ĐNB so với các vùng miền trên Nó có thể vừa là động lực, đồng thời là rào cản đối
bản đồ thu nhập Việt Nam. Do vậy, để hạn chế bất với phát triển. Như vậy, dù đứng trên góc độ Nhà
bình đẳng và giúp xã hội phát triển bền vững, đòi nước hay người dân, thì rõ ràng vai trò của Nhà
nước là hết sức quan trọng đối với vấn đề tuyền
thông, kiểm soát, điều phối và cần định hướng dư
luận bất bình đẳng xã hội theo hướng bền vững.
hỏi Chính phủ và cơ quan chức năng cần có những
quyết sách và giải pháp hiệu quả hơn trong nỗ lực
nâng cao năng suất lao động, trình độ chuyên môn
và kỹ năng tay nghề đối với lao động khu vực nông
thôn, nhóm người nghèo, vùng kém phát triển. Tuy
nhiên, bất bình đẳng thu nhập là vấn đề lớn của xã
hội, liên quan đến nhiều lĩnh vực nên giải quyết bất
bình đẳng và hạn chế những mặt trái của nó không
chỉ dựa vào chính sách kinh tế mà cần đồng thời chú
ý đến chính sách xã hội.
5.4. Tái phân phối thông qua chính sách thuế
và phúc lợi xã hội
Nghiên cứu đã cho thấy thuế và phúc lợi đã làm
giảm bất bình đẳng thu nhập đáng kể trong tất cả
các quốc gia - khoảng 1/37 (OECD, 2008). Kinh
nghiệm này là những gợi mở có thể vận dụng cho
trường hợp vùng ĐNB, cũng như Việt Nam trong
bối cảnh hiện nay, khi mà tỷ trọng và xu hướng lao
động hưởng lương ngày một gia tăng. Điểm cần lưu
ý, vấn đề này cần được diễn giải cẩn thận, vì phân
phối thu nhập trước thuế là kết quả của sự lựa chọn
duy lý rằng mình phải chịu thuế và nhận được phúc
lợi. Hoặc nói cách khác, việc phân phối thu nhập
trước thuế có thể khác thu nhập thực tế nếu không
có thuế hay phúc lợi. Điểm cần bàn hơn, khi nghiên
cứu các ước tính này bất bình đẳng không chỉ giảm
xuống bởi tái phân phối giữa các cá nhân tại một
thời gian ấn định mà còn đạt được tái phân phối trên
bình diện cuộc đời. Thực tế, lương hưu có khả năng
giảm chênh lệch bất bình đẳng thông qua cho phép
tái phân phối thu nhập liên thế hệ trong quốc gia đó.
5.2. Tăng trưởng kinh tế và bền vững xã hội
Tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và bền
vững xã hội luôn có mối quan hệ, tác động, chi phối
lẫn nhau. Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa có
thể có những tác động quan trọng đối với phân bổ
thu nhập. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra,
tăng trưởng là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để nâng
cao mức sống dân cư. Là vùng kinh tế năng động
và phát triển nhất Việt Nam, để giúp phát triển kinh
tế nhanh nhưng đảm bảo bền vững xã hội, chính
quyền địa phương vùng ĐNB có thể nghiên cứu và
vận dụng mô hình phát triển kết hợp: tăng trưởng và
công bằng giải quyết đồng thời5. Theo đó, các chính
sách có thể tham khảo và vận dụng linh hoạt tùy
theo tình hình và điều kiện địa phương: (1) chính
sách tăng trưởng nhanh, (2) chính sách lựa chọn các
ngành tăng trưởng nhanh nhưng không gây bất bình
đẳng, (3) chính sách xã hội, giải quyết ngay từ đầu
vấn đề nghèo đói, bất bình đẳng, anh sinh xã hội và
phúc lợi xã hội đối với người nghèo, người dân sinh
sống khu vực nông thôn.
6. Kết luận
Trong vòng 10 năm qua, Việt Nam đã duy trì tốc
độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng so với nhiều
quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Thành quả
kinh tế đã làm thay đổi và nâng cao mức thu nhập
đối với hầu hết mọi người dân. Ở vùng ĐNB, động
thái và hiện trạng mức độ cải thiện, bất bình đẳng
thu nhập giữa đô thị và nông thôn; giữa người giàu
và người nghèo; giữa lao động hưởng lượng và lao
động tự trả lương là khác nhau. Mặc dù, bất bình
đẳng thu nhập có xu hướng thu hẹp dần ở khu vực đô
thị, vùng kinh tế phát triển, ngược lại đang gia tăng ở
nông thôn, vùng kém phát triển, cao nguyên và miền
núi. Thành quả tăng trưởng kinh tế và phát triển xã
hội nhìn chung đều đến với mọi thành phần, giai tầng
xã hội, tuy nhiên bất bình đẳng thu nhập giữa người
giàu và nghèo; giữa đô thị và nông thôn; giữa các
vùng vẫn còn, sự khác biệt về mức độ vẫn còn đáng
kể. Động thái này làm gia tăng và phân hóa sâu rộng
sự phân tầng xã hội, cản trở phát triển bền vững đất
nước. Do vậy, đòi hỏi Chính phủ cần có những chính
sách, giải pháp hiệu quả và quyết liệt hơn để chia
sẻ thịnh vượng, hướng tới một tương lai công bằng,
bình đẳng hơn cho tất cả mọi người.
5.3. Vai trò của Nhà nước trong việc điều phối,
kiểm soát bất bình đẳng xã hội
Có hai quan điểm trái chiều, Chỉ số cam kết giảm
bất bình đẳng (CRI) cho thấy các Chính phủ đang
bị phân hóa thành hai nhóm: giải quyết hay thúc
đẩy gia tăng bất bình đẳng (OXFAM, 2018, tr.3).
Bên cạnh đó, một khảo sát thực nghiệm của World
Values Survey6 trên 60 quốc gia chỉ ra rằng, những
người giàu hơn có xu hướng ít ủng hộ việc giảm bất
bình đẳng - tức là họ coi đó là một động lực quan
trọng, trong khi những người thu nhập thấp hơn ủng
hộ sự bình đẳng (Roser & Ospina, 2016). Kết quả
này phần nào cho thấy, có hai quan điểm thái độ trái
5. Các mô hình giải quyết mối quan hệ tăng trưởng và công
bằng: (1) Mô hình nhấn mạnh công bằng xã hội, (2) Mô
hình nhấn mạnh tăng trưởng, (3) Mô hình kết hợp (mô hình
1 và 2).
6. Thuộc WB.
7. Tương đương 0,15 điểm Gini.
40
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Tai lieu tham khao
Alesina, A., & Roberto, P. (1996). Income
Distribution, Political Instability and
Investment. European Economic Review,
40(6), 1203-1228.
Ha, N. T. (2013). Chinh sach viec lam: Thuc
trang va giai phap. http://vnclp.gov.vn/ct/
cms/tintuc/Lists/chinhsach/View_Detail.
aspx?ItemID=178, 27/5/2018.
Bo Ke hoach va Dau tu. (2015). Bao cao quoc
gia 15 nam mục tieu Thien nien ky. Ha Noi:
Nxb. Bo Ke hoach va Dau tu.
Hang, N. T. (2019). Thuc trang bat binh dang thu
nhap o Viet Nam giai đoan 2002-2018, https://
tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/mot-
so-yeu-to-anh-huong-den-bat-binh-dang-thu-
nhap-tai-viet-nam-315959.html, 1/7/2021.
Cornia, G. A., & Court, J. (2001). Inequality,
Growth and Poverty in the Era of Liberlization
and Globalization. Helsinki, Finland: World
Institute for Development Economics
Research, United Nations University.
Hung, N. T. T. (2020). Bat binh dang thu nhap
o Viet Nam hien nay: Thuc trang va khuyen
nghi. Tap chi Cong thuong, (10).
Demombynes, G., & Berk, O. (2005). Crime
and local inequality in South Africa, Journal
of Development Economics, 76(2), 265-292.
OECD. (2008). Growing Unequal? Income
Distribution and Poverty in OECD
org/10.1787/9789264044197-en, 16/7/2021.
Giai, N. Q. (2016). So sanh chi so phat trien
giua Viet Nam va Indonesia giai doan hien
nay. Trong Ky yeu Hoi thao quoc te: “Hoi
nhap thi truong ASEAN: Tang truong ben
vung va nhung van de xuyen van hoa”.
OXFAM (2018). Chuyen bat binh dang. So 02.
To chuc OXFAM tai Viet Nam, https://www.
vietnam.oxfam.org, 16/7/2021.
Phong, N. M. (2015). Tinh hai mat cua bat
binh dang ve thu nhap o Viet Nam. https://
nhandan.vn/nhan-dinh/tinh-hai-mat-cua-bat-
binh-dang-ve-thu-nhap-o-viet-nam-249322,
3/7/2021.
Giai, N. Q. (2018). Dac diem lao dong Viet Nam
hien nay. Tap chi Khoa hoc Truong Dai học
Can Tho, 54(9C), 144-154.
Giai, N. Q. (2019). Mot so van de ve nguon nhan
luc cua nuoc ta duoi goc nhin giao duc va dao
tao. Tap chi Nghien cuu Dan toc, 8(3), 28-35.
Roser, M., & Ospina, E. (2016). Income
Inequality.
income-inequality, 16/7/2021.
Giai, N. Q., & cong su. (2020). Mot so van de ve
niem tin xa hoi trong nen kinh te thi truong
hien nay. Tap chi Day va Hoc ngay nay, (2),
49-52.
Son, N. H., & Tien, N. Q. (2014). Nang cao muc
song dan cu trong tien trinh cong nghiep hoa,
hien dai hoa o Viet Nam: Thanh tuu va nhung
thach thuc dat ra. Tap chi Khoa hoc Dai học
Quoc gia Ha Noi, 30(1).
GSO. (2008-2020). Dieu tra muc song ho gia
dinh Viet Nam 2008, 2010, 2012, 2014,
2016, 2018, 2020. Ha Noi: Nxb. Thong ke.
United Kingdom. (2015). State of the Nation
2015: Social Mobility and Child Poverty
in Great Britain. https://www.gov.uk/
government/publications/state-of-the-
nation-2015, 16/7/2021.
GSO. (2019). Ket qua Tong dieu tra dan so va
nha o (1/4/2019). Ha Noi: Nxb. Thong ke.
GSO. (2021). Xu huong bat binh dang trong
phan phoi thu nhap o Viet Nam giai doan
2016-2020. https://www.gso.gov.vn/du-lieu-
va-so-lieu-thong-ke/2021/06/xu-huong-bat-
binh-dang-trong-phan-phoi-thu-nhap-o-viet-
nam-giai-doan-2016-2020/, 5/7/2021.
WB. (2014). Diem lai cap nhat tinh hinh phat
trien kinh te Viet Nam. Ha Noi: Nxb. WB tai
Viet Nam.
WB. (2015). Nha o gia hop ly o Viet Nam con duong
phia truoc. Ha Noi: Nxb. WB tai Viet Nam.
Volume 10, Issue 3
41
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
THU NHẬP Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
GIAI ĐOẠN 2010-2020
Nguyễn Quang Giải
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 16/7/2021
Ngày phản biện: 20/8/2021
Ngày tác giả sửa: 07/9/2021
Ngày duyệt đăng: 20/9/2021
Ngày phát hành: 30/9/2021
ựa vào bộ dữ liệu kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2010-2020 (Vietnam Household
D
Living Standard Survey: VHLSS) của Tổng cục Thống kê (GSO), bài viết trình bày các bằng
chứng thực nghiệm về bất bình đẳng thu nhập của cư dân ở vùng Đông Nam Bộ diễn ra trong một thập
niên vừa qua (giai đoạn từ năm 2010-2020) giữa người giàu - người nghèo; khu vực đô thị - nông thôn và
mức độ bất bình đẳng giữa vùng Đông Nam Bộ so với một số vùng Việt Nam. Đồng thời, bài viết cũng
trình bày và thảo luận các yếu tố chi phối bất bình đẳng thu nhập và khả năng giải quyết vấn đề trên thông
qua hệ thống chính sách. Hệ số giãn cách thu nhập, hệ số Gini và tiêu chuẩn 40WB được đặc biệt sử dụng
trong bài viết này.
Từ khóa: Bất bình đẳng thu nhập; Dịch chuyển xã hội; Vùng Đông Nam Bộ; Kinh tế; Thu nhập.
42
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
Bạn đang xem tài liệu "Income in the southeast region in the period of 2010-2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
income_in_the_southeast_region_in_the_period_of_2010_2020.pdf

