Thực trạng về định kiến giới trong quảng cáo truyền hình

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
THỰC TRẠNG VỀ ĐỊNH KIẾN GIỚI  
TRONG QUẢNG CÁO TRUYỀN HÌNH  
Nguyễn Ngọc Hạnh My  
Khoa Báo chí – Truyền thông, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 25/3/2019; ngày hoàn thành phản biện: 28/3/2019; ngày duyệt đăng: 02/7/2019  
TÓM TẮT  
Giới và bình đẳng giới là một phạm trù xã hội được đề cập nhiều trong những năm  
qua. Trong thời đại ngày nay, phương tiện truyền thông có sức ảnh hưởng to lớn  
và rộng khắp đến mọi mặt đời sống xã hội. Trong kỉ nguyên thông tin đó, truyền  
hình với sức mạnh phổ cập đến đa số công chúng vẫn không giảm đi ưu thế của  
mình so với các loại hình báo chí khác. Quảng cáo – một lĩnh vực truyền thông nơi  
phát đi các thông điệp hướng tới mục tiêu giúp doanh nghiệp bán được sản phẩm  
và từ đó nảy sinh mâu thuẫn trong việc cổ súy cho định kiến giới trong nội dung  
quảng cáo. Bình đẳng giới sẽ không thành công nếu như định kiến giới vẫn còn tồn  
tại. Bài viết sẽ phân tích cụ thể các hình thức biểu hiện về định kiến giới trong  
quảng cáo trên truyền hình và đưa ra những giải pháp để cải thiện tình trạng trên.  
Từ khoá: Định kiến giới, Phụ nữ, Quảng cáo  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong thời đại ngày nay, phương tiện truyền thông có sức ảnh hưởng to lớn và  
rộng khắp đến toàn bộ xã hội con người. Sự phủ sóng ngày càng rộng của mạng xã hội  
bên cạnh các phương tiện thông tin truyền thống đã đưa xã hội loài người vào một kỉ  
nguyên thông tin. Tại Việt Nam, các phương tiện truyền thông đã có nhiều đóng góp  
quan trọng trong việc định hướng cộng đồng nâng cao ý thức về “bình đẳng giới”. Từ  
khi Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới vào năm 2006 đến năm 2007, Quốc  
hội lại thông qua Luật phòng chống bạo lực gia đình. Như vậy, bằng luật pháp,  
Nhà nước đã công nhận quyền bình đẳng nam và nữ trong xã hội và gia đình,  
đồng thời cam kết tạo cho phụ nữ cơ hội phát triển như nam giới. Tuy nhiên,  
trên thực tế sự “phân biệt giới” giữa nam và nữ vẫn tồn tại dai dẳng, điều này  
là do sự ảnh hưởng của chế độ phụ quyền từ lâu đời nên phụ nữ vẫn phải chịu  
nhiều thiệt thòi trong gia đình và xã hội. Điều này làm cho tiến trình đi tới mục  
tiêu bình đẳng đầy nhân văn ấy vẫn còn nhiều khó khăn, cản trở, thách thức. Một  
179  
Thực trạng về định kiến giới trong quảng cáo truyền hình  
trong những rào cản lớn nhất đó là định kiến giới. Bình đẳng giới sẽ không thực chất,  
không thành công nếu như định kiến giới vẫn tồn tại. Vẫn có rất nhiều những sản  
phẩm truyền thông củng cố về những “định kiến giới” một cách vô thức nhằm chạy  
theo các giá trị thương mại. Đáng chú ý nhất là định kiến giới trong quảng cáo nói  
chung và truyền hình nói riêng.  
2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA ĐỊNH KIẾN GIỚI TRONG QUẢNG CÁO TRUYỀN  
HÌNH  
2.1. Vài nét về định kiến và định kiến giới  
Theo Từ điển tâm lý học của J.P Chaplin (1968): “Định kiến là thái độ tiêu cực  
được hình thành trên cơ sở của yếu tố cảm xúc. Là niềm tin hoặc cách nhìn thường là  
không thiện cảm dẫn đến cho chủ thể một cách nghĩ hoặc một cách ứng xử tương ứng  
với người khác.” Trong tác phẩm Những khái niệm cơ bản của tâm lí học xã hội,  
Fisher(1992) cho rằng: “Định kiến là những thái độ bao hàm sự đánh giá một chiều và  
sự đánh giá là tiêu cực đối với cá nhân khác hoặc nhóm khác tùy theo sự quy thuộc xã  
hội riêng của họ.” Nói cách khác, định kiến là một loại phân biệt đối xử bao gồm hai  
thành tố chính là nhận thức và ứng xử. Một cách chung nhất, định kiến được hiểu là  
những thái độ tiêu cực nảy sinh trên cơ sở của những cảm nhận không chắc chắn, tập  
hợp các quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng có tính chất rập khuôn và đơn  
giản hóa quá mức về những đặc điểm bề ngoài, thái độ và hành vi ứng xử xã hội,  
những ấn tượng xấu, … về một nhóm người nào đó. (Định kiến và phân biệt đối xử  
theo giới – Lý thuyết và thực tiễn, Trần Thị Minh Đức)  
Luật bình đẳng giới 2006 phân biệt rõ: “Định kiến giới là nhận thức, thái đội và  
đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ”  
(Khoản 4, điều 5). Định kiến giới thường giới hạn ở những gì cộng đồng mong muốn  
hoặc cho phép nam giới hay phụ nữ thể hiện trong các quan hệ xã hội mà không phản  
ánh đúng khả năng thực tế của phụ nữ và nam giới. Ví dụ: Phụ nữ làm việc nhà tốt  
hơn nam giới, nam giới làm lãnh đạo tốt hơn phụ nữ. Định kiến giới thường gây áp lực  
cho cả phụ nữ và nam giới và là nguyên nhân gốc rễ của tình trạng bất bình đẳng nam  
nữ trong xã hội.  
Có hai kết luận quan trọng trong lý thuyết tâm lý học xã hội khi nghiên cứu về  
định kiến. Thứ nhất, con người có xu hướng nhớ lại dễ dàng hơn những gì được củng  
cố từ các khuôn mẫu mà không chú ý những gì bác bỏ nó. Thực tế ở Việt Nam, nhắc  
đến phụ nữ là nhắc đến sự khéo léo trong may vá, nấu nướng nhưng thực chất các đầu  
bếp, nhà thiết kế thành công chủ yếu lại là nam giới. Hay là, vị trí lãnh đạo mà nam  
giới chiếm ưu thế được củng cố bởi niềm tin là nam giới có phẩm chất và năng lực lãnh  
đạo hơn so với nữ giới trong khi thực tế được chứng minh phụ nữ không hề thiếu  
180  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
thậm chí nổi trội hơn so với nam giới trong một số phẩm chất lãnh đạo hiện đại… Thứ  
hai, định kiến được hình thành bởi một sự tập luyện xúc cảm có từ rất sớm trong khi  
những niềm tin biện minh cho chúng thì đến muộn hơn, điều đó khiến cho việc loại bỏ  
những định kiến trở nên khó khăn. Ai cũng muốn từ bỏ những định kiến của mình  
nhưng thay đổi những niềm tin thuộc về nhận thức thì dễ hơn thay đổi những cảm xúc  
sâu thẳm. Định kiến xã hội tạo nên một sự phân biệt xã hội. Định kiến giới cũng vậy,  
nó có thể làm cho phụ nữ hoặc nam giới đánh giá không đúng về bản thân và người  
khác. Trong quá trình thiết lập mối quan hệ của cảm xúc, định kiến giới có thể để lại  
một số hậu quả:  
1) Định kiến giới làm đơn giản hóa quá trình nhận thức của con người về người  
khác giới, ngăn cản hiểu biết chính xác những người không cùng giới tính với mình, dễ  
phá hỏng các mối quan hệ của con người trong xã hội.  
2) Định kiến giới thường dẫn đến những thái độ khó chịu, những tình cảm tiêu  
cực đối với đối tượng và điều này không có lợi cho sự lành mạnh cảm xúc của chủ thể  
mang định kiến.  
3) Định kiến giới làm hỏng mối quan hệ giữa nam và nữ. Nó củng cố lòng tin  
của người đàn ông vào tính chất “thượng đẳng” của mình, khiến họ có thái độ kẻ cả và  
bảo thủ. Còn đối với phụ nữ, họ gặp nhiều khó khăn trong việc khẳng định bản thân  
và từ bỏ những hình ảnh tiêu cực về chính mình.  
2.2. Cách thức biểu hiện định kiến giới trong quảng cáo truyền hình  
Trong các chương trình quảng cáo truyền hình, phụ nữ xuất hiện nhiều hơn  
nam giới nhưng không phải vì mục đích đề cao hay tôn trọng mà chỉ vì mục tiêu khai  
thác triệt để hiệu quả lợi nhuận kinh tế. Một nghiên cứu xã hội học của Viện Khoa học  
xã hội Việt Nam cho biết “có đến 98% hình ảnh quảng cáo chỉ đề cao vai trò người phụ  
nữ trong gia đình” (2006), điều này tác động không nhỏ đến nhận thức của lứa tuổi  
thiếu nhi khi tiếp cận với các kênh quảng cáo từ rất sớm thông qua các phương tiện  
TV, mạng xã hội, … Về hàm ý xuất hiện hình ảnh, biểu tượng phụ nữ và nam giới vẫn  
mang tính khuôn mẫu, chịu ảnh hưởng định kiến giới khá rõ rệt trên truyền hình. Đa  
số phụ nữ xuất hiện với tư cách chăm sóc gia đình và nam giới xuất hiện với hình ảnh  
hội họp và lãnh đạo.  
Trong khía cạnh về truyền thông mà cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, theo  
thời gian với những nỗ lực không ngừng của Nhà nước và các cấp quản lý để tuyên  
truyền về “bình đẳng giới” mà đã có những thay đổi tư duy đáng kể trong việc thay  
đổi tư duy người làm quảng cáo, không còn định kiến và phân biệt giới trong nội dung  
quảng cáo nhiều như trước. Cụ thể, căn cứ vào các chỉ số phản ánh nữ giới và nam giới  
bình đẳng trong các thông điệp quảng cáo trên truyền thông, kiểm chứng qua Bảng  
181  
Thực trạng về định kiến giới trong quảng cáo truyền hình  
thống kê quảng cáo truyền hình khảo sát kênh VTV8 năm 2017, tác giả đã thống kê  
được:  
1) Tỷ lệ nữ giới (giọng nói và hình ảnh) xuất hiện trong quảng cáo chiếm 65%.  
2) Tỷ lệ nam giới thể hiện quảng cáo (giọng nói có quyền lực) chiếm 70%.  
3) Tỷ lệ nam giới xuất hiện chủ động hơn chứ không bị động trong quảng cáo  
(xét giọng nói và hình ảnh) chiếm 72%.  
4) Tỷ lệ nam giới xuất hiện với tư cách chuyên gia, cố vấn, người tiêu dùng thạo  
tin tức, thông minh, có ý thức, cẩn trọng, … chiếm 67% so với hình ảnh nữ giới là  
người tiêu dùng không thạo tin tức, cả tin/ dễ bị tác động, người chống đỡ…  
5) Nghề nghiệp của nữ giới luôn bị đóng khung với những định kiến cơ bản:  
nội trợ, giặt giũ, làm việc nhà, đưa đón con cái, … chiếm 66% so với nam giới cùng  
khảo sát với những hình ảnh trên.  
6) Xu hướng xã hội của nữ giới hoàn toàn bị thiên lệnh khi liên quan đến các  
công việc thứ yếu, liên quan đến việc nhà, liên quan đến quan hệ xã hội với cha mẹ  
chồng, … Khảo sát trên 1442 mẫu quảng cáo trên kênh VTV8 thì có 1032 mẫu quảng  
cáo truyền hình với xu hướng xã hội của nữ giới hoàn toàn thiên lệch như trên, chiếm  
71%.  
7) Ngoại hình (cận cảnh khuôn mặt và dáng điệu) đặc tả để khắc họa trong  
quảng cáo là chủ yếu trong khi tính cách là thứ yếu hoặc không đề cập tới chiếm 70%.  
8) Tỷ lệ nữ và nam trong quảng cáo cho các loại sản phẩm và các dịch vụ mà  
các quảng cáo này cứ rập khuôn hoặc cứ tự nhiên áp đặt những vai trò giới (ví dụ: các  
mặt hàng gia dụng gắn với nấu ăn và lau dọn, thực phẩm, đồ uống gắn với các hoạt  
động nội trợ, các sản phẩm cho trẻ em gắn liền với người mẹ…) là cực kì đậm nét với tỉ  
lệ liên quan xuất hiện đặc trưng giới và vai trò giới chiếm 82% khi mô tả thông điệp  
quảng cáo.  
9) Tỷ lệ quảng cáo thể hiện khuôn mẫu rõ nét, nhấn mạnh định kiến giới qua  
các quảng cáo “nữ tính” với vai trò nữ giới và các quảng cáo “nam tính” nhấn mạnh  
vai trò nam giới chiếm 88% so với các quảng cáo có sự phản ảnh đa chiều nam và nữ  
(tức là có sự nỗ lực tìm ra những hình thức phản ánh phân biệt giới tính) là 12%.  
182  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
Hình 1. Quảng cáo bột giặt Attack (Tháng 2/2017, VTV8).  
Đúng như nhận định “những nỗ lực nhằm nâng cao nhận thức xã hội về vai trò, vị  
trí của nữ giới trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn chưa được chú ý khai thác đúng  
mức hoặc mô tả một chiều, chưa bao quát và thiếu xác thực so với hình ảnh hiện đại của nữ  
giới” (Báo cáo của Trung tâm Tư vấn và Thông tin tư liệu về bạo lực giới – CSAGA),  
phân tích đoạn quảng cáo bột giặt, ta thấy: Tập trung vào một quảng cáo truyền hình  
của bột giặt Attack, với thời lượng 30 giây nhưng có 5 khung ảnh đặc tả những công  
việc hằng ngày của người phụ nữ: từ dọn rửa đến nấu ăn, từ chăm chồng đến thức  
đêm cùng con, hình ảnh chuyển tiếp là cận cảnh người phụ nữ giặt thau áo quần bằng  
tay trong trạng thái đuối sức, mệt mỏi. Việc dùng những đặc tả dồn dập công việc từ  
sáng đến tối của phụ nữ là việc củng cố và xây dựng “định kiến giới” rằng phụ nữ  
không thể nào bước ra khỏi khuôn mẫu chăm sóc gia đình với vai trò là bà nội trợ, và  
chỉ một thứ duy nhất có thể giải phóng họ chính là bột giặt! Sự phân biệt và định kiến  
183  
Thực trạng về định kiến giới trong quảng cáo truyền hình  
của người xây dựng nội dung quảng cáo này thể hiện đậm nét, gây ảnh hưởng đến tâm  
lý, tăng thâm các định kiến về giới và ảnh hưởng tiêu cực tới cộng đồng.  
Quảng cáo còn luôn khắc họa hình ảnh đàn ông thì phải uống bia và luôn mạnh  
mẽ (quảng cáo bia Heneiken, sữa tắm X Men – Đàn ông đích thực, nước tăng lực, café,  
điện thoại…) gắn liền với vẻ ngoài lịch lãm, trí thức và phụ nữ là phải gắn liền với thế  
giới tiêu dùng, phải tiêu tiền, làm đẹp và mua sắm. Phụ nữ phải xuất hiện trong quảng  
cáo các sản phẩm nước hoa, dầu gội, áo quần, …! Nam giới thường được gắn mác với  
những cụm từ: mạnh mẽ, nam tính, tham vọng, bản lĩnh, … Một “định kiến 9 giới”  
luôn là như thế trong suốt 30 mẫu quảng cáo mà người viết phân tích. Trong khi thực  
tế, phụ nữ hoàn toàn có thể làm những điều nam giới có thể làm. Vậy tại sao hình ảnh  
phụ nữ không được gắn liền với hình ảnh mạnh mẽ? Phải chăng đây là do sự định  
kiến, khuôn mẫu giới tạo nên?  
Định kiến giới còn xây dựng trên nền tảng rằng: Đàn ông ngoại tình là lỗi của  
phụ nữ không biết nấu ăn ngon và phải dùng bột nêm Maggi đàn ông mới quay về với  
gia đình.  
Hình 2. Quảng cáo bột nêm Maggi (Tháng 1/2017).  
Xã hội hóa giới và định kiến giới thể hiện trong ca dao, trong chuyện đời  
thường và trong các truyện cười. Ví dụ: “Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng  
rộng tan hoang cửa nhà”, “Con gái giống cha giàu ba họ, con gái giống mẹ khó ba đời”,  
“Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, … Theo nền tảng đó, đoạn quảng cáo bột nêm đậm vị  
“định kiến” và mỉa mai, hạ thấp người phụ nữ đồng thời khẳng định đàn ông là người  
ra đường kiếm tiền và được quyền “trăng hoa” cho đến khi phụ nữ tự hoàn thiện mình  
trong xó bếp. Những cách ví von xô bồ trong đời sống thường ngày không thể trở  
thành thông điệp của một quảng cáo đến với hàng triệu người xem. Cách xây dựng nội  
dung quảng cáo như thế này chứng tỏ sự thiếu phông nền đạo đức, làm mai một  
những giá trị đạo đức tốt đẹp và cổ xúy cho công chúng cách sống lệch lạc. Bên cạnh  
184  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
đó, sự thiếu hiểu biết về pháp luật, văn hóa và sự chạy theo lợi nhuận làm gia tăng sự  
định kiến giới trong cách thức thiết lập các thông điệp quảng cáo. Giá trị thương hiệu  
cũng theo đó mà bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  
Quảng cáo là tác nhân củng cố định kiến về vai trò giới. Các nhân vật nữ chiếm  
vị trí áp đảo trong việc quảng cáo các sản phẩm tiêu dùng, xuất hiện với địa vị kém  
hơn nam giới, luôn gắn liền với gia đình và nội trợ. Trong khi đó, nam giới xuất hiện ít  
hơn nhưng luôn xuất hiện với vị thế xã hội cao hơn và hầu như rất ít gắn với công việc  
gia đình. Việc quá nhấn mạnh vai trò nội trợ, chăm sóc gia đình của người phụ nữ  
trong các quảng cáo dẫn đến sự nhìn nhận của công chúng về người phụ nữ đảm nhận  
vai trò này như là sự tất yếu và lẽ đương nhiên.  
Việc lạm dụng hình ảnh nữ giới trong các quảng cáo về các sản phẩm phục vụ  
cuộc sống gia đình ngầm định một thông điệp: nội trợ, chăm sóc gia đình là vai trò của  
nữ giới. Khi chúng ta đặt trách nhiệm đó lên vai người phụ nữ, nghĩa là làm giảm đi  
thời gian nghỉ ngơi, học tập, tham gia các hoạt động xã hội của nữ giới và giảm dần  
khả năng chăm sóc gia đình của nam giới, trong khi chăm sóc gia đình là công việc của  
chung mọi thành viên trong gia đình (Truyền thông có nhạy cảm giới, CSAGA, 2011).  
3. KẾT LUẬN  
Định kiến giới có tác động không nhỏ đến nhận thức về vai trò và năng lực của  
nữ giới. Các thông điệp truyền thông ở nước ta hiện nay đã vô tình cổ vũ cho nhiều  
nhóm trong xã hội củng cố cái nhìn về định kiến giới. Thông điệp của truyền thông  
chưa có sự nhận thức rõ ràng và hành động dứt khoát về bình đẳng giới. Hay nói cách  
khác, quảng cáo trên truyền hình đã góp phần làm đậm nét sự phân biệt giới, định  
kiến giới trong xã hội Việt Nam.  
Với khả năng tác động rộng rãi đến dư luận xã hội, báo chí truyền thông thực  
hiện vai trò quan trọng của mình trong việc xây dựng quan niệm về vai trò giới. Tuy  
vậy, bên cạnh những định hướng đúng đắn, hình ảnh giới, đặc biệt là chân dung nữ  
giới trên báo chí trong nhiều trường hợp vẫn còn bị miêu tả một chiều, năng lực và vị  
thế của nữ giới chưa được báo chí nhìn nhận đúng mức. Nguyên nhân của hiện trạng  
này là do bức tranh bình đẳng giới trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều mảng tối màu.  
Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là các đơn vị truyền thông trực tiếp sản  
xuất ra các sản phẩm quảng cáo truyền hình chưa thực sự coi trọng mục tiêu truyền  
thông về giới, dẫn đến sự định kiến về giới vẫn còn đậm nét trong việc khắc họa hình  
tượng nhân vật trong các quảng cáo. Để tiến tới mục tiêu đến năm 2020, 80% ấn phẩm  
báo chí không còn định kiến giới, hạn chế tình trạng phân biệt giới như hiện nay, theo  
chúng tôi hệ thống truyền thông, quảng cáo cần thực hiện một số giải pháp trên cơ sở  
lãnh đạo cơ quan truyền thông phối hợp với Ban nữ công và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ  
triển khai kế hoạch này:  
185  
Thực trạng về định kiến giới trong quảng cáo truyền hình  
1) Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của truyền thông. Truyền thông phải trở  
thành lực lượng quan trọng góp phần tác động để thay đổi những nhận thức sai lầm  
của công chúng về phụ nữ và đàn ông. Ở một số nước phát triển, bên cạnh việc tôn  
vinh người phụ nữ, truyền thông còn xây dựng nhiều chương trình cổ súy cho hình  
ảnh người đàn ông chăm sóc gia đình. Những chương trình “Vào bếp cùng người nổi  
tiếng, những diễn đàn đưa người cha về với hình ảnh gia đình, ... được nhiều khán giả  
yêu thích và ủng hộ.  
2) Nâng cao nhận thức, hiểu biết về bình đẳng giới cho cán bộ, nhân viên ngành  
báo chí truyền thông, quản lý văn hóa thông tin. Cần tiếp tục tuyên truyền, nâng cao  
nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới. Các ngành chức năng cần quan tâm, tuyên  
truyền đến các chủ thể doanh nghiệp đặt hàng quảng bá sản phẩm, các doanh nghiệp  
sản xuất quảng cáo giúp họ hiểu hơn về nguyên tắc bình đẳng giới khi đưa ra thông  
điệp quảng cáo.  
3) Cần bổ sung điều luật về định kiến giới trong pháp lệnh quảng cáo. Luật  
Quảng cáo cần phải bổ sung yếu tố giới, bình đẳng giới để có thể thực hiện xử lý  
nghiêm đối với các trường hợp quảng cáo củng cố định kiến giới.  
4) Cần hình thành và thúc đẩy dư luận xã hội phê phán mạnh mẽ trong các  
tầng lớp xã hội thường xuyên và rộng khắp về sự lạm dụng hình ảnh người phụ nữ  
dẫn đến định kiến giới trong hoạt động truyền thông và quảng cáo.  
5) Tổ chức các lớp học nâng cao nhận thức và tập huấn nghiệp vụ, tổng kết  
công tác thực hiện, có chế độ báo cáo hằng năm về kết quả hoạt động về bình đẳng giới  
và chống định kiến giới cụ thể trên chính những sản phẩm truyền thông mà cơ quan  
mình thực hiện được.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. CSAGA (2011), Truyền thông có nhạy cảm giới, NXB Thiết kế In ấn T.E.A.M, Hà Nội.  
[2]. Cục Báo chí (2014), Bộ chỉ số về giới trong truyền thông, NXB Phụ nữ, Hà Nội.  
[3]. Fischer (1992), Những khái niệm cơ bản của tâm lý học xã hội (Les concepts fondament aux de la  
psychologie sociale), NXB Thế giới, Hà Nội.  
[4]. J.P.Chaplin (2006), Từ điển tâm lý học (Dictionary of psychology), London, 1968.  
[5]. Luật Bình đẳng giới (2006), NXB Dân trí, Hà Nội.  
[6]. Trần Thị Minh Đức (2011), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới, NXB ĐHQG, Hà Nội.  
[7]. Trần Thị Yến Minh (2014), “Định kiến giới trên báo chí Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Kinh tế -  
Xã hội, Đà Nẵng.  
[8]. Viện nghiên cứu Xã hội - Kinh tế và Môi trường (2014), Bình đẳng giới trong các quảng cáo  
tuyển dụng trên báo in, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.  
186  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 14, Số 3 (2019)  
CURRENT SITUATION OF GENDER PREJUDICE AND DISCRIMINATION  
IN TELEVISION ADVERTISEMENTS  
Nguyen Ngoc Hanh My  
Faculty of Journalism and Communication, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
Gender and gender equality are social issues which have been in the spotlight in  
recent years. In this day and age, the media has a tremendous influence, extending  
to the lives of everyone in society. The growing coverage of social networking tools  
in addition to traditional media has put human society in an information age.  
Advertising is a field of communication in which daily and hourly messages are  
produced and delivered aim at helping businesses sell their products. At the same  
time, there is an existing conflict in advertising between simultaneously asking for  
equal rights and promoting gender injustice. One of the biggest barriers is gender  
prejudice. Gender equality will not be real and achievable if gender stereotypes  
still exist. This article will specifically analyze the forms of gender discrimination  
in advertising and provide solutions to improve the situation.  
Keywords: Advertisement, Gender discrimination, Women.  
Nguyễn Ngọc Hạnh My sinh ngày 29/09/1989 tại Thừa Thiên Huế. Năm  
2011, bà tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Báo chí tại trường Đại học  
Khoa học, Đại học Huế. Năm 2013, bà học Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ  
công chúng tại Đại học Keimyung – Hàn Quốc. Hiện nay, bà là giảng viên  
khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: PR, Quan hệ công chúng, Sáng tạo nội dung quảng  
cáo, Xử lý khủng hoảng truyền thông, Định vị tâm lý khách hàng.  
187  
pdf 10 trang baolam 55540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng về định kiến giới trong quảng cáo truyền hình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_ve_dinh_kien_gioi_trong_quang_cao_truyen_hinh.pdf