Vai trò của giới Nho Thương người Hoa chợ lớn trong việc truyền bá Truyện Kiều ở Nam Bộ

AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
VAI TRÒ CỦA GIỚI NHO THƯƠNG NGƯỜI HOA CHỢ LỚN TRONG VIỆC  
TRUYỀN BÁ TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ  
Nguyễn Thanh Phong1  
1Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM  
Thông tin chung:  
Ngày nhận bài: 22/01/2019  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
16/06/2019  
Ngày chấp nhận đăng:  
02/2020  
ABSTRACT  
Tale of Kieu is a literary masterpiece of Nguyen Du in the early 19th century.  
This work is not only widely circulated from the capital Hue to the north, but  
also spread widely in the Southern Vietnam several decades later in many  
forms, texts or speechs, Nôm versions or Chinese versions and Quốc ngữ  
versions. At that time, printing technology was not developed in the Southern  
Vietnam, the price of ink and paper in the market is quite expensive, copying  
takes time, but the demand of the reader was enormous. As a result, the  
bookshops in Cho Lon (Gia Dinh) had to print Tale of Kieu in Foshan  
(Guangdong) and brought them back to the Southern Vietnam, contributing  
to its popularity in Southern Vietnam.  
Title:  
The role of Cho Lon's Chinese  
scholars and businessmen in  
propagating Tale of Kieu in  
the Southern Vietnam  
Keywords:  
Tale of Kieu, Southern  
Vietnam, Vietnamese Chinese,  
Printing industry, Foshan,  
Guangdong  
TÓM TẮT  
Truyện Kiều là kiệt tác văn học của thi hào Nguyễn Du ra đời đầu thế kỷ 19.  
Tác phẩm này không chỉ lưu hành rộng rãi từ kinh đô Huế trở ra bắc, mà vài  
chục năm sau đó cũng được truyền bá sâu rộng đến Nam Bộ dưới nhiều hình  
thức khác nhau, như văn bản hay truyền khẩu, bản truyện Nôm đầy đủ hay  
bản lược thuật, bản dịch chữ Hán hay bản dịch chữ Quốc ngữ. Trong bối  
cảnh kỹ thuật in ấn chưa phát triển mạnh mẽ ở Nam Bộ, giá cả giấy mực trên  
thị trường khá đắt đỏ, việc sao chép mất nhiều thời gian công sức, mà nhu  
cầu thưởng thức của giới nho sĩ trí thức Nam Bộ là rất lớn, nên các hiệu  
sách người Hoa Chợ Lớn (Gia Định) đã đưa Truyện Kiều sang khắc in ở  
Phật Sơn (Quảng Đông) rồi mang về phát hành ở Nam Bộ, góp phần truyền  
bá kiệt tác dân tộc này trong lòng xã hội miền Nam.  
Từ khóa:  
Truyện Kiều, Nam Bộ, nho  
thương người Hoa, in ấn sách  
vở, Phật Sơn, Quảng Đông  
1. DẪN NHẬP  
Túy Kiều phú (Khuyết danh), Kim Vân Kiều ca  
(Khuyết danh), Án Túy Kiều (Nguyễn Liên  
Đầu thế kỷ 20, Truyện Kiều bắt đầu xuất hiện trên  
diễn đàn học thuật với các cuộc tranh luận gần  
như chưa có điểm dừng giữa các trí thức nổi danh  
miền Bắc, cuộc tranh luận đó còn lan sang miền  
Nam trên nhiều tờ báo quốc ngữ ở Sài Gòn. Trước  
đó, giới nho sĩ trí thức miền Nam đã không còn xa  
lạ gì với Truyện Kiều qua các tác phẩm chữ Nôm  
Phong), Túy Kiều án (Trần Phong Sắc) như những  
bản rút gọn của Truyện Kiều, hoặc các bản phiên  
chú sang chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và  
Nguyễn Văn Vĩnh, các tác phẩm sân khấu hóa  
như Tuồng Kiều, cải lương Kiều... Những tác  
phẩm đó đều được sáng tác dựa trên bản truyện  
thơ Nôm Kim Vân Kiều tân truyện của Nguyễn  
1
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
Du được hiệu đính, khắc in và phát hành rộng rãi  
từ các hiệu sách người Hoa Chợ Lớn. Đó là kết  
quả của một quá trình dài hàng mấy chục năm từ  
nửa sau thế kỷ 19 khi Truyện Kiều bắt đầu “Nam  
tiến”.  
đã có nhiều công trình đề cập đến hoặc đi sâu  
khảo sát thảo luận. Ở Việt Nam, vấn đề này trước  
nay cũng được nhiều học giả như Sơn Nam,  
Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn  
Quảng Tuân, Nguyễn Tài Cẩn, Đoàn Lê Giang,  
Nguyễn Đông Triều, Phan Mạnh Hùng... quan  
tâm nghiên cứu. Bài viết này kế thừa kết quả  
nghiên cứu của người đi trước, kết hợp dữ liệu  
điều tra điền dã, tiến hành phân tích, tổng thuật để  
làm rõ hơn một vấn đề thú vị của ngành Kiều học  
và Nam Bộ học.  
Truyện Kiều truyền đến Nam Bộ, được giới nho sĩ  
trí thức đặc biệt yêu thích. Thế nhưng, được sở  
hữu một bản Truyện Kiều trong tay để ngâm nga  
tiêu khiển hằng ngày, dù đó là bản Phường in ở  
phố Hàng Gai (Hà Nội) hay bản Kinh in ở Huế,  
hoặc thậm chí chỉ là bản chuyền tay nhau sao  
chép, là niềm mong ước của không ít nho sĩ trí  
thức Nam Bộ nửa cuối thế kỷ 19. Nhận thấy nhu  
cầu sách vở để tham học ở Nam Bộ đang ngày  
một lên cao, trong điều kiện sách vở chữ quốc ngữ  
vẫn chưa được phổ biến rộng rãi, giới nho sĩ và  
thương nhân người Hoa Chợ Lớn (Gia Định) vốn  
có con mắt nhạy bén trong lĩnh vực kinh doanh,  
đã nảy ra ý định đem bản Nôm Truyện Kiều sang  
Phật Sơn (Quảng Đông) để in ấn với số lượng lớn  
và giá thành rẻ, rồi gửi thuyền buôn mang về phát  
hành rộng rãi ở Nam Bộ.  
2. GIỚI NHO THƯƠNG NGƯỜI HOA CHỢ  
LỚN VÀ TRUNG TÂM KHẮC IN PHẬT  
SƠN (QUẢNG ĐÔNG)  
Di dân Trung Hoa đã có mặt ở Nam Bộ từ rất lâu.  
Không kể trường hợp Chu Đạt Quan đi sứ Chân  
Lạp vào cuối thế kỷ 13, các nhóm di dân người  
Minh Hương vào cuối thế kỷ 17 được ghi chép  
xác thực trong Đại Nam thực lục và Gia Định  
thành thông chí, trong đó Trần Thượng Xuyên,  
Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu là những thủ lĩnh di  
dân quan trọng. Sau chuyến kinh lược đến xứ  
Đồng Nai của Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh năm  
1698, người Minh Hương được tổ chức thành các  
đơn vị hành chính chặt chẽ, thành lập các bang  
hội tương trợ, tích cực phát triển kinh tế, cùng  
người Việt và các sắc dân khác cộng cư tương đối  
hòa hiếu. Trong các cuộc xung đột giữa thế lực  
Tây Sơn và nhà Nguyễn ở Nam Bộ, người Minh  
Hương và các lớp di dân người Hoa về sau dần  
chuyển cư đến Đề Ngạn (Sài Gòn). Với sở trường  
hoạt động kinh doanh, giao dịch thương mại với  
cư dân vùng Hoa Nam (Trung Quốc) và nhiều  
nước Đông Nam Á khác, người Hoa đã mở rộng  
chợ búa làm ăn buôn bán, xây dựng phố xá ngày  
một náo nhiệt, trở thành trung tâm đô thị Chợ Lớn  
của vùng đất Gia Định.  
Rất nhiều vấn đề thú vị cần làm rõ là: Phật Sơn là  
trung tâm in ấn như thế nào, giới Hoa thương Chợ  
Lớn có mối liên hệ ra sao với Phật Sơn, tại sao họ  
không chọn in ấn ở một nơi nào khác của Việt  
Nam, ai là người đã cung cấp bản gốc Truyện  
Kiều sang Quảng Đông, ai đã hỗ trợ công tác in ấn  
tác phẩm chữ Nôm này khi đây là một thứ chữ xa  
lạ với người Trung Quốc, sách được chuyển sang  
Sài Gòn – Chợ Lớn như thế nào, việc phát hành  
và buôn bán đã diễn ra làm sao... Trả lời được  
những câu hỏi này, chúng ta sẽ khám phá thêm  
những góc khuất thú vị trong lịch sử giao lưu sách  
vở học thuật giữa hai nước, lịch sử truyền bá văn  
học Hán Nôm đến Nam Bộ, mà cụ thể ở đây là  
lịch sử truyền bá Truyện Kiều trên vùng đất Nam  
Bộ.  
Phật Sơn (còn gọi Phật Trấn, tỉnh Quảng Đông) là  
một trong sáu trung tâm in ấn sách vở quan trọng  
ở Trung Quốc thời nhà Thanh. Từ đầu thế kỷ 18  
đến hết thế kỷ 19, Phật Sơn cùng với Quảng Châu  
là hai “kho sách” lớn của tỉnh Quảng Đông, vừa là  
trung tâm in ấn sách vở với kỹ thuật tiên tiến và  
Vấn đề này đã được nhiều học giả Trung Quốc,  
Đài Loan và Việt Nam chú ý từ lâu. Ở Trung  
Quốc và Đài Loan, các học giả Trương Tú Dân,  
Nhan Bảo, Trần Ích Nguyên, Lý Khánh Tân, Lưu  
Ngọc Quân, Hạ Lộ, Vương Gia, Nghiêm Diễm...  
2
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
giá thành rẻ, vừa có nhiều nhà sách, nhà xuất bản  
đồ sộ với một thị trường buôn bán sách vở vào  
loại nhộn nhịp nhất thời bấy giờ. Sách vở xuất bản  
nơi đây, không chỉ được mua bán rộng rãi khắp  
vùng Hoa Nam, Hồng Công, Ma Cau, mà còn  
theo chân giới Hoa thương truyền rộng khắp các  
nước Đông Á và Đông Nam Á. Hiện nay, phòng  
lưu trữ sách cổ Phật Sơn trực thuộc Thư viện  
thành phố Phật Sơn còn lưu giữ rất nhiều tư liệu  
quý giá cho thấy diện mạo nghề in ấn và phát  
hành sách hưng thịnh ở nơi đây một thời.  
thế kỷ 20, khi công nghệ in ấn hiện đại phát triển,  
kỹ thuật in mộc bản truyền thống dần lụi tàn, Phật  
Sơn hoàn thành vai trò lịch sử của nó trong suốt  
hơn hai thế kỷ.  
Đương nhiên, một trung tâm in ấn và một thị  
trường sách vở nhộn nhịp như vậy khó thể nào lọt  
khỏi tầm mắt của giới Hoa thương nhạy bén Việt  
Nam, những người mà từ lâu đã có mối quan hệ  
làm ăn buôn bán vô cùng khăng khít với giới Hoa  
thương đại lục. Trong khi đó, nhu cầu tham cứu  
sách vở trong nước khá lớn, ban đầu việc nhập  
khẩu sách vở Trung Quốc từ Phật Sơn là nhắm  
đến cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ, dần dà mở  
rộng sang đối tượng trí thức nho sĩ trên khắp miền  
Nam. Điều đó cũng có nghĩa, nếu ban đầu sách vở  
nhập về bằng chữ Hán thuộc các lĩnh vực y học,  
văn chương, lịch sử, triết học, tự điển, học chữ  
Hán vỡ lòng... của Trung Quốc; thì dần dà về sau,  
nhiều sách vở lưu hành ở Nam Bộ được đưa sang  
để khắc in rồi mang về phát hành tại các hiệu sách  
lớn ở Gia Định, chủ yếu là các truyện Nôm và các  
vở tuồng hát bội.  
Từ thời Minh, Phật Sơn đã được chia làm 24 con  
phố, đến đời nhà Thanh mở rộng ra 28 phố, trong  
đó các phố Đại Địa, Phúc Đức, Phúc Lộc, Tẩu Mã  
nổi tiếng là những con phố có nhiều hiệu sách  
nhất. Theo thống kê của Lưu Thục Bình, người đã  
dành nhiều năm nghiên cứu nghề in ấn ở Phật  
Sơn, vào lúc thịnh vượng nhất ở đây có đến 76  
hiệu sách, mỗi hiệu sách thường có cơ sở in ấn và  
phát hành riêng. Chẳng hạn phố Đại Địa có các  
hiệu sách Anh Văn Đường, Hữu Văn Đường, Hàn  
Văn Đường, Văn Hoa Các; phố Phúc Lộc có Tàng  
Kinh Các, Xương Hoa Đường, Hàn Văn Đường,  
Hoa Văn Cục, Thụy Văn Đường, Tu Trúc Trai,  
Văn Quang Lâu, Thiên Bảo Lâu, Anh Văn  
Đường, Bảo Hoa Các, Chính Đồng Văn Thư Cục,  
Văn Hoa Thư Cục, Đồng Văn Đường, Tự Lâm  
Thư Cục; hay phố Xá Nhân Hậu có Cận Văn  
Đường; phố Tẩu Mã có Cần Hương Các... Trong  
đó, Hàn Văn Đường có 2 cơ sở in ấn sách ở phố  
Đại Địa và phố Phúc Lộc, hoặc Đồng Văn Đường  
là chi nhánh của hiệu sách cùng tên ở Quảng Châu  
(Quảng Đông) (Lưu Thục Bình, 2012, tr.70-73).  
Kết quả điều tra điền dã mấy năm gần đây của  
chúng tôi cho thấy, rất nhiều sách vở Trung Quốc  
in ấn ở Phật Sơn thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 được  
lưu truyền rộng rãi trong giới trí thức Nam Bộ,  
đến cả các nhà nho xa xôi ở đồng bằng sông Cửu  
Long. Đơn cử trường hợp sách cổ được lưu giữ tại  
gia đình ông Cao Văn Hân (1924-1999), lúc sinh  
tiền sống tại phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt,  
thành phố Cần Thơ. Trong số 260 quyển sách Hán  
Nôm mà chúng tôi có dịp khảo sát, chiếm 2/3  
trong số đó là các loại tự điển Trung Hoa (Tự điển  
toàn tập, Khang Hy tự điển, Huyền Kim tự vựng,  
Ngọc Đường tự vựng…), sách học chữ Hán (Ấu  
học quỳnh lâm, Tam thiên tự, Minh tâm bửu  
giám…), sách chiêm tinh phong thủy bói toán  
(Tân đính vạn sự bất cầu nhân thư, Tiết khí niên  
vận, Bốc phệ đại toàn bị yếu, Ngọc hạp kí thông  
thư, Bát trạch minh cảnh, Địa lý ngũ quyết, Tiên  
thiên dịch số…), sách y học (Kiến chứng lập  
phương, Phụ nữ chư chứng, Thọ thế bảo  
nguyên…), sách giới thiệu phong tục lễ nghi  
Trung Hoa (Ngọc thu lễ bộ, Ấu học cố sự tầm  
Về mặt nội dung, sách được in ấn ở đây thuộc  
nhiều lĩnh vực khác nhau như sách thường thức,  
sách bói toán, kinh Phật giáo, kinh Đạo giáo, sách  
y dược học, sách giáo dục khoa cử, sách học chữ  
Hán vỡ lòng, sách tiểu thuyết văn nghệ...; ngoài ra  
còn có tác phẩm văn học của văn nhân địa  
phương, sách gia phả và sử liệu dòng họ ở địa  
phương. Có thể thấy, đây là các loại sách lưu hành  
phổ biến ở Hoa Nam đương thời, có lượng phát  
hành lớn trên thị trường, phù hợp nhu cầu tiếp thu  
của đông đảo độc giả. Mãi đến thập niên 40 của  
3
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
nguyên…), sách tác phẩm hoặc chú giải tác phẩm  
văn học Trung Hoa (Thi kinh, Thi kinh thể chú  
diễn nghĩa hợp tham, Tứ thư thể chú, Đông Chu  
liệt quốc, Sử kí Tư Mã Thiên, Kinh Xuân thu…).  
Tất cả các sách đó đều được khắc in và phát hành  
tại Phật Sơn, theo con cháu kể lại thì do bản thân  
ông và thầy dạy y nho của ông là Phạm Tôn Long  
(?-?) mua từ các hiệu sách ở Sài Gòn trước đây.  
Có thể nói, giới Hoa thương Chợ Lớn đóng vai trò  
quan trọng trong việc giao lưu văn hóa, học thuật  
giữa Hoa Nam và Nam Bộ suốt thế kỷ 19 đến đầu  
thế kỷ 20.  
lịch sử, địa lý và văn học cũng đã được đưa sang  
khắc in và xuất bản tại các hiệu sách ở Phật Sơn.  
Giáo sư Nhan Bảo, chuyên gia nghiên cứu văn  
học Hán Nôm Việt Nam của Đại học Bắc Kinh,  
trong công trình Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung  
Quốc đến văn học Việt Nam đã chỉ ra, suốt  
khoảng 80 năm từ nửa cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu  
thế kỷ 20, rất nhiều tác phẩm văn học chữ Nôm  
của Việt Nam được in ấn tại Quảng Đông, trong  
đó đa phần in tại Phật Sơn. Ông viết: “Trong 40  
năm cuối thế kỷ 19, thậm chí có một số tác phẩm  
chữ Nôm được in ở Quảng Đông, đặc biệt là ở  
huyện Phật Sơn. Trên bìa của rất nhiều sách, còn  
có ghi tên người xuất bản và địa điểm xuất bản ở  
Trung Quốc, đồng thời cũng in tên người phát  
hành ở Sài Gòn” (Nhan Bảo, 1989, tr. 195). Có  
chung sự quan tâm, Lưu Ngọc Quân khi nghiên  
cứu về tư liệu Hán Nôm cổ Việt Nam cũng có  
phát hiện tương tự. Tác giả đúc kết rằng hầu hết  
sách vở Việt Nam có ấn bản tại Trung Quốc đều  
được khắc in tại Phật Sơn, trong số đó đa phần là  
tác phẩm văn học thông tục chữ Nôm đến từ Nam  
Bộ. Đáng chú ý là hầu hết đều do Duy Minh Thị  
hiệu đính trước khi đưa sang Quảng Đông khắc  
in, sau khi in xong đều được các hiệu sách ở Phật  
Sơn (Quảng Đông) và Đề Ngạn (Gia Định) phát  
hành (Lưu Ngọc Quân, 2007, tr. 127-128).  
3. HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN VÀ PHÁT  
HÀNH TRUYỆN KIỀU CỦA NHO  
THƯƠNG NGƯỜI HOA CHỢ LỚN  
Trong lịch sử, nhiều sứ đoàn Việt Nam đi sứ nhà  
Thanh, thường xuyên ghé qua Quảng Châu, Phật  
Sơn và nhiều nơi khác trên hành trình để mua  
sách mang về nước. Dưới triều Nguyễn, do nhu  
cầu tham cứu sách vở Trung Quốc trong triều  
đình là rất lớn, đặc biệt vua Minh Mạng rất thích  
đọc sách Trung Hoa, nên các đoàn sứ thần sang  
nhà Thanh ngoài thực hiện nhiệm vụ ngoại giao,  
còn phải tìm kiếm mua sách vở Trung Quốc mang  
về Việt Nam (Trần Ích Nguyên, 2016). Hoặc  
nhiều nho sĩ Việt Nam yêu thích đọc sách Trung  
Quốc, trong khi sách vở trong nước rất khan hiếm,  
đã nhờ các thuyền buôn mua sách từ Quảng Đông  
mang về. Trong Thương Sơn thi tập (倉山詩集)  
Trong bài viết Giao lưu sách vở giữa Quảng  
Đông và Việt Nam dưới nhà Thanh, Lý Khánh  
Tân đã liệt kê các hiệu sách ở Phật Sơn chuyên  
khắc in tác phẩm văn học của Việt Nam như Kim  
Ngọc Đường, Cận Văn Đường, Anh Văn Đường,  
Văn Nguyên Đường, Thiên Bảo Lâu, Bảo Hoa  
Các, Tự Lâm Thư Cục, Vinh Hòa Viên, Thịnh  
Nam Sạn, Thập Giới Viên, Ngũ Vân Lâu, Trần  
Thôn Vĩnh Hòa Nguyên. Ông đã dựa trên kết quả  
nghiên cứu của Lưu Ngọc Quân lập ra danh mục  
sách Việt Nam được khắc in ở Phật Sơn với 32  
đầu sách, trong đó nhiều quyển in đi in lại nhiều  
lần ở nhiều nhà in khác nhau. Liên quan đến  
Truyện Kiều, tác giả có liệt kê hai bản in: (1) Kim  
Vân Kiều tân truyện, bản in Kim Ngọc Lâu (Phật  
Sơn) năm Nhâm Thân (1872); (2) Kim Vân Kiều  
của Nguyễn Miên Thẩm (阮綿審) có bài thơ Cấu  
thư (購書) kể về việc Miên Thẩm nhờ thuyền  
buôn sang Quảng Đông mua sách vở mang về  
Huế cho mình. Có thể nói, đối với giới nho sĩ trí  
thức Việt Nam thời Lê Mạt – Nguyễn, các trung  
tâm in ấn và phát hành sách như Phật Sơn, Quảng  
Châu, Tô Châu của Trung Quốc đã không còn xa  
lạ gì. Ngoài việc nhập khẩu sách vở Trung Quốc  
về phát hành ở trong nước, nhiều loại sách của  
Việt Nam đã được mang sang Phật Sơn khắc in  
rồi đưa về phát hành, việc này không phải đến  
giới Hoa thương Chợ Lớn mới được bắt đầu, mà  
có lẽ trước đó ở Bắc Bộ và Trung Bộ, một số sách  
4
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
tân truyện, bản in Văn Nguyên Đường (Việt  
Đông) (Lý Khánh Tân, 2015, tr. 93-104).  
Hoàng Xuân Hãn, bản in này chỉ kị húy thời Gia  
Long chứ không kị húy thời Minh Mạng, theo đó  
suy luận thì Duy Minh Thị đã hiệu đính Truyện  
Kiều dựa trên một bản chép tay có nguồn gốc sao  
chép từ thời Gia Long (1802-1820). Sẽ là võ đoán  
nếu cho rằng trong khoảng thời gian này Truyện  
Kiều cũng đã được truyền đến Nam Bộ, thế nhưng  
không phải không có khả năng đó nếu chúng ta  
chưa tìm ra được những chứng cứ xác đáng.  
Gần đây nhất là Nghiêm Diễm trong bài viết Khảo  
thuật về tiểu thuyết và tuồng chữ Nôm của Việt  
Nam được khắc in ở Phật Sơn cuối triều Thanh,  
tác giả đã dựa trên ba công trình Việt Nam Hán  
Nôm văn hiến mục lục đề yếu (越南漢喃文獻目  
錄提要) của Lưu Xuân Ngân (劉春銀) và Vương  
Tiểu Thuẫn (王小盾), Việt Nam Hán Nôm cổ tịch  
đích văn hiến học nghiên cứu (越南漢喃古籍的  
文獻學研究) của Lưu Ngọc Quân (劉玉珺) và Tự  
điển chữ Nôm (ᨸ喃字典) của tác giả Nhật Bản  
Cùng thời gian đó, nhiều tác phẩm truyện thơ và  
tuồng hát bội Nôm khác cũng được khắc in ở Phật  
Sơn như Vân Tiên cổ tích tân truyện, Lục Vân  
Tiên, Phạm Công Cúc Hoa, Chiêu Quân cống Hồ,  
Thoại Khanh Châu Tuấn thư tập, Bạch viên tân  
truyện, Đinh Lưu Tú diễn nghĩa, Tiểu San Hậu  
diễn ca, Triệu Ngũ Nương tân thư, Tây du diễn  
ca, Tam Quốc chí quốc ngữ bản... Có thể thấy,  
các chủng loại sách chữ Nôm lưu hành ở Nam Bộ  
đương thời khá phong phú, đa phần đều là tác  
phẩm diễn ca từ những tiểu thuyết hay tuồng tích  
Trung Quốc. Việc gửi in ấn với số lượng lớn cho  
thấy nhu cầu thưởng thức sách Nôm của độc giả  
Nam Bộ là rất lớn.  
Takeuchi Yonosuke (竹內與之助) để liệt kê 39  
mục sách, là những tác phẩm văn học thông tục  
của Việt Nam, đã được đưa sang khắc in trong các  
hiệu sách ở Phật Sơn cuối nhà Thanh. Trong đó  
có 35 bản in là truyện thơ và tuồng chữ Nôm, 4  
bản in Lý Công tân truyện là tiểu thuyết chữ Hán.  
Liên quan đến Truyện Kiều, tác giả liệt kê 2 bản  
in tại Phật Sơn: (1) Kim Vân Kiều tân truyện, bản  
in tại Văn Nguyên Đường (Việt Đông), hiện Thư  
viện ngôn ngữ phương Đông (Pháp) có lưu giữ  
một bản; (2) Kim Vân Kiều tân truyện, bản in Kim  
Ngọc Lâu năm Nhâm Thân (1872) (Nghiêm  
Diễm, 2016, tr. 94-101). Kết quả khảo sát này  
tương đồng với kết quả khảo sát của Lý Khánh  
Tân.  
Câu hỏi đặt ra là tại sao giới Hoa thương miền  
Nam không chọn các nhà in Liễu Văn Đường,  
Quan Văn Đường, Thịnh Văn Đường, Cẩm Văn  
Đường ở miền Bắc hay các hiệu in Huế, thậm chí  
những nơi đã từng tổ chức in ấn sách vở, kinh kệ  
ngay tại Gia Định như Hà Tiên, chùa Giác Lâm  
(Sài Gòn) làm nơi in sách, mà phải sang tận  
Quảng Đông? Trong bài viết của mình, Nghiêm  
Diễm đã đưa ra 4 lý do chính: (1) Phật Sơn là  
trung tâm in ấn phát hành sách lớn: Chất lượng  
khắc in cao, bản in gọn đẹp tinh xảo, trong khi giá  
thành lại rẻ; hơn nữa, Phật Sơn có hệ thống  
thương hội phồn thịnh với nhiều hiệu sách, hiệu  
giấy, hiệu mực; từ khâu khắc in đến xuất bản, phát  
hành đều phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng; tạo nên  
sự tiện lợi trong giao thương mua bán trong nước  
và quốc tế; (2) Sự giao lưu kinh tế và văn hóa  
giữa Nam Bộ và Quảng Đông vốn đã diễn ra  
thường xuyên và mật thiết; các Hoa thương Chợ  
Lớn luôn giữ mối quan hệ giao thương mật thiết  
với nhà buôn ở Quảng Đông. Các tác phẩm chữ  
Trên thực tế, Truyện Kiều không chỉ được tái bản  
1 lần mà được tái bản đến 3 lần, nghĩa là trước  
nay có 4 bản Kiều được in ở Phật Sơn. Theo nhà  
nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân, bản Kiều Duy  
Minh Thị in ở Kim Ngọc Lâu (1872) còn được tái  
bản 3 lần tại các nhà in Bảo Hoa Các (1879), Văn  
Nguyên Đường (1879) và Thiên Bảo Lâu (1891)  
ở Phật Sơn. Hơn nữa, các bản in sau đều khắc in  
giống như bản in đầu tiên (Nguyễn Quảng Tuân,  
2010). Dù các bản in này còn nhiều sai sót về chữ  
nghĩa, có thể do Duy Minh Thị hiệu đính chưa kĩ,  
hoặc quá trình in ấn ở Quảng Đông không có  
người thông thạo chữ Nôm theo dõi, thế nhưng  
trong suốt 20 năm từ bản đầu tiên đến bản cuối  
cùng, bản in này vẫn được độc giả dễ tính miền  
Nam chấp nhận. Đáng chú ý là, theo học giả  
5
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
rộng hơn trong lòng công chúng. Kết quả điều tra  
Nôm đang lưu hành ở Nam Bộ phần nhiều lấy đề  
tài, văn liệu, bối cảnh, cốt truyện, tình tiết, nhân  
vật... của các tác phẩm cũng đang lưu hành ở  
Trung Quốc như Kim Vân Kiều truyện, Tam Quốc  
diễn nghĩa, Tây du ký, Phong thần diễn nghĩa,  
Bạch Viên Tôn Các... nên đã có sẵn các bản khắc  
mộc hoạt tự chữ Hán ở đó, chỉ cần khắc thêm bộ  
phận chữ Nôm; (3) Phật Sơn có vị trí địa lý thuận  
lợi cho việc truyền bá sách vở ra hải ngoại, bởi nó  
không chỉ là nơi sứ thần Việt Nam thường lui tới  
mua sách mang về nước theo đường bộ, mà còn  
thông qua Quảng Châu, Hoàng Phố tiến hành giao  
thương đường biển với Việt Nam; (4) Nghề in ấn  
ở Phật Sơn đáp ứng được nhu cầu khắc in tiểu  
thuyết thông tục ở Nam Bộ. Đương thời, nhu cầu  
thưởng thức tiểu thuyết thông tục ở Hoa Nam  
cũng rất lớn, nhiều nhà sách chuyên môn hoặc  
kiêm thêm khắc in tiểu thuyết thông tục, việc có  
thêm đơn đặt hàng từ Việt Nam không phải là  
thách thức gì quá lớn với họ.  
điền dã của chúng tôi tại Cần Thơ, An Giang cho  
thấy, nhiều hộ dân hiện nay vẫn còn lưu giữ bản  
Kiều Duy Minh Thị 1879 và 1891, ngoài ra còn có  
Phú Kiều Nôm (tên gọi khác của Túy Kiều phú),  
tuồng Kiều và nhiều bài thơ vịnh Kiều, thậm chí  
còn có cả bản chép tay Kim Vân Kiều lục (khuyết  
danh) bằng chữ Hán. Đem các bản sao lục này so  
sánh với bản đã công bố của Nguyễn Văn Sâm  
hay Trần Ích Nguyên, dễ dàng phát hiện chúng có  
chung nguồn gốc văn bản, đương nhiên về mặt  
câu chữ có nhiều chỗ khác nhau.  
Quá trình giao dịch sách vở này, ngoài giới  
thương nhân người Hoa ra, giới văn sĩ gốc Hoa  
tinh thông tiếng Việt và văn chương Việt ở Chợ  
Lớn cũng đóng vai trò then chốt. Họ là những  
người đảm bảo chất lượng bản in chữ Nôm thông  
qua công việc hiệu đính văn bản trước khi in,  
trong khi người Trung Quốc vốn không am tường  
loại chữ đầy sáng tạo đặc trưng của người Việt  
này. Nổi bật nhất là hai tác giả Duy Minh Thị, chủ  
nhân hoặc cộng tác viên của hiệu sách Minh  
Chương Hiệu, và Dương Minh Đức, chủ nhân của  
hiệu sách Dương Đức Hiệu.  
Trong lúc các hiệu sách của Phật Sơn khắc in và  
phát hành rộng rãi Kim Vân Kiều tân truyện của  
Nguyễn Du, thì nhiều tác giả Việt Nam cũng đã  
chuyển dịch tác phẩm này ngược lại chữ Hán, như  
Nguyễn Kiên (阮堅) đã biên dịch, chú thích thành  
Duy Minh Thị (?-?), hay Minh Chương Thị, là bút  
hiệu của một văn sĩ, viên chức hành chính gốc  
Hoa sống tại Gia Định nửa cuối thế kỷ 19. Ông  
tên thật là Trần Quang Quang, nguyên quán huyện  
Duy Minh (phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long, nay  
thuộc tỉnh Bến Tre), có thể là hậu duệ của danh  
thần triều Nguyễn gốc Minh Hương từng nhiều  
lần đi sứ Trung Quốc Trịnh Hoài Đức (1765-  
1825). Theo khảo cứu của Lưu Ngọc Quân, Duy  
Minh Thị trong lời tựa quyển Nam Kỳ lục tỉnh địa  
dư chí có gọi Trịnh Hoài Đức là “Tiên công”,  
chứng tỏ Duy Minh Thị là hậu duệ của Trịnh Hoài  
Đức. Tổ tiên nhiều đời của Trịnh Hoài Đức từ  
Trường Lạc (Phúc Kiến, Trung Quốc), vì không  
thần phục người Mãn Châu, nên gia tộc xuống  
thuyền vượt biển sang Việt Nam. Năm 1803, họ  
Trịnh ra làm quan dưới triều Nguyễn, nhờ tinh  
thông tiếng Quan Thoại và tiếng Quảng Đông,  
Phúc Kiến nên được giao làm sứ thần nhiều lần đi  
sứ nhà Thanh.  
Vương Kim truyện quốc âm (王金傳國音) và  
Vương Kim truyện diễn tự (王金傳演字), Từ  
Nguyên Mạc (徐元漠) dịch ra Việt Nam âm Kim  
Vân Kiều ca khúc dịch thành Hán tự cổ thi thất  
ngôn luật (越南音金雲翹歌曲譯成漢字古詩七  
言律), Lê Dụ (黎裕) dịch thành Kim Vân Kiều  
Hán tự diễn âm ca (金雲翹漢字演音歌) và Kim  
Vân Kiều lục (金雲翹錄) (Nghiêm Diễm, 2016,  
tr.101). Điều này cho thấy sự lưu truyền của Kim  
Vân Kiều truyện ở Việt Nam nói chung, ở Nam  
Bộ nói riêng, rất sâu rộng, tạo được cảm hứng  
sáng tạo và lan truyền tác phẩm trong giới trí thức  
học sĩ.  
Riêng ở miền Nam, bản Kim Vân Kiều tân truyện  
do Duy Minh Thị hiệu đính đã góp phần tạo nên  
trào lưu phóng tác, lược thuật, cải biên Truyện  
Kiều thành nhiều “phó phẩm” (Nguyễn Văn Sâm)  
khác nhau, khiến cho tác phẩm này lan truyền sâu  
6
AGU International Journal of Sciences – 2020, Vol. 24 (1), 1 – 7  
國小說對越南文學的影響). Trong Claudine  
Ngoài Truyện Kiều, trên trang bìa nhiều tác phẩm  
khắc in khác ở Phật Sơn cũng thấy xuất hiện tên  
Duy Minh Thị hiệu đính, hoặc tên các hiệu sách ở  
Chợ Lớn như Minh Chương Hiệu, Dương Đức  
Hiệu, Kim Thanh Hiệu. Rất có thể, các ông cũng  
là những người trực tiếp sang Quảng Đông  
thương thảo và theo dõi việc khắc in tại Phật Sơn.  
Còn các tên gọi Đề Ngạn, Đại Thị (Chợ Lớn)  
thường xuất hiện trên bìa các quyển sách nay  
thuộc Quận 5, Quận 6 và Quận 11 thành phố Hồ  
Chí Minh. Nơi có nhiều hiệu sách người Hoa  
đương thời là phố Đường Nhân và phố Quảng  
Đông của Chợ Lớn, nay lần lượt là đường Nguyễn  
Trãi và Triệu Quang Phục. Đặc biệt, Hòa Nguyên  
Thịnh là một hiệu sách ở Phật Sơn (Quảng Đông),  
một chi nhánh cùng tên đã được mở ra ở Chợ Lớn  
để phát hành sách của nhà sách đó ở Việt Nam.  
Salmon (chủ biên). (1989). Tiểu thuyết truyền  
thống Trung Quốc tại Châu Á (中國傳統小說  
在亞洲). Bắc Kinh: Công ty xuất bản Văn hóa  
Quốc tế.  
Lưu Thục Bình (劉淑萍). (2012). Tìm hiểu hoạt  
động kinh doanh của các phường in và xuất  
bản sách ở Phật Sơn (佛山坊刻出版商的商業  
活動探析). Phật Sơn Khoa học Kỹ thuật Học  
viện học báo, 30, tr. 70-73.  
Nghiêm Diễm (嚴艷). (2016). Khảo thuật về tiểu  
thuyết và tuồng chữ Nôm của Việt Nam được  
khắc in ở Phật Sơn cuối triều Thanh (清末佛  
山坊刻越南喃字小說戲曲考述). Nghiên cứu  
Đông Nam Á (Southeast Asian Studies), 1, tr.  
94-101.  
4. KẾT LUẬN  
Lưu Ngọc Quân (劉玉珺). (2007). Nghiên cứu  
văn bản sách vở Hán Nôm cổ Việt Nam (越南  
漢喃古籍的文獻學研究). Bắc Kinh: Trung  
Hoa thư cục.  
Nhìn lại toàn bộ quá trình truyền bá của Truyện  
Kiều, chúng ta thấy tác phẩm này có một sinh  
mệnh rất kỳ lạ, từ lúc là một tiểu thuyết chương  
hồi bạch thoại bình thường ở Trung Quốc được  
Nguyễn Du tham khảo rồi cải biên, sáng tác thành  
một truyện thơ Nôm tuyệt tác dài 3254 câu, bắt  
đầu lưu hành rộng rãi trong nước, rồi lại được các  
nhà sách ở Chợ Lớn đưa đến Phật Sơn để khắc in,  
số sách in xong lại vượt trùng dương trở về phát  
hành tại các hiệu sách trong nước. Trong quá trình  
truyền bá tác phẩm này, những người làm công  
tác hiệu đính như Duy Minh Thị, một dạng trí  
thức gốc Hoa tinh thông Hán Nôm, hoặc các hiệu  
buôn người Hoa Chợ Lớn giữ một vai trò kết nối  
quan trọng. Quá trình giao dịch sách vở tiêu tốn  
nhiều tâm huyết đó kéo dài suốt gần 100 năm, góp  
phần to lớn vào việc truyền rộng nhiều tác phẩm  
văn học ở Nam Bộ, trong đó có Truyện Kiều.  
Trần Ích Nguyên (陳益源). (2001). Nghiên cứu  
câu chuyện Vương Thúy Kiều (王翠翹故事研  
究). Đài Bắc: Lí Nhân thư cục.  
Trần Ích Nguyên (陳益源). (2016). Thuật bàn về  
sách vở chữ Hán Việt Nam (越南漢籍文獻述  
論). Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục.  
Lý Khánh Tân (李慶新). (2015). Giao lưu sách vở  
giữa Quảng Đông và Việt Nam dưới nhà  
Thanh  
(清代廣東與越南的書籍交流).  
Nghiên cứu Học Thuật, 12, tr. 93-104.  
Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm và khảo đính).  
(2010). Truyện Kiều bản Nôm Duy Minh Thị.  
Hà Nội: Khoa học Xã hội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nhan Bảo (顏保). (1989). Ảnh hưởng của tiểu  
thuyết Trung Quốc đến văn học Việt Nam (中  
7
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 26500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của giới Nho Thương người Hoa chợ lớn trong việc truyền bá Truyện Kiều ở Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_gioi_nho_thuong_nguoi_hoa_cho_lon_trong_viec_tru.pdf