Tỷ lệ nhiễm và mức độ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập từ tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi lồng ở vùng biển tỉnh Phú Yên

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
TYÛ LEÄ NHIEÃM VAØ MÖÙC ÑOÄ MAÃN CAÛM KHAÙNG SINH CUÛA VI KHUAÅN  
VIBRIO PARAHAEMOLYTICUS PHAÂN LAÄP TÖØ TOÂM HUØM BOÂNG  
(PANULIRUS ORNATUS) NUOÂI LOÀNG ÔÛ VUØNG BIEÅN TÆNH PHUÙ YEÂN  
Nguyễn Thị Tú Anh1, Võ Văn Nha2  
TÓM TẮT  
Đã xét nghiệm 30 con tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi lồng bị bệnh thu thập ở đầm Cù  
Mông, vịnh Xuân Đài và vùng biển hởAn Chấn thuộc tỉnh Phú Yên, kết quả là đã phân lập, định danh  
được 6 chủng Vibrio parahaemolyticus (chiếm 20% số mẫu khảo sát bị nhiễm Vibrio). Trong đó, vùng  
nuôi ở đầm Cù Mông có tỷ lệ nhiễm cao hơn ở Xuân Đài và An Chấn (thứ tự là 30%, 20% và 10%).  
Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ với 11 loại kháng sinh cho thấy, các chủng V. parahaemolyticus  
nhạy cảm với 4 loại kháng sinh, gồm: tetracycline, streptomycine, gentamycine, doxycilline; nhạy ở  
mức trung gian với 3 loại kháng sinh, gồm: ciprofloxacine, erythromycin, ofloxacine; và kháng 4 loại  
kháng sinh, là cefoperazon, kanamycine, neomycine, oxacyline. Kết quả nghiên cứu này góp phần  
làm cơ sở đề xuất chủng loại kháng sinh sử dụng điều trị bệnh do vi khuẩn V. parahaemolyticus gây  
ra ở tôm hùm bông nuôi lồng.  
Từ khóa: Tôm hùm bông (Panulirus ornatus), Vi khuẩn Vibrio haemolyticus, Kháng kháng sinh,  
Tỉnh Phú Yên  
Prevalence and antibiotic susceptibility of Vibrio parahaemolyticus isolated  
from lobster (Panulirus ornatus) in cage culture in Phu Yen province  
Nguyen Thi Tu Anh, Vo Van Nha  
SUMMARY  
The objective of this study was to determine the prevalence and to assess the antibiotic sus-  
ceptibility of the isolated Vibrio parahaemolyticus strains from 30 diseased lobsters (Panulirus  
ornatus) cultured in cage in Cu Mong lagoon, Xuan Dai bay and An Chan open coast of Phu Yen  
province. As a result, there were 6 V. parahaemolyticus strains isolated (accounting for 20% of  
the surveyed samples were positive with Vibrio). The Vibrio parahaemolyticus infection rate of  
lobster in Cu Mong, Xuan Dai and An Chan areas was 30%, 20% and 10% respectively. The  
tested result on antibiotic susceptibility of the isolated V.parahaemolyticus strains showed that  
4 sensitive antibiotics were tetracycline, streptomycine, gentamycine, doxycilline; 3 intermedi-  
ate sensitive antibiotics were ciprofloxacine, erythromycin, ofloxacine and 4 antibiotics cefop-  
erazon, kanamycine, neomycin, oxacyline were resisted by V.parahaemolyticus. These study  
results can be used as a base to select the antibiotics use in treating the diseases of lobster  
caused by V. parahaemolyticus in cage culture.  
Keywords: Lobster (Panulirus ornatus), Vibrio haemolyticus, Antibiotic resistance, Phu Yen  
province  
Trung Bộ, có nghề tôm hùm nuôi lồng phát  
triển từ rất sớm; nghề nuôi tôm hùm lồng ở  
Phú Yên tập trung chủ yếu tại thị xã Sông Cầu  
(nuôi thương phẩm, ương giống), huyện Tuy An  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Phú Yên là một tỉnh thuộc duyên hải nam  
1. Đại học Tây Nguyên  
2. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III  
71  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
(ương giống), huyện Đông Hòa (hiện tại đang  
thực hiện giải tỏa di dời theo chỉ đạo của UBND  
tỉnh). Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh, sản  
lượng tôm hùm nuôi lồng toàn tỉnh năm 2014  
đạt 630 tấn, với số lượng lồng nuôi là 23.627  
lồng. Đến tháng 6 năm 2015, số lượng lồng nuôi  
25.760 lồng, sản lượng thu hoạch sáu tháng đạt  
500 tấn, tăng 81,8% so cùng kỳ. Tuy nhiên, tình  
hình dịch bệnh trong những năm gần đây gia  
tăng là một trong những yếu tố gây tổn hại nhiều  
cho tôm hùm nuôi lồng tại Phú Yên, cụ thể năm  
2014 có 1.200 lồng/7.000 con bị bệnh, chiếm  
5,31% số lồng thả nuôi; sáu tháng đầu năm 2015  
có 360 lồng/1.800 con bị bệnh, chiếm 1,39% số  
lồng thả nuôi [1].  
Những vi khuẩn đã kháng được kháng sinh  
có thể truyền gen kháng kháng sinh từ thế hệ  
này sang thế hệ khác (chuyển gen theo chiều  
dọc) hoặc từ loài vi sinh vật này sang loài vi  
sinh vật khác (chuyển gen theo chiều ngang).  
Hiện tượng kháng kháng sinh không chỉ làm  
tăng độc tính của vi khuẩn mà còn làm tăng tác  
dụng phụ của thuốc, thay đổi quá trình tương  
tác thuốc và đặc biệt là hiện tượng bội nhiễm  
những vi khuẫn có sẵn trong môi trường thủy  
sản đã nhận được gen kháng kháng sinh từ các  
vi khuẩn gây bệnh trong cơ thể động vật thủy  
sản, làm gia tăng hiện tượng đa kháng kháng  
sinh trên các chủng vi sinh vật gây bệnh. Đây  
là một trong những nguyên nhân bùng phát dịch  
bệnh, là mối lo ngại không chỉ đối với người  
nuôi mà còn đối với các nhà quản lꢀ sức khỏe  
cộng đồng bởi nó ảnh hưởng đến sức khỏe của  
người tiêu dùng (dư lượng fluoroquinolones và  
enrofloxacin gây mất thị lực, chloramphenicol  
làm suy tủy…). Chính vì vậy, mục tiêu của  
nghiên cứu này là nhằm khảo sát tỷ lệ nhiễm và  
đánh giá tính mẫn cảm kháng sinh của chủng  
vi khuẩn V. parahaemolyticus phân lập trên tôm  
hùm bông bị bệnh thuộc vùng biển Phú Yên để  
từ đó làm cơ sở góp phần hạn chế việc lạm dụng  
kháng sinh, hướng tới phát triển bền vững nghề  
nuôi tôm hùm của khu vực.  
Hiện nay, việc sử dụng kháng sinh chưa đúng  
kỹ thuật, dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh  
của nhiều loài vi khuẩn, trong đó có V. para-  
haemolyticus. Đã có một số nghiên cứu về tỷ  
lệ nhiễm các loại vi khuẩn gây bệnh trên tôm  
hùm. Theo Võ Văn Nha (2005) tôm hùm bông  
có dấu hiệu đỏ thân, đen mang thường bắt gặp  
các giống vi khuẩn khác nhau: V. alginolyticus,  
V. parahaemolyticus, V. damsela, V. fluvialis, V.  
metschinikovii, V. anguillarum, V. cholera [2].  
Huỳnh Ngọc Trưởng và cộng sự (2015) [3] đã  
xác định tỷ lệ nhiễm và khả năng kháng kháng  
sinh của Vibrio spp. trên 311 mẫu nước nuôi và  
190 mẫu thủy sản thương phẩm, kết quả cho  
thấy 235/243 (chiếm 96,71%) chủng Vibrio có  
khả năng kháng với ít nhất một loại kháng sinh  
khảo sát. Chigozie Oramadike và Samuel Temi-  
tope Ogunbanwo [4] qua nghiên cứu 90 mẫu  
thủy sản thu từ các bến cảng dọc vịnh Lagos ở  
Nigeria cho thấy có ba chủng V. parahaemolyti-  
cus nhạy cảm đối với tetracycline, ciprofloxa-  
cin, gentamycin và ceftazidime, còn hầu hết các  
chủng còn lại kháng với ampicillin.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu  
2.1.1. Tôm hùm  
- Tôm hùm bông nuôi lồng tại các vùng nuôi  
của tỉnh Phú Yên  
- Số mẫu thu thập: 30 mẫu tôm hùm bông,  
được phân bố theo như bảng 1.  
Bảng 1. Phân bố số lượng mẫu tôm hùm bông thu thập để phân lập V. parahaemolyticus  
Số lượng mẫu thu  
(mẫu)  
Chiều dài (cm)  
(Min-Max)  
Khối lượng (gram)  
(Min-Max)  
Địa điểm  
Vùng nuôi ở đầm Cù Mông  
Vùng nuôi ở vịnh Xuân Đài  
10  
10  
10  
20-25  
5-25  
2-50  
300-700  
20-400  
5-15  
Vùng nuôi thuộc biển hở An Chấn  
72  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
Khꢀng sinh: 11 loại kháng sinh: tetracycline,  
streptomycine, gentamycine, doxyciline, cipro-  
floxacine, erythromycin, ofloxacine, cefopera-  
zon, kanamycine, neomycine và oxacyline được  
sử dụng phổ biến trong phòng trị bệnh cho tôm  
hùm.  
bệnh thủy sản, Viện Nghiên cứu nuôi trồng  
Thủy sản III, tiến hành mổ lấy gan tụy nuôi cấy  
trên môi trường TCBS. Thời gian nuôi cấy 24  
giờ ở 30oC.  
Chọn những khuẩn lạc xanh có hình dạng  
khác nhau để làm thuần vi khuẩn.  
2.1.2. Môi trường vꢁ hóa chất sử dụng nghiên  
cứu  
2.2.2. Xꢀc định tên vi khuẩn gây bệnh  
Các đặc điểm về hình thái, sinh hóa đã  
được kiểm tra dựa trên phương pháp nghiên  
cứu của Whitman (2004) [7], sử dụng bộ kít  
IDS14GNR® gồm 14 thử nghiệm hóa sinh và  
soi trên kính hiển vi ở độ phóng đại từ thấp đến  
cao (100x đến 1000x) có so sánh với khóa phân  
loại của Bergey [6] để xác định tên vi khuẩn  
V. parahaemolyticus.  
- Môi trường thạch chọn lọc (TCBS) được  
sử dụng trong các phòng thí nghiệm vi sinh để  
phân lập vi khuẩn Vibrio spp. Thành phần trong  
1 lít môi trường TCBS: Yeast extract 5,0g; Pro-  
teose Peptone 10,0g; Sodium thiosulfate 10,0g;  
Sodium citrate 10,0g; Ox gall 5,0g; Sodium  
cholate 3,0g; Saccharose 20,0g; Sodium chlo-  
ride 10,0g; Ferric citrate 1,0g; Bromothymol  
blue 0,04g; Thymol blue 0,04g; Agar 15,0g.  
2.2.3. Phương phꢀp lập khꢀng sinh đꢂ  
Dựa trên phương pháp đại nhạy kháng sinh  
của Kirbry-Bauer (1986), sử dụng môi trường  
TSA, Dựa vào chuẩn đường kính vòng vô  
khuẩn của tài liệu CLSI (2006) để xác định loại  
kháng sinh nhạy, trung gian và kháng [5].  
- Các đĩa kháng sinh của hãng Bio Rad (Mỹ)  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương phꢀp thu mẫu  
Thu chọn lọc những con tôm hùm bông  
còn sống, có dấu hiệu đặc thù của tôm bị bệnh  
(Tôm yếu lờ đờ, bỏ ăn, nhìn phần bụng tôm thấy  
có màu đỏ hồng hay đỏ tím, hoặc bị sữa, khớp  
đôi chân bò rời ra, râu dễ gãy).  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả phân lập và xác định đặc điểm  
hꢀnh thái các chủng V. parahaemolyticus  
Kết quả được thể hiện ở hình 1 và bảng 2.  
Mẫu được vận chuyển về Phòng thí nghiệm  
B
A
Hình 1. Hình thái khuẩn lạc V. parahaemolyticus trên môi trường TCBS (A) và  
V. parahaemolyticus được nhuộm Gram dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 1000 X (B)  
73  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
Bảng 2. Đặc điểm khuẩn lạc, hình dạng và kích thước chủng Vibrio parahaemolyticus  
phân lập trên tôm hùm bông bị bệnh nuôi tại vùng biển tỉnh Phú Yên  
Chủng thu  
ở Cù Mông  
Chủng thu  
ở Xuân Đài  
Chủng thu  
ở An Chấn  
TT  
Đặc điểm  
1
Thời gian mọc khuẩn lạc  
24 giờ  
24 giờ  
24 giờ  
Tròn, lồi, bờ đều. Ở  
giữa có màu xanh  
lá đậm  
Tròn, lồi, bờ đều. Ở  
giữa có màu xanh  
lá đậm  
Tròn, lồi, bờ đều. Ở  
giữa có màu xanh  
lá đậm  
Hình dạng khuẩn lạc trên  
TCBS  
2
Màu sắc khuẩn lạc  
sau 24 giờ  
3
4
5
6
7
Xanh  
Xanh  
Xanh  
Kích thước khuẩn lạc sau  
24 giờ (mm)  
1,4 ± 0,25  
1,5 ± 0,35  
1,4 ± 0,15  
Hình dạng, khả năng di  
động của vi khuẩn  
Que ngắn, di động  
Que ngắn, di động  
Que ngắn, di động  
Kích thước vi khuẩn  
(rộng × dài) µm  
(0,4 ± 0,1) × (1,9 ± 0,1) (0,4 ± 0,1) × (2,0 ± 0,2) (0,5 ± 0,1) × (2,0 ± 0,2)  
Hồng Hồng Hồng  
Bắt màu  
thuốc nhuộm Gram  
Kết quả từ bảng 2 và hình 1 cho thấy màu  
sắc, hình dạng, thời gian mọc khuẩn lạc và hình  
dạng vi khuẩn V. parahaemolyticus ở cả 3 vùng  
thu mẫu khác nhau đều tương tự nhau. Cụ thể  
khuẩn lạc có màu xanh, dạng tròn, lồi, bờ đều,  
ở giữa có màu xanh lá đậm (hình 1), khi nhuộm  
gram và soi dưới kính hiển vi ở độ phóng đại  
1000x, vi khuẩn V. parahaemolyticus bắt màu  
hồng (vi khuẩn gram - ) và có hình que ngắn,  
di động.  
3.2. Tỷ lệ các chủng V. parahaemolyticus phân  
lập được trên tôm hùm bông bị bệnh  
Kết quả thể hiện ở bảng 3.  
Bảng 3. Tần suất bắt gặp V. parahaemolyticus trên các mẫu tôm hùm bông bị bệnh  
Dung lượng mẫu  
(con)  
Tần suất bắt gặp  
V. parahaemolyticus  
Địa điểm  
Tỷ lệ %  
Vùng nuôi ở đầm Cù Mông - Phú Yên  
Vùng nuôi ở vịnh Xuân Đài - Phú Yên  
Vùng nuôi thuộc biển hở An Chấn - Phú Yên  
Vùng nuôi tôm hùm lồng tỉnh Phú Yên  
10  
10  
10  
30  
3
2
1
6
30,0  
20,0  
10,0  
20,0  
Kết quả từ bảng 3 cho thấy, tỷ lệ bắt gặp vi  
khuẩn V. parahaemolyticus trên 30 mẫu tôm  
hùm bông nuôi lồng tại các vùng nuôi khác nhau  
của tỉnh Phú Yên là 6/30 mẫu, chiếm 20,0%. Võ  
Văn Nha (2005) [2] phân lập 135 tôm hùm bông  
bị bệnh đỏ thân nuôi lồng ở Phú Yên, Khánh  
Hòa đã bắt gặp 30 mẫu có V. parahaemolyticus,  
chiếm 22,2%; 47 mẫu tôm hùm bông bệnh đen  
mang đã bắt gặp 6 mẫu có V. parahaemolyticus,  
tỷ lệ 7,83%. Như vậy, kết quả nghiên cứu của  
chúng tôi khá tương tự với những thông báo của  
Võ Văn Nha (2005).  
Cũng từ kết quả bảng 2 cho thấy, tỷ lệ nhiễm  
vi khuẩn V. parahaemolyticus trên tôm hùm  
bông bị bệnh ở vùng nuôi đầm Cù Mông nhiều  
hơn ở vùng nuôi vịnh Xuân Đài và An Chấn  
74  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
(30%, 20% và 10% theo thứ tự). Theo kết quả  
quan trắc trầm tích vùng nuôi tôm hùm ở một  
số địa bàn của tỉnh Phú Yên năm 2012, 2013,  
2014 và 6 tháng 2015 cho thấy, giá trị chất hữu  
cơ, hàm lượng sulfur, nhu cầu sử dụng oxy trầm  
tích, mật độ vi khuẩn Vibro tổng số trong nước  
ở vùng nuôi Phú Dương (đầm Cù Mông), Xuân  
Phương (vịnh Xuân Đài) cao hơn ở khu vực nuôi  
thuộc vùng biển hở An Chấn (huyện Tuy An).  
Điều này phần nào lí giải được vì sao tôm hùm  
bông bị bệnh nhiễm vi khuẩn V. parahaemolyti-  
cus ở vùng nuôi đầm Cù Mông có tỷ lệ cao hơn  
ở vịnh Xuân Đài và An Chấn. Sở dĩ như vậy  
có thể là do vị trí địa lꢀ, 2 vùng đầm Cù Mông  
và vịnh Xuân Đài là vùng nước“kín”, khác với  
vùng nước “hở” như ở An Chấn, đồng thời mật  
độ lồng nuôi tôm hùm ở hai vùng này dày hơn  
so với vùng nuôi ở An Chấn. Do vậy, rất có thể  
nguồn nước ô nhiễm cục bộ do lượng thức ăn dư  
thừa, sản phẩm thải trong quá trình nuôi,… có  
ảnh hưởng đế tỷ lệ nhiễm V. parahaemolyticus  
trên tôm hùm bông bị bệnh.  
3.3. Kết quả khảo sát kháng sinh đồ  
Kết quả thử độ nhạy kháng sinh sau 24 giờ  
được ghi ở bảng 4.  
Bảng 4. Tỷ lệ mức độ nhạy, nhạy trung bình và kháng với 11 loại kháng sinh khảo sát  
của các chủng V. parahaemolyticus phân lập từ tôm hùm bông bị bệnh  
Chủng V. parahaemolyticus phân lập được  
Tỷ lệ  
Tên  
kháng  
sinh  
V. para  
CM2  
V. para  
CM5  
V. para  
CM9  
V. para  
XD1  
V. para  
XD7  
V. para  
AC10  
(%)  
K
T
-
N
+
-
K
T
-
N
K
T
-
N
K
-
T
-
N
K
T
-
N
K
T
-
N
K
T
N
100,0  
83,3  
83,0  
100,0  
0,0  
TE  
STR  
GE  
DO  
CIP  
E
-
-
-
-
+
+
+
+
-
-
-
+
+
-
+
+
+
+
-
-
-
+
+
+
+
-
-
-
+
+
+
+
-
0,0  
0,0  
0,0  
0,0  
0,0  
66,7  
50,0  
83,3  
0,0  
0,0  
0,0  
0,0  
+
-
-
-
-
-
-
-
16,7  
16,7  
0,0  
-
+
+
-
-
-
-
+
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
+
-
-
-
-
-
-
-
-
+
+
+
-
-
+
+
+
-
+
+
-
-
-
+
+
+
-
+
+
-
-
-
+
-
33,3  
50,0  
16,7  
100,0  
100,0  
100,0  
100,0  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
+
+
+
+
+
+
-
0,0  
OFX  
CTX  
K
-
-
-
-
+
-
-
-
-
+
-
-
-
-
0,0  
+
+
+
+
-
+
+
+
+
-
+
+
+
+
-
+
+
+
+
-
+
+
+
+
-
-
-
0,0  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
0,0  
N
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
0,0  
OX  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
0,0  
Ghi chú:N-Nhạy; T- Nhạy trung bình; K-Kháng; V. paraCM: Chủng V. parahaemolyticus thu được  
trên tôm hùm bông nuôi ở vùng nuôi đầm Cù Mông; V. paraXD: ở vịnh Xuân Đài; V. paraAC: ở vùng  
biển hở An Chấn  
Kết quả bảng 4 cho thấy, 6 chủng V. para-  
haemolyticus đều nhạy với 4 loại kháng sinh là  
tetracycline và doxycycline (100,0%), strepto-  
mycine và gentamycine (83,3%); 3 loại nhạy  
ở mức trung gian gồm ciprofloxacine (66,6%),  
erythromycin (50%), ofloxacine (83,3%) và 4  
75  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
loại kháng sinh đã thể hiện tính kháng 100,0%  
là: cefoperazon, kanamycine, neomycine, oxa-  
cyline (bảng 4).  
kháng sinh tetracycline và doxycycline; nhạy  
83,3% với hai loại kháng sinh streptomycine  
và gentamycine; nhạy ở mức trung gian gồm:  
ciprofloxacine (66,6%), erythromycin (50,0%),  
ofloxacine (83,3%) và 4 loại kháng sinh đã thể  
hiện tính kháng 100% là: cefoperazon, kana-  
mycine, neomycine và oxacyline. Ngoài ra, 3/6  
chủng V. parahaemolyticus phân lập được đã có  
hiện tượng đa kháng với 6 loại kháng sinh là:  
V. paraCM9, V. paraXD7 và V. paraAC10.  
Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Ngọc  
Trưởng và cộng sự (2015)[3] trên 70 chủng V.  
parahaemolyticus phân lập từ các mẫu thủy sản  
thương phẩm cho thấy có 26/70 (chiếm 37,1%)  
chủng kháng với tetracycline, 5/70 (chiếm  
7,1%) chủng kháng với gentamycine. Như vậy,  
kháng sinh đồ của các chủng V. parahaemolyti-  
cus phân lập trên tôm hùm bông nuôi lồng bị  
bệnh tại các vùng nuôi của tỉnh Phú Yên có sự  
khác biệt về loại kháng sinh nhạy và kháng sinh  
kháng với kết quả của Huỳnh Ngọc Trưởng và  
cộng sự (2015).  
Cần tiếp tục nghiên cứu hiện tương đa kháng  
của nhiều chủng vi khuẩn khác, để từ đó đề xuất  
giải pháp quản lí và kiểm soát kháng sinh sử  
dụng trong nuôi tôm hùm lồng ở Phú Yên.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Cũng từ kết quả bảng 4 cho thấy, đã phát  
hiện được 3/6 chủng V. parahaemolyticus (V.  
paraCM9, V. paraXD7, V. paraAC10) có sự  
đa kháng với 6/11 loại kháng sinh thử nghiệm,  
chiếm 54,5%; 6/6 chủng V. parahaemolyticus  
phân lập từ tôm hùm bông bị bệnh đa kháng với  
4/11 loại kháng sinh khảo sát (bảng 4). Như vậy,  
với tình trạng sử dụng kháng sinh trong phòng  
trị bệnh cho tôm hùm nuôi lồng như hiện nay ở  
các vùng nuôi tôm hùm lồng tỉnh Phú Yên, thì  
việc xuất hiện các chủng vi khuẩn đa kháng xảy  
ra là điều đáng báo động trong quản lí và kiểm  
soát kháng sinh sử dụng trong nuôi tôm hùm ở  
tỉnh Phú Yên nói riêng và nuôi trồng thủy sản  
trong cả nước nói chung.  
1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh  
Phú Yên, 2015. Kết quả nuôi tôm hùm tỉnh  
Phú Yên năm 2011-6/2015, các giải pháp  
quản lꢀ qui hoạch và định hướng phát triển  
trong thời gian đến. Báo cáo tại hội thảo phát  
triển nuôi tôm hùm bền vững khu vực miền  
Trung ngày 16/8/2015 của Sở NN và PTNT  
Phú Yên.  
2. Võ Văn Nha, 2005. Nghiên cứu một số bệnh  
thường gặp do vi khuẩn, kꢀ sinh trùng gây ra  
ở tôm hùm bông nuôi lồng tại vùng biển Phú  
Yên, Khánh Hoà và biện pháp phòng trị. Báo  
cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài cấp  
Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản  
III, Nha Trang.  
IV. KẾT LUẬN  
3. Huỳnh Ngọc Trưởng, Trần Thị Ngọc Thanh,  
Nguyễn Tiến Dũng, 2015. Tình hình nhiễm  
và tỷ lệ kháng thuốc của Vibrio spp. phân lập  
từ thủy sản và nước nuôi tại Tiền Giang. Tạp  
chí khoa học Đại học Sư phạm TPHCM, số 2  
(67) năm 2015, tr.157-166.  
Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Vibrio parahaemo-  
lyticus trên 30 mẫu tôm hùm bông nuôi lồng bị  
bệnh tại các vùng nuôi khác nhau của tỉnh Phú  
Yên là 20% (6/30 mẫu nghiên cứu). Tỷ lệ nhiễm  
cao nhất ở vùng nuôi thuộc đầm Cù Mông  
(30%), tiếp theo là vùng nuôi thuộc vịnh Xuân  
Đài (20%) và cuối cùng là vùng nuôi thuộc biển  
hở An Chấn (10%).  
4. Chigozie Oramadikeand Samuel Temitope  
Ogunbanwo, 2015. Prevalence and antimi-  
crobial susceptibility of Vibrio parahaemo-  
lyticus isolated from seafoods in LagosLa-  
goon Nigeria. Cogent Food and Agriculture,  
vol. 1, Issue 1, 2015  
Mức độ mẫn cảm của 6 chủng V. parahaemo-  
lyticus phân lập trên tôm hùm bông nuôi lồng  
bị bệnh với 11 loại kháng sinh được sử dụng  
phổ biến trong phòng trị bệnh cho tôm hùm đã  
được xác định, cụ thể: Nhạy 100% với 2 loại  
5. Clinical and Laboratory Standards Institute  
76  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 2 - 2016  
(CLSI), 2006. Performance standards for an-  
timicrobial disk and dilution susceptibility  
tests of bacteria isolated from aquatic ani-  
mals; approve standard, third edition, M31-  
A3. Clinical and Laboratory Standards Insti-  
tute, Wayne, NJ.  
of determinative Bacteriology-Ninth Editor,  
Williams and Wilkins, USA.  
7. Whitman K. A., 2004. Finfish and shellfish  
bacteriology manual techniques and proce-  
dures, Blackwelll, Iowa state Press.  
Nhận ngày 26-10-2915  
Phản biện ngày 30-11-2015  
6. Holt J.G., Krieg N.R., Sneath P.H.A., Staley  
J.T. Williams S.T., 1994. Bergey’s Manual  
ZIKA ĐÃ LAN TỚI 36 NƯỚC  
Hiện virus Zika đang lan truyền rất nhanh và đã có ở 36 nước. Những nước gần Việt Nam  
như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc cũng phát hiện các trường hợp nhiễm virus này.  
Nga cũng đã ghi nhận trường hợp nhiễm virus Zika đầu tiên. Bệnh nhân là một phụ nữ Nga,  
vừa trở về từ Cộng hòa Dominica. Hiện tình trạng sực khỏe của bệnh nhân đã ổn định.  
Mặc dù Việt Nam chưa phát hiện trường hợp nhiễm virus Zika, nhưng nguy cơ dịch xâm  
nhập và lây lan rộng là hoàn toàn có thể. Muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết cũng là loại  
muỗi truyền virus Zika.  
Cho đến nay, hơn 1 triệu ca bệnh đã được báo cáo riêng ở Brazil. Nhưng Tổ chức Y tế Thế  
giới (WHO) cảnh báo, virus sẽ ảnh hưởng 3-4 triệu người trước khi ngừng phát tác. Chỉ có 1  
trong 5 người nhiễm bệnh bị đau ốm, còn lại đều có triệu chứng khá nhẹ.  
Chưa có vacxin ngừa Zika. WHO và Trung tâm Kiểm soát Ngăn chặn Dịch bệnh Mỹ (CDC)  
khuyến cáo người bệnh nghỉ ngơi, uống nhiều nước và dùng acetaminophen để giảm sốt và đau.  
Theo CDC, nguy cơ thực sự của Zika là mối liên hệ giữa virus với các dị tật bẩm sinh  
nghiêm trọng, như chứng teo não, đầu nhỏ. Để tránh mắc bệnh, CDC khuyến cáo hạn chế tới  
các vùng dịch, thực hiện các biện pháp phòng ngừa để tránh bị muỗi đốt.  
Giới khoa học toàn cầu đang chạy đua với thời gian để tìm ra thuốc chủng ngừa. Tuy nhiên,  
hiện nay, cách tốt nhất để phòng chống bệnh là từ muỗi lây truyền virus. Brazil - tâm dịch và  
hàng chục quốc gia trên thế giới đang tiến hành phun thuốc muỗi, và kêu gọi người dân tránh  
để ao tù nước đọng khiến muỗi không có nơi sinh sản.  
Theo VietNamNet  
77  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 16980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tỷ lệ nhiễm và mức độ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus phân lập từ tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi lồng ở vùng biển tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfty_le_nhiem_va_muc_do_man_cam_khang_sinh_cua_vi_khuan_vibrio.pdf