Ứng dụng thuật toán phân cụm mờ trên ảnh chỉ số nước trong chiết tách thông tin nước mặt khu vực cửa sông

Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 59, Kỳ 5 (2018) 55-66  
55  
Ứng dụng thuật toán phân cụm mờ trên ảnh chỉ số nước trong  
chiết tách thông tin nước mặt khu vực cửa sông  
Cao Xuân Cường *, Võ Ngọc Dũng  
Khoa Trắc địa - Bản đồ và Quản lý đất đai, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Nướctạikhu vực cửa sông là một trong những môi trường có sự đa dạng sinh  
học bậc nhất trên bề mặt đất. Tuy nhiên, hiện nay, môi trường này thường  
xuyên bị đe dọa bởi các hoạt động của con người. Để tăng cường hiệu quả cho  
công tác quản lý và bảo vệ môi trường quan trọng này thì một giải pháp chiết  
tách thông tin nước bề mặt trên tư liệu ảnh viễn thám nhanh chóng và chính  
xác là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, phương pháp phân cụm mờ fuzzy  
c-means (FCM) tích hợp với thông tin không gian của các điểm ảnh láng giềng  
(MFCM) áp dụng lên ảnh chỉ số nước (WIs)được sử dụngđể chiết tách nước  
mặt trên ảnh viễn thám. Phương pháp này được áp dụng cho ảnh Landsat 8  
OLI chụp khu vực cửa sông Bạch Đằng thuộc thành phố Hải Phòng và tỉnh  
Quảng Ninh. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đánh giá sự ảnh hưởng tới hiệu  
quả chiết tách nước mặt của tham số mức độ mờ hóa(fuzzification) và số  
lượng các điểm ảnh láng giềng trong thuật toán FCM. Kết quả thực nghiệm  
cho thấy,khi hệ số mờ và số điểm ảnh láng giềng tăng, độ chính xác chiết tách  
nướcsẽ giảm, với m=2 và số điểmlánggiềnglà8 thìphương phápđạthiệu quả  
cao nhất về thời gian xử lý. Ngoài ra, khi so sánh với phương pháp phân  
ngưỡng, phương pháp được sử dụng cũng cho độ chính xác cao hơn với hệ số  
kappa của hai phương pháp lần lượt là 0.84 và 0.87.  
Nhận bài 10/8/2018  
Chấp nhận 25/9/2018  
Đăng online 31/10/2018  
Từ khóa:  
Nước mặt  
Viễn thám  
Chiết tách nước  
Chỉ số nước  
Landsat  
Fuzzy c-means  
© 2018 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
sinh thái quan trọng như hệ sinh thái rừng ngập  
mặn phát triển (Pham & Yoshino, 2016). Tuy  
1. Mở đầu  
Cửa sông là nơi các dòng sông đổ ra biển, nơi  
nước ngọt giao hòa với nước mặn. Điều kiện đặc  
biệt này đã tạo ra một trong những môi trường có  
sự đa dạng sinh học bậc nhất trên bề mặt đất  
(Fujii, 2012; McKeon et al., 2015). Việt Nam là một  
quốc gia có đường bờ biển dài với nhiều khu vực  
cửa sông quan trọng. Đây là môi trường cho các hệ  
nhiên, các hoạt động của con người đã và đang đe  
dọa nghiêm trọng tới môi trường các cửa sông.  
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng góp phần làm  
thay đổi môi trường này(Fujii, 2012). Để quản lý  
và bảo vệ môi trường cửa sông một cách hiệu quả,  
một giải pháp chiết tách thông tin nước bề mặt ở  
khu vực này trên tư liệu ảnh viễn thám nhanh  
chóng và chính xác là rất cần thiết.  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
Viễn thám là một trong những công nghệ đã  
được sử dụng hiệu quả trong giám sát tài nguyên  
56  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
thiên nhiên nói chung và tài nguyên nước nói  
riêng (Alsdorf & Lettenmaier, 2003). Khi sử dụng  
tư liệu ảnh viễn thám thành lập bản đồ chuyên đề  
về tài nguyên nước mặt, bên cạnh cac phương  
phap thườ ng đượ c sử dụng như số hóa dựa trên  
giải đoán bằng mắt (digitizing), phương pháp  
phân ngưỡng (density slicing), phân loại có kiểm  
định và không kiểm định (supervised and  
unsupervised classifications), phương pháp phân  
cụm mờ (fuzzy c – means) áp dụng trên các chỉ số  
nước (water indices-WIs) còn tương đối mới mẻ.  
Trong nghiên cứu của Yang et al. (2015), các tác  
giả đã phân tích đánh giá chi tiết cac phương phap  
nêu trên và đưa ra các ưu nhược điểm của từng  
phương pháp. Cụ thể, phương phap só hoa dự a  
tren giải đoan bàng mát tuy cho đọ chinh xac cao  
nhưng lại tón nhièu thờ i gian và sưc lao đọng, do  
đokhong thự c té trong cac trườ ng hợ p nghien cưu  
tren qui mo rọng. Phương phap phan ngưỡ ng  
đượ c đè xuát và sử dụng trong nhièu nghien cưu  
của (Frazier et al., 2003; Ryu et al., 2002; White,  
1999). Trong nghien cưu vè lũ lụt ở khu vự c đát  
ngạp nươc của Frazier và đồng nghiệp (2003), cac  
gia trịngưỡ ng đã đượ c sử dụng phan loại nươc và  
khong phải nươc tren kenh 5 của ảnh Landsat  
TM(Frazier et al., 2003). Đay là phương phap đơn  
giản và hiẹu quả vè mạt thờ i gian, tuy nhien, đọ  
chinh xac bị ảnh hưở ng nhièu bở i sự cac yéu tó  
như bong địa hình và may (Verpoorter et al.,  
2014). Mọt phương phap khac co thẻ đượ c sử  
dụng đẻ chiét tach nươc là phan loại co kiẻm định  
và khong kiẻm định. Phương phap phan loại co  
kiẻm định phụ thuọc nhièu vào y kién chủ quan  
của chuyen gia và chát lượ ng của viẹc láy mãu,  
trong khi phương phap phanloại khong kiẻm định  
cho đọ chinh xac tháp khi khu vự c phan loại lãn  
nhièu đói tượ ng co sự tương phản vè phỏ tháp  
(Hao et al., 2014). Chiét tach nươc sử dụng cac chỉ  
só toan học (chỉ só nươc-WIs) đượ c tinh từ cac  
kenh ảnh là mọt trong cac phương phap đượ c sử  
dụng kha phỏ bién do tinh hiẹu quả và tiẹn lợ i của  
no. Cac chỉ số nước như Normalized Difference  
Water Index (NDWI) (McFeeters, 1996), Modified  
Normalized Difference Water Index (MNDWI)  
(Xu, 2006), và Automated Water Extraction Index  
(AWEI) (Feyisa et al., 2014) được xác định từ các  
kênh ảnh green (kênh 2), near-infrared (kênh 4),  
và SWIR1 (kênh 6) của Landsat. Các chỉ số này  
được thiết kế nhằm làm nổi bật các đối tượng  
nước bề mặt trên ảnh quang học thông qua việc  
tăng cường sự khác biệt giữa các điểm ảnh mang  
thông tin nước và các điểm ảnh mang thông tin  
của các đối tượng khác liền kề, đồng thời loại bỏ  
các điểm ảnh nhiễu. Nghien cưu của Hao và đòng  
nghiẹp đã sử dụng hiẹu quả phương phap chỉ só  
nươc đẻ lạp bản đò cac song và hò bàng ảnh  
Landsat (Hao et al., 2014). Tuy nhien, cac tac giả  
cũng chỉra cac nhượ c điẻm của phương phap này  
như: (1) đọ chinh xac phan loại tháp vơi cac điẻm  
ảnh lãn giữ a nươc và cac đói tượ ng khac; (2) vơi  
mõi khu vự c khac nhau thì đạt mọt ngưỡ ng phan  
loại khac nhau; (3) khong loại bỏ đượ c cac nhiẽu.  
Mạcdù mõiphươngphapcoưu nhượ c điẻm rieng,  
nhưng sự đa dạng cac phương phap chiét tach  
nươc bè mạt neu tren đã chưng minh khả nang ưu  
viẹt của phương phap viẽn tham trong nghien cưu  
tài nguyen nươc mạt.  
Thuạt toan phan cụm mờ (fuzzy c-means -  
FCM) đượ c ưng dụng trong nhièu nghien cưu của  
lĩnh vự c viẽn tham (Ghosh et al., 2011; Kersten et  
al., 2005). Ghosh và các đồng nghiệp (2011) đã sử  
dụng thuạt toan phan cụm mờ nang cao đọ chinh  
xac phan loại và phat hiẹn bién đọng. Mọt só  
nghien cưu khac chỉ ra ràng thuạt toan phan cụm  
mờ co tich hợ p thong tin cac điẻm ảnh lan cạn co  
thẻ xử ly đượ c nhiẽu và ván đè vè gia trị tương  
phản phỏ tháp (Ghaffarian & Ghaffarian, 2014;  
Stavrakoudis et al., 2011). Tinh chát bién đỏi lien  
tục từ 0 đén 1 của gia trịthành vien (membership)  
trong logic mờ (fuzzy) (Bezdek et al., 1984)co thẻ  
đượ c sử dụng đẻ biẻu diẽn sự bién đỏi lien tục vè  
gia trị đọ ảm của khu vự c chuyẻn tiép giữ a nươc  
và khong phải nươc. Trên thế giới, việc kết hợp  
giữa FCM và WIs trên ảnh viễn thám nhằm chiết  
tách thông tin nước mặt đã được Yang et al.  
(2015) thực hiện thành công cho một số các đối  
tượng nước mặt khác nhau trên phạm vi toàn cầu.  
Tuy nhiên, nước là môi trường khá đa dạng và  
phức tạp, mỗi khu vực sẽ có đặc điểm lý hóa và  
sinh học khác nhau. Với điều kiện môi trường đặc  
trưng riêng như cửa sông, việc tìm ra một giải  
pháp phù hợp là cần thiết. Bài báo giới thiệu kết  
quả ứng dụng phương pháp FCM trên ảnh chỉ số  
nước WIs trong chiết tách nước mặt của khu vực  
cửa sông Việt Nam.  
2. Khu vực và dữ liệu nghiên cứu  
2.1. Khu vực nghiên cứu  
Khu vực được lựa chọn cho nghiên cứu nhằm  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
57  
đánh giá giải pháp đề xuất là khu vực cửa sông  
Bạch Đằng, thuộc địa bàn thành phố Hải Phòng và  
tỉnh Quảng Ninh (Hình 1). Đây là khu vực có sự  
hiện diện chủ yếu của rừng ngập mặn. Những năm  
gần đây, nhờ chính sách bảo vệ, phục hồi và phát  
triển rừng ngập mặn của Chính phủ Việt Nam,  
đồng thời với các dự án hỗ trợ quốc tế như dự án  
của tổ chức Chữ thập đỏ Nhật Bản (JRC) (Pham &  
Yoshino, 2016), rừng ngập mặn ở khu vực này  
phát triển tương đối tốt.  
với độ chính xác cỡ 0.4 pixel và được xem là chấp  
nhận được về độ chính xác không gian.  
Để đánh giá độ chính xác kết quả chiết tách  
nước, ảnh Planetscope có độ phân giải 3 m chụp  
vào cùng thời gian với ảnh Landsat được dùng để  
sốhóacácđối tượng nước. Yêucầu vềđộ chính xác  
của đồng đăng ký ảnh được đảm bảo nhờ thực  
hiện thủ công. Cơ sở dữ liệu số hóa được coi là dữ  
liệu chuẩn phục vụ đánh giá độ chính xác phân  
loại.  
2.2. Dữ liệu nghiên cứu  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu là ảnh  
Landsat 8 OLI ở mức xử lý L1 đã được nắn và hiệu  
chỉnh ảnh hưởng địa hình từ USGS EarthExplorer.  
Mô tả chi tiết về mức độ chephủ bởi mây, thời gian  
chụp, và các thông tin quan trọng khác được cung  
cấp trong bảng 1.  
Ảnh được chọn sau khi đã khảo sát tất cả các  
ảnh nhằm tránh ảnh hưởng của mây. Ảnh có định  
dạng GeoTIFF, trong hệ qui chiếu UTM được nắn  
3.1. Phương pháp chỉ số nước trên tư liệu ảnh  
viễn thám  
Các chỉ số nước như Normalized Difference  
Water Index (NDWI) (McFeeters, 1996), Modified  
Normalized Difference Water Index (MNDWI)  
(Xu, 2006), và Automated Water Extraction Index  
(AWEI) (Feyisa et al., 2014) được xác định từ các  
kênh ảnh green (kênh 2), near-infrared (kênh 4),  
và SWIR1 (kênh 6) của Landsat 5 TM.  
Hình 1. Khu vực nghiên cứu (ảnh Landsat 8 OLI tổ hợp RGB: 753).  
Bảng 1. Dữ liệu ảnh vệ tinh nghiên cứu.  
Ảnh  
Landsat 8 OLI  
LC81260462017260LGN00  
Path/row  
126/46  
Thời gian chụp Mây che phủ (%) Độ phân giải (m)  
17/09/2017  
03:17:45  
9.79  
30  
Planetscope  
Strip_id  
761211  
17/09/2017  
02:45:58  
02:45:59  
0
3
20170917_024558_0f25  
20170917_024559_0f25  
20170917_024600_0f25  
02:46:00  
58  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
Các chỉ số này được thiết kế nhằm làm nổi bật  
nước AWEI, chỉ số này gồm hai chỉ số là AWEIsh và  
AWEInsh  
các đối tượng nước bề mặt trên ảnh quang học  
thông qua việc tăng cường sự khác biệt giữa các  
điểm ảnh mang thông tin nước và các điểm ảnh  
mang thông tin của các đối tượng khác liền kề,  
đồng thời loại bỏ các điểm ảnh nhiễu (Yang et al.,  
2015).  
.
AWEIsh = ρband1 + 2.5 x ρband2 -1.5 x  
(ρband4 + ρband5) – 0.25 x ρband7  
(3)  
AWEInsh = 4 x (ρband2 - ρband5) –0.25 x  
ρband4 + 2.75 x ρband7  
(4)  
Trong đó, ρ là giá trị phản xạ phổ của 5 kênh  
ảnh Landsat TM sau:  
Band 1: kênh blue; band 2: kênh Green; band  
4: kênh NIR; band 5: kênh SWIR 1; band 7: kênh  
SWIR 2.  
Năm 1996, McFeeters và đồng nghiệp đưa ra  
công thức tính chỉ số nước sửdụng hai kênh Green  
và NIR:  
퐺푟푒푒푛 − 푁퐼푅  
(1)  
푁퐷푊퐼 =  
퐺푟푒푒푛 + 푁퐼푅  
Việc lựa chọn các kênh ảnh này là nhằm: (1)  
Tối đa khả năng phản xạ ánh sáng có bước sóng  
trong dải xanh lá cây (green) của các đối tượng  
nước. (2) Giảm đến mức tối thiểu phản xạ của ánh  
sáng có bước sóng trong dải cận hồng ngoại (NIR)  
của các đối tượng nước. (3) Tận dụng tính phản xạ  
mạnh của tia NIR khi gặp thực vật và đất trống.  
Trên ảnh NDWI, các đối tượng nước sẽ có giá  
trị NDWI lớn hơn không, trong khi đất và thực phủ  
trên cạn có giá trị NDWI âm hoặc bằng không.Giá  
trị NDWI biến thiên từ -1 đến 1.  
Chỉ số MNDWI được đề xuất bởi Xu (2006),  
chỉ số nước MNDWI được phát triển từ chỉ số  
NDWI của McFeeters (1996). Tác giả chỉ ra nhược  
điểm của chỉ số NDWI là cho độ chính xác không  
cao đối với khu vực đất đô thị.Nước được chiết  
tách từ khu vực này thường bị lẫn với đất đô  
thị.Điều này có nghĩa là khu vực xây dựng cũng có  
giátrị NDWIlớnhơnkhông.Nguyên nhân làdo giá  
trị phản xạ của cả đất xây dựng và nước hồ ở kênh  
Green mạnh hơn ở kênh NIR (Xu, 2006). Tuy  
nhiên, các khảo sát chi tiết về đặc điểm phản xạ  
phổ của đất đô thị ở kênh hồng ngoại trung (MIR)  
cho thấy giá trị phản xạ phổ ở kênh này lớn hơn  
kênh Green. Do đó, để phân biệt giữa đất xây dựng  
và nước, kênh MIR được sử dụng thay thế kênh  
NIR trong công thức tính NDWI. Sự thay đổi này  
cho ra chỉ số mới là MNDWI:  
3.2. Cơ sở toán học của phương pháp phân cụm  
mờ (FCM)  
Thuật toán FCM được đề xuất lần đầu tiên  
bởiDunn (1973), sau đó được phát triển  
bởiBezdek (1973). Đầu vào thuật toán là bộ dữ  
liệu X, thuật toán cho phép phân cụm không gian  
dữ liệu X. Với số lượng cụm cho trước là C (C ≥ 2),  
m là số thực (m > 1), sử dụng quá trình lặp để đưa  
hàm mục tiêu (J) đạt giá trị cực tiểu.  
c
n
J   
um || x v ||2  
(5)  
  
kj  
k
j
j1 k1  
Trong đó: m là số mờ hóa; c là số cụm, n là số  
phần tử dữ liệu, r là số chiều của dữ liệu; Ukj là giá  
trị thành viên của phần tử dữ liệu Xk trong cụm j;  
Xk∈ Rr là phần tử thứ k của X = x1, x2...xn; vj là tâm  
của cụm j.  
Đểđưa hàm mục tiêu vềcực tiểu, cầnđảm bảo  
퐽
퐽
퐶
푖=1  
∑
điều kiện  
푢푖푘 = 1, ta có 휕 = 0 và 휕 = 0. Các  
휕
휕
푣
푢
điều kiện này cho ta các nghiệm sau:  
1
ukj   
2
c
m1  
(6)  
|| x v ||  
  
k
j
|| xk vi ||  
i1  
và  
퐺푟푒푒푛 − 푀퐼푅  
n
(2)  
푀푁퐷푊퐼 =  
um x  
퐺푟푒푒푛 + 푀퐼푅  
kj k  
Các thực thể nước bề mặt rất đa dạng về kích  
thước, hình dạng và địa mạo, ví dụ hồ trên núi  
khác với hồ ở khu đô thì về hình dạng, bao quanh  
bởi thực phủ khác nhau và đặc trưng phổ khác  
nhau. Dựa vào ý tưởng này, cộng với các khảo sát  
cẩn thận và chi tiết, Feyisa et al. (2014) sử dụng  
năm kênh ảnh Landsat TM để tạo ra một chỉ số  
k1  
vj  
(7)  
n
um  
kj  
k1  
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phân cụm là  
bài toán phân loại các phần tử thành các cụm cùng  
độ đồng nhất về thuộc tính nào đó (Adhikari et al.,  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
59  
2015;Chuanget al., 2006).Thôngthườngcác phần  
tử lân cận nhau (phần tử láng giềng) có sự tương  
quan lớn và phụ thuộc lẫn nhau.Trong khi thuật  
toán FCM truyền thống không tính tới sự tương  
quan giữa các phần tử láng giềng, dẫn tới độ chính  
xác phân cụm thấp.Để nâng cao độ chính xác phân  
cụm, mối quan hệ không gian giữa các phần tử  
láng giềng được sử dụng tính giá trị thành viên,  
phương pháp này được gọi là phân cụm mờ láng  
giềng thích nghi (MFCM).Các phần tử nào có càng  
nhiều các phần tử láng giềng có cùng thuộc tính  
với nó thì xác suất của các phần tử này thuộc về  
cùng cụm với các phần tử láng giềng càng cao.Việc  
đưa thông tin không gian sẽ giúp loại bỏ nhiễu.  
Công thức tính tới sự ảnh hưởng của các phần tử  
láng giềng được thể hiện như sau:  
Trong đó p và q là các tham số khống chế tầm  
ảnh hưởng của các giá trị thành viên tính theo  
công thức (6) và (8).  
3.3. Thuật toán tự động chiết tách nước mặt  
bằng thuật toán phân cụm mờ láng giềng thích  
nghi  
Thuật toán của chương trình được mô tả như  
Bảng 2.  
3.3. Phương pháp chiết tách nước mặt sử dụng  
kết hợp MFCM và chỉ số nước WIs  
3.3.1. Các giải pháp kết hợp MFCM và WIs  
Giải pháp kết hợp giữa phân cụm mờ MFCM  
và chỉ số nước WIs có thể được thực hiện theo các  
quy trình <1>, <2>, <3>, <4>.(Yang et al., 2015):  
<1> Áp dụng MFCM lên các kênh ảnh gốc, sau  
đó mới tạo các kênh chỉ số nước.  
<2> Các chỉ số nước được tạo ra từ các kênh  
ảnh gốc, và áp dụng MFCM lên các kênh chỉ số  
nước này.  
푁푤  
∑
푘=1 푢푖푘  
푀
(8)  
푓 =  
푖푗  
Trong đó: fij giá trị trọng số được tính thông  
qua các phần tử láng giềng.Nwlà cửa sổ hình vuông  
với phần tử xét ở tâm của nó. M số lượng các phần  
tử trong cửa sổ.  
<3> Lựa chọn các kênh chỉ số nước phù hợp  
nhất để tạo ra một bộ dữ liệu gồm các kênh thành  
phần chính độc lập nhau (uncorrelated principal  
components), sau đó mới áp dụng MFCM.  
<4>Áp dụng kỹ thuật trộn ảnh lênkếtquả của  
quá trình xử lý các kênh chỉ số nước bằng MFCM.  
Lúc này, giá trị thành viên được tính như sau:  
(푢푖푗)푝(푓 )푞  
푖푗  
푢′푖푗 =  
(9)  
푐
푘=1  
(푢푘푗)푝(푓 )푞  
∑
푘푗  
Và giá trị tâm cụm được tính như sau:  
푁
푗=1 푢′푚푖푗 푥푗  
∑
푣′푖 =  
(10)  
푁
푚
∑
푗=1 푢′푖푗  
Bảng 2. Thuật toán chương trình tự động chiết tách nước mặt MFCM.  
Input  
Ảnh chỉ số nước  
Output  
Ảnh gồm 2 lớp nước và không phải nước  
MFCM  
1
2
3
4
5
6
7
Số cụm C = 2, ngưỡng dừng Ɛ = 0.000006, số mờ hóa m, chọn bước lặp t = 1.  
Xác định histogram của ảnh chỉ số nước và tính khởi tạo giá trị cho tâm cụm v = [vj]. j = 1, 2.  
Lựa chọn kích thước cửa sổ N.  
Repeat  
t = t + 1  
Tính khoảng cách Euclidean của từng pixel tới tâm cụm.  
Tính giá trị thành viên theo công thức (6)  
Tính giá trị trọng số fịj theo công thức (8), chọn q = p =2, tính lại giá trị thành viên và giá trị  
tâm cụm theo công thức (9) và (10).  
8
9
(t)  
Until||v(t+1)  
- v || <
  
If v1> v2 then  
Cụm 1 là nước; Cụm 2 là không phải nước  
Else  
10  
Cụm 1 là không phải nước;Cụm 2 là nước  
60  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
Các quy trình <1>, <3> và <4> được đánh giá  
phân ngưỡng cho các chỉ số nước, cần có các khảo  
sát toàn diện để xác định ngưỡng nào là tối ưu  
nhất cho từng chỉ số nước. Căn cứ vào biểu đồ  
histogram của các kênh ảnh chỉ số nước để lựa  
chọn các ngưỡng tham gia vào quá trình khảo sát  
xác định ngưỡng tối ưu. Các ngưỡng này được đưa  
vào phân loại, các điểm ảnh có giá trị nhỏ hơn  
ngưỡng khảo sát được đưa về lớp không phải  
nước, ngược lại nếu lớn hơn ngưỡng khảo sát thì  
sẽ thuộc về lớp nước. Các sai số lấy thừa và bỏ sót  
được tính nhằm tìm ra ngưỡng tối ưu. Việc quyết  
định ngưỡng nào là tối ưu đối với từng chỉ số  
nước, sẽ căn cứ vào sai số lấy thừa hoặc lẫn  
(commission) và sai số bỏ sót (omission). Thông  
thường khi sai số lấy thừa lớn thì sai số bỏ sót sẽ  
nhỏ và ngược lại. Do đó, ngưỡng tối ưu sẽ là  
ngưỡngmàcho kết quảphânloại có sai số lấy thừa  
bằng sai số bỏ sót.  
là tương đối phức tạp và có thể chỉ cho độ chính  
xác được nâng lên không đáng kể so với quy trình  
<2> (Yang et al., 2015). Tính phức tạp là do việc  
mỗi chỉ số nước cần sử dụng các tham số xử lý  
khác nhau, việc kết hợp sẽ cần bộ tham số xử lý  
phức tạp hơn. Điều này sẽ tạo ra khối lượng tính  
toán lớn.  
Để tạo ra giải pháp chiết tách nước đơn giản,  
hiệu quả, chính xác và tự động, sự kết hợp giữa  
MFCM và WIs được thực hiện theo quy trình <2>.  
Sơ đồ quy trình được thể hiện chi tiết như Hình 2.  
3.3.2. Khảo sát lựa chọn các tham số mờ hóa và số  
lượng điểm ảnh láng giềng  
Để có một giải pháp tối ưu, tham số mờ hóa  
và kích thước cửa sổ sẽ lần lượt được khảo sát với  
các giá trị ghi trong Bảng 3.  
Công thức tính các sai số như sau:  
Bảng 3. Các tham số lựa chọn khảo sát.  
SLẫn = A/B*100% ;  
(12)  
(13)  
Giá trị mờ hóa (m)  
Kích thước cửa sổ (N)  
1.5  
2
2.5  
3
3.5  
4
3x3  
5x5  
7x7  
9x9  
11x11  
21x21  
Sbỏ sót = C/D*100% ;  
Trong đó: A - là số pixel bị phân loại nhầm từ  
không phải nước sang nước; B - là tổng số pixel  
được phân loại thành nước; C - là số pixel bị phân  
loại nhầm từ nước sang không phải nước; D - là  
tổng số pixel nước tham khảo.  
Nước mặt tại khu vực cửa sông sẽ được chiết  
tách trên ảnh Landsat sử dụng MFCM và WIs với  
lần lượt từng tham số mờ hóa và kích thước cửa  
sổ. Kết quả chiết tách sẽ được đánh giá độ chính  
xác và so sánh để rút ra tham số m và kích thước  
cửa sổ tối ưu.  
4. Kết quả và thảo luận  
4.1. Xác định ngưỡng tối ưu cho các chỉ số nước  
Các ảnh chỉ số nước được xác định và thể hiện  
như trong Hình 3. Với ảnh chỉ số NDWI, các  
ngưỡng có giá trị từ -0.426 đến 0.128 được lựa  
chọn đưa vào phân loại. Kết quả cho thấy ngưỡng  
-0.138 cho kết quả phân loại với sai số lấy thừa và  
bỏ sót gần như bằng nhau. Do đó, ngưỡng ngày  
được chọn là ngưỡng tối ưu cho ảnh NDWI. Làm  
tương tự với các ảnh chỉ số nước còn lại, kết quả  
được như sau: với MNDWI có ngưỡng tối ưu là  
0.118, AWEIsh có ngưỡng tối ưu là -0.03, và  
AWEInsh có ngưỡng tối ưu là -0.028 (Bảng 4). Từ  
đây, kết quả phân loại của các ngưỡng này sẽ được  
so sánh với kết quả phân loại dùng phương pháp  
MFCM.  
3.3.3. Đánh giá độ chính xác của phương pháp đề  
xuất  
Phương pháp đánh giá độ chính xác được sử  
dụng khá phổ biến là ma trận sai số (error  
matrices) và chỉ số kappa sẽ được sử dụng để  
đánh giá độ chính xác các chỉ số nước nêu trên.  
Bên cạnh đó, phương pháp phân loại đặt ngưỡng  
cũng sẽ được sử dụng vào phân loại khu vực thực  
nghiệm. Kết quả phân loại bằng phương pháp đặt  
ngưỡng được sử dụng để so sánh với phương  
pháp chỉ số nước kết hợp với phân cụm mờ.  
Do tính chất đa dạng của lớp phủ nên đặc  
điểm phản xạ phổ của các đối tượng này trên từng  
kênh ảnh tương đối phức tạp. Các chỉ số nước nêu  
ở trên được tính dựa trên các kênh ảnh này nên có  
cả ưu điểm và hạn chế. Khi sử dụng phương pháp  
4.2. Kết quả khảo sát xác định các tham số cho  
MFCM  
Quá trình khảo sát các tham số cho trong  
Bảng 3 cho kết quả như Bảng 5.  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
61  
Hình 3. Các ảnh chỉ số nước khu vực nghiên cứu.  
Bảng 4. Kết quả khảo sát xác định ngưỡng tối ưu cho các chỉ số nước.  
Chỉ số nước NDWI  
Sai số  
Chỉ số nước MNDWI  
Sai số  
Ngưỡng  
Ngưỡng  
Lẫn  
0.4  
1.11  
2.69  
8.26  
8.8  
10.74  
Bỏ sót  
25  
20.69  
15.63  
8.27  
7.8  
Lẫn  
15.66  
11.03  
8.49  
7.97  
7.71  
2.63  
Bỏ sót  
3.05  
5.47  
7.68  
8.23  
8.5  
0.128  
0.002  
-0.138  
-0.342  
-0.355  
-0.395  
-0.166  
-0.078  
-0.006  
0.011  
0.021  
0.305  
6.38  
17.65  
Chỉ số nước AWEIsh  
Chỉ số nước AWEInsh  
-0.055  
-0.037  
-0.030  
0.013  
14.68  
9.3  
7.5  
2.83  
5.86  
7.44  
-0.064  
-0.052  
-0.028  
-0.023  
-0.008  
0.046  
16.62  
16.31  
8.19  
7.29  
4.76  
0.3  
3.64  
4.99  
8.76  
9.65  
13.18  
36.41  
1.01  
22.01  
62  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
Bảng 5. Kết quả khảo sát tham số MFCM.  
kích thước cửa sổ tăng lên. Tuy nhiên, về thời gian  
xử lý thì gần như không có khác biệt. Kết quả khảo  
sát cho hai tham số tối ưu m = 2 và N = 3.  
m
1.5  
2
2.5  
3
OA %  
92.912  
92.910  
92.909  
92.907  
92.905  
92.901  
T (“)  
815  
555  
995  
997  
N
OA %  
92.910  
92.909  
92.908  
92.908  
3x3  
5x5  
7x7  
9x9  
4.3 Kết quả phân loại bằng phương pháp phân  
cụm mờ láng giềng thích nghi  
3.5  
4
1105 11x11 92.900  
1127 21x21 92.861  
Đối với trường hợp chỉ sử dụng các chỉ số  
nước, kết quả đánh giá độ chính xác phân loại cho  
thấy các hệ số kappa (KC) từ 0.84 đến 0.86. Trong  
đó, chỉ số nước AWEIsh có độ chính xác cao nhất  
với KC = 0.86 và độ chính xác toàn cục (OA) là  
92.86%, chỉ số AWEInsh cho độ chính xác thấp  
nhất với KC = 0.84 và OE = 91.96% (Bảng 6).  
Kếtquả chiếttách nước sử dụng chương trình  
phân cụm mờ láng giềng thích nghi cho kết quả  
như trong Bảng 6. Có thể thấy rằng, phương pháp  
MFCM vàWIs cho kết quả chính xác cao hơnso với  
phương pháp sử dụng ngưỡng.  
(OA: sai số toàn cục; T: thời gian xử lý (giây).  
Kết quả khảo sát các tham số mờ hóa (m) cho  
thấy mặc dù sự khác biệt về độ chính xác phân loại  
là không đáng kể (khác biệt lớn nhất là 0.011%),  
tuy nhiên, vẫn có thể thấy được qui luật là khi m  
tăng thì độ chính xác giảm. Bên cạnh đó, xét về tốc  
độ tính toán, với m = 2 thì thời gian xử lý nhanh  
nhất T = 555 giây (cho ảnh kích thước 6290 x  
6460 trên MatlabTB 9.0 và máy tính Intel(R)  
Core(TM) i7 CPU 2.0 GHz).  
Kết quả khảo sát các kích thước cửa sổ cũng  
cho kết quả tương tự với sự khác biệt không đáng  
kể về độ chính xác (lớn nhất là 0.049%) và một xu  
hướng giảm dần về độ chính xác chiết tách khi  
Khảo sát bằng mắt, có thể thấy rằng phương  
pháp phân ngưỡng cho kết quả phân loại với  
nhiều điểm ảnh phân loại sai hơn so với phương  
pháp MFCM (Hình 4).  
Bảng 6. So sánh độ chính xác phân loại của phương pháp WIs và phương pháp FCM.  
Phương pháp  
Sai số  
NDWI FCM - NDWI MNDWI FCM - MNDWI AWEIsh FCM - AWEIsh AWEInsh FCM - AWEInsh  
KC  
0.84  
0.85  
92.37  
0.85  
92.3  
0.87  
93.08  
0.86  
92.89  
0.86  
92.91  
0.84  
91.96  
0.84  
92.02  
OA (%) 92.13  
Hình 4. So sánh kết quả chiết tách nước mặt giữa phương pháp phân ngưỡng và MFCM.  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
63  
Hình 5. Kết quả chiết tách nước bằng MFCMkết hợp các ảnh chỉ số: a. NDWI; b. MNDWI; c. AWEIsh;  
d. AWEInsh.  
Nước khu vực cửa sông là môi trường phức  
tạp chứa nhiều bùn, chất lơ lửng, phù du và thực  
vật (Fujii, 2012).Các thành phần này được xác  
định là nguồn sai số chính cho chiết tách nước bề  
mặt ở khu vực cửa sông.Mối liên hệ giữa độ chính  
xác kết quả phân loại và sinh vật phù du, hàm  
lượng chất lơ lửng trong nước được thể hiện rất  
rõ trong Hình 6 (Yang et al., 2015).  
Điều này đã được chứng minh trong nghiên  
cứu này, khi phương pháp chiết tách nước sử  
dụng kết hợp phân cụm mờ láng giềng thích nghi  
và chỉ số nước MND-WIs cho kết quả chính xác  
hơn các chỉ số nước khác. Đây một phần là do chỉ  
số MNDWI sử dụng kênh SWIR (kênh 5 với  
Landsat 5 TM, kênh 6 với Landsat 8 OLI), kênh này  
ít chịu ảnh hưởng của độ đục, các sinh vật phù du  
vàchất lơ lửng trongquátrình thủytriều rút ở khu  
vực ven biển, trong khi đó, kênh NIR (kênh 4 với  
Landsat 5 TM, kênh 5 với Landsat 8 OLI) bị tác  
động mạnh bởi các điều kiện này (Ryu et al.,  
2002). Chỉ số NDWI sử dụng kênh NIR nên kết quả  
chiết tách nước sông đục và nông có độ chính xác  
không cao (Yang et al., 2015).  
4.3 Thảo luận  
Trong thuật toán FCM láng giềng thích nghi,  
hai tham số quan trọng nhất có ảnh hưởng tới kết  
quả chiết tách thông tin nước mặt là tham số mờ  
hóa (fuzzification) và số lượng các điểm ảnh láng  
giềng được xác định thông qua kích thước cửa sổ  
trượt (N). Giá trị mờ hóa m làm giảm ảnh hưởng  
của nhiễu trong quá trình tính giá trị đại diện của  
mỗicụm.Bêncạnh đó, vai tròcủa giátrị thành viên  
푢푖푘 cũng phụ thuộc vào tham số m. Giá trị m càng  
lớn sự phụ thuộc càng nhiều. (Lin et al., 1996). Kết  
quả thực nghiệm đã cho thấy khi giá trị mờ hóa  
tăng thì độ chính xác chiết tách thông tin sẽ giảm.  
Trong khi đó, kích thước cửasổ trượt sử dụng tính  
trọng số không gian của các điểm ảnh xét sẽ quyết  
định số lượng các điểm ảnh láng giềng. Khi càng  
nhiều các điểm ảnh láng giềng tham gia quá trình  
tính µ thì khả năng loại bỏ nhiễu càng cao, tuy  
nhiên, khả năng phân loại sai cũng tăng lên  
(Adhikari et al., 2015). Kết quả thực nghiệm đã  
cho thấy điều này.  
64  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
Tài liệu tham khảo  
Adhikari, S. K., Sing, J. K., Basu, D. K., Nasipuri, M.,  
2015. Conditional spatial fuzzy C-means  
clustering algorithm for segmentation of MRI  
images. Applied Soft Computing, 34, 758-769.  
Alsdorf, D. E., Lettenmaier, D. P., 2003. Tracking  
Fresh Water from Space. Science, 301(5639),  
jstor.org/stable/3835066  
Bezdek, J. C., 1973. Fuzzy Mathematics in Pattern  
Classification. (Doctor of Philosophy), Cornell  
University, Ithaca, New York.  
Bezdek, J. C., Ehrlich, R., Full, W., 1984. FCM: The  
fuzzy c-means clustering algorithm. Computers  
and  
Geosciences,  
10(2),  
191-203.  
doi:10.1016/0098-3004(84)90020-7  
Chuang, K. S., Tzeng, H. L., Chen, S., Wu, J., Chen, T.  
J., 2006. Fuzzy c-means clustering with spatial  
information for image segmentation.  
Computerized Medical Imaging and Graphics,  
30(1), 9-15. doi:10.1016/j.compmedimag  
.2005.10.001  
Hình 6. Ảnh hưởng của sinh vật phù du trong  
nước tới độ chính xác phân loại(Yang et al., 2015).  
5. Kết luận  
Môi trường nước cửa sông phức tạp và ảnh  
hưởng rõ ràng tới độ chính xác chiết tách nước bề  
mặt trên tư liệu viễn thám. Phương pháp phân  
cụm mờ FCM áp dụng trên ảnh chỉ số nước WIs là  
một giải pháp nhanh, chính xác, và hiệu quả.Các  
tham số mờ hóa và số điểm ảnh láng giềng là hai  
trong số những tham số cơ bản của thuật toán  
MFCM.Hai tham số có ảnh hưởng tuy không lớn về  
độ chính xác nhưng rất rõ ràng về thời gian xử lý.  
Trong nghiên cứu này, mờ hóa m =2 và kích thước  
cửa sổ N = 3 (số điểm ảnh láng giềng là 8) được  
xác định là tối ưu. Phương pháp sử dụng cho độ  
chính xác cao hơn phương pháp đặt ngưỡng nhờ  
kết hợp ưu điểm của cả hai kỹ thuật tạo ảnh chỉ số  
nước và phân cụm mờ láng giềng thích nghi. Bên  
cạnh đó, quá trình xử lý được tự động hoàn toàn,  
tiết kiệm được thời gian và công sức so với  
phương pháp đặt ngưỡng. Việc sử dụng kết hợp  
giữa cửa sổ trượt và histogram khởi tính giá trị  
tâm cụm hay giá trị đại diện của cụm đã giúp cải  
thiện đáng kế quá trình khởi tạo của thuật toán  
FCM. Với khu vực cửa sông chứa nhiều phù sa,  
chất lơ lửng, và sinh vật phù du, chỉ số nước  
MNDWI, AWEIsh cho độ chính xác chiết tách nước  
mặt cao hơn NDWI.  
Dunn, J. C., 1973. A Fuzzy Relative of the ISODATA  
Process and Its Use in Detecting Compact Well-  
Separated Clusters. Journal ofCybernetics, 3(3),  
32-57. doi:10.1080/01969727308546046  
Feyisa, G. L., Meilby, H., Fensholt, R., Proud, S. R.,  
2014. Automated Water Extraction Index: A  
new technique for surface water mapping  
using Landsat imagery. Remote Sensing of  
/10.1016/j.rse.2013.08.029  
Frazier, P., Page, K., Louis, J., Briggs, S., Robertson,  
A. I., 2003. Relating wetland inundation to  
riverflowusing LandsatTMdata. International  
Journal of Remote Sensing, 24(19), 3755-3770.  
doi:10.1080 /01431160 21000023916  
Fujii, T., 2012. Climate Change, Sea-Level Rise and  
Implications for Coastal and Estuarine  
Shoreline Management with Particular  
Reference to the Ecology of Intertidal Benthic  
Macrofauna in NW Europe. Biology, 1(3), 597-  
616. doi:10.3390/biology1030597  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
65  
Ghaffarian, S., Ghaffarian, S., 2014. Automatic  
histogram-based fuzzy C-means clustering for  
remote sensing imagery. ISPRS Journal of  
Photogrammetry and Remote Sensing, 97, 46-  
57. doi:10.1016/j.isprsjprs.2014.08.006  
Pham, T. D., Yoshino, K., 2016. Impacts of  
mangrove management systems on mangrove  
changes in the Northern Coast of Vietnam.  
Tropics,  
24(4),  
141-151.  
doi:10.3759/tropics.24.141  
Ghosh, A., Mishra, N. S., Ghosh, S., 2011. Fuzzy  
clustering algorithms for unsupervised change  
detection in remote sensing images.  
Information Sciences, 181(4), 699-715.  
doi:10.1016/j.ins.2010.10.016  
Ryu, J.-H., Won, J.-S., Min, K. D., 2002. Waterline  
extraction from Landsat TM data in a tidal flat:  
A case study in Gomso Bay, Korea. Remote  
Sensing of Environment, 83(3), 442-456.  
doi:10.1016/S0034-4257(02)00059-7  
Hao, J., Min, F., Yunqiang, Z., Ning, L., Jianxi, H.,  
Tong, X., 2014. An Automated Method for  
Extracting Rivers and Lakes from Landsat  
Imagery. Remote Sensing, 6(6), 5067-5089.  
doi:10.3390/rs6065067  
Stavrakoudis, D. G., Theocharis, J. B., Zalidis, G. C.,  
2011. A Boosted Genetic Fuzzy Classifier for  
land cover classification of remote sensing  
imagery. ISPRS Journal of Photogrammetry and  
Remote  
Sensing,  
66(4),  
529-544.  
doi:10.1016/j.isprsjprs.2011.01.010  
Kersten, P. R., Jong-Sen, L., Ainsworth, T. L., 2005.  
Unsupervised classification of polarimetric  
synthetic aperture Radar images using fuzzy  
clustering and EM clustering. Geoscience and  
Remote Sensing, IEEE Transactions on, 43(3),  
519-527. doi:10.1109/TGRS.2004.842108  
Verpoorter, C., Kutser, T., Seekell, D. A., Tranvik, L.  
J., 2014. A global inventory of lakes based on  
high-resolution satellite imagery. Geophysical  
Research Letters, 41(18), 6396-6402.  
doi:10.1002/2014GL060641  
Lin, J.-S., Cheng, K.-S., Mao, C.W., 1996.  
Segmentation of Multispectral Magnetic  
Resonance Image Using Penalized Fuzzy  
Competitive Learning Network. Computers  
and Biomedical Research, 29(4), 314-326.  
White, K., El Asmar, H. M., 1999. Monitoring  
changing position of coastlines using thematic  
mapper imagery, an example from the Nile  
delta. Geomorphology, 29, 93-105.  
Xu, H., 2006. Modification of normalised  
difference water index (NDWI) to enhance  
open water features in remotely sensed  
imagery. International Journal of Remote  
McFeeters, S. K., 1996. The use of the Normalized  
Difference Water Index (NDWI) in the  
delineation of open water features.  
International Journal of Remote Sensing, 17(7),  
Sensing,  
27(14),  
3025-3033.  
doi:10.1080/01431160600589179  
1425-1432.  
8714  
doi:10.1080/0143116960894  
Yang, Y., Liu, Y., Zhou, M., Zhang, S., Zhan, W., Sun,  
C., Duan, Y., 2015. Landsat 8 OLI image based  
McKeon, C. S., Tunberg, B. G., Johnston, C. A.,  
Barshis, D. J., 2015. Ecological drivers and  
habitat associations of estuarine bivalves.  
PeerJ, 3, e1348. doi:10.7717/peerj.1348  
terrestrial  
heterogeneous  
reflectance homogenization approach. Remote  
Sensing of Environment, 171, 14-32.  
doi:10.1016/j.rse.2015.10.005  
water  
extraction  
from  
backgrounds  
using  
a
66  
Cao Xuân Cường, Võ Ngọc Dũng/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 55-66  
ABSTRACT  
Modified fuzzy c - means based approach for water body extraction  
from water index images  
Cuong Xuan Cao, Dung Ngoc Vo  
Faculty of Geomatics and Land Administration, Hanoi University of Mining and Geology, Vietnam  
While surface waters play a crucial role on terrestrial life, this resource is under threats due to both  
human and natural activities. Extracting water bodies is an important task for the management of water  
resource. Traditional remote sensing based methods have difficulties in the water body extraction  
because of the coarse spatial resolution and spectral reflectance heterogeneity of satellite images. This  
paper presents a new approach for detecting water bodies from water index images based on the  
modified fuzzy c-means (MFCM). The approach was designed to improve the water extraction accuracy.  
It was applied to Landsat 8 OLI images captured over the Bach Dang estuary situated in Hai Phong and  
Quang Ninh. Results showedthe MFCM method improved the accuracy of water extraction in comparison  
to the density slicing method in term of kappa coefficients, with 0.87 and 0.84, respectively.  
pdf 12 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 24060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng thuật toán phân cụm mờ trên ảnh chỉ số nước trong chiết tách thông tin nước mặt khu vực cửa sông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_thuat_toan_phan_cum_mo_tren_anh_chi_so_nuoc_trong_c.pdf