Thực trạng kiểm soát xã hội về an toàn thực phẩm ở Việt Nam
96
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT XÃ HỘI
VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM*
Lê Thị Đan Dung, Nguyễn Ngọc Trung, La Ngọc Tuấn
Viện Nghiên cứu con người, Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa
Tóm tắt: Kiểm soát xã hội về an toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc đảm
bảo an toàn thực phẩm cho mọi người trong xã hội. Kiểm soát xã hội bao gồm hai hình
trị của một cá nhân về một vấn đề nào đó và kiểm soát chính thức thông qua hệ thống luật
pháp của nhà nước. Dựa trên kết quả khảo sát bằng bảng hỏi với 3172 người dân tại 7
tỉnh/thành phố là Hà Nội, Cà Mau, An Giang, Bình Dương, Đắc Lắc, Thanh Hóa và Nam
Định cho thấy người có thu nhập càng cao thì lại có tỷ lệ phản ứng càng thấp với các hành
vi vi phạm an toàn thực phẩm. Một số người dân không biết phản ánh việc vi phạm ATTP
cho ai. Điều này đặt ra vấn đề đối với công tác tuyên truyền cho người dân để người dân
có thể truy cập thông tin về ATTP một cách dễ dàng.
Từ khóa: An toàn thực phẩm, kiểm soát xã hội, luật pháp về an toàn thực phẩm, chuẩn
mực về an toàn thực phẩm.
Nhận bài ngày 28.9.2020; gửi phản biện, chỉnh sửa và duyệt đăng ngày 26.10.2020
Liên hệ tác giả: Lê Thị Đan Dung; Email: ldandung@gmail.com
1. MỞ ĐẦU
An toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Được tiếp cận với thực
phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người. Thực phẩm an toàn đóng
góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống
nòi. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp
tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng
chi phí cho chăm sóc sức khoẻ. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường
xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế,
thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Đảm bảo an toàn thực phẩm góp phần quan trọng thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế.
* Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước Dư luận xã hội đối với vấn đề an toàn thực phẩm ở
Việt Nam hiện nay. Mã số KX.01.40/16-20
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020
97
Kiểm soát xã hội được hiểu là các quy tắc và tiêu chuẩn nhất định trong xã hội khiến
các cá nhân bị ràng buộc với các tiêu chuẩn thông thường cũng như việc sử dụng các cơ chế
chính thức để kiểm soát một vấn đề nào đó trong xã hội (Ross, 2009). Như vậy, kiểm soát
xã hội bao gồm hai hình thức chính là (i) Phương tiện kiểm soát không chính thức -
biện pháp kiểm soát xã hội chính thức - Các biện pháp trừng phạt từ bên ngoài được thi hành
bởi chính phủ nhằm ngăn chặn sự hỗn loạn. Trong nghiên cứu này thực trạng kiểm soát xã
hội về an toàn thực phẩm do vậy cũng được phân tích ở hai hình thức là các chuẩn mực, giá
trị của cá nhân về an toàn thực phẩm và các quy định, luật pháp về an toàn thực phẩm.
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh 7 tỉnh là Hà Nội, Cà Mau, An Giang, Bình Dương,
Đắk Lắk, Thanh Hóa và Nam Định. Việc phân tích dựa trên kết quả khảo sát bằng bảng hỏi
với 3172 và các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với người dân ở 7 tỉnh thành phố nói trên.
Bảng 1: Khái quát đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ (%)
Tuổi
Dưới 35 tuổi
35- 55 tuổi
55 tuổi trở lên
Không đi học
Tiểu học
26,2
46,1
27,7
4,9
Trình độ học vấn
8,5
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung cấp/Cao đẳng
Đại học/Trên đại học
Nam
20,7
20,9
20,8
24,2
38,5
61,5
Giới tính
Nữ
2. NỘI DUNG
2.1. Các chuẩn mực giá trị của cá nhân về an toàn thực phẩm
Khi được hỏi về phản ứng đối với những hành vi, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
kết quả khảo sát cho thấy có 88,2% cho rằng họ sẽ phản ứng nếu có những hành vi vi phạm
vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này cho thấy vấn đề an toàn thực phẩm đã thật sự là mối
quan tâm của mọi người. Tuy vậy, có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về phản ứng của
người dân đối với hành vi, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm theo nhóm tuổi, nghề nghiệp,
trình độ học vấn và mức thu nhập. Xét về nhóm tuổi, mặc dù tỷ lệ có phản ứng với những
hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm là khá cao ở tất cả các nhóm tuổi (trên 80%),
nhưng nhóm trung niên là nhóm có tỷ lệ trả lời là họ sẽ có phản ứng khi gặp những hành vi
vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm cao nhất, tiếp đó là nhóm thanh niên và cuối cùng là
nhóm cao tuổi (tỷ lệ lần lượt là 90,3%, 88,2% và 84,6%, mức ý nghĩa thống kê p<0,001). Về
tình trạng hôn nhân, nhóm ly thân và góa là hai nhóm có tỷ lệ phản ứng với hành vi, vi phạm
vệ sinh an toàn thực phẩm thấp nhất, với tỷ lệ lần lượt là 70% và 80,3%. Trong khi đó nhóm
98
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
có vợ/chồng là nhóm có tỷ lệ phản ứng với hành vi, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm cao
nhất (89,3%). Điều này có thể là do đối với những người có vợ/chồng họ hay phải quan tâm
tới bữa ăn hàng ngày của cả gia đình (bao gồm trẻ nhỏ) nhiều hơn hai nhóm góa và ly hôn.
Một điều đáng lưu ý là tỷ lệ người dân ở nông thôn có phản ứng với hành vi vi phạm vệ sinh
an toàn thực phẩm cao hơn ở thành thị (Bảng 1). Tuy tỷ lệ chênh nhau giữa nông thôn và
thành thị là không cao (chỉ 7,3%) nhưng đây là điều cần phải tìm hiểu thêm là do nhận thức
hay là ý thức của người dân về vấn đề này.
Bảng 2: Tỷ lệ người dân có phản ứng với hành vi, vi phạm vệ sinh an toàn thực
phẩm theo nơi ở, nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân
Tỷ lệ (%)
Nơi ở***
Thành thị
Nông thôn
Dưới 35 tuổi
35- 55 tuổi
55 tuổi trở lên
Chưa vợ/chồng
Có vợ/chồng
Góa
85,0
92,3
88,2
90,3
84,6
86,0
89,3
80,3
82,9
70,0
Nhóm tuổi***
Tình trạng hôn nhân**
Ly hôn
Ly thân
Ghi chú mức nghĩa thống kê ***p<0,001; **p<0,01
Về trình độ học vấn, nhóm có trình độ đại học, trên đại học là nhóm có tỷ lệ phản ứng
cao nhất (91,2%) tiếp đến là nhóm trung học cơ sở (90,5%). Điều đáng lưu ý là tỷ lệ có phản
ứng với hành vi vi phạm an toàn thực phẩm ở nhóm có trình độ học vấn tiểu học lại cao hơn
so với cả nhóm trung học phổ thông và trung cấp/cao đẳng (tỷ lệ lần lượt là 89,3%, 87,8 và
86,1; mức ý nghĩa thống kê p<0,001), (Hình 1).
Hình 1: Tỷ lệ người dân có phản ứng với hành vi, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
theo trình độ học vấn cao nhất đạt được (%)
91.2
90.5
100
80
60
40
20
0
89.3
87.8
86.1
71.5
Không đi học
Tiểu học
Trung học cơ Trung học phổ Trung cấp/cao Đại học, trên đại
sở
thông
đẳng
học
Một điều đáng ngạc nhiên là người có thu nhập càng cao thì lại có tỷ lệ phản ứng càng
thấp với các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm. Đây là một điều đáng suy ngẫm vì đáng lẽ
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020
99
ra theo suy luận thì những người có thu nhập càng cao thì họ càng quan tâm hơn tới chất
lượng thực phẩm và do vậy khi gặp phải những hành vi vi phạm an toàn thực phẩm họ sẽ có
phản ứng.
Hình 2: Tỷ lệ người có phản ứng với hành vi vi phạm an toàn thực phẩm chia theo
nhóm thu nhập
92
89.8
89.3
90
88.1
86.9
88
86
84
82
80
78
76
84.8
81.7
Dưới 1 triệu
Từ 1- dưới 3
Từ 3- dưới 5
Từ 5 -dưới 7
Từ 7- dưới 9 Từ 9 triệu trở lên
triệu
triệu
triệu
triệu
Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với người dân cho thấy sự đa dạng trong phản
ứng của người dân đối với hành vi vi phạm an toàn thực phẩm: báo với cơ quan chức năng,
tránh không mua thực phẩm của cơ sở đó nữa, hay đơn giản là chỉ cảm thấy buồn (Hộp 1).
Hộp 1: Khi phát hiện ra hành vi vi phạm an toàn thực phẩm, ông/bà có phản ứng như thế nào?
"Gọi điện ngay đến hội Bảo vệ người tiêu dùng phản ánh để họ đến kiểm tra, hoặc tôi báo
với chính quyền hoặc nói với những người xung quanh để họ tẩy chay không dùng hàng
đấy nữa" (Nam, 50 tuổi, Đắk Lắk)
"Tránh không sử dụng tực phẩm ấy nữa và thông báo cho người thân quen, đồng nghiệp
cùng biết" (Nữ, 52 tuổi, Thanh Hóa)
"Hành vi vi phạm an toàn thực phẩm là hành vi xấu cần đấu tranh, loại bỏ. Nếu phát hiện
ra hành vi vi phạm thì chúng tôi phải đấu tranh để loại bỏ và báo cáo kịp thời cơ quan
chức năng để xử lý" (Nam, 40 tuổi, Bình Dương)
"Tôi cảm thấy buồn và lo lắng cho chính gia đình mình và cộng đồng" (Nam, 46 tuổi,
Thanh Hóa)
"Mình sẽ không mua các sản phẩm này nữa" (Nữ, 34 tuổi, An Giang)
Đối với những người không có phản ứng với hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm thì
lý do nhiều người đưa ra nhất là không biết phản ánh cho ai (22%). Rõ ràng điều này đang
cho thấy một thực tế là việc tuyên truyền, truyền thông về vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn
chưa hiệu quả đồng thời phản ánh niềm tin của người dân vào công tác kiểm soát và xử lý
vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay cơ quan nhà nước đã có đường dây nóng để người dân
phản ánh, báo cáo các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm. Tuy vậy, một thực tế cho thấy từ
khi thành lập đường dây nóng về ATTP mỗi ngày đều tiếp nhận từ 15- 20 cuộc điện thoại
100
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
báo về các hành vi vi phạm ATTP. Tuy nhiên số điện thoại đường dây nóng chưa thực sự
được phổ biến để mọi người ai cũng có thể biết. Kết quả khảo sát của nghiên cứu cũng cho
thấy cho thấy có 13,8% người không biết cơ quan nào có chức năng xử lý các hành vi vi
phạm an toàn thực phẩm. Trong số những người biết cơ quan nào có chức năng xử lý các
hành vi vi phạm an toàn thực phẩm, 48,6% chọn Sở Y tế, 10,3% chon Sở Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, 12,8 chọn Sở công thương, 13,8 chọn Công an và 0,6 chọn khác.
Hình 3: Cơ quan nào có chức năng xử lý các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm
13.8
0.6
13.8
48.6
12.8
10.3
Sở Y tế
Sở NN và PTNT
Sở Công Thương
Công an
Khác
Không biết
Lý do tiếp theo gây trở ngại cho việc người dân không có phản ứng gì đối với các hành
vi vi phạm VSATTP là ngại va chạm (21,8%) và có phản ứng cũng không giải quyết được
gì (15,9%). Đây là một điều hết sức nghiêm trọng nếu như việc xử lý các hành vi vi phạm
VSATTP không nghiêm thì sẽ làm mất lòng tin xã hội nhất là đối với những người dám đứng
ra tố giác. Khi được hỏi về các hành động đối với hành vi vi phạm an toàn thực phẩm, trung
bình 1 người có hơn 3 hành động nếu như họ gặp phải hành vi vi phạm an toàn thực phẩm.
Trong đó, 3 hành động có tỷ lệ người trả lời cao nhất là "không sử dụng thực phẩm của
những cơ sở vi phạm" (22%), "phản ánh với các cơ quan chức năng" (17,2%) và "chia sẻ với
người thân để biết" (17,1%).
Bảng 3: Hành động đối với các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm
Tần suất
1981
1097
1551
986
Tỷ lệ
22,0%
12,2%
17,2%
11,0%
11,6%
17,1%
8,5%
Không sử dụng thực phẩm của những cơ sở vi phạm
Góp ý ngay với các cơ sở vi phạm
Phản ánh với các cơ quan chức năng
Chia sẻ thông tin lên mạng để mọi người biết
Chia sẻ với người thân để biết
Kêu gọi mọi người tẩy chay sản phẩm
Khác
1044
1541
761
Tổng
9001
100%
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020
101
Những phản ứng này của người tiêu dùng thể hiện trách nhiệm của họ đối với không chỉ
chính người tiêu dùng mà còn đối với xã hội. Thêm vào đó cơ chế thưởng cho các hành động
tố giác các cơ sở thực phẩm bẩn hiện nay chưa thực sự kích lệ cho người tiêu dùng, mới đây
Thanh tra Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã qui định sẽ thưởng từ 1 -50 triệu đồng
cho bất cứ ai báo tin có giá trị về thực phẩm bẩn tùy vào mức độ vi phạm. Tuy nhiên để xác
định được cơ sở sản xuất bẩn và vi phạm ở mức độ nào cũng là một vấn đề cần quan tâm. Mặt
khác người tiêu dùng ở nước ta chưa thật sự được bảo vệ bởi các tổ chức hoặc thậm chí cả
pháp luật. Từ trước tới nay có rất ít các vụ kiện của người tiêu dùng đối với các cơ sở sản xuất
do vậy người tiêu dùng báo với các cơ quan chức năng và các hội đoàn là một hành vi thể hiện
ý thức của người tiêu dùng trong xã hội. Bên cạnh đó pháp luật hiện nay vẫn chưa có cơ chế
thưởng đối với những người báo các tin vi phạm cho các cơ quan chức năng để xử lý
2.2. Các quy định, luật pháp về an toàn thực phẩm
Kiểm soát xã hội về ATTP bao gồm các chuẩn mực, chế tài về ATTP. Kiểm soát về
ATTP thông qua các cơ quan thực thi pháp luật là việc sử dụng các quy định, luật ATTP để
xử phạt những hành vi vi phạm VSATTP. Một trong những nguyên lý, đã được khẳng định
là quốc gia chẳng thể tồn tại thiếu pháp luật và luật pháp không thể phát huy hiệu lực của
mình nếu không có sức mạnh của bộ máy quốc gia. Trong tổ chức và quản lý kinh tế, pháp
luật lại càng có vai trò lớn. Bởi chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của quốc gia có phạm
vi rộng và phức tạp, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ mà nhà nước cần xác lập,
điều hành và kiểm soát như hoạch định chính sách kinh tế, xác định chỉ tiêu kế hoạch, quy
định các chế độ tài chính, tiền tệ, giá, chất lượng sản phẩm của các loại hàng hóa. Trong
nghiên cứu này, các quy định luật pháp về an toàn thực phẩm được xem xét ở 2 khía cạnh
chính là (i) mức độ đầy đủ của các quy định, luật pháp về vệ sinh an toàn thực phẩm; (ii)
việc xử phạt và mức độ các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm
Mức độ đầy đủ của các quy định, luật pháp về vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo báo cáo
kết quả giám sát của Đoàn giám sát, trong giai đoạn 2011-2016 hệ thống pháp luật an toàn
thực phẩm của Việt Nam đã có 158 văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước trung
ương ban hành. Các địa phương đã ban hành hơn 1250 văn bản quy phạm pháp luật nhằm
chỉ đạo, điều hành công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn. Cùng với luật an toàn
thực phẩm, nhiều văn bản pháp luật khác cũng được sửa đổi, bổ sung ban hành mới như Hiến
pháp, Luật thú y, Luật bảo vệ thực vật, Luật bảo vệ môi trường, Luật ngân sách nhà nước,
Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo nên một
hành lang pháp lý tương đối thuận lợi cho công tác quản lý an toàn thực phẩm1. Khi được
hỏi mức độ đầy đủ các quy định về an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay theo 4 mức là rất
đầy đủ, đẩu đù, chưa đầy đủ, kết quả khảo sát cho thấy nhìn chung người dân đánh giá không
thật tích cực về mức độ đầy đủ của các quy định về an toàn thực phẩm. Theo đó, tỷ lệ đánh
1 Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về ATTP tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016 của Quốc
Hội năm 2017
102
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
giá mức đầy đủ trở lên chiếm 51,8%, và 40,2% người dân đánh giá là các quy định hiện nay
là chưa đầy đủ
Hình 4: Tỷ lệ đánh giá các quy định về an toàn thực phẩm hiện nay
7.9
16.7
40.2
35.1
Rất đầy đủ
Đầy đủ
Chưa đầy đủ
Không biết
Sự đánh giá về mức độ đầy đủ của các quy định không có sự khác biệt về giới cũng như
nông thôn và thành thị tuy vậy có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, nhóm học vấn và các
tình/thành phố khi nhận xét về mức độ đầy đủ của các quy định về an toàn thực phẩm ở nước
ta hiện nay. Xét về nhóm tuổi, những người cao tuổi (từ 55 tuổi trở lên) có mức độ đánh giá
tích cực hơn so với nhóm trẻ tuổi và trung tuổi. Theo đó, tỷ lệ người từ 55 tuổi trở lên đánh
giá mức độ từ đầy đủ trở lên đạt 57,3% so với nhóm trung tuổi là 50,2% và nhóm thanh niên
là 49,1%.
Bảng 4: Tỷ lệ đánh giá các quy định về an toàn thực phẩm hiện nay theo nhóm tuổi,
trình độ học vấn và tỉnh/thành phố
Rất đầy
đủ
Đầy đủ Chưa đầy Không
đủ
biết
8,7
Nhóm tuổi*
Học vấn***
Dưới 35 tuổi
35- 55 tuổi
55 tuổi trở lên
Không đi học
Tiểu học
15,4
16,5
18,5
14,6
22,2
21,1
17,5
12,5
14,8
7,9
9,8
9,1
12,3
26,1
28,8
32,0
33,7
33,7
38,8
26,5
33,3
38,3
32,9
39,2
32,6
35,5
29,0
34,2
37,5
31,5
35,3
45,6
42,3
42,3
34,8
33,8
31,7
30,9
42,5
42,4
49,0
54,2
49,6
48,3
39,2
38,6
19,9
18,9
7,6
7,8
25,2
12,8
9,7
7,1
5,8
3,6
2,4
11,5
8,4
11,0
3,9
16,0
3,5
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung cấp, cao đẳng
Đại học, trên đại học
Hà Nội
Tỉnh/Thành
phố***
Đắk Lắk
Thanh Hóa
Bình Dương
An Giang
Cà Mau
Nam Định
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020
Ghi chú mức nghĩa thống kê ***p<0,001; **p<0,01; *p<0,05
103
Xét về trình độ học vấn, những người có học vấn càng cao thì có cái nhìn ít tích cực về
mức độ đầy đủ của các quy định về an toàn thực phẩm. Theo đó tỷ lệ đánh giá các quy định
về an toàn thực phẩm là chưa đầy đủ ở nhóm đại học/trên đại học ở mức cao nhất (49%),
tiếp đó là nhóm trung cấp cao đẳng (42,4%) và trung học phổ thông (42,5%). Trong khi đó
tỷ lệ này ở các nhóm không đi học, tiểu học, trung học cơ sở lần lượt chỉ là 33,8%, 31,7%
và 30,9%. Xét theo tỉnh/thành phố, Hà Nội là nơi có tỷ lệ người đánh giá các quy định về an
toàn thực phẩm không đầy đủ ở mức cao nhất (54,2%). Đây cũng là thành phố có tỷ lệ người
bị ngộ độc thực phẩm nằm trong số những tỉnh có người bị ngộ độc cao nhất cả nước với
257 người vào năm 2018 (Bộ Y tế, 2018).
Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng cho thấy nhìn chung người dân đều cho
rằng những quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam chưa tốt, chưa chặt chẽ,
không đủ sức răn đe:
"Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam chưa tốt, mức xử phạt chưa cao,
chưa có tính răn đe chỉ giải quyết được đằng ngọn. Phải tuyên truyền, nhắc nhở người trồng
trọ và chăn nuôi không vì lợi nhuận mà làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Đối với
những người buôn bán thực phẩm thì cần phải tìm xem nguồn gốc mình lấy hàng có đảm
bảo không thì mới lấy để bán cho người dùng. Cần phải xử phạt thật nặng những người buôn
bán thực phẩm không an toàn, chứ không phải là làm cho qua như hiện nay là không ổn"
(PVS, Nam, 50 tuổi, Đắk Lắk)
"Nước ta hiện nay đã có quy định về an toàn thực phẩm, có văn bản thực hiện nhưng
chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng người dân nuôi trồng không an toàn" (PVS, Nữ 42 tuổi,
Thanh Hóa)
"Các quy định còn mang tính tượng trưng, không có những quy chế cụ thể để giúp quá
trình thực thi đảm bảo minh bạch và rõ ràng để giúp người giám sát và thực thi hiểu rõ"
(Nam, 49 tuổi, Nam Định)
Việc xử phạt và mức độ xử phạt các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm
Đánh giá về việc xử phạt các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm hiện nay ở địa phương,
đa số người trả lời (56,4%) cho rằng việc xử phạt các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm là
chưa nghiêm (Hình 5)
Luật ATTP đã có từ năm 2010 nhưng hiện nay theo đánh giá của người tiêu dùng
còn nhiều bất cập. Chế tài xử phạt của luật ATTP còn nhẹ không đủ sức răn đe. Ví dụ như
mức xử phạt cho hành vi vận chuyển, kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ
chỉ có 2 triệu đồng là quá nhẹ và chưa đủ sức răn đe. Việc kinh doanh thực phẩm bẩn mang
lại lợi nhuận rất cao cho nên các đối tượng vi phạm sẵn sàng bỏ 2 triệu để nộp phạt sau đó
lại tái phạm tiếp. Để ngăn chặn quyết liệt, hiệu quả đối với các hành vi mua/ bán thực phẩm
nhiễm bẩn, không rõ nguồn gốc thì lực lượng chức năng cần phải thực hiện xử lý quyết liệt
các biện pháp đấu tranh kiểm tra xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm, nhất là các
104
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
hành vi vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm để giảm bớt tình trạng này. Do vậy số lượng
người đánh giá quá trình thực thi luật ATTP hiện nay về cơ bản là chưa tốt và do đó cần thiết
phải kiểm soát một cách mạnh mẽ hơn nữa về ATTP.
Hình 5: Đánh gía về việc xử phạt các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm hiện nay
1.5
9.5
32.6
54.6
Nghiêm
Chưa nghiêm
Khác
Không biết
Về mức độ xử phạt, 48,6% người trả lời cho rằng mức độ xử phạt đối với các hành vi vi
phạm an toàn thực phẩm hiện nay là bình thường, 14,6% đánh giá khá cao và 26,7% đánh
giá là khá thấp. Kết quả này cũng tương đồng với những phỏng vấn sâu của người dân.
"Các mức phạt về vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay chưa đủ tính răn đe" (Nam, 37
tuổi, Thanh Hóa)
“Mức xử phạt chư cao, chưa có tính răn đe. Chỉ giải quyết đằng ngọn, sau khi sự việc
xảy ra rồi mới đi xử lý mà có xử lý cũng chỉ là hình thức chứ chưa phản ánh được mức độ
nguy hiểm về vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm” (Nữ, 56 tuổi, Đắk Lắk)
3. KẾT LUẬN
Kết quả phân tích cho thấy vấn đề an toàn thực phẩm đã thật sự là mối quan tâm của
mọi người phản ứng qua chỉ số là họ sẽ phản ứng nếu có những hành vi vi phạm vệ sinh an
toàn thực phẩm. Tuy vậy, một điều đáng ngạc nhiên là người có thu nhập càng cao thì lại có
tỷ lệ phản ứng càng thấp với các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm. Đây là một điều đáng
suy ngẫm vì đáng lẽ ra theo suy luận thì những người có thu nhập càng cao thì họ càng quan
tâm hơn tới chất lượng thực phẩm và do vậy khi gặp phải những hành vi vi phạm an toàn
thực phẩm họ sẽ có phản ứng. Tuy người dân có thái độ mạnh mẽ đối với hành vi vi phạm
ATTP, một bộ phận không nhỏ người dân không tin tưởng vào tính nghiêm minh của việc
xử phạt vi phạm ATTP và một số người thì không biết phản ánh việc vi phạm ATTP cho ai.
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 45/2020
105
Điều này đặt ra vấn đề tuyên truyền, giáo dục cho người dân về vấn đề ATTP. Người dân
cũng đánh giá không tích cực về mức độ đầy đủ của các quy định về an toàn thực phẩm.
Những quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam chưa tốt, chưa chặt chẽ, không
đủ sức răn đe.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ y tế (2011) Chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011- 2020 và tầm nhìn 2030.
2. Bộ Y Tế (2018) Niên giám thống kê y tế 2018
3. Lindzey, Gardner (Ed), (1954). ':/Handbook of social psychology. I. Theory and method. II.
Special fields and applications (2 vols), (pp. II, 655–692). Oxford, England: Addison-Wesley
Publishing Co., xx, 1226 pp.
New Jersey: Transaction Publishers.
CURRENT SITUATION OF SOCIAL CONTROL
ON FOOD SAFETY IN VIETNAM
Abstract: Social control on food safety plays an important role in ensuring food safety for
everyone in any society. Social control on food safety consists of two main forms: informal
control based on individual's values and formal control through the legal system. Analyzed
results from survey by questionnaires with 3172 people in 7 provinces/cities including
Hanoi, Ca Mau, An Giang, Binh Duong, Dac Lac, Thanh Hoa and Nam Dinh show that
the higher income individuals have the lower the rate of their responses to food safety
violations. Some people do not know where and how to report food safety violations. This
research raises a question for further studies about propaganda activities in the way that
each individual can easily access information about food safety.
Keywords: Food safety, social control, the law on food safety, food safety norms.
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng kiểm soát xã hội về an toàn thực phẩm ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_kiem_soat_xa_hoi_ve_an_toan_thuc_pham_o_viet_nam.pdf

