Nghiên cứu xu thế biến đổi nhiệt độ trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN  
Soá 23 (48) - Thaùng 12/2016  
Nghiên cứu xu thế biến đổi nhiệt độ trong bối cảnh biến đổi  
khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh  
Trends of temperature change in the context of climate change in Ho Chi Minh City  
ThS. Trần Xuân Hoàng  
Viện Khí tượng Thủy văn Hải văn và Môi trường  
Tran Xuan Hoang, M.Sc.  
Institute of Hydrology Meteorology Oceanology and Environment  
TS. Lê Ngọc Tuấn  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP.HCM  
Le Ngoc Tuan, Ph.D.  
The University of Science – National University Ho Chi Minh City  
        
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu và là thách thức lớn đối với toàn  
nhân loại. Biểu hiện rõ ràng nhất của BĐKH là sự gia tăng nhiệt độ. Bằng phương pháp thu thập tài liệu,  
thống kê, xử lý số liệu, phân tích xu thế … nghiên cứu thực hiện cập nhật, đánh giá diễn biến nhiệt độ  
tại trạm Tân Sơn Hòa - đại diện cho khu vực Tp.HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trung bình  
tại đây có xu hướng gia tăng với tốc độ khoảng 0,046oC/năm. Nhiệt độ tối cao ổn định về xu thế nhưng  
lại có nhiều biến động trong những thời kỳ ngắn. Nhiệt độ tối thấp có xu thế tăng nhanh hơn so với  
nhiệt độ trung bình và nhiệt độ tối cao với tốc độ tăng 0,1oC/năm. Trong 10 năm gần đây, biên độ nhiệt  
độ có xu thế giảm mạnh hơn, có những ngày biên độ nhiệt chỉ khoảng 1,3oC. Kết quả nghiên cứu là cơ  
sở quan trọng cho các nghiên cứu đánh giá tác động của biển đổi nhiệt độ nói riêng và BĐKH nói chung  
đến các ngành, các lĩnh vực.  
Từ khóa: biến đổi khí hậu, hồi quy tuyến tính, nhiệt độ, xu thế.  
Abstract  
Climate change has been taking place on a global scale and is a big challenge for humanity. The most  
obvious manifestation of climate change is the increase in temperature. Using the methods of collecting  
and processing data, statistics, trend analysis, etc., this study updates and accesses changes in  
temperature at the Tan Son Hoa station, which represents Ho Chi Minh City. Results shows that the  
average temperature tends to increase about 0.046°C per year. The maximum temperature is steady in  
general trend but significantly oscillates in short periods. The minimum temperature increases 0.1°C per  
year, faster than mean and max temperatures do. For the last 10 years, the temperature amplitude tends  
to decrease more sharply. These results form an important basis for evaluating impacts of temperature  
evolutions in particular and of climate change in general to sectors and areas.  
Keywords: climate change, linear regression, temperature, trend.  
139  
đổi các yếu tố khí hậu đến thời điểm hiện  
tại. Theo đó, nghiên cứu xu thế biến đổi  
nhiệt độ trong bối cảnh BĐKH tại khu vực  
Tp.HCM được thực hiện với mục tiêu đánh  
giá được xu thế biến đổi nhiệt độ trong giai  
đoạn 1978 – 2014 (tại trạm Tân Sơn Hòa),  
phục vụ các nghiên cứu đánh giá tổn  
thương do BĐKH tại địa phương.  
1.            
Ngày nay, bên cạnh những thành tựu to  
lớn về kinh tế xã hội, thành phố Hồ Chí  
Minh (Tp.HCM) đang phải đối mặt với  
nhiều vấn đề môi trường, trong đó có biến  
đổi khí hậu (BĐKH) như xu thế chung toàn  
cầu, đòi hỏi những giải pháp ứng phó tương  
thích và hiệu quả. Trong bài toán nghiên  
cứu BĐKH, cần thiết thực hiện những đánh  
giá chi tiết về xu thế biến đổi các yếu tố khí  
tượng thủy văn (nhiệt độ, lượng mưa, mực  
nước biển dâng…) (Bộ Tài nguyên và Môi  
trường, 2012; IPCC AR5, 2013) - tạo cơ sở  
cho việc xây dựng các kịch bản BĐKH  
cũng như đánh giá tác động của BĐKH đến  
các ngành, các lĩnh vực.  
Nhiệt độ là một trong những yếu tố  
quan trọng nhất của hệ thống khí hậu - tác  
động đến hầu hết các yếu tố khác như bốc  
hơi, gió, lượng mưa... Vào cuối thế kỉ XIX,  
khi xem xét nhiệt độ trung bình toàn cầu,  
các nhà khoa học nhận thấy sự tăng nhiệt  
độ tại phần lớn các khu vực - qua đó hình  
thành khái niệm “Nóng lên toàn cầu”  
(Global Warming). Khi hiện tượng “Nóng  
lên toàn cầu” tiếp tục xảy ra trong thế kỷ  
XXI với phạm vi chưa từng có, dẫn tới sự  
biến đổi sâu sắc trong hệ thống khí hậu - từ  
đó khái niệm “Biến đổi khí hậu” (Climate  
change) được ra đời. Như vậy, có thể thấy,  
nhiệt độ được xem là biểu hiện trực quan,  
đồng thời cũng là nguyên nhân thứ cấp của  
các tác động liên quan đến BĐKH.  
2. Phươ g pháp  ghiê  cứu  
Diễn biến nhiệt độ được đánh giá qua  
02 yếu tố: (1) Biến trình nhiệt độ và (2) Xu  
thế biến đổi nhiệt độ.  
Các giai đoạn được xem xét so sánh  
(căn cứ vào giai đoạn nền 1986-2015 của  
Ủy Ban Liên Chính Phủ về Biến Đổi Khí  
Hậu - IPCC trong bài toán BĐKH), bao  
gồm: (1) Giai đoạn 1986 - 2005: Giai đoạn  
nền cho kịch bản BĐKH trong báo cáo  
AR5 của IPCC (2013); (2) Giai đoạn 2005  
- 2014: Giai đoạn 10 năm gần đây; (3) Giai  
đoạn 1978 - 2014: Giai đoạn tổng hợp.  
2.1. Phương pháp thu thập tài liệu:  
Thu thập số liệu quan trắc nhiệt độ tại  
trạm Tân Sơn Hòa giai đoạn 1978-2014.  
Nguồn thu thập tài liệu: Đài Khí tượng  
Thủy văn khu vực Nam Bộ nên đảm bảo  
độ tin cậy của dữ liệu.  
2.2. Phương pháp xử lý số liệu:  
Được áp dụng nhằm thống kê số liệu  
nhiệt độ, tính toán biến trình năm của nhiệt  
độ, tính toán xu thế nhiệt độ, vẽ các đồ thị  
biểu diễn... Phần mềm được sử dụng chính  
là Excel.  
Tại khu vực Tp.HCM, đã có một số  
nghiên cứu, đánh giá xu thế biến đổi các  
yếu tố khí hậu (Nguyễn Kỳ Phùng và Lê  
Văn Tâm, 2011; Nguyễn Kỳ Phùng, 2013)  
giai đoạn 1978 - 2010. Tuy nhiên, trong 5  
năm gần đây (2010 - 2014), BĐKH đang  
có những diễn biến khá phức tạp. Do đó,  
để có những nhận định phù hợp với tình  
hình BĐKH, cần thiết cập nhật xu thế biến  
Biên độ nhiệt độ năm được tính toán  
theo công thức:  
Biên độ nhiệt độ ngày trung bình, lớn  
nhất, nhỏ nhất được tính bằng công thức:  
140  
nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào khoảng  
tháng 12 và tháng 1 (Hình 1). Bên cạnh đó,  
xu thế tăng nhiệt độ được thể hiện khá rõ ở  
tất cả các giai đoạn và các tháng trong  
năm. Giai đoạn 1986 – 2005, sự biến đổi  
nhiệt độ trung bình có xu thế giống với  
toàn giai đoạn 1978 – 2014. Một vài điểm  
đáng lưu ý về biến trình của nhiệt độ trung  
bình qua các giai đoạn:  
Nhiệt độ trung bình cao nhất (tháng  
4): giai đoạn 1986 - 2005 là 29,6oC và tăng  
lên 29,8oC trong 10 năm gần đây. Nhiệt độ  
trung bình cao nhất tăng với tốc độ khoảng  
0,023 oC/năm, theo đó, trong hơn 35 năm,  
nhiệt độ trung bình cao nhất tăng khoảng  
0,85oC.  
2.3. Phương pháp xác định xu thế:  
Sử dụng phương trình hồi quy tuyến  
tính. Xu thế biến đổi được biểu diễn theo  
hàm thời gian:  
; trong đó:  
Y: là giá trị của hàm;  t: số thứ tự năm; a0,  
a1: các hệ số hồi qui. Hệ số a1 cho biết  
hướng dốc của đường hồi quy, thể hiện xu  
thế biến đổi tăng hay giảm theo thời gian.  
Nếu a1 âm nghĩa là xu thế giảm theo thời  
gian và ngược lại. Các hệ số a0 và a1 tính  
theo công thức:  
;
Nhiệt độ trung bình thấp nhất  
(tháng 12, 1): có nhiều biến động so với  
nhiệt độ trung bình cao nhất - khoảng  
26,5oC vào giai đoạn 1986 – 2005 và tăng  
lên 27oC trong giai đoạn 2005 – 2014.  
Nhiệt độ trung bình thấp nhất tăng với tốc  
độ khoảng 0,04oC/năm, tương ứng 1,48 oC  
trong hơn 35 năm (1978 – 2014).  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Biến đổi biến trình của nhiệt độ  
Biến trình năm của nhiệt độ trung bình  
khá tương đồng giữa các giai đoạn, cao  
Hình 1: Biến trình năm của nhiệt độ trung bình qua các giai đoạn tại trạm  
Tân Sơn Hòa - TpHCM  
Hình 2 và Hình 3 thể hiện biến trình  
nhiệt độ tối thấp và tối cao qua các giai  
đoạn tại trạm Tân Sơn Hòa –Tp.HCM –cho  
thấy những biến đổi tương đối phức tạp:  
141  
nhiệt độ tối cao cao nhất xuất hiện vào  
tháng 4 với giá trị khoảng 35oC cho  
toàn giai đoạn 1978 – 2014. Tuy  
nhiên, có thể thấy rằng, trong khoảng  
10 năm trở lại đây (giai đoạn 2006 –  
2014), nhiệt độ tối cao tăng mạnh hơn  
so với giai đoạn 1986 – 2005, biểu  
hiện rõ nhất ở các tháng cuối năm  
(tháng 8-12).  
Về nhiệt độ tối thấp: nhiệt độ tối  
thấp nhỏ nhất thường xuất hiện trong tháng  
12, tháng 1 và cao nhất thường xuất hiện  
vào tháng 4, 5, 6 (Hình 2); dao động từ  
khoảng 22,8oC (vào tháng 12, tháng 1 giai  
đoạn 1986 - 2005) đến khoảng 23,6oC (vào  
tháng 1 giai đoạn 2006 - 2014) – cho thấy  
xu hướng tăng trong thời gian gần đây.  
Về nhiệt độ tối cao: Theo Hình 3,  
Hình 2: Biến trình nhiệt độ tối thấp qua các giai đoạn tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
Hình 3: Biến trình nhiệt độ tối cao qua các giai đoạn tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
nhiệt độ trung bình tại trạm Tân Sơn Hòa  
qua các giai đoạn. Theo đó, nhiệt độ trung  
bình trong hơn 35 năm có xu thế tăng với  
tốc độ khoảng 0,04oC/năm. Giai đoạn  
3.2. Xu thế biến đổi nhiệt độ  
3.2.1. Xu thế biến đổi nhiệt độ trung  
bình năm  
Hình 4 thể hiện xu thế biến đổi của  
142  
1986 – 2005 có sự biến động nhiệt độ  
phức tạp với giá trị nhiệt độ thấp nhất  
khoảng 27oC (năm 1986) và cao nhất  
khoảng 28,5oC (năm 1998); xu thế gia  
tăng nhiệt độ của giai đoạn này là  
0,046oC/năm. Trong 10 năm trở lại đây,  
nhiệt độ có xu hướng tăng nhanh hơn và  
mức chênh lệch nhiệt độ trung bình năm  
cao nhất là 0,7oC (27,9oC năm 2008 và  
28,6oC năm 2012).  
Hình 4: Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm tại trạm Tân Sơn Hòa – TpHCM  
3.2.2. Xu thế biến đổi nhiệt độ cao nhất  
Nhiệt độ tối cao tại trạm Tân Sơn Hòa  
từ năm 1978 – 2014 biến đổi không đáng  
kể - tăng 0,025 oC/năm (Hình 5); tuy nhiên  
ghi nhận sự gia tăng nhiệt độ khá rõ nét  
khi xét một số giai đoạn thành phần. (i)  
Giai đoạn 1986 – 2005 có sự biến động  
nhiệt độ lớn nhất trong toàn bộ chuỗi dữ  
liệu. Nhiệt độ cao nhất rơi vào năm 1998  
(39,3oC) – cũng là giá trị cao nhất trong  
giai đoạn 1978 – 2014, giảm xuống thấp  
nhất vào năm 1999 (35,9oC) và tăng mạnh  
trở lại đến năm 2001 (38,5oC). Tốc độ tăng  
nhiệt độ tối cao trong giai đoạn này ước  
khoảng 0,057oC/năm. (ii) Trong 10 năm  
gần đây (giai đoạn 2005 – 2014), nhiệt độ  
tiếp tục có xu hướng tăng với hệ số góc  
tương đối lớn.  
Hình 5: Xu thế biến đổi nhiệt độ tối cao tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
143  
3.2.3. Xu thế biến đổi nhiệt độ thấp nhất  
Nhiệt độ tối thấp trong giai đoạn  
1978 – 2014 tăng/giảm theo chu kỳ 1  
hoặc 2 năm. Nhìn chung trong toàn bộ  
giai đoạn, nhiệt độ tối thấp tăng khá  
nhanh với tốc độ khoảng 0,11oC/năm.  
Một số giai đoạn thành phần cũng có tốc  
độ gia tăng tương tự.  
Hình 6: Xu thế biến đổi nhiệt độ tối thấp tại trạm Tân Sơn Hòa – TpHCM  
3.2.4. Xu thế biến đổi biên độ nhiệt độ  
Trong toàn bộ giai đoạn tính toán  
(1978 – 2014), biên độ nhiệt độ có xu  
hướng giảm với tốc độ 0,067oC/năm (Hình  
7) – tức biên độ nhiệt độ giảm khoảng  
2,4oC trong vòng 35 năm. Biên độ nhiệt độ  
năm cao nhất vào năm 1995 (20,75oC) và  
thấp nhất vào năm 2012 (13,75oC).  
Để đánh giá tính cực đoan trong biên  
độ ngày, nghiên cứu thực hiện đánh giá về  
biên độ ngày lớn nhất và biên độ ngày nhỏ  
nhất. Hình 9 thể hiện xu thế biến đổi nhiệt  
độ ngày lớn nhất tại trạm Tân Sơn Hòa qua  
các giai đoạn, dao động từ khoảng 11,6oC  
(năm 2012) đến khoảng 14,2oC (năm 1995)  
và có xu thế giảm với tốc độ khoảng  
0,04oC/năm.  
Biên độ nhiệt độ ngày trung bình trong  
toàn giai đoạn 1978 – 2014 biến đổi không  
đáng kể, dao động trong khoảng 7,83oC  
(năm 1984) và 8,85oC (năm 2002), mức  
Biên độ nhiệt ngày nhỏ nhất tại trạm  
Tân Sơn Hòa khá thấp, thấp nhất có thể  
xuống 1,3oC (năm 1983) và cao nhất cũng  
o
o
tăng trung bình khoảng 0,004 C/năm  
chỉ khoảng 4,9 C (năm 2004). Biên độ  
(Hình 8). Giai đoạn 1986 – 2005 tốc độ  
tăng nhiệt độ trung bình khoảng 0,03  
oC/năm và có xu hướng ổn định hơn trong  
giai đoạn 2005 – 2014.  
nhiệt độ ngày thấp nhất trong giai đoạn  
1978 – 2014 tương đối ổn định (tăng  
0,008oC/năm); trong 10 năm gần đây, mức  
tăng diễn ra nhanh hơn (Hình 10).  
144  
Hình 7: Xu thế biến đổi biên độ nhiệt độ năm tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
Hình 8: Xu thế biến đổi biên độ nhiệt độ ngày trung bình tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
Hình 9: Xu thế biến đổi biên độ nhiệt độ ngày lớn nhất tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
145  
Hình 10: Xu thế biến đổi biên độ nhiệt độ ngày nhỏ nhất tại trạm Tân Sơn Hòa – Tp.HCM  
3.2.5. Diễn biến số ngày xuất hiện  
nhiệt độ cực đoan  
nhiệt độ cực đoan trên 35oC. Kết quả được  
thống kê và trình bày trong Hình 11. Trong  
khoảng hơn 35 năm tại trạm Tân Sơn Hòa  
luôn xuất hiện những ngày có nhiệt độ trên  
35oC, nhiều nhất là năm 1998 với khoảng  
125 ngày, ít nhất là năm 1989 với chỉ 9 ngày.  
Ngoài ra có thể nhận thấy số ngày xuất hiện  
nhiệt độ trên 35oC có xu hướng tăng, đặc biệt  
là giai đoạn 1998 đến nay.  
Ngày xuất hiện nhiệt độ cực đoan là  
những ngày có nhiệt độ quá nóng hoặc quá  
lạnh, có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe  
cũng như sản xuất. Với đặc trưng nhiệt độ tại  
Tp. HCM, nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được  
là 16,4oC (ngày 25/12/1999), theo đó, nghiên  
cứu tiến hành thống kê các ngày có số liệu  
Hình 11: Số ngày xuất hiện nhiệt độ trên 35oC qua các năm (1978-2014)  
tại trạm Tân Sơn Hòa, Tp.HCM  
146  
Nhìn chung, nhiệt độ khu vực  
Tp.HCM có xu hướng tăng, đặc biệt là  
nhiệt độ tối thấp trong khi biên độ nhiệt độ  
có xu hướng giảm cả về biên độ năm lẫn  
biên độ ngày. Kết quả các phân tích số liệu  
các giai đoạn cho thấy nhiệt độ trong 10  
năm gần đây có dấu hiệu tăng nhanh và  
biên độ giảm mạnh.  
giai đoạn trước đó. Từ 1979-2014, tốc độ  
tăng nhiệt độ trung bình ở thành phố  
khoảng 0,046 C/năm, đặc biệt trong 10  
năm trở lại đây. Nhiệt độ trung bình tháng  
cao nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào  
tháng 12, tháng 1.  
Công trình này cung cấp kết quả hữu  
ích phục vụ các nghiên cứu về tác động của  
nhiệt độ nói riêng và BĐKH nói chung đến  
các ngành, các lĩnh vực tại địa phương.  
o
4. Kết luận  
Nghiên cứu đã tổng hợp được chuỗi số  
liệu nhiệt độ 38 năm (từ năm 1978 - 2014)  
tại trạm Tân Sơn Hòa với đầy đủ các đặc  
trưng như: nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối  
cao, nhiệt độ tối thấp - được thu thập tại  
Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đông  
Nam Bộ. Chuỗi số liệu dài, độ tin cậy cao  
sẽ đảm bảo cho mức độ phù hợp và cập  
nhật trong các kết quả nghiên cứu.  
Bằng các phương pháp thu thập, tổng  
hợp, phân tích, xử lý số liệu, nghiên cứu đã  
đánh giá diễn biến nhiệt độ khu vực  
TpHCM trong giai đoạn 1978 - 2014. Theo  
đó, nhiệt độ trung bình tại trạm Tân Sơn  
Hòa tăng qua các hầu hết các giai đoạn;  
giai đoạn sau có xu hướng tăng cao hơn  
 ÀI LIỆU  HAM KHẢO  
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kịch bản Biến  
đổi khí hậu và Nước biển dâng Việt Nam,  
2012.  
2. Nguyễn Kỳ Phùng và Lê Văn Tâm, Xây dựng  
mô hình tính toán một số thông số dưới tác  
động của BĐKH phục vụ quy hoạch sử dụng  
đất, giao thông, tài nguyên nước và hạ tầng  
cơ sở cho TP.HCM, Sở Khoa học và Công  
nghệ Tp.HCM, 2011.  
3. Nguyễn Kỳ Phùng, Xây dựng tập bản đồ khí  
tượng thủy văn TP.HCM, Sở Khoa học và  
Công nghệ TP.HCM, 2013.  
4. IPCC AR5 - Climate change 2013 - The  
physical science basis, 2013.  
Ngày nhận bài: 21/4/2016  
Biên tập xong: 15/12/2016  
Duyệt đăng: 20/12/2016  
147  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 24760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xu thế biến đổi nhiệt độ trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xu_the_bien_doi_nhiet_do_trong_boi_canh_bien_doi.pdf