Tính kế thừa và phát triển các giá trị đạo đức Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Thu Thủy
TÍNH KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
NHO GIÁO, ĐẠO GIÁO, PHẬT GIÁO
TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
INHERITANCE AND DEVELOPMENT OF CONFUCIAN, TAOIST, BUDDHIST
ETHICAL VALUES IN HO CHI MINH'S MORAL THOUGHTS
NGUYỄN THỊ THU THỦY
TÓM TẮT: Trong toàn bộ di sản mà Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc ta, tư tưởng đạo đức chiếm vị
trí vô cùng quan trọng, là nguồn sức mạnh to lớn góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh, quy tụ những giá trị đạo đức tinh túy nhất của
nhân loại. Trong đó, các giá trị đạo đức Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc
đến tư tưởng, nhân cách đạo đức và lối sống của Hồ Chí Minh. Trong bài viết này, chúng tôi phân
tích để làm rõ tính kế thừa và phát triển sáng tạo các giá trị đạo đức Nho giáo, Đạo giáo và Phật
giáo của Hồ Chí Minh trong tư tưởng đạo đức của Người.
Từ khóa: đạo đức; Nho giáo; Đạo giáo; Phật giáo; tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
ABSTRACT: In the entire legacy that Ho Chi Minh left for our nation, his moral thoughts occupies
a very important position, they are a tremendous source of power contributing to the victory of the
Vietnam Revolution. Ho Chi Minh's moral thoughts are a crystallisation, gathering the most
essential values of morality of mankind. In it, Confucian, Taoist and Buddhist ethical values have a
profound influence on the thoughts, moral personality, and lifestyle of Ho Chi Minh. In this article,
we analyse in order to highlight the inheritance and creative development of Confucian, Taoist and
Buddhist ethical values of Ho Chi Minh in his moral thoughts.
Key words: morality; Confucianism; Taoism; Buddhism; Ho Chi Minh’s moral thoughts.
kế thừa và phát triển sáng tạo các tư tưởng đạo
đức ấy phù hợp với văn hóa, con người và thực
tiễn xã hội Việt Nam.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bằng trí tuệ uyên bác, lối tư duy sắc bén
và cách phân tích, đánh giá hết sức tài tình, Hồ
Chí Minh đã chắt lọc những hạt nhân hợp lý về
đạo đức của nhân loại, đặc biệt là các giá trị
đạo đức của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo để
hình thành nên tư tưởng đạo đức của Người.
Người viết, “Chỉ có những người cách mạng
chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết
quý báu của các đời trước để lại” [8, tr.357]. Vì
vậy, điểm nhấn ghi dấu ấn của Hồ Chí Minh
khi tiếp cận các giá trị đạo đức của Nho giáo,
Đạo giáo, Phật giáo thể hiện ở chỗ, Người đã
2. NỘI DUNG
2.1. Đạo đức học Nho giáo
Với tư cách là một học thuyết về đạo đức
và các mối quan hệ đạo đức cơ bản của xã hội,
Nho giáo được du nhập vào nước ta khoảng
đầu Công nguyên và có ảnh hưởng lớn đối với
Việt Nam. Trong quá trình phát triển của mình,
Nho giáo ở Việt Nam đã được bổ sung, phát
triển, mang những đặc điểm riêng cho phù hợp
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 - 2020
với văn hóa và nhu cầu phát triển của dân tộc
Việt Nam.
với vua, hết lòng hết sức vì vua; “hiếu” là hiếu
thảo với với cha mẹ, anh em trong gia đình phải
hòa thuận. Từ khái niệm “Trung”, “Hiếu” của
Nho giáo, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển
thành nội dung mới, mang tính cách mạng và
phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Bởi theo Người đạo đức cũ và đạo đức mới
khác nhau nhiều, vì vậy đạo trung, hiếu ngày
nay cũng cao rộng hơn, đó là trung với nước,
hiếu với dân. Trung với nước, hiếu với dân là
phẩm chất hàng đầu trong tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh. Đây cũng là một trong những phẩm
chất chung, cơ bản của con người Việt Nam -
cũng là một trong những chuẩn mực chung nhất
của nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng. So
với tư tưởng của Nho giáo thì trung trong tư
tưởng Hồ Chí Minh mang một nội hàm hoàn
toàn mới. Tư tưởng trung, hiếu trong tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong
phạm vi đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ.
Bởi nhân dân lao động là những người chủ của
đất nước, vậy nên trung với nước phải gắn liền
với hiếu với dân, mà cụ thể đó chính là trung
thành, tận tụy với nhân dân, vì nhân dân mà phục
vụ và hết sức hết lòng vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Nho giáo rất coi trọng giáo dục, đặc biệt là
giáo dục đạo đức, coi đức là gốc; đồng thời, đề
cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu
học với châm ngôn “Học không biết chán, dạy
không biết mỏi”; từ cải tạo con người đi đến cải
tạo xã hội. Tất cả những giá trị trên được Hồ
Chí Minh kế thừa, sử dụng một cách nhuần
nhuyễn trong tư duy và trong thực tiễn hoạt
động cách mạng của Người. Hồ Chí Minh coi
trọng việc “trồng người” nhằm để đào tạo ra
những công dân vừa có đức vừa có tài cho
nước nhà.
Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) sinh ra
và lớn lên trong một gia đình nhà Nho yêu
nước, lại được học với những người thầy nổi
tiếng như Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc
Quý, Trần Thân,… Vì vậy, những tư tưởng, lễ
nghi, đạo đức của Nho giáo được Người tiếp
cận và tiếp thu ngay từ khi còn nhỏ. Người đã
tiếp thu các giá trị tư tưởng của Nho giáo, đặc
biệt là tư tưởng đạo đức Nho giáo trên nền tảng
thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện
chứng mácxít. Nho giáo mà Hồ Chí Minh tiếp
thu chủ yếu thể hiện trong Tứ thư, Ngũ kinh -
Nho giáo thời Tiên Tần với các đại biểu xuất
sắc như Khổng Tử, Mạnh Tử. Tư tưởng đạo
đức của Nho giáo đã ảnh hưởng đến Hồ Chí
Minh một cách sâu sắc từ những phạm trù như
trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng, liêm…
đến phương pháp tư duy, triết lý sống và thực
hành đạo đức của Người. Đạo đức Nho giáo
thấm vào tư tưởng tình cảm của Hồ Chí Minh
không phải là những giáo điều “tam cương”,
“ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong
kiến, mà là tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu
thân”, sự ham học hỏi, đức “khiêm tốn”, tính
“hòa nhã”, cách đối nhân xử thế “có lý, có
tình”… Năm 1923, khi trả lời phỏng vấn của
nhà báo Liên Xô - Ôxíp Manđenxtam, Hồ Chí
Minh cho rằng “Tôi sinh ra trong một gia đình
nhà nho An Nam… Thanh niên trong những gia
đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc
biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là
một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và
phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta đưa ra
khái niệm về “thế giới đại đồng”” [5, tr.461].
Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc
những yếu tố tích cực của đạo đức Nho giáo,
đồng thời phê phán, loại bỏ yếu tố tiêu cực của
nó. Dưới chế độ xã hội phong kiến Trung ương
tập quyền, phạm trù “trung”, “hiếu” trong tư
tưởng đạo đức của Nho giáo với nghĩa hết sức
hạn hẹp, “Trung” là “trung quân”, tức là trung
Trong quan điểm của mình, Khổng Tử cho
rằng: “Mình phải chính tâm tu thân” nghĩa là
việc gì cũng phải làm kiểu mẫu và có như vậy
mới “trị quốc, bình thiên hạ” được. Trong đó,
Nho giáo lấy “tu thân” làm căn bản, lấy xây
dựng luân lý gia tộc làm nền tảng và khởi đầu
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Thu Thủy
cho việc xây dựng đạo đức xã hội. Nho giáo coi
việc tu thân là nhiệm vụ hàng đầu từ nhà vua
cho đến dân thường. Tu thân là tu sửa bản thân
mình cho ngay chính, cho phù hợp với đạo đức.
Vì vậy, “tu thân” trong đạo đức học Nho giáo
là tự trau dồi, tu dưỡng bản thân theo các chuẩn
mực như nhân, lễ, nghĩa, trí, trung, tín, hiếu, đễ,
thành, kính… nhằm góp phần hoàn thiện con
người về mặt đạo đức. Vì lẽ đó, nó đặt ra yêu
cầu và đòi hỏi khắt khe sự nỗ lực phấn đấu, sự
thành thật nhận lỗi và sửa lỗi của mỗi cá nhân,
đặc biệt là những bậc thánh nhân, người quân
tử, người cầm quyền.
tiêu cực mang tính duy tâm, lạc hậu như tử
tưởng phân biệt đẳng cấp, coi thường phụ nữ và
lao động chân tay,… trong xã hội. Khi du nhập
vào Việt Nam, “Người Việt vẫn từ chối tư
tưởng gia trưởng nặng nề, xem khinh phụ nữ
của người Hán” [1, tr.741]. Đối với Hồ Chí
Minh, Người luôn đề cao vai trò của phụ nữ và
xem đây là một trong những nhiệm vụ cao cả
của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa - giải
phóng phụ nữ. Bởi vì, phụ nữ là một nửa của xã
hội, “Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây
dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [10,
tr.300]. Quan điểm này là một bước tiến mang
tính cách mạng trong tư tưởng đạo đức của
Người khi xem trọng vai trò to lớn của phụ nữ
trong xã hội. Hồ Chí Minh nhắc nhở rằng,
những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn
thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các
tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng
thì cần đọc các tác phẩm của V.I.Lê-nin. Khi
nhận xét về học thuyết Khổng Tử, Hồ Chí
Minh cho rằng, “tuy Khổng Tử là phong
kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có
nhiều điều không đúng, song có những điều hay
trong đó thì chúng ta nên học” [8, tr.356].
Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng “tu
thân” của Nho giáo, Hồ Chí Minh cho rằng:
“Trị quốc bình thiên hạ đây chính là kháng
chiến đánh Pháp, kiến quốc xây dựng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ hòa bình thế giới. Muốn cải tạo xã
hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình
không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội.
Lòng mình còn tham ô, lãng phí, muốn cải tạo
xã hội làm sao được” [9, tr.113]. Hồ Chí Minh
đã nâng quan điểm tu thân của Nho giáo lên
tầm cao mới tạo nên bản chất của tu thân trong
việc rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên. Theo Hồ Chí Minh: “Muôn việc
thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt
hoặc kém” [7, tr.280]. Đạo đức và sự tu dưỡng
đạo đức là cái gốc, nền tảng của người cán bộ, do
đó, tu thân trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
chính là tu dưỡng đạo đức cá nhân. Và lẽ
đương nhiên, đối với cán bộ, đảng viên thì việc
rèn luyện đạo đức cách mạng là thiết yếu và
quan trọng để hoàn thành trọng trách vẻ vang
đối với nhân dân.
Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những
nhân tố tích cực của Nho giáo, vận dụng và phát
triển cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Lại
Quốc Khánh cho rằng, “Hồ Chí Minh khai thác
di sản tư tưởng Nho giáo trên nền tảng thế giới
quan, phương pháp luận duy vật biện chứng
mácxít” [4, tr.20]. Bằng bản lĩnh chính trị của
mình, Hồ Chí Minh đã khai thác di sản tư tưởng
đạo đức Nho giáo với phong cách tư duy độc
lập, tự chủ, sáng tạo và khoa học.
Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra những hạn
chế của đạo đức Nho giáo và tư tưởng của
Khổng Tử. Ra đời trong bối cảnh xã hội có
nhiều biến cố thăng trầm, vì vậy học thuyết đạo
đức Nho giáo mong muốn duy trì trật tự xã hội
và nhằm phụng sự quyền lợi cho giai cấp
phong kiến, nhưng lại đi ngược lại tiến bộ của
lịch sử và lợi ích của nhân dân. Những yếu tố
2.2. Đạo đức trong Đạo giáo
Lão Tử (khoảng thế kỷ thứ VI-V TCN) được
coi là ông tổ của Đạo giáo. Toàn bộ tư tưởng của
Lão Tử được trình bày một cách cô đọng trong
tác phẩm Đạo đức kinh với ba vấn đề cơ bản đó
là: tư tưởng về “đạo” (những vấn đề về bản thể
luận); tư tưởng về phép biện chứng; học thuyết
“vô vi” (những vấn đề về đạo đức, nhân sinh và
10
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 - 2020
chính trị - xã hội). Trong tư tưởng về “Đạo vô
vi”, mặc dù Lão Tử đề cao mặt tự nhiên của
con người, xem nhẹ và phủ nhận mặt xã hội
nhưng ở đây có thể thấy rằng: “Quan điểm “vô
vi” của Lão Tử vẫn biểu hiện sâu sắc nghệ thuật
sống, thái độ ứng xử của con người, phương pháp
trị nước của vua chúa hay bộ máy nhà nước, và
đây cũng chính là chỗ tập trung giá trị hệ thống
triết học của ông” [1, tr.293]. Vô vi là phương
pháp sống tự nhiên, sự mộc mạc, thuần phát,
không bị gò ép, là nghệ thuật sống của con
người trong sự hòa nhập với thiên nhiên. Lão
Tử cho rằng, đừng để cho cái ham muốn riêng
của mình chi phối, mà làm theo cái tự nhiên có
sẵn trong trời đất và trong lòng người thì chẳng
những không nhọc sức mà không cái gì không
làm được. Lão Tử nhấn mạnh, nếu ta vô vi thì
nhân dân tự nhiên ngay thẳng, không dục vọng.
Triết lý vô vi của Đạo giáo có ảnh hưởng
đến triết lý sống, phong cách và nhân cách đạo
đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách Hồ
Chí Minh chính là sự trải nghiệm, đúc kết
những kinh nghiệm suốt cuộc đời hoạt động
đầy cam go thử thách trong mọi hoàn cảnh. Đó
là phong cách ung dung, tự tại, là sự kết tinh
giữa cái tự nhiên, bình dị, gần gũi với cái vĩ
đại, lớn lao. Phong cách Hồ Chí Minh mang
tầm vóc đạo đức, văn hóa của một vị lãnh tụ,
song lại rất gần gũi với lối suy nghĩ, việc làm
hàng ngày của mỗi người.
cộng sản. Từ năm 1942 đến năm 1943, khi ở
trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Người đã
viết tác phẩm “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký
trong tù) với những câu thơ tứ tuyệt đầy cảm
xúc và suy tư. Dù bị giam cầm nhưng Người
vẫn giữ tâm hồn lạc quan, ung dung tự tại,
“thân thể ở trong lao” nhưng “tinh thần ở ngoài
lao”. Tâm hồn Người luôn luôn hướng về Tổ
quốc, về nhân dân với niềm tin sắt đá vào ngày
mai tươi sáng, luôn tin tưởng ngày trở về với
đồng chí, đồng bào.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước và trực
tiếp lãnh đạo cách mạng. Trong thời gian ở
chiến khu Việt Bắc thiếu thốn gian khổ đủ bề
nhưng Người vẫn giữ tinh thần lạc quan cách
mạng. Lối sống giản dị, tác phong cần kiệm đã
trở thành thói quen, thành nếp sống của Người.
Ngoài thời gian làm việc của mình, Người còn
tăng gia sản xuất, trồng rau, thực hiện tiết kiệm
như tất cả mọi người dân Việt Nam lúc bấy giờ.
Hồ Chí Minh là tấm gương về đạo đức và
tác phong gương mẫu, hy sinh vì lợi ích của
dân, lo cho hạnh phúc cho nhân dân nhằm
phụng sự cho mục tiêu giành độc lập, tự do cho
dân tộc. Suốt cả cuộc đời mình, Người sống
thanh cao, không màng danh lợi, yêu thiên
nhiên và hòa quyện vào thiên nhiên, lấy thiên
nhiên làm bạn. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn
gian khổ nhất nhưng Hồ Chí Minh vẫn làm thơ,
viết sách, câu cá,... Trả lời các nhà báo nước
ngoài, ngày 21-1-1946, Hồ Chí Minh chỉ mong
ước rằng, “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham
muốn tột bậc, là làm sao cho nước tôi được
hoàn toàn độc lập, dân tôi được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm
một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước
biếc, để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn
với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không
dính líu gì với vòng danh lợi” [6, tr.187].
Suốt thời gian bị chính quyền Tưởng Giới
Thạch bắt giam (từ ngày 29-8-1942 đến ngày
10-9-1943), Nguyễn Ái Quốc bị giải đi khắp 30
nhà tù ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Đây
cũng là thời gian khó khăn nhất, bị giam cầm
dài nhất trong suốt quãng đời hoạt động cách
mạng của Người. Mặc dù ở trong điều kiện khó
khăn, thiếu thốn, tóc bạc, mắt mờ, ốm đau đến
kiệt sức, nhưng chỉ một tiếng sáo của người
bạn tù, hay cảnh vợ chồng người bạn tù bên
song sắt… tất cả đều động đến lòng trắc ẩn của
Người. Đây chính là sự rung động, sự cảm
thông và sẻ chia tình người của người chiến sĩ
Hồ Chí Minh là hiện thân của lối sống
giản dị, thư thái, ung dung, tự tại, lối sống cởi
mở với thiên nhiên, không gượng ép, chân
11
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Thu Thủy
thành và trung thực với bản thân, trong ứng xử
với mọi người. Đạo là sống thuận tự nhiên, nếu
ta nắm được đạo thì con người chúng ta sẽ sống
ung dung tự tại, giản dị, thanh tao, không màng
đến vật chất, danh lợi - đó cũng là triết lý sống
và phong cách của Hồ Chí Minh.
“Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu
Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt
cũng đều là người... vì lẽ gì... mà đem máu quý báu
của thanh niên Pháp đổ trên non nước Việt Nam...
cần phải bắt tay nhau... gây dựng hạnh phúc
chung” [6, tr.510]. Đối với những người lầm
đường lạc lối, theo Hồ Chí Minh, phải khoan
hồng, rộng lượng để họ có cơ hội sửa chữa lỗi
lầm. Người nói “Đối với những nạn nhân của chế
độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn
lậu,… thì Nhà nước phải vừa dùng giáo dục, vừa
phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở thành
những người lao động lương thiện” [11, tr.617]. Hồ
Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ
lượng, khoan dung, trong sạch, giản dị và
khiêm nhường.
2.3. Đạo đức trong Phật giáo
Những quan điểm tích cực trong tư tưởng
của Phật giáo như lòng nhân ái, vị tha, hòa hiếu,
bình đẳng, cứu khổ, cứu nạn, đứng về phía
người nghèo khổ,… trở nên gần gũi với con
người, phù hợp với triết lý đạo đức nhân sinh,
cũng như phong tục tập quán của nhân dân Việt
Nam. Vì lẽ đó, những tư tưởng tích cực của Phật
giáo đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và
được đông đảo người Việt Nam tiếp nhận. Phật
giáo khi du nhập vào Việt Nam đã cùng với chủ
nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất
chống ngoại xâm của dân tộc ta, hình thành nên
những thiền phái nhiều tiến bộ như Thiền phái
Trúc lâm Việt Nam. Đây là thiền phái chủ
trương sống gắn bó với đời sống của nhân dân,
với đất nước, tham gia vào cuộc đấu tranh của
nhân dân, chống kẻ thù xâm lược để giải phóng
dân tộc, giải phóng nhân dân.
Tấm gương đạo đức trong sáng, cao đẹp của
Hồ Chí Minh có sức lan tỏa kỳ diệu, lay động,
cảm hóa kỳ diệu đối với tất cả mọi người xung
quanh, trong đó có cả những người lầm lỡ, thậm
chí cả kẻ thù ở bên kia chiến tuyến. Ép-Giê-Nhi
Ca-Bê-Lép đã nhận định về Hồ Chí Minh rằng:
“Người là tấm gương sáng cho tất cả những người
cộng sản Việt Nam, cho toàn thể nhân dân Việt
Nam về việc phải chăm lo lợi ích xã hội, phải lôi
cuốn quần chúng theo mình, phải tổ chức phong
trào thi đua, phải ủng hộ tất cả những gì tiên tiến,
tích cực, phải mở rộng phê bình và tự phê bình,
phải đấu tranh cho kỷ luật sắt, phải nâng cao nhiệt
tình của quần chúng, phải động viên các tầng lớp
nhân dân rộng rãi đứng lên đấu tranh quyết liệt
chống kẻ thù, lập chiến công và xả thân cho tự do,
độc lập của Tổ quốc” [12, tr.254].
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng từ Phật giáo
là tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn,
thương người như thể thương thân của đạo đức
Phật giáo. Khi đất nước chìm đắm trong nô lệ,
tình yêu thương con người của Người thể hiện
ở nỗi đau của một người dân mất nước đối với
những con người cùng khổ, nô lệ lầm than. Vì
vậy, mục tiêu cách mạng mà Hồ Chí Minh
hướng tới đó là giải phóng dân tộc, giành độc
lập cho dân tộc. Khi đất nước được giải phóng,
trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ
Chí Minh nhấn mạnh, phải xây dựng một xã
hội giàu mạnh vì lợi ích của nhân dân, nhằm
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân
dân. Tình thương của Người không chỉ dành
cho con người Việt Nam mà cả những người bị
áp bức, bóc lột, những người cùng khổ không
phân biệt màu da trên toàn thế giới. Người nói
3. KẾT LUẬN
Với năng lực, trí tuệ uyên bác, óc phê phán
tinh tường, Hồ Chí Minh đã kế thừa, vận dụng
và phát triển sáng tạo các giá trị đạo đức của
Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo phù hợp với thực
tiễn cách mạng và con người Việt Nam. “Trên
hành trình cứu nước, đã biết làm giàu trí tuệ
của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông
và Tây, vừa thu hái, vừa gạn lọc để có thể từ
tầm cao của tri thức nhân loại mà suy nghĩ và
12
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 - 2020
lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát
triển” [3, tr.35]. Võ Nguyên Giáp cũng đã nhận
định, đạo đức Hồ Chí Minh “có sự kết hợp giữa
đạo đức của giai cấp công nhân với truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa đạo đức
nhân loại” [2, tr.273]. Vì vậy, tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh rất dung dị, gần gũi nhưng hiện đại,
khoa học, tư tưởng ấy vẫn giữ được cốt cách
truyền thống của dân tộc Việt Nam và có sự tiếp
thu các giá trị đạo đức của nhân loại tiến bộ
nhưng được phát triển nâng lên một tầm cao mới
- đạo đức cách mạng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Doãn Chính (2015), Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] Võ Nguyên Giáp (2015), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
[3] Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các môn khoa học Mác – Lê-nin
(2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] Lại Quốc Khánh (2014), Hồ Chí Minh với vấn đề khai thác di sản tư tưởng Nho giáo, Tạp chí
Lý luận Chính trị, số 10.
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[10] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[11] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[12] Ép-Giê-Nhi Ca-Bê-Lép (1985), Đồng chí Hồ Chí Minh, tập II, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 13-8-2020. Ngày biên tập xong: 24-8-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020
13
Bạn đang xem tài liệu "Tính kế thừa và phát triển các giá trị đạo đức Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_ke_thua_va_phat_trien_cac_gia_tri_dao_duc_nho_giao_dao.pdf

