Viết và trình bày bài báo khoa học để xuất bản trên các tạp chí quốc tế uy tín

VIẾT VÀ TRÌNH BÀY BÀI BÁO KHOA HỌC  
ĐỂ XUẤT BẢN TRÊN CÁC TẠP CHÍ QUỐC TẾ UY TÍN  
NCS.ThS.Lê Hoàng Phong & NCS.ThS.Hồ Hoàng Gia Bảo  
Khoa Quản trị, Trường Đại học Luật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Để viết bài báo khoa học xuất bản trên các tạp chí quốc tế có uy tín như ISI/Scopus,  
bên cạnh các yếu tố như phương pháp nghiên cứu phù hợp, cơ sở lý thuyết vững chắc, dữ  
liệu đáng tin cậy và kết quả ấn tượng, việc tuân thủ bố cục chung của một bài báo và nắm rõ  
những gì cần được trình bày trong từng phần khác nhau đóng vai trò rất quan trọng. Nhìn  
chung, cấu trúc của một bài báo trong lĩnh vực kinh tế của các tạp chí quốc tế uy tín bao  
gồm các phần: tiêu đề (title), tóm tắt (abstract), từ khóa (keywords), giới thiệu  
(introduction), tổng quan tình hình nghiên cứu (literature review), phương pháp nghiên cứu  
và dữ liệu (methodology and data), kết quả và thảo luận (results and discussion), kết luận  
(conclusion) và tài liệu tham khảo (references). Bài viết này cung cấp một số kinh nghiệm  
viết và trình bày các phần nói trên của một bài báo khoa học ISI/Scopus với sự minh họa  
một số nhận xét phản biện và phân tích hai bài báo cụ thể của giảng viên Khoa Quản trị,  
trường Đại học Luật TP.HCM đã được xuất bản trong năm 2020 trên tạp chí Energy  
Reports [NXB Elsevier; ISI (SCIE, IF=6.870); Scopus (Q1)] và Environmental Science and  
Pollution Research [NXB Springer; ISI (SCIE, IF=4.223); Scopus (Q1)] để cung cấp một số  
thông tin hữu ích mà các nhà nghiên cứu có thể áp dụng trong quá trình viết và công bố bài  
báo quốc tế.  
1. Giới thiệu  
Trong lĩnh vực kinh tế, một số điều kiện quan trọng để xuất bản bài báo trên các tạp chí  
quốc tế có uy tín là sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp dựa trên cơ sở lý thuyết  
vững chắc kết hợp với dữ liệu đáng tin cậy để giải quyết có hiệu quả các mục tiêu nghiên cứu,  
đề tài có tính mới và kết quả của bài báo có đóng góp đáng kể cho kiến thức thuộc lĩnh vực  
nghiên cứu về mặt lý thuyết hoặc thực nghiệm. Tuy nhiên, những yếu tố liệt kê ở trên vẫn chưa  
đủ nếu các tác giả chưa thật sự quan tâm đến cách trình bày bài viết theo thể thức một bài báo  
khoa học một cách chuyên nghiệp, chỉn chu từ bố cục, cách viết, cách trình bày nội dung của  
các phần khác nhau trong bài báo khoa học.  
Đầu tiên, hình thức của một bài báo là một phần rất quan trọng mà bất kỳ một bài viết  
nào cũng không nên xem nhẹ. Bởi vì một hình thức đẹp của bài báo giúp thu hút người đọc,  
ngoài việc làm cho người đọc có thể nhìn bao quát câu chuyện mà tác giả kể cho họ, nó còn thể  
hiện sự chỉn chu, sự chuyên nghiệp của người viết và sự tôn trọng của người viết đối với đọc  
giả. Các tạp chí quốc tế uy tín thường không chấp nhận một bài viết có hình thức “kém sang”,  
chẳng hạn như có vấn đề về format không ngay hàng thẳng lối, khoảng cách dòng, font chữ,  
155  
hình vẽ, bảng biểu, tài liệu tham khảo,….  
Đối với các tạp chí quốc tế uy tín, họ yêu cầu bài viết phải tuân thủ theo format và hình  
thức chung của tạp chí đó. Vì vậy, thông thường, một bài báo gửi vào tạp chí phải trải qua sự  
kiểm duyệt về hình thức. Và tất nhiên, bài viết không chuẩn bị theo hình thức yêu cầu sẽ bị  
reject ngay lập tức hoặc được gửi lại cho tác giả (việc này làm mất cơ hội và/hoặc thời gian của  
tác giả). Vì thế, các tác giả cần tìm hiểu kỹ chỉ dẫn của các tạp chí về bố cục, cách trình bày,  
cách trích dẫn,.… Quá trình làm reviewer cho một số tạp chí, chúng tôi đã từng gặp phải  
trường hợp bài báo nhận được quyết định reject từ reviewer với lý do hình vẽ không rõ (“I  
have seen that the figures are not clear and easy to understand therefore sorry for  
inconvenience and harsh decision from my side. Improve your manuscript and submit it to  
other journal”). Rõ ràng, đây là trường hợp rất đáng tiếc, bởi vì đã vào được vòng review là  
một bước rất gian nan sau khi phải trải qua sự kiểm duyệt nghiêm ngặt cả hình thức lẫn nội  
dung từ quản lý tạp chí và editor. Bên cạnh hình thức, một trong những nguyên nhân làm cho  
bài báo bị từ chối xuất bản trong quá trình bình duyệt là chưa thể hiện rõ những thông tin quan  
trọng, làm cho câu chuyện mà tác giả kể cho người đọc rất mơ hồ, khó hiểu, thiếu chuyên  
nghiệp hoặc nhiều “sạn”. Vì thế, các tác giả cần tìm hiểu kỹ chỉ dẫn của các tạp chí về bố cục,  
cách trình bày, cách trích dẫn, … cũng như quan tâm đến cách viết các nội dung bài báo theo  
phong cách học thuật.  
Chúng tôi vẫn chưa đủ trình độ để có thể cung cấp những sự hiểu biết sâu sắc liên quan  
đến việc viết và trình bày một bài báo khoa học để xuất bản trên các tạp chí uy tín, và những  
thông tin mà chúng tôi chia sẻ sau đây chỉ là những thông tin cơ bản liên quan đến việc viết và  
trình bày một bài báo khoa học trong lĩnh vực kinh tế nói chung và các lĩnh vực tài chính công,  
tài chính quốc tế, kinh tế quốc tế, kinh tế năng lượng, kinh tế môi trường, kinh tế lượng, kinh tế  
phát triển, v.v. nói riêng. Một số kinh nghiệm từ bản thân mà chúng tôi có được dựa trên quá  
trình làm việc với một số tạp chí trên vai trò là tác giả (author)/người phản biện (reviewer)/biên  
tập viên (editor) của một số tạp chí ISI/Scopus:  
ISI (Web of Science) Scopus  
Impact  
No.  
Journal  
Publisher  
Core  
Factor  
(IF)  
Qi  
Collection  
Renewable and Sustainable Energy  
Reviews  
1
Elsevier  
SCIE  
IF=14.982  
Q1  
2
3
4
5
6
7
Science of the Total Environment  
Energy  
Elsevier  
Elsevier  
Elsevier  
Elsevier  
Elsevier  
Elsevier  
SCIE  
SCIE  
SCIE  
SCIE  
SCIE  
SSCI  
IF=9.297  
IF=7.963  
IF=7.147  
IF=6.870  
IF=6.425  
IF=5.634  
Q1  
Q1  
Q1  
Q1  
Q1  
Q1  
Energy Reports  
Energy Strategy Reviews  
Resources Policy  
156  
Environmental Impact Assessment  
Review  
Environmental Science and Pollution  
Research  
8
9
Elsevier  
Springer  
Springer  
SSCI  
SCIE  
SCIE  
IF=4.549  
IF=4.223  
IF=3.219  
Q1  
Q1  
Q1  
Environment,  
Sustainability  
Development  
and  
10  
11  
Journal of Environmental Planning  
and Management  
Taylor &  
Francis  
SSCI  
SSCI  
SCIE  
IF=2.735  
IF=2.472  
IF=2.333  
Q1  
Q2  
Q2  
12 Economic Change and Restructuring  
Springer  
Environmental  
Assessment  
Modeling  
&
13  
Springer  
14 Heliyon  
15 Asia-Pacific Financial Markets  
Elsevier  
Springer  
Springer  
ESCI  
ESCI  
Q1  
Q4  
Q4  
16 Studies in Computational Intelligence  
International Journal of Energy  
Economics and Policy  
17  
Econjournal  
Q1  
RERIC,  
Asian  
18 International Energy Journal  
Institute of  
Technology  
(AIT)  
ESCI  
Q3  
Journal of Asian Finance, Economics  
and Business  
19  
KDSA  
ESCI  
ESCI  
Journal of Asian Business and  
Economic Studies  
20  
Mặc dù các tạp chí trong lĩnh vực kinh tế rất đa dạng và có những yêu cầu khác nhau về cách  
trình bày nhưng hầu hết các bài báo khoa học đều có cấu trúc như sau:  
- Tiêu đề (Title)  
- Tóm tắt (Abstract)  
- Giới thiệu (Introduction)  
- Tổng quan tình hình nghiên cứu (Literature review)  
- Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu (Methodology and Data)  
- Kết quả và thảo luận (Results and Discussion)  
- Kết luận (Conclusion)  
- Tài liệu tham khảo (References)  
Bài viết này trình bày cơ bản các mục quan trọng trong một bài báo khoa học với cấu trúc  
được đề cập ở trên, bài viết sử dụng hai bài báo khoa học được xuất bản trên các tạp chí quốc  
tế có uy tín cao thuộc các nhà xuất bản hàng đầu thế giới và hệ số tác động lớn sau:  
Le, H. P., & Ozturk, I. (2020). The impacts of globalization, financial development,  
157  
government expenditures, and institutional quality on CO2 emissions in the presence of  
environmental Kuznets curve. Environmental Science and Pollution Research, 27,  
22680–22697. [NXB Springer; ISI (SCIE, IF=4.223); Scopus (Q1)].  
Le, H. P., & Sarkodie, S. A. (2020). Dynamic linkage between renewable and  
conventional energy use, environmental quality and economic growth: Evidence from  
Emerging Market and Developing Economies. Energy Reports, 6, 965–973. [NXB  
Elsevier; ISI (SCIE, IF=6.870); Scopus (Q1)].  
Ngoài ra, để cung cấp thêm ví dụ, một số đoạn trích từ các báo cáo phản biện của một số  
các tạp chí ở trên và những bài báo khoa học khác cũng sẽ được đề cập.  
2. Một số lưu ý khi viết các phần quan trọng của một bài báo  
a) Tiêu đề (Title)  
Tiêu đề sẽ là phần đầu tiên của bài báo mà người đọc nhìn thấy và có ấn tượng đầu tiên  
của họ đối với bài báo. Trước khi xuất bản, bài báo đầu tiên qua ánh mắt của editor và  
reviewers (nếu có). Tác giả bài báo phải thể hiện tên gọi của câu chuyện mình kể sao cho ấn  
tượng. Tiêu đề phải thể hiện thông điệp mà tác giả muốn truyền tải, có thể bao gồm đối tượng  
nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu hoặc kết quả dự kiến/ hàm ý chính  
sách. Có khá nhiều cách đặt tên tiêu đề, nhưng tiêu đề của bạn nên ngắn gọn, dễ hiểu, làm sao  
để đến được với rộng rãi người đọc (cả chuyên ngành lẫn không chuyên ngành) một cách dễ  
hiểu. Có một thực tiễn khá thú vị mà bạn có thể chưa biết: trong quá trình bài báo của bạn vào  
trong tay editor và reviewers, tiêu đề bài báo của bạn đôi khi được họ giúp sửa/đặt lại tên. Tuy  
nhiên, nếu tiêu đề của bạn thú vị ngay từ đầu thì sẽ là ấn tượng đầu tiên tuyệt vời giúp cho bài  
báo của bạn gây ấn tượng tốt với editor và reviewers. Hãy nhìn bức tranh sau để hình dung  
rằng bạn muốn bài báo của bạn được tiếp cận ở mức nào:  
158  
Nguồn: Springer.  
Ví dụ một nhận xét của reviewer cho phần này: “The title is too long. My suggestion is to  
revise the title of this manuscript.”  
b) Phần tóm tắt (abstract)  
Phần tóm tắt cung cấp những mô tả ngắn gọn về lĩnh vực nghiên cứu, phương pháp  
nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu được sử dụng, kết quả nghiên cứu và đóng góp của  
bài báo. Đây là phần được những người phản biện và những người đọc quan tâm trước tiên bên  
cạnh tiêu đề của bài báo. Vì thế, nếu các tác giả không viết tốt phần tóm tắt thì chất lượng và  
khả năng được chấp nhận xuất bản của bài báo có thể bị ảnh hưởng.  
Ví dụ một nhận xét của reviewers cho phần này:  
− “The abstract needs improvement. For example, authors should include a background  
to the field of research, what's the current knowledge gap, how this gap is addressed,  
discussing the results and drawing broader and more general conclusions and take home  
message to readers.”  
− “The abstract is good but it seems like something is missing here. My suggestion is to  
include a conclusion/contribution of the study at the end of this part.”  
− “The abstract should state briefly the purpose of the research, the principal results and  
major conclusions.”  
Ví dụ trong bài báo của Le và Sarkodie (2020), chủ đề nghiên cứu và bối cảnh của nó đã  
được mô tả cụ thể. Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu (45 Emerging Market and Developing  
159  
Economies trong giai đoạn 1990–2014) cũng được thể hiện. Đặc biệt, phương pháp nghiên cứu  
được trình bày cụ thể và làm nổi bật được những ưu điểm của những kỹ thuật ước lượng mới  
để giải quyết các vấn đề phụ thuộc chéo và hệ số không đồng nhất trong dữ liệu bảng. Các biến  
được sử dụng trong bài báo cũng được liệt kê chi tiết. Kết quả của bài báo và tầm quan trọng  
của nó trong việc hỗ trợ thiết kế và thực thi các chính sách cũng được đề cập. Tương tự, phần  
tóm tắt của Le và Ozturk (2020) cũng trình bày rõ ràng, mạch lạc những thông tin cần thiết.  
Trong một bài báo khác có tựa đề “Minimum Wages and Racial Inequality” đăng trên tạp  
chí Quarterly Journal of Economics (Scopus Q1, SSCI IF = 11.375), Derenoncourt và  
Montialoux (2021) bắt đầu phần tóm tắt bằng cách mô tả bối cảnh của chủ đề nghiên cứu: “The  
earnings difference between white and black workers fell dramatically in the United States in  
the late 1960s and early 1970s.” Họ cũng cung cấp các thông tin về phạm vi, phương pháp và  
kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, họ cũng thể hiện rõ đóng góp của bài báo và kiến nghị rằng  
chính sách lương tối thiểu có thể làm giảm sự bất bình đẳng kinh tế giữa các chủng tộc ở Mỹ:  
“Our findings shed new light on the dynamics of labor market inequality in the United States  
and suggest that minimum wage policy can play a critical role in reducing racial economic  
disparities.”  
Trong quá trình viết phần tóm tắt của bài báo, các tác giả cần cân bằng giữa việc cung  
cấp đầy đủ thông tin và số lượng từ giới hạn của mỗi tạp chí. Thông thường, phần tóm tắt  
không nên vượt quá 250 từ. Bên cạnh đó, sau phần tóm tắt, rất nhiều tạp chí còn yêu cầu tác giả  
phân loại chủ đề nghiên cứu dựa theo mã JEL của Hiệp hội Kinh tế Mỹ (American Economic  
Association) và cung cấp các từ khóa (key words) nổi bật liên quan đến bài báo. Đây là những  
thông tin mà các tác giả cũng cần quan tâm trong quá trình hoàn thiện bản thảo trước khi gửi  
tạp chí.  
Cấu trúc Abstract gợi ý:  
Abstract giải quyết 5 câu hỏi sau:  
• Why did you do it?  
• What did you do?  
• How did you do it?  
• What did you find out?  
• What does that mean?  
c) Phần giới thiệu (introduction)  
Phần giới thiệu mô tả bối cảnh và tầm quan trọng của chủ đề nghiên cứu, mục đích  
nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu,.... Phần giới thiệu giúp người đọc có thể hiểu được bài  
báo cũng như mục đích, động lực hoặc lý do của tác giả khi thực hiện nghiên cứu. Thông  
thường, trong phần giới thiệu, người viết cần làm nổi bật những điểm mới hoặc điểm nổi trội  
của bài báo so với các nghiên cứu trước đây.  
160  
Ví dụ một số nhận xét của reviewers cho phần này:  
−“The introduction misses significant information, such as: What makes the applied  
methodology suitable and superior in comparison to existing studies? What is the expected new  
insight gained by applying the methodology? What is the contribution of this study to the  
existing literature? These questions should be answered in the last paragraph of introduction  
section.”  
−“What is the importance of the findings? Furthermore, in the introduction, the reader  
also needs to know how the paper empirically answers the research question, and what the  
main findings are”.  
−“In the introduction, I would have also liked to have seen the first paragraph of the  
introduction explicitly stating the research problem and then followed by the second  
paragraph that explicitly states the research question”.  
−“I am still unable to describe the goal of your research”.  
−“In general, your document is lacking a clear justification and motivation”.  
−“Motivation is weak. What is the gap being filled in the literature?”.  
−“It is not clear what your contribution to the literature is --not only with respect to  
previous literature but more importantly with respect to your own previous work”.  
−“The paper demonstrates no new contribution to the existing literature”.  
− “The necessity and innovation of the article should be presented to the introduction.”  
−“The manuscript is a report with limited research hypotheses and scientific explanation  
of the findings”.  
− “It is suggested to present the structure of the article at the end of the introduction.”  
Ví dụ, Le và Ozturk (2020) trình bày: “… to avoid model specification bias, besides  
traditional factors such as energy consumption and income level, this study emphasizes the  
role of several independent variables including globalization, financial development,  
institution, and government expenditure as important influential factors of CO2 emissions in  
the framework of EKC model.” Một ví dụ khác, Le và Sarkodie (2020) thể hiện rõ sự đóng góp  
của bài báo vào khối lượng kiến thức hiện có trong lĩnh vực kinh tế năng lượng và kinh tế môi  
trường cũng như ưu điểm nổi bật của bài báo so với các nghiên cứu trước đó: “… this study  
contributes to the available knowledge of energy and environmental economics. First, previous  
studies focused on the impact of energy consumption but omitted the structure of energy  
utilization … Second, we enlarge the production function by employing the structure of energy  
consumption, government expenditure, capital, and trade openness as regressors … Third,  
contrary to the widely applied first-generational econometric approaches that cannot perform  
well in heterogeneous and cross-sectional dependence panel data setting, we employ second-  
generational econometric techniques that can capture cross-sectional dependence in the  
heterogeneous panel and guarantee a high level of robustness.”  
161  
Thông thường, cần tránh thực hiện việc lược khảo các nghiên cứu trong phần giới thiệu  
nếu tạp chí yêu cầu tách riêng phần giới thiệu (introduction) và tổng quan tình hình nghiên cứu  
(literature review). Ví dụ, Le và Ozturk (2020) tách riêng 2 phần giới thiệu và tổng quan tình  
hình nghiên cứu. Cụ thể, trong phần giới thiệu, họ chỉ trích dẫn những nghiên cứu nổi bật để  
mô tả về bối cảnh của chủ đề và làm cơ sở cho các lập luận. Công việc lược khảo các nghiên  
cứu trước được thực hiện ở phần tổng quan tình hình nghiên cứu. Tuy nhiên, trong bài báo Le  
và Sarkodie (2020), không có phần tổng quan tình hình nghiên cứu, và việc lược khảo được  
thực hiện ngắn gọn trong phần giới thiệu khi họ trình bày 4 giả thuyết giải thích mối quan hệ  
giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế và đồng thời trích dẫn các nghiên cứu có liên  
quan đến từng giả thuyết.  
Cấu trúc Introduction gợi ý:  
• Nêu vấn đề nghiên cứu  
• Nêu câu hỏi nghiên cứu  
• Mục tiêu nghiên cứu  
• Giả thuyết nghiên cứu  
• Phương pháp nghiên cứu  
• Các đóng góp của nghiên cứu  
• Các kết quả chính của nghiên cứu (option)  
• Nêu cấu trúc còn lại của bài báo  
d) Phần tổng quan tình hình nghiên cứu (literature review)  
Phần tổng quan tình hình nghiên cứu cung cấp cho người đọc những gì đã được nghiên  
cứu và đặc biệt là những gì chưa được nghiên cứu trong một lĩnh vực cụ thể (Lingard, 2018).  
Do đó, các nhà nghiên cứu có thể so sánh, phân tích và phát hiện các khe hỡ trong nghiên cứu  
để làm nổi bật sự đóng góp về mặt khoa học của bài báo họ đang viết. Tùy thuộc vào yêu cầu  
của từng tạp chí mà việc trích dẫn, trình bày, phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan  
đến chủ đề của bài báo có thể được thực hiện dưới dạng đoạn văn hoặc dạng bảng. Ví dụ, Le và  
Ozturk (2020) trình bày các công trình nghiên cứu nổi bật dưới dạng đoạn văn và sau đó sử  
dụng bảng để tóm tắt các bài nghiên cứu khác trong phần phụ lục. Shahbaz và cộng sự (2014)  
sử dụng kết hợp giữa đoạn văn và bảng trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu của họ.  
Trong khi đó, Odhiambo (2009) trình bày phần tổng quan tình hình nghiên cứu hoàn toàn dưới  
dạng đoạn văn.  
Khi viết tổng quan tình hình nghiên cứu, ngoài kết quả, có thể trình bày và phân tích  
thêm về các phương pháp, số liệu và phạm vi nghiên cứu của các công trình nghiên cứu có liên  
quan. Lưu ý là literature cần gắn kết với mục tiêu nghiên cứu và đóng góp của nghiên cứu  
(trong cùng chủ đề, lĩnh vực). Nhóm theo chủ đề gắn với các giả thuyết nghiên cứu & phương  
pháp nghiên cứu.  
162  
Ví dụ một số nhận xét của reviewers cho phần này:  
−“In the literature review section, I think that it is vital to keep linking or referring to the  
research objective so that the reader can get a sense of where this research fits and, ultimately,  
where it contributes to the field”.  
−“Nevertheless, the paper is very short (only 9 pages of text) but has a surprisingly high  
number of references (5 pages). The literature review is overblown - on merely 1 page there  
are references of more than 30 sources. Are all of them relevant? There should be a proper  
discussion putting each source into the context. Perhaps, a table that would least these sources  
and link them to the hypotheses and empirical methods would be appropriate?”.  
Có thể cung cấp các thông tin trên trong cùng một câu, ví dụ như cách viết của Le và  
Ozturk (2020): “Salahuddin et al. (2018) documented, from the results of ARDL and VECM  
Granger causality analysis, that the environmental degradation in Kuwait between 1980 and  
2013 was facilitated by economic growth, foreign direct investment, financial development,  
and electricity consumption.” Cũng có thể dùng nhiều câu để trình bày các đặc điểm của những  
công trình nghiên cứu như ví dụ sau đây trích từ Le và Bao (2020): “Kumar and Kumar (2013)  
scrutinized the long-run effects of energy consumption per capita embodying gross fixed  
capital formation per capita on the GDP per capita of Kenya in the period 1978–2009 and  
South Africa in the period 1971–2009. The empirical results estimated by ARDL approach  
demonstrated that in the short run and long run energy consumption and capital ameliorated  
the growth of the two countries.”  
Một lưu ý khi viết phần tổng quan tình hình nghiên cứu là nên ưu tiên trích dẫn các bài  
báo đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín và có thứ hạng cao trong các danh mục như Scopus  
và Web of Science (ví dụ: SSCI, SCI, SCIE). Thứ hạng và hệ số tác động (impact factor) của  
tạp chí càng cao thì các bài báo đăng trên các tạp chí đó càng có uy tín và sự tin cậy về mặt  
khoa học. Vì vậy, khi viết phần tổng quan tình hình nghiên cứu, người viết cần phải lựa chọn  
các công trình nghiên cứu một cách cẩn thận để vừa đảm bảo chất lượng học thuật vừa bao  
quát chủ đề nghiên cứu và tiết kiệm số lượng từ sử dụng trong bài báo (vì các tạp chí khác nhau  
có giới hạn khác nhau về số lượng từ tối đa của bài báo).  
Cấu trúc Literature review gợi ý:  
• Review các tài liệu gắn với mục tiêu nghiên cứu  
• Review các tài liệu gắn với đóng góp của nghiên cứu  
• Hoặc review các tài liệu gắn với các giả thuyết & phương pháp (lập bảng hoặc  
nhóm theo bối cảnh, chủ đề)  
e) Phần phương pháp nghiên cứu và dữ liệu (methodology and data)  
Trong lĩnh vực kinh tế, phương pháp nghiên cứu đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong  
việc làm nên chất lượng học thuật của bài báo và các tạp chí đều yêu cầu trình bày phương  
pháp nghiên cứu rõ ràng, logic, có cơ sở và phải phù hợp để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu  
163  
một cách hiệu quả. Vì thế, các tác giả đang có dự định công bố bài báo trên các tạp chí quốc tế  
có uy tín cần tập trung sự chú ý vào phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, chất lượng của dữ  
liệu cũng ảnh hưởng đáng kể đến tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Việc áp dụng phương  
pháp tốt trên dữ liệu không đáng tin cậy sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính khoa học của bài  
báo. Do đó, các nhà nghiên cứu cần đảm bảo sự tin cậy của cả phương pháp nghiên cứu và dữ  
liệu, vì nếu làm không tốt điều này sẽ đối mặt với nguy cơ rất cao là bài báo bị từ chối xuất bản  
trong quá trình bình duyệt.  
Ví dụ nhận xét của reviewer cho phần này: “Econometric methodologies are not shown  
in detail. The authors need to provide thorough information”.  
Việc đề xuất mô hình thực nghiệm phải mang tính khoa học và cần tránh những sự lựa  
chọn hoặc suy nghĩ chủ quan, cảm tính. Các tác giả cần cung cấp cơ sở lý thuyết và thực  
nghiệm cho mô hình được sử dụng trong bài báo.  
Ví dụ một số nhận xét của reviewers cho phần này:  
−“Methodology: Is the paper's argument should be built on appropriate theory,  
concepts. Further expansion and model specification is required”.  
−“The selection of variables is arbitrary rather than theoretical consideration. The  
authors need to clarify the theoretical and empirical bases for the variables chosen in their  
model”.  
Ví dụ, Le và Sarkodie (2020) đã cung cấp cơ sở lý thuyết và thực nghiệm vững chắc cho  
nghiên cứu của họ: “The model is built on the Cobb–Douglas production framework extended  
by Shahbaz (2012), Shahbaz et al. (2013), and Kumar et al. (2014).” Ở một ví dụ khác, Le và  
Ozturk (2020) đã cho thấy mô hình thực nghiệm mà họ sử dụng là rất đáng tin cậy: “Based on  
the review of literature, especially recent studies of Shah et al. (2019), Yuelan et al. (2019) and  
Zafar et al. (2019), this article includes globalization, financial development, government  
expenditure, and institution to examine the Environmental Kuznets Curve (EKC) in EMDEs  
…”  
Rất nhiều chủ đề nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế đòi hỏi việc sử dụng các phương pháp  
kinh tế lượng, và các nhà nghiên cứu cần trình bày, giải thích và làm rõ những ưu điểm cũng  
như nhược điểm của các phương pháp này. Vì thế, các nhà nghiên cứu phải am hiểu về những  
phương pháp ước lượng được sử dụng trong các bài báo của họ để có thể mô tả chính xác và  
cung cấp cơ sở khoa học của các bước trong quá trình phân tích. Ví dụ, Le và Sarkodie (2020)  
trước tiên mô tả quá trình phân tích gồm 6 bước và cung cấp cơ sở khoa học cho các kiểm định  
và phương pháp ước lượng: “The estimation procedure consists of six steps. First, we  
conducted the cross-sectional dependence (CD) test (Pesaran, 2004). Second, we applied the  
slope homogeneity test provided by Pesaran and Yamagata (2008). Third, … Finally, to  
analyze the dynamic linkages among the variables, we carried out Dumitrescu and Hurlin’s  
tests (Dumitrescu and Hurlin, 2012).” Sau đó, họ mô tả, giải thích nội dung và ý nghĩa của  
từng bước trong quá trình phân tích bằng cách cung cấp chi tiết các công thức toán học và trích  
164  
dẫn các công trình nghiên cứu nền tảng. Điều này đòi hỏi sự cẩn thận và chính xác, tránh các  
nhầm lẫn và sai sót.  
Việc mô tả dữ liệu, nguồn dữ liệu và ý nghĩa của các biến cần phải thực hiện rõ ràng để  
những người phản biện và đọc giả sau này dễ dàng hiểu được nội dung cũng như đánh giá tính  
tin cậy và khoa học của bài báo. Nếu cần thiết, có thể thêm các bảng hoặc ghi chú ở phần phụ  
lục để thuyết minh thêm về ý nghĩa và cách tính toán hoặc biến đổi các biến hoặc liệt kê danh  
sách các quốc gia trong phạm vi nghiên cứu. Ví dụ, Le và Ozturk (2020) sử dụng bảng ở phần  
phụ lục để liệt kê tên của 47 quốc gia trong phạm vi nghiên cứu, và họ cũng sử dụng bảng để  
mô tả các biến và nguồn dữ liệu. Trong khi đó, Le và Bao (2020) sử dụng cách viết đoạn văn  
để mô tả nguồn dữ liệu: “The data for the variables GDP, GCF, GC, FD and TO are collected  
and calculated from the World Development Indicators database provided by the World Bank.  
The data concerning RE and NRE are obtained from Energy Information Administration. The  
data of INS is retrieved from The Quality of Government Institute, University of Gothenburg,  
Sweden.” Việc lựa chọn sử dụng đoạn văn hay bảng để thuyết minh về các biến và nguồn dữ  
liệu phụ thuộc vào yêu cầu của tạp chí và quyết định của mỗi nhà nghiên cứu.  
Cấu trúc methodology and data gợi ý:  
• Trình bày rõ ràng và chi tiết phương pháp nghiên cứu  
• Trình bày và giải thích rõ ràng dữ liệu nghiên cứu  
• Trình bày mô hình nghiên cứu thực nghiệm dựa trên khung phân tích thuyết  
phục  
f) Phần kết quả và thảo luận (Results and Discussion)  
Trong phần này, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày. Việc sử dụng các bảng thể hiện  
kết quả ước lượng là rất phổ biến và gần như bắt buộc. Nhà nghiên cứu cần xem hướng dẫn của  
tạp chí để định dạng các bảng cho phù hợp. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu cần viết những đoạn  
văn để mô tả, phân tích, giải thích và thảo luận các kết quả của bài báo. Cần tránh việc chỉ liệt  
kê kết quả của bài báo mà thiếu đi sự so sánh với các nghiên cứu khác. Ví dụ, Le và Sarkodie  
(2020) đã so sánh kết quả nghiên cứu của họ với các công trình nghiên cứu có liên quan:  
“Finally, our fourth research hypothesis is validated by the evidence of a feedback mechanism  
between CO2 and GDP growth. This result is not different from Bekun et al. (2019a) and Samu  
et al. (2019), thus signifying that industrial activities foster the development of the economy  
while its structural dynamics rapidly stimulate the amount of CO2 released to the  
environment.”  
• Trình bày rõ ràng và chi tiết các kết quả chính của nghiên cứu  
• Cung cấp các kết quả kiểm định  
• Xác nhận các giả thuyết, gắn kết với phương pháp,…  
165  
• Thảo luận, so sánh kết quả nghiên cứu  
g) Phần kết luận (conclusion)  
Phần kết luận tổng kết các điểm chính (chủ đề, mục đích, phương pháp, dữ liệu, kết quả,  
điểm mới, đóng góp, v.v.) của một bài báo. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu có thể cung cấp thêm  
một số hàm ý chính sách, và cần đảm bảo rằng các kiến nghị dựa trên cơ sở kết quả của bài báo  
kết hợp với các lập luận chặt chẽ và hợp lý, không dựa trên suy nghĩ chủ quan, cảm tính. Độ  
dài ngắn của các gợi ý chính sách phụ thuộc vào cách viết của các nhà nghiên cứu và số lượng  
từ tối đa của toàn bộ bài báo mà tạp chí cho phép. Các nhà nghiên cứu cần cân nhắc số lượng  
từ của các phần sao cho có thể chuyển tải nội dung bài báo một cách hiệu quả nhất. Trong lĩnh  
vực kinh tế, có thể nói phương pháp nghiên cứu đóng vai trò cực kỳ quan trọng và nó luôn luôn  
có mặt trong bất kỳ bài báo nào. Nhiều nghiên cứu dành dung lượng đáng kể cho việc mô tả,  
trình bày và phân tích phương pháp nghiên cứu và chỉ cung cấp gợi ý chính sách một cách  
ngắn gọn. Ví dụ, trong bài báo của Le và Bao (2020), các gợi ý chính sách được đưa ra dựa  
trên các kết quả đã được phân tích trước đó và gói gọn trong 2 câu: “From the aforesaid  
results, we recommend that the policy-makers of the EMDEs in Latin America and the  
Caribbean should consider fiscal policies for macroeconomic stabilization, improve  
institutional quality and implement suitable finance-led and trad-led strategies. It is also  
important to develop energy policies in order to foster the shift from non-renewable energy  
consumption to the renewable one.” Trong khi đó, Le và Ozturk (2020) và Le và Sarkodie  
(2020) dành nhiều dung lượng hơn để đưa ra hàm ý chính sách kết hợp với một số thảo luận về  
chủ đề nghiên cứu.  
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng có thể bàn luận về điểm yếu của bài báo và đưa ra  
gợi ý về hướng nghiên cứu trong tương lai. Điều này là không bắt buộc và tùy thuộc vào cách  
viết của các nhà nghiên cứu khác nhau hoặc yêu cầu của người phản biện.  
Cấu trúc Conclusion gợi ý:  
• Trình bày tóm tắt nghiên cứu và các kết quả chính  
• Đề xuất các hàm ý chính sách  
• Nêu giới hạn của nghiên cứu  
h) Phần tài liệu tham khảo (references)  
Các tạp chí khác nhau đều có những yêu cầu khác nhau về trích dẫn, và các nhà nghiên  
cứu cần tìm hiểu và tuân thủ quy tắc trích dẫn của tạp chí. Nhìn chung, các thông tin về tên tác  
giả, năm xuất bản, tên bài báo, tên tạp chí, số trang phải được cung cấp trong phần tài liệu tham  
khảo. Các nhà nghiên cứu có thể tìm hiểu về kiểu trích dẫn APA được sử dụng phổ biến trong  
các lĩnh vực khoa học xã hội trong đó có kinh tế vì phần lớn tạp chí cũng yêu cầu cách thức  
trích dẫn tương tự. Trước khi nộp bản thảo vào tạp chí, nhà nghiên cứu cần kiểm tra để chắc  
rằng các tài liệu được sử dụng trong bài báo đã được liệt kê đầy đủ ở phần tài liệu tham khảo.  
166  
Ngoài ra, nếu sử dụng tài liệu nào đó mà không trích dẫn sẽ dẫn đến nguy cơ mắc phải lỗi đạo  
văn - một lỗi rất nghiêm trọng trong nghiên cứu khoa học.  
Các bài báo trong lĩnh vực kinh tế không sử dụng footnote để trích dẫn vì các tài liệu đã  
được trích dẫn trong bài (in-text citation) và trong phần tài liệu tham khảo (references).  
Footnote chỉ được sử dụng để giải thích ngắn gọn hoặc cung cấp thêm thông tin về một vấn đề  
nào đó mà tác giả không muốn đưa vào bài vì sẽ làm phá vỡ mạch viết và sự liên kết giữa các ý  
với nhau. Ví dụ, để chú thích cho việc đã thực hiện các kiểm định, Zhang (2011) sử dụng  
footnote để cung cấp thêm thông tin: “The detailed estimation results can be obtained upon  
request.” Trong khi đó, Odhiambo (2009), Shahbaz và cộng sự (2014), Le và Bao (2020), Le  
và Ozturk (2020), Le và Sarkodie (2020), v.v. đều không sử dụng footnote trong các bài báo  
của họ.  
3. Kết luận  
Bài viết này cung cấp một số phân tích, ví dụ và gợi ý để các nhà nghiên cứu có thể áp  
dụng trong quá trình viết bài báo và công bố quốc tế. Bên cạnh việc am hiểu chủ đề nghiên cứu  
và phương pháp nghiên cứu, cách viết và trình bày đóng vai trò quan trọng trong sự thành công  
của một bài báo. Trong lĩnh vực kinh tế, các nhà nghiên cứu cần quan tâm đến cấu trúc của một  
bài báo khoa học bao gồm các phần chính: tóm tắt (abstract), giới thiệu (introduction), tổng  
quan tình hình nghiên cứu (literature review), phương pháp nghiên cứu và dữ liệu  
(methodology and data), kết quả thực nghiệm (empirical results), kết luận (conclusion) và tài  
liệu tham khảo (references). Nếu các nhà nghiên cứu không viết tốt các phần kể trên, khả năng  
xuất bản của bài báo trên các tạp chí quốc tế có uy tín sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Vì thế, kỹ năng  
viết và trình bày bài báo nên được xem là một yếu tố quan trọng trong kỹ năng nghiên cứu của  
các nhà nghiên cứu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Derenoncourt, E., & Montialoux, C. (2021). Minimum Wages and Racial Inequality. Quarterly  
Journal of Economics, 136(1), 169–228.  
Le, H. P., & Bao, H. H. G. (2020). Renewable and Nonrenewable Energy Consumption,  
Government Expenditure, Institution Quality, Financial Development, Trade Openness, and  
Sustainable Development in Latin America and Caribbean Emerging Market and  
Developing Economies. International Journal of Energy Economics and Policy, 10(1), 242–  
248.  
Le, H. P., & Ozturk, I. (2020). The impacts of globalization, financial development,  
government expenditures, and institutional quality on CO2 emissions in the presence of  
environmental Kuznets curve. Environmental Science and Pollution Research, 27, 22680–  
22697.  
Le, H. P., & Sarkodie, S. A. (2020). Dynamic linkage between renewable and conventional  
energy use, environmental quality and economic growth: Evidence from Emerging Market  
and Developing Economies. Energy Reports, 6, 965–973.  
Lingard, L. (2018). Writing an effective literature review. Perspectives on Medical Education,  
167  
7(1), 47–49.  
Odhiambo, N. M. (2009). Energy consumption and economic growth nexus in Tanzania: An  
ARDL bounds testing approach. Energy Policy, 37(2), 617–622.  
Shahbaz, M., Sbia, R., Hamdi, H., & Ozturk, I. (2014). Economic growth, electricity  
consumption, urbanization and environmental degradation relationship in United Arab  
Emirates. Ecological Indicators, 45, 622–631.  
Zhang, Y. -J. (2011). The impact of financial development on carbon emissions: An empirical  
analysis in China. Energy Policy, 39(4), 2197–2203.  
168  
pdf 14 trang baolam 24580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Viết và trình bày bài báo khoa học để xuất bản trên các tạp chí quốc tế uy tín", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfviet_va_trinh_bay_bai_bao_khoa_hoc_de_xuat_ban_tren_cac_tap.pdf