Xu hướng già hóa dân số và chính sách xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
Review Article  
Trends in Population Aging and Social Policy for Elderly  
People in Vietnam  
Dang Thi Anh Tuyet, Nguyen Trung Hieu  
Ho Chi Minh National Academy of Politics, 135 Nguyen Phong Sac, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 01 April 2021  
Revised 09 April 2021; Accepted 20 April 2021  
Abstract: Population aging is one of the central issues of many countries in the world, including  
Vietnam. Life quality improvement and increase in life expectancy are indicators of development  
achievements. However, increase in life expectancy and sub-replacement fertility will inevitably  
lead to the aging of the population and the aging population will surely increase socio-economic  
burden. Therefore, without timely policy adaptation solutions, Vietnam will face crises in a number  
of social areas, such as labor market, social protection for the elderly as well as providing basic  
social services in the context of an aging population.  
Keywords: Aging population, social policy, elderly people.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
21  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
22  
Xu hướng già hóa dân số và chính sách xã hội  
cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay  
Đặng Thị Ánh Tuyết,1, Nguyen Trung Hieu2  
1Viện Xã hội học và Phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,  
135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
2Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 135 Nguyễn Phong Sắc, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 01 tháng 04 năm 2021  
Chỉnh sửa 09 tháng 04 năm 2021; Chấp nhận đăng 20 tháng 04 năm 2021  
Tóm tắt: Già hóa dân số đang là một trong những vấn đề trọng tâm của nhiều quốc gia trên thế giới,  
trong đó có Việt Nam. Nâng cao chất lượng đời sống và gia tăng tuổi thọ trung bình là đánh dấu  
thành tựu của quá trình phát triển. Tuy nhiên đồng thời với gia tăng tuổi thọ và mức sinh thay thế  
không được duy trì tất yếu dẫn đến già hóa dân số. Dân số già trong tương lai sẽ làm tăng gánh nặng  
kinh tế - xã hội hơn, nếu Việt Nam không có những giải pháp chính sách thích ứng kịp thời thì trong  
tương lai không xa chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều khủng hoảng về thị trường lao động, bảo trợ  
xã hội cho người cao tuổi cũng như cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản trong bối cảnh dân số già.  
Từ khóa: Già hóa, chính sách xã hội, người cao tuổi.  
1. Mở đầu  
Già hóa dân số là một trong những xu hướng  
động đến nền kinh tế và hệ thống lương hưu, bảo  
trợ xã hội cũng như thị trường lao động đang là  
bài học kinh nghiệm tham chiếu cho Việt Nam  
hiện nay.  
quan trọng nhất của thế kỷ 21. Bởi điều này  
mang ý nghĩa chìa khóa đối với tất cả các chiều  
cạnh phát triển của các quốc gia. Với Việt Nam  
một quốc gia đang trong quá trình CNH, HĐH  
thì già hóa dân số là vấn đế thách thức lớn trong  
tiến trình này. Nhận thức được tầm quan trọng  
của giải quyết bài toán già hóa dân số với quá  
trình CNH, HĐH, năm 2019 Chính phủ Việt  
Nam đã ban hành Chiến lược dân số Việt nam  
2030 trong đó nhấn mạnh đến yêu cầu các giải  
pháp ứng phó với vấn đề già hóa dân số. Thực  
tiễn các quốc gia phát triển trên thế giới như Đức,  
Pháp, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc ... đã và đang  
phải đối diện với thách thức của dân số già tác  
Theo quan niệm quốc tế, dân số được gọi là  
già hóa khi người cao tuổi chiếm tỷ trọng tương  
đối lớn trong toàn bộ dân số. Với mỗi quốc gia  
khi mức sinh giảm và tuổi thọ tăng thì dẫn đến  
già hóa dân số là mang tính quy luật. Theo số liệu  
thống kê năm 2011-2012 Việt Nam chính thức  
bước vào thời kỳ già hóa và ước tính vào năm  
2049, nước ta sẽ có 26,10% là người cao tuổi, có  
nghĩa cứ 3 người Việt Nam thì sẽ có 1 người từ  
60 tuổi trở lên [1]1; Điều đáng nói hơn là quá  
trình quá độ từ già hóa dân số đến dân số già của  
Việt Nam chỉ trong vòng 20 năm, trong khi các  
quốc gia phát triển nói trên kéo dài hàng trăm  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
1 Báo cáo “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” của Quỹ Dân  
số Liên hiệp quốc (UNFPA) tháng 7 năm 2011.  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
23  
năm. “Bước nhảy vọt” của tiến trình già hóa dân  
số sang dân số già ở Việt Nam chính là những  
rào cản thách thức tác động đến sự phát triển  
kinh tế - xã hội bền vững và nếu không có chiến  
lược, giải pháp phù hợp thích ứng sớm chúng ta  
sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội tiêu cực  
do áp lực của dân số già gây nên.  
NCT có trợ cấp xã hội và mới có khoảng 10 triệu  
NCT tham gia BHYT (đạt 95%). 5% còn lại chủ  
yếu là NCT có hoàn cảnh khó khăn, nhưng  
không thuộc diện hộ nghèo, hộ được cấp thẻ  
BHYT miễn phí. Với cùng dự báo dân số, tỉ số  
phụ thuộc dân số (tính bằng số người từ 60 tuổi  
trở lên so với số người trong độ tuổi lao động 15-  
59) được dự báo tăng gấp hơn ba lần, từ 14%  
năm 2014 lên 43% năm 2049. Tỷ lệ NCT chính  
thức vượt tỷ lệ trẻ em (từ 0-14 tuổi) vào năm  
2040 [3]3. Chỉ số già hóa năm 2019 là 48,8%,  
tăng 13,3 điểm phần trăm so với năm 2009 và  
tăng hơn hai lần so với năm 1999. Các chuyên  
gia đánh giá, chỉ số này còn có xu hướng tiếp tục  
tăng nhanh lên trong những năm sắp tới. Số liệu  
tại bảng 1 phản ánh xu hướng người cao tuổi tăng  
lên khi mà số trẻ em từ 0-15 tuổi giảm rất nhanh,  
điều đó dẫn đến tỷ trọng người trong độ tuổi lao  
động giảm xuống. Điều này đang tạo ra áp lực  
đối với Chính phủ, các Bộ ngành vừa phải đồng  
thời thực hiện các chính sách thích ứng với già  
hóa dân số vừa tranh thủ tận dụng nguồn nhân  
lực «cơ cấu vàng» cho phát triển kinh tế, vừa chú  
trọng việc khuyến khích các cặp vợ chồng sinh  
đủ 2 con (xem bảng 1). Nhận thức được xu  
hướng tỷ trọng dân số từ 0-15 tuổi giảm nhanh  
đồng thời tỷ trọng người già từ 65 tuổi tăng  
nhanh nên trong mục tiêu chiến lược Dân số Việt  
Nam đến năm 2030 Chính phủ đã đưa mục tiêu  
duy trì mức sinh thay thế là mục tiêu đầu tiên để  
góp phần giải quyết bài toán ứng phó với quá  
trình già hóa nhanh dân số ở nước ta hiện nay.  
Các nghiên cứu về già hóa dân số trên thế  
giới đã chỉ ra tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh  
sẽ tác động đến mọi chiều cạnh của đời sống xã  
hội, từ kinh tế- xã hội. Đặc biệt, dễ dàng nhận ra  
nhất đó là sự khủng hoảng nguồn nhân lực cho  
thị trường lao động; tăng nhanh tỷ lệ dân số phụ  
thuộc, gây áp lực với hệ thống y tế và lương hưu,  
hệ thống bảo trợ xã hội đối với chăm sóc cho  
NCT. Chăm sóc NCT về sức khỏe thể chất và  
tinh thần và các tương tác xã hội trong bối cảnh  
già hóa dân số cũng đặt ra nhiều vấn đề không  
chỉ ở cấp độ cá nhân mà còn là cấp độ gia đình  
và xã hội. Vì vậy, nghiên cứu về già hóa dân số  
ở Việt Nam cũng như đề xuất các chính sách xã  
hội thích ứng với điiều kiện một quốc gia già hóa  
nhanh “chưa giàu đã già” là một vấn đề cần được  
quan tâm thấu đáo và phù hợp với bối cảnh kinh  
tế - văn hóa và xã hội. Xuất phát từ lý do đó, bài  
viết hướng phân tích thực trạng chính sách xã  
hội đối với người cao tuổi; những thách thức và  
một số vấn đề đặt ra đối với chính sách cho người  
cao tuổi trong bối cảnh già hoá.  
2. Thực trạng chính sách xã hội đối với người  
cao tuổi  
Bảng 1. Tỷ trọng dân số theo nhóm tuổi, 1999 – 2019  
Theo UNFPA (2011), một nước sẽ bước vào  
giai đoạn “bắt đầu già” khi dân số cao tuổi chiếm  
10% tổng dân số và giai đoạn “già” khi dân số  
cao tuổi chiếm 20% tổng dân số [1]. Số liệu  
thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã  
hội, năm 2019 cả nước có khoảng 11,41 triệu  
người cao tuổi, chiếm khoảng 12% dân số; hơn  
7 triệu NCT sống ở khu vực nông thôn (chiếm  
64%) [2]2. Trong tổng số hơn 11 triệu NCT hiện  
chỉ có 3,1 triệu NCT có lương hưu và 1,7 triệu  
Tỷ trọng dân số  
1999 2009 2019  
33,1 24,5 24,3  
Tỷ trọng dân số dưới 15  
tuổi  
Tỷ trọng dân số từ 15-64  
tuổi  
Tỷ trọng dân số từ 65 tuổi  
trở lên  
61,1 69,1 68,0  
5,8  
6,4  
7,7  
Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê 2019  
________  
2http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintuc  
ID=222363  
3 http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210245/Chinh-  
sach-an-sinh-xa-hoi-doi-voi-gia-hoa-dan-so-o-Viet-  
Nam.html  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
24  
Ở nước ta quan tâm đến người cao tuổi là  
xuất mức hưởng trợ cấp xã hội từ năm 2021 tăng  
lên là 360.000 đồng/tháng và từ ngày 01/01/2023  
là 500.000 đồng/tháng. Chương trình quốc gia về  
NCT giai đoạn 2012-2020 xác định các nhóm  
mục tiêu thể hiện sự quan tâm và mong đợi của  
nhà nước và xã hội trong phát huy vai trò kinh tế  
của NCT thông qua hệ thống chỉ tiêu mà chương  
trình đề ra [5]. Và gần đây nhất ngày 13/10/2020,  
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chương  
trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm  
2030 với mục tiêu chăm sóc, nâng cao sức khỏe  
người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi trở lên) bảo  
đảm thích ứng với già hóa dân số, góp phần thực  
hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam  
đến năm 2030 [6]. Chương trình đưa ra nhiều chỉ  
tiêu quan trọng và bao phủ, trong đó đáng kể đến  
các chỉ tiêu như 100% cấp ủy Đảng, chính quyền  
các cấp ban hành nghị quyết, kế hoạch, đầu tư  
ngân sách cho chăm sóc sức khỏe người cao tuổi  
vào năm 2025 và duy trì đến năm 2030; Người  
cao tuổi hoặc người thân trực tiếp chăm sóc  
người cao tuổi biết thông tin về già hóa dân số,  
quyền được chăm sóc sức khỏe của người cao  
tuổi đạt 70% năm 2025; 85% năm 2030; Người  
cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1  
lần/năm đạt 70%, được lập hồ sơ theo dõi quản  
lý sức khỏe đạt 95% năm 2025; 100% năm 2030;  
Người cao tuổi được phát hiện, điều trị, quản lý  
các bệnh không lây nhiễm (ung thư, tim mạch,  
tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh phổi tắc  
nghẽn mạn tính, sa sút trí tuệ...) đạt 70% năm  
2025; 90% năm 2030; 100% năm 2030; Số xã,  
phường, thị trấn có ít nhất 01 câu lạc bộ chăm  
sóc sức khỏe người cao tuổi, có ít nhất 01 đội  
tình nguyện viên tham gia chăm sóc sức khỏe  
người cao tuổi đạt 50% năm 2025; 90% năm  
2030. Đây là dấu mốc quan trọng trong việc triển  
khai công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao  
tuổi trong thời gian tới.  
một trong những trọng tâm chính sách của Đảng  
và Nhà nước. Văn kiện Đại hội Đảng qua các  
thời kỳ đều nhấn mạnh đến việc thực hiện các  
chính sách xã hội đối với người già, quan tâm  
thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo  
hiểm y tế toàn dân và các nhóm yếu thế trong xã  
hội, trong đó có nhóm người cao tuổi. Với mục  
tiêu đảm bảo hệ thống chính sách xã hội và phúc  
lợi cho nhóm người cao tuổi ngày càng được cải  
thiện bao phủ đối tượng hưởng và tăng mức  
hưởng. Thời gian qua Nhà nước đã ban hành  
nhiều chính sách phù hợp đảm bảo quyền và cơ  
hội tiếp cận cả về vật chất và tinh thần. Bao trùm  
chính sách xã hội cho người cao tuổi đều nhấn  
mạnh đến công tác và bảo trợ xã hội và chăm sóc  
sức khỏe đối với Người cao tuổi bao hàm cả lĩnh  
vực sức khoẻ, việc làm, văn hóa, thể thao, du  
lịch; lĩnh vực giao thông cũng như xây dựng và  
quản lý hiệu quả quỹ chăm sóc và phát huy vai  
trò Người cao tuổi. Hiến pháp 2013, tại Điều 37  
đã ghi rõ: “Người cao tuổi được Nhà nước, gia  
đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy  
vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc”. Năm 2009, Quốc hội ban hành Luật  
người cao tuổi và đã đưa ra tiêu chí người cao  
tuổi gồm những người từ 60 tuổi trở lên (Điều 2)  
[4]. Ngày 14/1/2011, Chính phủ ban hành Nghị  
định số 06/2011/NĐ-CP về phê duyệt Chương  
trình hành động quốc gia về NCT Việt Nam giai  
đoạn 2012-2020. Tiếp đó các Bộ, ban ngành liên  
quan đã ban hành 07 Thông tư quy định chi tiết  
và hướng dẫn thi hành các chính sách về bảo trợ  
xã hội, chăm sóc sức khỏe, miễn giảm giá vé, phí  
tham gia giao thông, văn hóa thể dục thể thao,  
các hoạt động du lịch, chúc thọ mừng thọ NCT.  
Đặc biệt đối với nhóm người già từ 80 trở lên  
thuộc hộ gia đình nghèo không có người phụng  
dưỡng, hoặc có phụng dưỡng nhưng người này  
đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng, thì  
được hưởng mức trợ cấp 270 nghìn  
đồng/người/tháng và bảo hiểm y tế. Đối với  
người cao tuổi được nhận nuôi dưỡng trong các  
cơ sở bảo trợ xã hội quy định tại khoản 2 điều 18  
Luật người cao tuổi, thì được hưởng mức trợ cấp  
360 nghìn đồng/người/tháng và hiện nay Bộ Lao  
động Thương Binh và Xã hội đang dự kiến đề  
Nhìn một cách tổng thể cho thấy Hiến Pháp  
và Luật là cơ sở pháp lý quan trọng để ban hành  
và thực thi các chính sách xã hội đối với người  
cao tuổi. Rà soát các văn bản pháp luật, chương  
trình, chính sách xã hội đối với người cao tuổi  
cho thấy việc đề cao phụng dưỡng, chăm sóc và  
phát huy các vai trò của NCT một cách tối ưu thể  
hiện tính nhân văn của Nhà nước Việt Nam đối  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
25  
với NCT, đặc biệt khẳng định vai trò quan trọng  
của gia đình trong chăm sóc và phụng dưỡng  
NCT, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và  
các nguồn lực hiện nay của Việt Nam.  
Năm 2016, tuổi thọ khỏe mạnh ở Việt Nam theo  
ước tính của WHO ở nam giới là 63,2 năm và nữ  
là 70 năm và có nghĩa nam giới phải chung số  
với bệnh tật khoảng 8 năm và phụ nữ là 11 năm  
[7]4. Điều này phản ánh một thực tế là tuy sống  
thọ nhưng không đồng nghĩa với khỏe mạnh.  
Trong khi đó, hệ thống chăm sóc sức khỏe người  
cao tuổi chưa đáp ứng những nhu cầu ngày càng  
tăng của nhóm người này. Hiện nay cả nước chỉ  
có một bệnh viện đầu ngành chăm sóc cho người  
cao tuổi - Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Ở  
các tỉnh, theo thống kê mới nhất, chỉ khoảng 20%  
các bệnh viện tỉnh có khoa lão khoa, chủ yếu tập  
trung ở tỉnh có dân số đông. Rất nhiều bệnh viện  
tuyến tỉnh chưa thành lập được khoa lão khoa  
[8]5.  
Tuy nhiên với dự báo về tốc độ già hóa dân  
số ở Việt Nam trong nhóm nước nhanh nhất thế  
giới thì trong tương lai việc ứng phó với những  
áp lực dân số già, tỷ trọng dân số phụ thuộc tăng  
nhanh trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội còn  
nhiều khó khăn, trong bối cảnh nỗ lực vượt qua  
“bẫy thu nhập trung bình” thì sẽ là một thách  
thức không nhỏ đối với hệ thống chính sách xã  
hội cũng như việc xây dựng một chính sách xã  
hội thích ứng với già hóa dân số cần được tính  
toán kỹ và phù hợp với bối cảnh kinh tế- xã hội  
và cân đối các nguồn lực sẵn có.  
Thời gian gần đây, một số đơn vị tại Việt  
Nam bắt đầu đưa vào vận hành các mô hình mới  
về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, xu  
hướng chung là vừa chăm sóc về mặt sức khỏe,  
vừa chăm sóc về mặt tinh thần. Đa dạng hóa các  
hình thức chăm sóc người cao tuổi phù hợp với  
khu vực sống, thu nhập và văn hóa. Hiện nay,  
trong tổng số người nghèo thì người cao tuổi  
chiểm tỷ lệ lớn và chủ yếu sinh sống ở nông thôn  
vì vậy cơ hội để tiếp cận với các dịch vụ chăm  
sóc sức khỏe có chất lượng rất ít nên việc xây  
dựng các câu lạc bộ chăm sóc NCT là hết sức cần  
thết. Theo báo cáo của Hội người cao tuổi hiện  
hiện nhiều tỉnh thành đã triển khai thành lập quỹ  
Chăm sóc và phát huy vai trò NCT ở cơ sở 9.951  
xã, phường; thị trấn có quỹ Toàn dân chăm sóc  
NCT và Quỹ Chăm sóc và phát huy vai trò NCT.  
Tại 60/63 tỉnh, thành phố đã triển khai, xây dựng  
được gần 3000 CLB Liên thế hệ tự giúp nhau,  
thu hút trên 160.000 thành viên tham gia v.v.  
Nhiều sáng kiến tổ chức các hoạt động chăm sóc  
sức khỏe cho người cao tuổi được triển khai. Đặc  
biệt, qua chương trình "Mắt sáng cho NCT" đã  
có trên 3,6 triệu NCT được khám, tư vấn các  
bệnh về mắt, chiếm 40,86% tổng số NCT [9]6.  
Có thể nói đây là một trong những mô hình phù  
hợp vói nhu cầu NCT trong chăm sóc sức khỏe  
3. Những thách thức đối với Việt Nam trong  
bối cảnh già hóa dân số  
Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi  
Theo số liệu thống kê thì tuổi thọ trung bình  
của người Việt Nam tăng khá nhanh và liên tục  
trong vài thập niên trở lại đây. So với năm 1989,  
sau ba mươi năm, tuổi thọ trung bình của dân số  
Việt Nam đã tăng lên 8,4 năm và đặc biệt chênh  
lệch tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ vẫn duy  
trì ở mức 5.4 năm. Điều này một mặt phản ánh  
những kết quả đạt được của các cấp các ngành  
trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và  
sự phát triển kinh tế xã hội đã góp phần cải thiện  
tuổi thọ của người Việt Nam.Tuy nhiên có một  
thực tế là tuy tuổi thọ trung bình của người Việt  
hiện khá cao (73 tuổi) nhưng gánh nặng bệnh tật  
cũng cao. Thống kê của Tổng cục Dân số - Kế  
hoạch hóa gia đình năm 2017 cho biết, khoảng  
95% người cao tuổi Việt Nam có bệnh, chủ yếu  
là bệnh mạn tính không lây truyền. Trung bình 1  
người Việt cao tuổi mắc 6,9 loại bệnh, chủ yếu  
là các loại bệnh mạn tính như: tim mạch, tăng  
huyết áp, đái tháo đường, ung thư, xương khớp...  
________  
4 UNFPA& VNCA, 2019 Toward a comprehensive  
Nationnal Policy for an ageing VietNam  
5 https://tuoitre.vn/ca-nuoc-thieu-benh-vien-lao-khoa-  
20190712101651442.htm  
6 http://tuyengiao.vn/dan-so-va-phat-trien/nguoi-cao-tuoi-  
o-nong-thon-can-quan-tam-cham-soc-hon-ca-ve-the-chat-  
tinh-than-131215  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
26  
và nơi cư trú cũng như nguồn lực hiện có từ cấp  
độ cá nhân và xã hội.  
giới. Trong nhiều trường hợp, nhóm phụ nữ học  
vấn thấp, sống ở khu vực kém phát triển thường  
hay bị phân biệt đối xử hơn trong cơ hội việc làm  
và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỗ  
trợ xã hội. Bên cạnh đó xu hướng nữ hóa người  
cao tuổi cũng nhấn mạnh đến vấn đề khi phụ nữ  
vốn là nhóm xã hội dễ bị tổn thương do trong xã  
hội vẫn còn sự định kiến giới, bị phụ thuộc tài  
chính nhiều hơn, trình độ học vấn thấp, ít nguồn  
lực tài sản và tích lũy hơn nhóm nam giới là  
người cao tuổi và tỷ lệ mắc bệnh và khuyết tật  
cũng cao hơn nam giới dù tuổi thọ cao hơn. Bên  
cạnh đó nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm phụ  
nữ cao tuổi còn chịu áp lực gánh nặng kép của  
người cao tuổi trong chăm sóc người bạn đời và  
các công việc gia đình cũng tăng lên và dẫn đến  
vẫn đề phụ nữ cùng lúc đối diện với tuổi già, sức  
khỏe giảm sút lại vừa đối mặt với cô đơn khi  
người bạn đời đi trước liên quan đến tuổi thọ của  
nam giới luôn thấp hơn nữ. Đặc biệt xu hướng  
quy mô gia đình ít con ngày trở nên phổ biến  
trong xã hội hiện đại, bởi vậy việc chăm sóc đời  
sống tinh thần cho người cao tuổi nói chung cũng  
như đối với nhóm nữ nói riêng càng khó khăn  
hơn.  
Xu hướng nữ hóa dân số người cao tuổi  
Trên thế giới các nghiên cứu về người cao  
tuổi (NCT) đã chỉ ra biến đổi cơ cấu tuổi dân số  
có tác động mạnh đến kinh tế - xã hội cấp độ cá  
nhân, gia đình và xã hội. Giải quyết bài toán và  
nhữnh thách thức trong quá trình già hóa dân số  
là một trong những chìa khóa hướng tới sự phát  
triển bền vững của mỗi quốc gia.Trong xu hướng  
biến đổi cấu trúc tuổi ở Việt Nam, như phần trên  
đã đề cập, nếu như các quốc gia phát triển phải  
mất đến hàng trăm năm để biến đổi từ cơ cấu dân  
số vàng sang dân số già thì ở Việt Nam chỉ mất  
2 thập kỷ. Và đó chính là thách thức không nhỏ  
cho nền kinh tế còn non trẻ. Đặc biệt phân tích  
theo cơ cấu giới tính, thì xu hướng nữ hóa dân số  
người cao tuổi cũng là một trong những vấn đề  
đáng quan tâm từ hướng tiếp cận nhóm xã hội.  
Trên phạm vi toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số  
tỷ lệ người cao tuổi. Hiện nay trên thế giới, cứ  
100 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam  
giới. Cứ 100 phụ nữ trở lên thì chỉ có 61 nam  
giới7.  
Nhu cầu tham gia thị trường lao động của người  
cao tuổi  
Trên thực tế ở Việt Nam bắt đầu từ năm 2005  
bắt đầu có tình trạng mất cân bằng giới tính khi  
sinh và nếu tỷ lệ bé trai khi sinh ra luôn nhiều  
hơn bé gái thì đến giai đoạn cao tuổi tình trạng  
trên lại đảo ngược. Lý do của thực trạng này đó  
là từ tuổi thọ trung bình của Việt Nam liên tục  
tăng, từ 65,2 tuổi năm 1989 lên 73,6 tuổi năm  
2019. Chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa  
nam ở mức khoảng 5,4 năm. Cơ cấu dân số ở  
nhóm tuổi ngoài 60 thì cứ 1 cụ ông sẽ có tỷ lệ là  
1,5 cụ bà; nhóm tuổi ngoài 80 cứ 1 cụ ông sẽ có  
tỷ lệ 2 cụ bà; nhóm tuổi ngoài 85 thì 1 cụ ông sẽ  
tương ứng với tỷ lệ 2,5 cụ bà. Nam giới và phụ  
nữ trải qua giai đoạn tuổi già một cách khác  
nhau. Mức độ bất bình đẳng giới tác động đến  
chu trình sống và ảnh hưởng đến khả năng tiếp  
cận các nguồn lực và cơ hội tiếp cận của phụ nữ  
với mọi nguồn lực xã hội xu hướng thấp hơn nam  
Trong bối cảnh già hóa và tương lai vài thập  
kỷ là dân số già thì nhu cầu của người cao tuổi  
tìm kiếm việc làm cũng như thị trường lao động  
cần đến nhóm dân số này là một lẽ đương nhiên  
cả về cấp độ cá nhân cũng như cấp độ xã hội.  
Việc tăng cường tỷ lệ lao động cao tuổi trong  
nguồn lực lao động có thể phần nào góp phần  
giảm áp lực dân số gây ra bởi quá trình già hóa  
trong bối cảnh NCT vẫn đáp ứng đươc các điều  
kiện về sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần  
để tham gia vào thị trường lao động. Mô hình  
thúc đẩy và sử dụng nhóm xã hội người cao tuổi  
vào thị trường lao động trên thế giới như Đức,  
Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v. cũng đang  
chứng minh những hiệu quả cả về phía cung và  
cầu lao động. Trên thực tế khi nhóm NCT đủ  
________  
7 Báo cáo UNPFA - Già hóa trong thế kỷ 21: Thành tựu và  
thách thức, 2012  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
27  
điều kiện để tham gia thị trường lao động sẽ góp  
phần cải thiện thu nhập, điều kiện sống, tăng khả  
năng hòa nhập xã hội cho NCT và cân bằng chi  
phí chăm sóc y tế hệ thống bảo trợ xã hội. Tuy  
nhiên, có một thách thức đối với NCT khi tham  
gia thị trường lao động trong bối cảnh tác động  
cách mạng khoa học công nghệ 4.0. Bởi lẽ những  
công việc ít đòi hỏi về sức khỏe về thể chất lại  
có xu hướng đòi hỏi về kỹ năng tay nghề và sự  
tập trung cao độ và điều này là một thách thức  
đối với NCT.  
phù hợp với NCT cần được nghiên cứu thấu đáo,  
bởi lẽ nhu cầu tham gia lao động của NCT sẽ có  
sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị; giữa nhóm  
nam và nhóm nữ; giữa nhóm có lương hưu và  
nhóm không có lương hưu; giữa nhóm có trình  
độ chuyên môn kỹ thuật.  
4. Một vài bình luận và kiến nghị chính sách  
xã hội đối với NCT  
Từ sự phân tích trên cho thấy Việt Nam đang  
và sẽ đối diện với nhiều thách thức lớn chúng  
ta sẽ gặp phải khi dân số bước vào giai đoạn già  
hoá. Một là, già hoá dân số sẽ khiến cấu trúc, quy  
mô gia đình thay đổi. Khi tuổi thọ gia tăng và  
con người sống lâu hơn, sinh ít con hơn và cũng  
ít quyền được lựa chọn chăm sóc hơn. So với các  
nước phát triển thì dịch vụ chăm sóc sức khoẻ,  
tinh thần cho người cao tuổi ở nước ta còn nhiều  
hạn chế, chưa đa dạng về mô hình và ở cấp độ cá  
nhân thì phần lớn người cao tuổi thiếu hụt nguồn  
lực tài chính, hiện nay ở khu vực nông thôn thì  
đa số người cao tuổi vẫn sống dựa vào sự chăm  
sóc, hỗ trợ của con cháu là chủ yếu. Thứ hai, các  
nghiên cứu về người cao tuổi cũng đã chỉ ra trong  
tương lai với tốc độ già hóa vào nhóm nhanh nhất  
thế giới thì trong vài thập kỷ tới người cao tuổi  
Việt Nam cùng lúc đối mặt với nhà ở, chăm sóc  
y tế và an sinh xã hội. Hơn nữa khi tuổi thọ tăng  
lên thì đổi với nhóm hưởng lương hưu cũng kéo  
dài hơn và là áp lực dễ nhìn thấy đối với hệ thống  
y tế và quỹ lương hưu.  
Số liệu Điều tra quốc gia về người cao tuổi  
năm 2011 cho biết tỷ lệ người cao tuổi tham gia  
vào thị trường lao động có xu hướng tăng lên  
theo thời gian. Trong tổng số 2.789 NCT được  
hỏi của mẫu nghiên cứu thì có trên 39% đang làm  
việc, tuy nhiên xét theo nhóm tuổi thi nhu cầu có  
việc làm ở nhóm 80 tuổi trở lên là thấp nhất chỉ  
chiếm 11,1%. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số  
và nhà ở 2019 cho thấy tỷ trọng lao động 60 tuổi  
trở lên chỉ chiếm 7.9% lực lượng lao động trong  
đó khu vực nông thôn cao hơn chiém 9,2% và đô  
thị là 5,2%. Điều này ở khía cạnh tích lũy và thu  
nhập có thể lý giải nhóm có lương hưu thì nhu  
cầu tham gia thị trường lao động khi về già thấp  
hơn so với nhóm không có lương hưu, thu nhập  
bấp bênh và sống ở nông thôn. Như vậy nhu cầu  
việc làm của người cao tuổi để có thêm thu nhập  
trang trải cuộc sống và các chi phí y tế cho tuổi  
già là lý do chính chứ không phả sự lựa chọn từ  
sở thích. Và liệu chính điều này có tác động đến  
chỉ số già hóa tích cực hay tính năng động của  
người cao tuổi Việt Nam khi họ đảm bảm được  
điều kiện kinh tế ổn định.  
Vì vậy việc thiết kế hệ thống chính sách xã  
hội cho người cao tuổi thích ứng với quá trình  
già hóa dân số nhanh ở Việt Nam cần được coi  
là một trọng tâm của chính sách xã hội. Thiết  
nghĩ chính sách xã hội cho người cao tuổi cần  
chý ý đến những vấn đề sau.  
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Thái  
Quang, Tỷ lệ NCT thực sự có nhu cầu làm việc  
tương đối cao chiếm 58,7% bao gồm cả những  
người có nhu cầu lao động và đang có việc làm;  
xét theo giới tính tỷ lệ nam có nhu cầu chiếm  
60% và nữ thấp hơn nhưng cũng chiếm tới 55%8.  
Điều này phản ánh nhu cầu thực tế từ phía bản  
thân người cao tuổi tham gia thị trường lao động  
là đáng kể. Vấn đề từ phía khung chính sách và  
các nhà quản lý với câu chuyện tạo ra việc làm  
Thứ nhất, cần rà soát tổng thể các chính sách  
xã hội cho người cao tuổi hiện nay và tập trung  
vào các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội, việc làm  
và tham gia các hoạt động xã hội để đánh giá một  
cách tổng thể những điểm mạnh, điểm yếu và  
________  
8 Trịnh Thái Quang, Viện Gia đình và Giới, Báo cáo tổng  
hợp đề tài cấp Bộ 2020: Phát huy nguồn lực người cao  
tuổi trong phát triển kinh tế - xã hội thích ứng với bối cảnh  
già hóa dân số của Việt Nam. tr. 90.  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
28  
khoảng trống của chính sách để từ đó từng bước  
thường xuyên đề cập đến. Vì vậy, để giúp người  
cao tuổi tăng thu nhập từ việc làm thì việc tăng  
cường hơn nữa khả năng tham gia thị trường lao  
động của NCT, thích ứng với bối cảnh già hóa  
dân số và suy giảm nguồn cung lao động thì cở  
cấp độ quốc gia, gia đình và cá nhân cần có  
những giải pháp và lộ trình phù hợp hướng đến  
tạo việc làm phù hợp cho người cao tuổi. Hiện  
nay các nghiên cứu đều chỉ ra nhu cầu việc làm  
NCT là đáng kể và họ vẫn có đóng góp khá quan  
trọng cho kinh tế gia đình. Tuy nhiên, hiện nay  
NCT đối diện với nhiều khó khăn trong tìm kiếm  
việc làm phù hợp vì những lý do về sức khỏe,  
học vấn, kỹ năng lao động và nơi ở. Vì vậy đa  
dạng hóa ngành nghề, việc làm ở khu vực nông  
thôn để nhóm người cao tuổi có cơ hội tiếp cận  
được việc làm và cải thiện thu nhập cũng như  
đời sống tinh thần. Khuyến khích các doanh  
nghiệp sử dụng NCT vào các việc làm phù hợp  
và trả lương xứng đáng, cũng như các điều kiện  
về bảo hiểm. Khủng hoảng về tài chính và thu  
nhập của NCT sẽ là thách thức đối với chính  
bản thân họ trong việc kéo dài tuổi thọ khỏe  
mạnh hay nói cách khác là thực hiện Già hóa  
thành công.  
xây dựng một hệ thống chính sách xã hội tổng  
thể, bao trùm đối với nhóm NCT từ chăm sóc y  
tế, bảo trợ xã hội, việc làm phù hợp và các hoạt  
động văn hóa, thể thao, du lịch. Bởi lẽ thích ứng  
với già hóa dân số, đẩy mạnh chăm sóc NCT,  
khai thác các tiềm năng, thế mạnh từ nguồn lực  
của NCT một cách tối ưu sẽ góp phần giải quyết  
những “khủng hoảng” của dân số già mà các  
nước đã và đang trải qua. Với một quốc gia đang  
trong quá trình vượt lên “bẫy thu nhập trung  
bình” thì việc vừa khai thác lợi thế dân số vàng  
vừa xây dựng chính sách thu hút NCT vào thị  
trường lao động là một chiến lực mang tính dài  
hơi và hiệu quả.  
Thứ hai, phát triển hệ thống dịch vụ chăm  
sóc người cao tuổi đa dạng hơn, phù hợp với các  
nhóm xã hội người cao tuổi theo giới, nơi ở, thu  
nhập và các nhóm tuổi của người cao tuổi. Giảm  
thiểu sự bất bình đẳng xã hội đối với nhóm người  
cao tuổi trong tiếp cận với dịch vụ y tế có chất  
lượng. Hệ thống khoa Lão khoa ở các bệnh Viện  
tuyến tỉnh và Huyện cần có chiến lược dài hạn  
và đầu tư nguồn lực. Cần chú ý cải thiện cơ hội  
tiếp cận thông tin và dịch vụ chăm sóc y tế có  
khả năng chi trả và thân thiện đáp ứng đa dạng  
các nhóm xã hội NCT. Ngoài hệ thống an sinh  
xã hội của Nhà nước cho NCT thì cần đặc biệt  
chú ý các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại  
cộng đồng; thành lập các quỹ trợ giúp NCT lúc  
gặp khó khăn để kịp thời động viên vật chất và  
tinh thần cho NCT khi gặp các cú sốc hay những  
rủi ro trong cuộc sống. Phát huy vai trò Hội  
người cao tuổi ở các cấp, các ngành. Các Bộ,  
ngành và Tổng cục Thống kê cần nghiên cứu  
đến phương án xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu  
quốc gia về NCT trong đó chú trọng các yếu  
tố như: Dân tộc, giới tính, nơi ở, nghề nghiệp,  
tình trạng sức khỏe, việc làm, v.v. để thực hiện  
việc quản lý và chăm sóc NCT một cách hệ thống  
và toàn diện hơn.  
Thứ tư, trong bối cảnh xu hướng nữ hóa  
người cao tuổi, thì việc quan tâm đến chăm sóc  
sức khỏe thể chất và tinh thần cho nhóm nữ cần  
tính đến những yếu tố đặc thù theo giới. Trong  
tương quan với nhóm nam giới, phụ nữ là nhóm  
dễ tổn thương hơn, tỷ lệ mắc bệnh và khuyết tật  
cũng cao hơn và sự đối mặt cuộc sống độc thân,  
góa cao hơn nam giới. Không nên áp dụng một  
chính sách chung đồng nhất cho nhóm người cao  
tuổi thiếu nhạy cảm giới. Chính sách xã hội cần  
đảm bảo sự bao trùm và tính đến sự đa dạng về  
các chiều cạnh: giới tính, độ tuổi, dân tộc, giáo  
dục, thu nhập và sức khỏe. Sàn an sinh xã hội cần  
phải được thực hiện đảm bảo cho nhóm nữ được  
tiếp cận đến các dịch vụ xã hội và y tế thiết yếu  
cho NCT trong đó chú ý tính đặc thù của giới  
tính nữ. Đặc biệt trong nhóm người cao tuổi có  
nhóm dễ tốn thương nhất như nhóm già nhất,  
không biết chữ, sống vùng sâu vùng xa, người  
đồng bào dân tộc thì chính sách xã hội cần có  
những chương trình và mô hình can thiệp dành  
riêng cho nhóm này.  
Thứ ba, Một trong những mối quan tâm  
hang đầu của NCT trên phạm vi toàn cầu trong  
đó có Việt Nam là đảm bảo thu nhập. Bên cạnh  
yếu tố chăm sóc y tế thì vấn đề việc làm và thu  
nhập là một trong những yếu tố quan trọng NCT  
D.T.A. Tuyet / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 2 (2021) 21-29  
29  
[4] National Assembly of Socialist Republic of Vietnam,  
Law on the Elderly, Hanoi, 2009 (in Vietnamese).  
Lời cảm ơn  
Bài báo dựa vào kết quả nghiên cứu Đề tài  
cấp Viện 2021: Chính sách Bꢀo hiểm y tꢁ cho  
người cao tuổi trong bối cꢀnh già hóa dân số ꢂ  
Việt Nam do Viện Xã hội học và Phát triển chủ trì.  
[5] Prime Minister, Decision No. 1781/QD-TTg dated  
November 22, 2012 on The National Action Plan  
for the Elderly, Hanoi, 2012 (in Vietnamese).  
[6] Government ofVietnam, 2020 ProgramofHealthcare  
for the Elderly to 2030 dated October 13, 2020 (in  
Vietnamese).  
[7] UNFPA & VNCA, Toward a Comprehensive  
Nationnal Policy for an Ageing VietNam, Hanoi,  
2019.  
[8] Xuan Long, There is a Lack of Geriatric Hospitals  
Nationwide, Tuoi Tre Online, https://tuoitre.vn/ca-  
Tài liệu tham khảo  
[1] UNFPA - United Nations Population Fund, The  
Aging Population in Vietnam: Current Status, and  
Possible Policy Responses, 2011.  
[2] Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs,  
Over 1.7 Million Elderly People Are Entitled to a  
20190712101651442.htm, 2019 (in Vietnamese)  
(Accessed on 25th March 2020).  
Monthly  
Social  
Allowance,  
[9] The Central Propaganda Department, The Elderly in  
Rural Areas Need to Pay More Attention to Physical  
131215, 2020 (in Vietnamese) (Accessed on 25th  
March 2020).  
intucID=222363, 2020 (in Vietnamese) (Accessed on  
25th March 2020).  
[3] Giang Thanh Long, Do Thi Thu, Social Security  
Policy for Aging Population in Vietnam,  
Journal of Legislative Studies, No. 2+3, 2019, pp. 98-  
105 (in Vietnamese).  
pdf 9 trang baolam 29740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xu hướng già hóa dân số và chính sách xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxu_huong_gia_hoa_dan_so_va_chinh_sach_xa_hoi_cho_nguoi_cao_t.pdf