Phân tích trắc lượng thư mục (bibliometrics) trong nghiên cứu khoa học

PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC (BIBLIOMETRICS)  
TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  
TS.Lương Công Nguyên & NCS.ThS.Nguyễn Quốc Phong  
Khoa Quản trị, Trường Đại học Luật TP.HCM  
TÓM TẮT  
Phân tích trắc lượng thư mục (Bibliometrics) đã trở thành một công cụ thiết yếu để đánh  
giá và phân tích kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, sự hợp tác giữa các trường đại  
học, ảnh hưởng của ngân sách dành cho khoa học công nghệ đối với việc phát triển nghiên  
cứu khoa học và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong đó, việc sử dụng phân tích trắc lượng  
thư mục để hệ thống hóa kết quả nghiên cứu một vấn đề theo thời gian, thể loại và khu vực  
công bố, đồng thời xác định được xu hướng và vấn đề nghiên cứu mới để tiến hành dự án  
nghiên cứu khoa học nhằm bổ sung tri thức mới vào bức tranh tổng thể của lĩnh vực nghiên  
cứu. Bài viết này nhằm trình bày phương pháp phân tích trắc lượng thư mục trong việc hệ  
thống hóa kết quả nghiên cứu, xác định xu hướng và vấn đề nghiên cứu mới, đồng thời giới  
thiệu các công cụ phần mềm thực hiện phân tích trắc lượng thư mục.  
1. Giới thiệu  
Đánh giá tổng quan kết quả nghiên cứu của một vấn đề là việc quan trọng và cần thiết để  
người nghiên cứu có một góc nhìn tổng thể nhằm xác định rõ xu hướng nghiên cứu theo quá  
trình và vấn đề đủ mới để lập dự án thực hiện nghiên cứu. Việc thực hiện hệ thống hóa kết quả  
nghiên cứu theo phương pháp thống kê cổ điển có thể sẽ mất nhiều thời gian và có thể bỏ sót  
các công bố có liên quan mà điều này có thể làm cho dự án nghiên cứu không còn tính mới hay  
nói cách khác là làm mất giá trị của quá trình nghiên cứu, gây lãng phí nguồn lực.  
Do đó, việc sử dụng phương pháp phân tích trắc lượng thư mục lập hồ sơ nghiên cứu  
bằng cách khai thác vô số thông tin có thể truy cập được trong cơ sở dữ liệu điện tử như Web  
of Science (WoS), Scopus, Google Scholar (GS), Microsoft Academic (MA) và Dimensions có  
thể mở rộng phạm vi khoa học bằng cách tạo liên kết tốt hơn giữa các lĩnh vực nghiên cứu, có  
thể phát hiện ra các mối quan hệ chuyên đề, xu hướng nghiên cứu và khả năng bổ sung cho  
nhau, từ đó tạo điều kiện cho các dự án nghiên cứu hệ thống hóa kết quả nghiên cứu và xác  
định vấn đề nghiên cứu đủ mới, giảm lãng phí nguồn lực.  
2. Phương pháp phân tích trắc lượng thư mục  
2.1. Tổng quan về phân tích trắc lượng thư mục  
Bảng chú giải thuật ngữ thống kê của OECD định nghĩa Bibliometric (phân tích trắc  
lượng thư mục) là: “phân tích thống kê sách, bài báo hoặc các ấn phẩm khác, trong bối cảnh:  
Ban đầu, công việc chỉ giới hạn trong việc thu thập dữ liệu về số lượng bài báo và ấn phẩm  
khoa học, tác giả của các tổ chức và / hoặc tổ chức, lĩnh vực khoa học, quốc gia, v.v., nhằm  
120  
xây dựng các chỉ số "năng suất" đơn giản cho nghiên cứu học thuật. Sau đó, các kỹ thuật đa  
chiều và phức tạp hơn dựa trên các trích dẫn trong các bài báo (và gần đây là bằng sáng chế) đã  
được phát triển. Các chỉ số trích dẫn kết quả và bộ phân tích đồng trích dẫn được sử dụng để có  
được các thước đo nhạy hơn về chất lượng nghiên cứu và để theo dõi sự phát triển của các lĩnh  
vực và mạng lưới khoa học. Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng dữ liệu về số lượng và tác  
giả của các ấn phẩm khoa học, trên các bài báo và các trích dẫn (và trong các bằng sáng chế) để  
đo lường “đầu ra” của các cá nhân / nhóm nghiên cứu, tổ chức và quốc gia, để xác định các  
mạng lưới quốc gia và quốc tế, và lập bản đồ sự phát triển của các lĩnh vực khoa học và công  
nghệ mới (đa ngành).”  
Ana và Manuel (2020, 13-43) định nghĩa: “Bibliometric là việc sử dụng các phương pháp  
thống kê để phân tích dữ liệu của ấn phẩm như các bài báo trên tạp chí được bình duyệt, sách,  
kỷ yếu hội nghị, tạp chí định kỳ, đánh giá, báo cáo và các tài liệu liên quan. Nó đã được sử  
dụng rộng rãi để trình bày các mối quan hệ của các lĩnh vực nghiên cứu bằng các phương pháp  
định lượng.”  
Luís và cộng sự (2015, 372-392) định nghĩa: “Một phương pháp định lượng được sử  
dụng để kiểm tra cấu trúc kiến thức và sự phát triển của các lĩnh vực nghiên cứu dựa trên phân  
tích các ấn phẩm liên quan.”  
Các nhà nghiên cứu gặp phải áp lực ngày càng tăng trong việc cung cấp bằng chứng định  
lượng cho công trình nghiên cứu, phân tích trắc lượng thư mục được sử dụng để hỗ trợ tính  
khách quan của việc hệ thống hóa kết quả nghiên cứu. Phân tích trắc lượng thư mục là một  
phương pháp được sử dụng rộng rãi để vẽ ra bức tranh lớn của vấn đề cần nghiên cứu (Porter  
và cộng sự 2002). Nó là một phương pháp định lượng để xác định xu hướng của lĩnh vực  
nghiên cứu bằng cách tính tần suất xuất hiện của các từ khóa nhất định trong các công bố trên  
các tạp chí uy tín hoặc bằng sáng chế... Ngoài ra, dựa trên kết quả dự đoán khách quan có thể  
xác định được các chủ đề nghiên cứu mới nổi trong vài năm tới. Phân tích trắc lượng thư mục  
giúp các nhà nghiên cứu tiết kiệm thời gian thu thập dữ liệu và thực hiện nghiên cứu theo chiều  
dọc bằng cách tổng hợp một số lượng lớn các bài báo đã xuất bản trong một khung thời gian tự  
xác định (Güttel và Vogel 2013, 21). Phân tích nội dung cốt lõi của các ấn phẩm công bố, kết  
quả phân tích trắc lượng thư mục cung cấp tổng quan nghiên cứu và minh họa mối quan hệ  
giữa các khái niệm nghiên cứu, mang lại nguồn cảm hứng mới cho các ý tưởng nghiên cứu và  
vấn đề nghiên cứu. Nó hỗ trợ các nhà nghiên cứu hiểu được kiến thức cốt lõi của một lĩnh vực  
nghiên cứu, các lĩnh vực phụ của chúng và các lĩnh vực liên quan. Dựa trên đó, các xu hướng  
nghiên cứu được phân tích để đưa ra các chương trình nghiên cứu hoặc các cấu trúc nghiên cứu  
mới (Small 2006, 16).  
Phân tích trắc lượng thư mục bắt đầu với các câu hỏi cần được trả lời, bao gồm một số  
câu hỏi như Ai, Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Với Ai (Börner và Polley, 2014). Kết quả phân tích đề  
cập đến các nội dung cụ thể của một công bố khoa học một vấn đề nghiên cứu: Ai là tác giả  
công bố?, Từ khóa là gì?, Công bố trên tạp chí nào?, Hợp tác nghiên cứu với quốc gia/ trường  
đại học nào? , Thời điểm công bố là khi nào?.  
121  
Do vậy, những lợi ích của phân tích trắc lượng thư mục đối với các nhà nghiên cứu:  
Xác định được quá trình từ lịch sử đến hiện tại các công bố liên quan đến vấn đề  
hoặc lĩnh vực nghiên cứu. Phân tích được xu hướng nghiên cứu của một vấn đề  
hoặc lĩnh vực khoa học.  
Cung cấp bằng chứng về mức độ quan trọng và các tác động của vấn đề nghiên cứu  
hoặc lĩnh vực nghiên cứu đang tiến hành thực hiện.  
Phát hiện điểm mạnh và khoảng trống của các nghiên cứu hiện tại, đồng thời tìm ra  
các lĩnh vực nghiên cứu mới và đang phát triển  
Xác định được những công bố có tầm quan trọng và mức độ tác động lớn trong vấn  
đề cần nghiên cứu  
Xác định các cộng tác viên/ tổ chức nghiên cứu tiềm năng để có thể hợp tác thông  
qua phân tích được hiệu suất công bố của các cá nhân/ tổ chức.  
Xác định các nguồn tạp chí phù hợp để xuất bản công bố kết quả nghiên cứu  
2.2. Cơ sở dữ liệu cho phân tích trắc lượng thư mục  
Để thực hiện phân tích trắc lượng thư mục, giai đoạn đầu tiên là quyết định nguồn dữ liệu  
tốt nhất phù hợp với phạm vi khoa học của lĩnh vực nghiên cứu của nhà nghiên cứu. Số lượng  
cơ sở dữ liệu thư mục rất nhiều (ví dụ: PubMed, EMbase, SpringerLink, v.v.), nhưng không  
phải tất cả đều cung cấp thông tin dễ dàng để thực hiện các phân tích trắc lượng thư mục. Hiện  
nay, các cơ sở dữ liệu chính thường được sử dụng trong phân tích trắc lượng thư mục lĩnh vực  
kinh tế là: Web of Science (WoS), Scopus, Google Scholar (GS), Microsoft Academic (MA)  
và Dimensions với các đặc điểm chính:  
Bảng 1: Đặc tính của các nguồn cơ sở dữ liệu  
Database  
WoS  
Đăng ký tài khoản  
Có  
Tải dữ liệu  
Có  
Scopus  
GS  
Có  
Có  
Miễn phí  
Không  
MA  
Miễn phí  
Sử dụng thư viện API  
Dimensions  
Miễn phí/ Đăng ký  
Có  
Web of Science (WoS): là trang web cung cấp quyền truy cập vào nhiều cơ sở dữ liệu và  
dữ liệu trích dẫn cho 256 ngành (khoa học, khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân văn). Quyền  
truy cập được cấp dưới dạng đăng ký tài khoản. Viện Thông tin Khoa học (ISI) là tiền thân của  
cơ sở dữ liệu này, sau đó, được chuyển giao cho Thomson Reuters và hiện tại do Clarivate  
Analytics sở hữu. Nó bao gồm các định dạng khác nhau, chẳng hạn như các bài báo toàn văn,  
bài đánh giá, bài xã luận, niên đại, tóm tắt, kỷ yếu (tạp chí và dựa trên sách) và các bài báo kỹ  
thuật. Cơ sở dữ liệu này có hơn 90 triệu tài liệu từ năm 1900 đến nay.  
Scopus: là trang web cung cấp quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu và dữ liệu trích dẫn trong  
lĩnh vực khoa học đời sống, khoa học xã hội, khoa học vật lý và khoa học sức khỏe. Elsevier  
cung cấp quyền truy cập vào Scopus và cần đăng ký tài khoản. Cơ sở dữ liệu này bao gồm:  
sách, tạp chí và tạp chí thương mại. Hơn nữa, các tìm kiếm được thực hiện trong Scopus cũng  
122  
thực hiện trong cơ sở dữ liệu bằng sáng chế. Số lượng tài liệu khoảng 69 triệu từ năm 2004 đến  
nay.  
Google Scholar (GS): là một trang web có sẵn miễn phí, ra mắt vào năm 2004, lập chỉ  
mục toàn bộ văn bản hoặc siêu dữ liệu của tài liệu khoa học từ các tạp chí học thuật trực tuyến  
được bình duyệt nhiều nhất, sách, bài báo hội nghị, luận án, bản in trước, bản tóm tắt, báo cáo  
kỹ thuật, án lệ và bằng sáng chế. Google không cung cấp số lượng tài liệu, nhưng (Gusenbauer  
2019, 38) đã ước tính có khoảng 389 triệu tài liệu vào năm 2018.  
Microsoft Academic (MA): Trước đây nó được gọi là Microsoft Academic Search,  
nhưng nó đã được khởi chạy lại như một dịch vụ mới vào năm 2016, với tên gọi MA.  
Microsoft cung cấp dịch vụ như một công cụ tìm kiếm web công cộng miễn phí. Cơ sở dữ liệu  
này hiện có hơn 230 triệu ấn phẩm trong đó 88 triệu tài liệu là các bài báo của các tạp chí.  
Dimensions: là một cơ sở dữ liệu mới, ra mắt vào năm 2018, mục tiêu là cung cấp “một  
cơ sở dữ liệu mở và toàn diện hơn, cho phép người dùng khám phá các kết nối giữa nhiều loại  
dữ liệu nghiên cứu”. Dimensions được hỗ trợ bởi Digital Science & Research Solutions Inc. và  
được xem là một giải pháp thay thế cho WoS và Scopus (Thelwall 2018, 6). Có tùy chọn phiên  
bản miễn phí. Nó cung cấp quyền truy cập vào các loại tài liệu truyền thống (bài báo, bài báo  
hội nghị, sách, v.v.), nhưng cũng bao gồm các liên kết đến tài trợ, bằng sáng chế, thử nghiệm  
lâm sàng, bộ dữ liệu và giấy tờ chính sách. Số lượng bản ghi có chứa Thứ nguyên cao hơn 102  
triệu ấn bản vào năm 2019. Nó được đưa ra vào năm 2018.  
2.3. Các phần mềm thực hiện phân tích trắc lượng thư mục  
Để đo lường kết quả nghiên cứu của các các công bố hiện có, Cadavid và cộng sự (2012,  
24) xác định ba loại chỉ số: số lượng, chất lượng và cơ cấu. Chỉ số đầu tiên đo lường năng suất  
về số lượng xuất bản, trong khi chỉ số thứ hai đo lường tác động của một ấn phẩm liên quan  
đến số lượng trích dẫn. Bên cạnh đó, chỉ số cấu trúc đo lường mối liên hệ hiện có giữa ấn phẩm  
và các công bố khác của các tác giả khác nhau.  
Các công cụ phần mềm được sử dụng để trực quan hóa kết quả của các tìm kiếm được  
thực hiện trong các cơ sở dữ liệu, cho phép phân tích và sắp xếp các kết quả để có được cấu  
trúc, lịch sử và các mối quan hệ với chủ đề nghiên cứu.  
Bên cạnh việc sử dụng các công cụ phân tích được cung cấp bởi các nguồn cơ sở dữ liệu,  
Moral và cộng sự (2020) đã cập nhật các phần mềm chính thực hiện phân tích trắc lượng thư  
mục, với các đặc điểm được tổng hợp như sau:  
Bảng 2: Đặc tính của các phần mềm phân tích hiệu suất và trắc lượng thư mục tổng quát  
Phần mềm  
Nhà phát triển  
Hệ điều hành Nguồn dữ liệu  
Giao diện  
Hochschule für Telekommu  
nikation Leipzig (HfTL)  
CRExplorer  
Java  
WoS, Scopus  
Desktop  
Melbourne-based  
Research Software Pty Ltd.  
University of Cauca  
Tarma Win,  
Mac, WoS, Scopus,  
MA, GS  
Publish or Perish  
ScientoPyUI  
Desktop  
Web  
Linux  
Python  
WoS, Scopus  
123  
Bảng 3: Đặc tính của các phần mềm phân tích bản đồ khoa học  
Hệ  
hành  
điều Nguồn dữ liệu  
Phần mềm  
Bibexcel  
Nhà phát triển  
Giao diện  
Desktop  
Web  
University of Umeå (Sweden) Win  
WoS, Scopus  
University of Naples Federico  
II (Italy)  
WoS,  
Scopus,  
R
Biblioshiny  
BiblioMaps  
CiteSpace  
Dimensions  
WoS, Scopus  
University of Lyon (France)  
Python  
Win  
Web  
WoS,  
Scopus,  
Drexel University (USA)  
Desktop  
Dimensions, MA  
Leiden  
University  
(The Win, OSX, WoS, Scopus  
CitNetExplorer  
SciMAT  
Desktop  
Desktop  
Netherlands)  
University  
(Spain)  
Linux  
of  
Granada Win, OSX, WoS, Scopus  
Linux  
Cyberinfrastructure  
Network  
Center (USA)  
for  
Science  
WoS, Scopus, GS  
Win, OSX,  
Linux  
Sci2 Tool  
Desktop  
Desktop  
Leiden  
University  
(The Win, OSX, WoS,  
Scopus,  
VOSviewer  
Netherlands)  
Linux Dimensions, MA  
2.4. Các kết quả phân tích trắc lượng thư mục điển hình  
Trong nghiên cứu trắc lượng thư mục về dữ liệu lớn trong nghiên cứu kinh doanh, Y.  
Zhang và cộng sự (2020) dựa trên cơ sở dữ liệu Web of Science (WoS) và sử dụng phần mềm  
CiteSpace tiến hành phân tích để trả lời các câu hỏi: (1) Tình hình phát triển hiện tại của dữ  
liệu lớn trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu kinh doanh là gì? (2) Hiện trạng tác giả, tài liệu  
tham khảo và mạng lưới tạp chí liên quan đến công bố dữ liệu lớn trong nghiên cứu kinh doanh  
như thế nào? (3) Hiện trạng mạng lưới quốc gia và viện nghiên cứu lĩnh vực dữ liệu lớn trong  
124  
kinh doanh như thế nào?. Kết quả nghiên cứu được minh họa một cách định lượng và trực quan  
như dưới đây:  
Hình 1. Kết quả phân tích xu hướng nghiên cứu. Nguồn: Zhang và cộng sự (2020)  
Hình 2. Kết quả phân tích lĩnh vực nghiên cứu. Nguồn: Zhang và cộng sự (2020)  
Hình 3. Kết quả phân tích mạng lưới đồng trích dẫn tài liệu tham khảo. Nguồn: Zhang và  
cộng sự (2020)  
125  
Hình 4. Kết quả phân tích top 25 tác giả được trích dẫn nhiều nhất. Nguồn: Zhang và cộng  
sự (2020)  
Hình 5. Kết quả phân tích mạng lưới đồng trích dẫn tạp chí. Nguồn: Zhang và cộng sự  
(2020)  
126  
Hình 6. Kết quả phân tích mạng lưới đồng tác giả tại các viện nghiên cứu. Nguồn: Zhang  
và cộng sự (2020)  
Hình 7. Kết quả phân tích mạng lưới đồng tác giả tại các quốc gia. Nguồn: Zhang và cộng  
sự (2020)  
127  
Hình 8. Kết quả phân tích từ khóa cùng liên kết. Nguồn: Zhang và cộng sự (2020)  
128  
Hình 9. Kết quả phân tích top 40 từ khóa theo 6 danh mục. Nguồn: Zhang và cộng  
sự (2020)  
Dựa trên kết quả phân tích, Y. Zhang và cộng sự (2020) đưa ra năm hướng đầy hứa hẹn  
cho các nghiên cứu trong tương lai: (i) khuyến khích các học giả tăng cường hợp tác liên ngành  
để thúc đẩy và cân bằng sự phát triển của các nghiên cứu liên quan đến dữ liệu lớn trong lĩnh  
vực kinh doanh, (ii) khuyến khích các nhà nghiên cứu trong tương lai củng cố các cơ sở lý  
thuyết, thiết lập một mô hình được xác định rõ ràng và vượt qua các rào cản của việc thu thập  
dữ liệu, quản lý và phân tích dữ liệu để tiến hành nghiên cứu chất lượng cao, (iii) khuyến khích  
các nhà nghiên cứu trong tương lai tận dụng kinh nghiệm từ lĩnh vực quản lý thông tin và cộng  
tác nhiều hơn với các nhà quản trị để thúc đẩy sự phát triển của nghiên cứu và ứng dụng dữ  
liệu lớn, (iv) khuyến khích sự hợp tác nghiên cứu liên quốc gia. Ví dụ: so sánh để chỉ ra sự  
khác biệt giữa các cơ chế quản lý dữ liệu lớn của các quốc gia khác nhau là một chủ đề quan  
trọng cần được giải quyết, (v) các từ khóa “dữ liệu lớn”, “phân tích” và “quản lý” duy trì xu  
hướng ổn định nhưng ngày càng tăng theo thời gian và một số chủ đề nghiên cứu mới nổi trong  
những năm gần đây, chẳng hạn như “ra quyết định”, “lựa chọn” và “học máy”, phản ánh xu  
hướng phát triển mới và tiềm năng của dữ liệu lớn trong lĩnh vực kinh doanh.  
Trên cơ sở nghiên cứu của Y. Zhang và cộng sự (2020), phân tích trắc lượng thư mục là  
phương pháp có giá trị trong việc định hướng không những về vấn đề nghiên cứu mà còn về  
vấn đề hợp tác đa ngành, đa lĩnh vực, đa quốc gia trong nghiên cứu khoa học.  
3. Thảo luận và kết luận  
Kết quả phân tích trắc lượng thư mục và việc dự báo xu hướng nghiên cứu hay xác định  
129  
khoảng trống nghiên cứu có thể giảm giá trị do phân tích trắc lượng thư mục mặc dù dựa trên  
những nguồn cơ sở dữ liệu tốt, tuy nhiên vẫn còn các nguồn dữ liệu thay thế khác có thể có  
một số lượng lớn các công bố mà chúng chưa được sử dụng trong phân tích.  
Các phân tích về lượng trích dẫn có thể có sai lệch về mức độ tác động của một công bố  
do liên quan đến việc trích dẫn và được trích dẫn là một quá trình phức tạp và chưa có cơ chế  
giám sát độc lập và vấn đề công bố có thể được trích dẫn nhưng ở dạng không tích cực, hoặc  
trong tình trạng đang bị xem xét nhưng lượng trích dẫn vẫn được tính.  
Nghiên cứu khoa học cần được đầu tư đúng và đủ, đầu tiên từ việc nhà nghiên cứu được  
cung cấp quyền truy cập các nguồn cơ sở dữ liệu uy tín để phân tích, tìm kiếm và xác định  
được vấn đề và xu hướng nghiên cứu đủ mới để tiến hành dự án nghiên cứu có giá trị, cho đến  
việc tạo động lực nghiên cứu do quá trình nghiên cứu và công bố cần sử dụng nhiều nguồn lực.  
Trong bối cảnh hiện đại, phân tích trắc lượng thư mục đã trở thành một công cụ thiết yếu  
để đánh giá và phân tích công bố nghiên cứu của các nhà nghiên cứu (Ellegaard và Wallin  
2015), sự hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các tổ chức (Skute và cộng sự 2019), tác động của  
đầu tư cho khoa học đối với năng suất R&D của quốc gia (Fabregat-Aibar và cộng sự 2019) và  
chất lượng học thuật (Van-Raan, 1999).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ana Azevedo and Manuel Filipe Santos. (2021). Integration Challenges for Analytics,  
Business Intelligence, and Data Mining. PA: IGI Global.  
Börner K. & Polley D.E. (2014). Visual insights. A practical guide to making sense of data.  
USA: MIT Press.  
Cadavid-Higuita, L., Awad, G., Cardona, F., & Jaime, C. (2012). A bibliometric analysis of a  
modeled field for disseminating innovation. Estudios Gerenciales 28(SPE):213–236  
Ellegaard, Ole; Wallin, Johan A. (2015). The bibliometric analysis of scholarly production:  
How great is the impact?. Scientometrics 105:1809-1831.  
Fabregat-Aibar, Laura; Barberà-Mariné, M. Glòria; Terceño, Antonio; Pié, Laia. (2019). A  
bibliometric and visualization analysis of socially responsible funds. Sustainability 11(9).  
Gusenbauer, Michael. (2019). Google Scholar to overshadow them all? Comparing the sizes of  
12 academic search engines and bibliographic databases. Scientometrics 118:177-214.  
H. Small. (2006). Tracking and predicting growth areas in science, Scientometrics 68:595-610.  
Luís M. Carmo Farinha, João J. M. Ferreira, Helen Lawton Smith and Sharmistha Bagchi-Sen.  
(2015). Handbook of Research on Global Competitive Advantage through Innovation and  
Entrepreneurship. PA: IGI Global.  
Moral-Muñoz, José A.; Herrera-Viedma, Enrique; Santisteban-Espejo, Antonio; Cobo, Manuel  
J. (2020). Software tools for conducting bibliometric analysis in science: An up-to-date  
review. El profesional de la información  
v. 29, n. 1, e290103.  
Porter A.L., Kongthon A. & Lu J.C. (2002). Research profiling: improving the literature  
130  
review. Scientometrics 53(3):351-370.  
Skute, Igors; Zalewska-Kurek, Kasia; Hatak, Isabella; De-Weerd-Nederhof, Petra. (2019).  
Mapping the field: a bibliometric analysis of the literature on university–industry  
collaborations. Journal of technology transfer 44(3):916-947.  
Thelwall, Mike. (2018). Dimensions: A competitor to Scopus and the Web of Science?.  
Journal of informetrics 12(2):430-435.  
Yucheng Zhang, Meng Zhang, Jing Li, Guangjian Liu d, Miles M. Yang, Siqi Liu. (2020). A  
bibliometric review of a decade of research: Big data in business research – Setting a  
research  
agenda.  
Journal  
of  
Business  
Research.  
W. H. Güttel and R. Vogel. (2013). The Dynamic Capability View in Strategic Management: A  
Bibliometric Review. International Journal of Management Reviews 15:426-446.  
131  
pdf 12 trang baolam 26020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích trắc lượng thư mục (bibliometrics) trong nghiên cứu khoa học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_trac_luong_thu_muc_bibliometrics_trong_nghien_cuu.pdf