Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt Nam đi làm việc tại Libya

BỘ LAO ĐỘNG - THƢƠNG BINH VÀ XàHỘI  
CỤC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGOÀI NƯỚC  
NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT  
DÙNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM  
ĐI LÀM VIỆC TẠI LIBYA  
Hà Nội – 2011  
1
Lời giới thiệu  
Nƣớc Jama hiria Ảrập Libya Nhân dân XHCN vĩ đại (gọi tắt là Libya) là một  
quốc gia thuộc Châu Phi. Việt Nam và Libya có mối quan hệ hữu nghị từ nhiều  
thập kỷ qua và đang đƣợc đẩy mạnh, phát triển trên các lĩnh vực.  
Libya tiếp nhận lao động nƣớc ngoài đến làm việc từ nhiều quốc gia, nhƣ  
Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Philippin, ấn Độ, Ai Cập, Bangladash, Syria, Sri-lan-ka,  
Serbia … Lao động Việt Nam sang làm việc tại Libya từ những năm 1990.  
Những năm gần đây, số lao động Việt Nam đến làm việc tại Libya ngày càng  
tăng. Để cạnh tranh đƣợc với lao động các nƣớc và xây dựng thƣơng hiệu lao  
động Viêt Nam thì việc nâng cao chất lƣợng là việc làm hết sức cần thiết.  
Vì vậy, việc đào tạo nghề, ngoại ngữ (tiếng Ảrập hoặc tiếng Anh) và đặt  
biệt là việc bồi dƣỡng những kiễn thức cần thiết về Luật pháp phải đƣợc coi  
trọng. Ngƣời lao động trƣớc khi đi làm việc ở Libya và các doanh nghiệp dịch  
vụ đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài cần nhận thức đúng nhiệm vụ  
này.  
Để giúp ngƣời lao động Việt Nam sớm hoà nhập với cuộc sống cộng đồng  
và công việc tại Libya, Cục Quản lý lao động ngoài nƣớc (DOLAB) biên soạn  
và phát hành cuốn tài liệu “Những kiến thức cần thiết dùng cho lao động Việt  
Nam đi làm việc ở Libya” nhằm cung cấp cho ngƣời lao động những hiểu biết  
cần thiết về phong tục, tập quán, văn hoá, con ngƣời, luật pháp Libya và những  
yêu cầu đối với lao động khi đến làm việc ở đây.  
Trong quá trình biên soạn cuốn tài liệu có thể còn những sai sót, mọi ý kiến  
đóng góp về cuốn tài liệu xin gửi về Cục Quản lý lao động ngoài nƣớc - địa chỉ :  
41B Lý Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ./.  
CỤC QUẢN LÝ LAO ĐỘNG NGOÀI NƯỚC  
2
Phần một  
TRUYỂN THỐNG BẢN SẮC VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM  
Trên con đƣờng đổi mới, đất nƣớc đang từng bƣớc hội nhập với khu vực và  
thế giới, vƣợt qua lạc hậu, đói nghèo, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá,  
phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng,  
dân chủ, văn minh, vững bƣớc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp này hết sức  
vẻ vang nhƣng cũng đầy thách thức. Chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu thực hiện  
xã hội công bằng, văn minh theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa là một cuộc đấu  
tranh lâu dài, gian khổ, phúc tạp. Hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi  
làm việc ở nƣớc ngoài đã đƣợc Đảng, Nhà nƣớc ta chú trọng và coi đây là một  
giải pháp kinh tế – xã hội lâu dài góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao  
trình độ nghề nghiệp, tác phong làm việc tiên tiến cho ngƣời lao động.  
Ra nƣớc ngoài làm việc, ngƣời lao động không chỉ có điều kiện giao lƣu  
quốc tế, đƣợc hoà nhập và hiểu biết nền văn hoá của các dân tộc khác mà còn là  
cơ hội để giới thiệu và quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Khi sống và  
làm việc ở nƣớc ngoài, mỗi chúng ta còn có bổn phận thực hiện tốt vai trò ngoại  
giao nhân dân. Vì vậy phải biết kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập  
quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc; tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế  
giới góp phần làm giàu thêm nền văn hoá Việt Nam.  
1. Truyền thống dân tộc  
Là ngƣời Việt Nam chúng ta có quyền tự hào với các truyền thống dựng  
nƣớc và giữ nƣớc đã đƣợc hình thành, phát triển qua nhiều thế hệ, đó là:  
a) Truyền thống yêu nước  
Lịch sử dựng nƣớc của dân tộc ta luôn gắn liền với lịch sử giữ nƣớc. Đƣợc  
rèn luyện, hun đúc tinh thần yêu nƣớc, truyền thống đoàn kết tạo nên khí phách  
anh hùng, quật cƣờng của dân tộc Việt Nam, sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh  
gian khổ bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền quốc gia.  
3
Yêu nƣớc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta đƣợc hình thành  
trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nƣớc và giữ nƣớc, trở thành tình cảm thiêng  
liêng trong mỗi ngƣời dân Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nƣớc giữ vị trí chuẩn mực  
cao nhất của đạo lý và đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của  
dân tộc Việt Nam, là động lực nội sinh to lớn của cộng đồng dân tộc Việt Nam  
tạo nên sức mạnh vô địch trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và trong  
công cuộc xây dựng đất nƣớc.  
Hòa nhập vào thế giới để tiến lên mà không hòa tan, không đánh mất bản  
sắc dân tộc là một cuộc đấu tranh đầy gian nan, thử thách. Chỉ có yêu nƣớc mới  
xây dựng và bảo vệ đất nƣớc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân và vinh quang  
cho dân tộc. Chủ nghĩa yêu nƣớc là tình cảm chung thiết tha của toàn dân Việt  
Nam, cả những ngƣời Việt Nam đang sống và làm việc ở nƣớc ngoài; là sức  
mạnh tiềm tàng, thƣờng trực trong lòng mỗi ngƣời dân Việt Nam; là nguồn lực  
nội sinh từ truyền thống và lịch sử đất nƣớc và phù hợp với tính cách, nguyện  
vọng và là trách nhiệm của mọi ngƣời dân Việt Nam.  
Truyền thống yêu nƣớc của dân tộc ta rất phong phú và sâu sắc, nó thể  
hiện ở tình yêu quê hƣơng xứ sở, nơi sinh ra, lớn lên của mỗi ngƣời, đó là xóm,  
làng là sự gắn bó giữa những thành viên của dân tộc, là tình cảm gắn liền với  
thiên nhiên, với con ngƣời nơi quê hƣơng. Đất nƣớc Việt Nam có đặc điểm địa  
hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên nhiều thuận lợi, song không ít khó khăn.  
Trong quá trình khai phá mảnh đất này cha ông ta đã phải đấu tranh quyết liệt  
với thiên nhiên. Từng tấc đất đều thấm đƣợm mồ hôi, nƣớc mắt và xƣơng máu  
của bao thế hệ cha ông vì thế, mọi ngƣời Việt Nam đều nặng tình, nặng nghĩa  
với quê hƣơng.  
Tình yêu nƣớc còn thể hiện ở lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Dƣờng nhƣ  
trong mỗi ngƣời Việt Nam đều tiềm ẩn lòng tự hào, tự tôn, tự cƣờng dân tộc,  
lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, cần cù sáng tạo… Chúng ta tự  
hào với lịch sử 4.000 năm dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc, không khuất  
phục ách ngoại xâm, tự hào về lòng yêu nƣớc thƣơng nòi, tự hào về hành động  
4
xả thân vì dân, vì nƣớc của cha ông ta, của các anh hùng dân tộc, tự hào về nền  
văn hóa Việt Nam, tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của dân  
tộc ta, danh nhân văn hóa thế giới, Ngƣời đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta  
và non sông đất nƣớc ta.  
b) Truyền thống uống nước nhớ nguồn, đoàn kết tương thân, tương ái  
Tình yêu nƣớc gắn chặt với lòng nhân ái: thƣơng nƣớc, thƣơng nhà,  
thƣơng ngƣời và thƣơng mình. Cƣu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau luôn là nét  
đẹp truyền thống trong đời sống của nhân dân ta, giàu lòng nhân ái, thƣơng  
ngƣời nhƣ thể thƣơng thân là bản chất tốt đẹp của ngƣời Việt Nam ta, đƣợc thể  
hiện qua những câu ca dao lƣu truyền từ đời này sang đời khác:  
Nhiễu điều phủ lấy giá gƣơng  
Ngƣời trong một nƣớc phải thƣơng nhau cùng  
Hay:  
Bầu ơi thƣơng lấy bí cùng  
Tuy rằng khác giống nhƣng chung một giàn  
Đây là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc ta, đó là tình nghĩa ruột  
thịt, đồng bào. Tất cả ngƣời dân Việt Nam đều là con một nhà, cùng chung một  
cha mẹ, coi nƣớc nhƣ cái nôi cái bọc chung, tình cốt nhục, nghĩa đồng bào coi  
nhau nhƣ ruột thịt là cơ sở chính để tồn tại, phát triển để bảo vệ nòi giống và  
danh dự của mình, chính nhờ đó mà chúng ta có sức mạnh để chiến thắng mọi  
kẻ thù, chung tay xây dựng đất nƣớc ta ngày càng to đẹp, đàng hoàng hơn.  
Ra nƣớc ngoài làm việc, ngƣời lao động luôn hƣớng về Tổ Quốc, có trách  
nhiệm với quê hƣơng đất nƣớc, với cộng đồng, cùng vui với những niềm vui của  
Đất nƣớc, cùng san sẻ với những nỗi đau, mất mát của những ngƣời dân kém  
may mắn hay do thiên tai gây ra. Sống nhân nghĩa, thuỷ chung, vị tha, kính trên  
nhƣờng dƣới, thân thiện với bạn bè đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ hỗ trợ lẫn  
5
nhau trong cuộc sống và trong công việc là nét đặc trƣng của ngƣời dân Việt,  
của cộng đồng ngƣời Việt trên toàn thế giới.  
c) Truyền thống cần cù, sáng tạo:  
Thể hiện ở sự chăm chỉ, thông minh trong lao động, làm việc với năng  
suất cao, chất lƣợng tốt. Ra nƣớc ngoài làm việc, ngƣời lao động phát huy tính  
cần cù sáng tạo trong lao động sẽ có cơ hội để tăng thu nhập, làm giàu cho bản  
thân, gia đình và quê hƣơng đất nƣớc mình.  
d) Truyền thống hiếu học:  
Thể hiện sự ham học hỏi những cái mới, cái tốt trong cuộc sống và trong  
lao động, tiếp thu đƣợc những công nghệ mới, những kinh nghiệm tiên tiến để  
áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài phát  
huy tính tích cực trong lao động, trong học tập nâng cao trình độ nghề nghiệp,  
tác phong làm việc tiên tiến và trình độ ngoại ngữ để nâng cao hiệu quả công  
việc và góp phần xây dựng đất nƣớc sau này.  
2. Bản sắc văn hoá của dân tộc  
Bản sắc văn hoá dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa  
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đƣợc vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn  
năm đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, nó thể hiện linh hồn, đạo đức, lối sống  
của ngƣời Việt.  
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em chung sống,  
mỗi dân tộc vừa mang đặc điểm chung của bản sắc văn hóa Việt Nam, vừa có  
vốn văn hóa riêng, mang một bản sắc riêng, tạo nên tính đa dạng và phong phú,  
các nền văn hóa giao lƣu với nhau, bổ sung cho nhau.  
Trong quá trình phát triển, văn hoá Việt Nam đã hội nhập tiếp thu tinh hoa  
văn hoá và những giá trị ƣu tú của các dân tộc khác trên toàn thế giới, sàng lọc  
những gì không phù hợp, làm giàu cho nền văn hoá của dân tộc ta.  
6
Bản sắc văn hoá dân tộc là những vấn đề nòng cốt nhất, nền tảng nhất để  
làm nên những nét riêng của cộng đồng dân tộc này so với cộng đồng dân tộc  
khác. Nó có tính ổn định vì phải trải qua quá trình đúc kết, tích lũy, sàng lọc lâu  
dài.  
Đặc trƣng đầu tiên của Bản sắc văn hóa dân tộc cũng là lòng yêu nƣớc  
nồng nàn, thể hiện tâm thức con ngƣời Việt Nam qua lẽ sống, ý chí độc lập tự  
cƣờng… Bộc lộ đƣợc tính cách con ngƣời Việt Nam qua cách sống tƣơng thân  
tƣơng ái. tính cần cù sáng tạo trong lao động, yêu nghệ thuật, giản dị, tế nhị  
trong ứng xử.  
Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc thể hiện ở những việc sau đây:  
+ Thƣờng xuyên bồi dƣỡng tinh thần yêu nƣớc, tự cƣờng dân tộc, phấn  
đấu vì độc lập dân tộc vì chủ nghĩa xã hội, có ý chí vƣơn lên đƣa đất nƣớc thoát  
khỏi nghèo nàn lạc hậu;  
+ Có tinh thần tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung;  
+ Xây dựng tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh,  
nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa; ngăn chặn đẩy lùi những  
tiêu cực, tệ nạn xã hội, khắc phục tình trạng suy thoái về tƣ tƣởng, đạo đức, lối  
sống;  
+ Phải tôn trọng kỷ cƣơng phép nƣớc, quy ƣớc cộng đồng; đảm bảo an  
toàn giao thông; đẩy mạnh việc bảo tồn phát huy các truyền thống văn hóa dân  
tộc nhƣng không đƣợc phục hồi những hủ tục, mê tín dị đoan; bảo vệ môi  
trƣờng tự nhiên sạch đẹp;  
+ Thƣờng xuyên học tập nâng cao hiểu biết, trình độ văn hóa, trình độ  
thẩm mỹ và thể lực;  
+ Lao động chăm chỉ với lƣơng tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo,  
năng suất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội;  
7
+ Thƣờng xuyên tu dƣỡng và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của con  
ngƣời Việt Nam; quan hệ giữa ngƣời với ngƣời phải thân ái, giữa cấp trên và cấp  
dƣới phải tôn trọng và đoàn kết; xây dựng gia đình hạnh phúc, no ấm.  
3. Vị trí và trách nhiệm của người lao động khi làm việc ở nước ngoài  
Ngƣời lao động Việt Nam sống và làm việc có thời hạn ở nƣớc ngoài là  
những sứ giả giới thiệu và quảng bá nền văn hoá của dân tộc Việt Nam với các  
dân tộc khác đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác trên thế  
giới để làm giàu cho nền văn hoá của dân tộc Việt Nam. Dù sống ở đâu và làm  
bất cứ công việc nào chúng ta cũng phải nhận thức sâu sắc đƣợc vinh dự và  
trách nhiệm này để luôn phấn đấu hoàn thiện mình, trau dồi bản lĩnh tự tin, tự  
trọng để góp phần tôn vinh dân tộc Việt Nam, kiên quyết tránh những việc xấu  
làm tổn hại đến danh dự, đến hình ảnh của đất nƣớc ta, dân tộc ta.  
Là ngƣời làm công ăn lƣơng đƣợc pháp luật nƣớc sở tại bảo hộ, mỗi chúng  
ta phải tuân thủ Pháp luật nƣớc sở tại, chấp hành nội quy, kỷ luật lao động, tuân  
thủ quy định của ngƣời sử dụng lao động;  
Có ý thức học hỏi nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ, rèn luyện tác  
phong làm việc công nghiệp hiện đại, tiên tiến; tác phong sinh hoạt văn minh,  
lịch sự; phấn đấu để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân;  
Quan hệ ứng xử đúng mực với chủ sử dụng, với đồng nghiệp, với cộng  
đồng và ngƣời dân nƣớc sở tại.  
Cảnh giác với những thủ đoạn khác nhau của các thế lực thù địch làm mê  
muội con ngƣời bằng các loại văn hóa phẩm độc hại, với những luận điệu mị  
dân, lừa bịp, thúc đẩy lối sống hƣởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan  
chính trị, xa rời lý tƣởng, dễ bị cám dỗ không phân biệt thật giả, đúng sai, tạo  
điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kích động gây áp lực kinh tế, chính trị đối  
với đất nƣớc  
8
PHẦN HAI  
GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI, PHONG TỤC TẬP QUÁN,  
VĂN HOÁ cña LIBYA  
I. LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ, KHÍ HẬU PHÁT TRIỂN CỦA LIBYA  
1. Lịch sử  
Tên gọi Libya bắt nguồn từ chữ Lebu trong tiếng Ai cập, để chỉ những  
ngƣời dân Béc Be sống ở phía tây sông Nil sau đó đƣợc đƣa vào tiếng HyLạp rồi  
trở thành Libya.  
Ngày 21/11/1949, Đại hội đồng Liên Hiệp quốc thông qua Nghị quyết  
tuyên bố Libya trở thành một nƣớc độc lập trƣớc ngày 01/01/1952. Sau đó Libya  
tuyên bố độc lập vào ngày 24/12/1951 và là một quốc gia theo chính thể quân  
chủ lập hiến dƣới quyền vua Idris.  
Ngày 01/9/1969, Libya tuyên bố xoá bỏ chế độ quân chủ để lập nên một  
nƣớc Cộng hoà Ảrập Libya mới.  
Ngày 02/3/1977, đổi tên nƣớc thành Gia-ma-hi-ri-a Ảrập Libya Nhân dân  
xã hội chủ nghĩa vĩ đại (gọi tắt là Libya)  
Nhà lãnh đạo Muammar Al-Gaddafi  
2. Vị trí địa lý  
9
Bản đồ Libya  
Libya là nƣớc lớn thứ tƣ ở Châu Phi và thứ 17 trên thế giới với diện tích  
rộng 1.759.540 km2, trong đó sa mạc chiếm 90%. Phía Bắc Libya đƣợc bao bọc  
bởi Địa Trung Hải, phía Tây giáp với Tunisia và Algeria phía Tây Nam với  
Niger, phía Nam với Tchad và Sudan và phía Đông giáp Ai Cập. Với một đƣờng  
bờ biển dài 1.770 km2, Libya là quốc gia có đƣờng biển dài nhất ở Địa Trung  
Hải, giàu tài nguyên khoáng sản (dầu lửa, quặng sắt, Uranium…). Đất canh tác  
(chiếm 01%) nằm dọc theo bờ biển và tại một số ốc đảo. Libya có tới 03 ốc đảo  
lớn nhất là Al-Kufrah, Ghat và Ghudamis.  
Vùng sa mạc Sahara có trữ lƣợng nƣớc ngầm rất lớn. Hiện tại, Libya đang  
triển khai thực hiện dự án xây dựng sông nhân tạo với việc khoan, khai thác  
1.300 giếng từ độ sâu 500 m tại sa mạc Sahara và lắp đặt hệ thống 4.000 km  
“ống nƣớc” khổng lồ đƣờng kính lên tới 4m để dẫn nƣớc tới bờ biển phía Bắc  
của Libya- nơi có đa số dân cƣ sinh sống.  
10  
Hai thành phố lớn là Thủ đô Tripoli ở phía Tây Bắc Libya và Benghazi  
nằm ở phía Đông. Thủ đô Tripoli là thành phố lớn nhất nƣớc, diện tích 400km2,  
Các thành phố lớn khác gồm Misratah, Sirte và Sabha.  
3. Khí hậu:  
Khí hậu của Libya đƣợc chia làm hai mùa: mùa hè (mùa khô) từ tháng 7  
đến tháng 11 và mùa đông (mùa mƣa) từ tháng 12 đến tháng 6. Bên cạnh đó,  
Libya chịu ảnh hƣởng của khí hậu ven biển (Địa Trung Hải) và khí hậu vùng sa  
mạc, do đó có thể chia khí hậu Libya thành 3 vùng khí hậu chính:  
- Khí hậu Địa Trung Hải: các vùng đồng bằng, ven biển Địa Trung Hải.  
Nơi đây khí hậu rất ôn hòa, mùa đông lạnh, ẩm ƣớt, nhiệt độ khoảng từ 15oc-  
20oc. Các thành phố ven biển có độ ẩm cao khoảng 80% ( ví dụ nhƣ thành phố  
Tripoli, Bangazi...)  
- Khí hậu bán sa mạc: thuộc các vùng đệm giữa sa mạc Sahara và vùng  
đồng bằng ven biển địa Trung Hải. Nơi này chịu ảnh hƣởng của khí hậu sa mạc  
và khí hậu Địa Trung Hải, mùa hè khô nóng, nhiệt độ từ 40oc- 45oc. Mùa đông  
lạnh có nhiệt độ từ 15oc- 20oc vào ban ngày và dƣới 0oc vào ban đêm.  
- Khí hậu sa mạc : vùng sa mạc Sahara, nằm sâu trong đất liền về phía  
biên giới với các nƣớc Tchad, Niger và Su đăng. Nơi đây nhiệt độ đặc trƣng của  
khí hậu xa mạc, ban ngày nóng, nhiệt độ từ 40oc- 45oc, ban đêm nhiệt độ xuống  
còn 0oc và dƣới 0oc. Đặc biệt, năm 1922, thị trấn Al 'Aziziyah, nằm ở phía tây  
Tripoli, nhiệt độ lên tới 57.8°C (136.0°F) và đƣợc coi là mức nhiệt độ không khí  
cao nhất từng ghi nhận đƣợc trên thế giới. Do diện tích của Libya chiếm 90% là  
sa mạc nên khí hậu đa phần là khô và khí hậu sa mạc, bao gồm gió nóng, khô  
mang theo nhiều bụi  
11  
Phong cảnh sa mạc phía nam Libya; 90% lãnh thổ nƣớc này là sa mạc  
Lƣợng mƣa hàng năm ở Libya trung bình là 261 mm, Tripoli và vùng lân  
cận khoảng 400mm-500mm, ở các tỉnh khác khoảng 200mm. Vào mùa đông ở  
các vùng núi thƣờng mƣa nhiều hơn so với những vùng khác.  
Jabal Al Akdhar gần Benghazi là vùng ẩm ƣớt nhất tại Libya. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm từ 400  
[32]  
đến 600 millimét.  
12  
II. DÂN SỐ, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ CỦA LIBYA  
1. Dân số  
Dân số Libya là 6.324.357 ngƣời (tháng 7/2009). Hai vùng phía Bắc là  
Tripolitania và Cyrenaica, mật độ dân số khoảng 03 ngƣời/km2 . Ở các vùng  
khác mật độ chƣa tới 1 ngƣời/km2. Hơn nửa triệu ngƣời sống tại đô thị và tập  
trung đông nhất ở hai thành phố lớn là Tripoli và Benghazi. Ngƣời Libya bản địa  
chủ yếu gồm ngƣời Ảrập và ngƣời Berber. Ngƣời Berber ở Libya và ngƣời Ảrập  
chiếm 97% dân số, 3% còn lại là ngƣời Phi da đen, ngƣời Hy Lạp, Italia, Ai  
Cập, Pakistan, Thổ, ấn Độ và Tunisia... Tổng số ngƣời nƣớc ngoài tại Libya  
khoảng gần 3 triệu ngƣời.  
Trong số ngƣời nƣớc ngoài sống tại Libya, nhóm đông nhất là các công  
nhân từ các quốc gia Châu Phi gồm Bắc Phi (chủ yếu là ngƣời Ai Cập và  
Tunisia), Tây Phi và ngƣời Phi vùng Hạ Sahara.  
2. Chính trị  
Hệ thống chính trị của Libya dựa trên chế độ dân chủ nhân dân, ngƣời dân  
có quyền tự quyết đối với các mục tiêu về chính trị, kinh tế và xã hội, các quyết  
định và các đạo luật liên quan đến các vấn đề công cộng và tƣ nhân. Tuy nhiên,  
chính quyền dân chủ nhân dân trực tiếp đƣợc thành lập dựa trên hai chính thể là:  
Đại hội nhân dân toàn quốc và Ủy ban nhân dân toàn quốc.  
Libya có hệ thống Chính phủ kép. “Ban cách mạng” gồm Lãnh tụ Cách  
mạng Gaddafi, Uỷ ban cách mạng và Hội đồng chỉ huy Cách mạng với mƣời hai  
thành viên đƣợc thành lập từ năm 1969 đƣợc gọi là Ban Jamahirya.  
“Ban cách mạng” không đƣợc bầu ra và cũng không thể bị khai trừ, bởi  
họ nắm quyền lực nhờ vào công lao đã đóng góp trong cuộc cách mạng. “Ban  
cách mạng” kiểm soát quyền đƣa ra quyết định của ban kia - Ban Jamahirya.  
Chính phủ hành chính chỉ hoạt động hiệu quả khi nó thực hiện đúng các mệnh  
lệnh lãnh đạo do ban lãnh đạo cách mạng đƣa ra. Ban lãnh đạo cách mạng có  
13  
quyền phủ quyết tối cao bất kể tới quyền lực hiến pháp của chế độ dân chủ nhân  
dân và cái gọi là quyền lực của nhân dân.  
Bốn năm một lần các thành viên của Đại hội nhân dân địa phƣơng bầu ra  
lãnh đạo của mình và các thƣ ký cho các Ủy ban nhân dân, bằng cách giơ tay  
biểu quyết. Lãnh đạo các Ủy ban nhân dân địa phƣơng đại diện cho khu vực của  
mình tại Đại hội nhân dân cấp trên và là sự ủy thác bắt buộc. Các thành viên của  
Đại hội nhân dân quốc gia (Chính phủ) bằng cách giơ tay biểu quyết tại kỳ họp  
hàng năm của mình.  
Ở Libya, Các Đảng chính trị bị cấm hoạt động theo Đạo luật về việc cấm  
các Đảng Chính trị số 71 năm 1972 và Chính phủ kiểm soát chặt chẽ các lĩnh  
vực thông tin, truyền thông...  
3. Tôn giáo  
Tôn giáo thống trị ở Libya là Hồi giáo với 97% dân số theo tín ngƣỡng  
này. Hầu nhƣ toàn bộ ngƣời Hồi giáo Libya đều thuộc dòng Hồi giáo Sunni.  
Nhà thờ Hồi giáo tại Ghadames, gần biên giới Tunisia và Algeria; 97% dân số Libya là các tín đồ Hồi  
giáo  
14  
Ngoài tuyệt đại đa số là tín đồ Hồi giáo Sunni, ở Libya còn có một cộng  
đồng thiểu số rất nhỏ Cơ đốc giáo, Anh giáo gồm hầu hết là ngƣời nƣớc ngoài  
và có khoảng 40.000 tín đồ Công giáo La Mã, với hai giám mục, một tại Tripoli  
(phục vụ cộng đồng Ý) và một tại Benghazi (dành cho cộng đồng Malta).  
4. Kinh tế  
Libya là nƣớc có trữ lƣợng dầu lớn nhất Châu Phi và đứng thứ 9 trên thế  
giới với trữ lƣợng dầu mỏ của Libya khoảng 42 tỉ thùng dầu, tƣơng đƣơng với  
khoảng 7 tỷ tấn, sản lƣợng khai thác trung bình là 1,4 triệu thùng/ngày, trong đó  
xuất khẩu 1,3 triệu thùng chiếm 96% tổng khối lƣợng hàng xuất khẩu và 65%  
tổng sản phẩm quốc dân.  
Kinh tế Libya phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn thu từ lĩnh vự dầu khí.  
Dân số ít, Libya trở thành một trong quốc gia có GDP trên đầu ngƣời cao nhất  
Châu Phi. Hệ thống an ninh xã hội cao, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở và giáo  
dục, so với các nƣớc trong khu vực thì Libya có tỷ lệ ngƣời nghèo thấp. Trong  
ba thập kỷ qua, các nhà lãnh đạo Libya thực hiện quá trình cải cách kinh tế nhƣ  
tái hoà nhập cộng đồng quốc tế, nỗ lực này đƣợc thể hiện rõ hơn khi các biện  
pháp trừng phạt của Liên hợp quốc đƣợc dỡ bỏ vào tháng 9 năm 2003 và Libya  
thông báo từ bỏ các chƣơng trình sản xuất vũ khí giết ngƣời hàng loạt vào tháng  
12 năm 2003  
Libya tiến hành cải cách kinh tế theo hƣớng tự do hoá nền kinh tế thị  
trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Những bƣớc đi đầu tiên gồm xin gia  
nhập WTO, giảm một số khoản trợ cấp và thông báo các kế hoạch tƣ nhân hoá  
đang tạo nền tảng cho một quá trình chuyển tiếp tới một nền kinh tế thị trƣờng.  
Công nghiệp: Ngành công nghiệp chủ yếu của Libya là khai thác dầu khí  
và khí đốt, ngoài ra Libya còn chế biến thực phẩm và hoa quả, dệt may, thủ công  
mỹ nghệ và xi măng.  
Nông nghiệp: Libya chủ yếu trồng lúa mỳ, lúa mạch, ôlƣu, chà là, lạc,  
bông, hoa quả và chăn nuôi (dê, cừu, trâu bò và lạc đà). Các điều kiện khí hậu và  
15  
đất đai bạc màu hạn chế rất nhiều năng suất nông nghiệp nên hàng năm, Libya  
phải nhập khẩu khoảng 75% lƣơng thực.  
Xuất khẩu: dầu thô, tinh chế các sản phẩm dầu thô và khí đốt tự nhiên.  
Nhiều ngành công nghiệp do Chính phủ quản lý đang dần đƣợc tƣ nhân  
hoá, các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ đã đƣợc dỡ bỏ. Nhiều Công ty dầu  
lửa quốc tế đã quay lại Libya để đầu tƣ nhƣ Công ty Shell và Công ty  
ExonMobil…  
5. Ngôn ngữ  
Ngôn ngữ đƣợc sử dụng nhiều nhất ở Libya là tiếng Ảrập đây cũng là  
ngôn ngữ chính thức. Tiếng Tamazight, tuy không phải là ngôn ngữ chính thức  
nhƣng đƣợc ngƣời Berber ở Libya sử dụng. Ngoài ra, ngƣời Tuareg nói tiếng  
Tamahaq, thứ ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Tamasheq duy nhất đƣợc biết  
đến ở vùng phía Bắc. Tiếng Anh và tiếng Ý đƣợc sử dụng tại các thành phố lớn  
nhƣ Tripoli và Bengazi.  
6. Quan hệ ngoại giao với Việt Nam  
Việt Nam và Libya chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày  
15/3/1975. Hiện tại, hai nƣớc đã có Đại sứ quán tại thủ đô Hà Nội và Tripoli  
Quan hệ chính trị tiếp tục đƣợc thúc đẩy: Bộ trƣởng ngoại giao hai nƣớc  
đã ký thoả thuận về tham khảo chính trị, hai bên ủng hộ nhau làm uỷ viên không  
thƣờng trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và phối hợp trong các diễn đàn  
quốc tế.  
Hai nƣớc đã ký kết các ký Hiệp định quan trọng nhƣ:  
Hiệp định hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật (ngày 19/02/1976).  
Hiệp định thƣơng mại (ngày 17/10/1983).  
Hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (ngày 31/01/2007).  
7. Văn hoá  
16  
Văn hoá Libya tƣơng đồng với văn hoá các quốc gia Ảrập xung quanh.  
Ngƣời Libya theo truyền thống sống du mục trong các lều trại, Tuy nhiên do ảnh  
hƣởng của văn hoá phƣơng Tây, phong cách sống cũ của họ dần phai nhạt. Chỉ  
còn một số lƣợng nhỏ ngƣời Libya vẫn sống trong sa mạc nhƣ cha ông họ đã  
từng sống trong hàng thế kỷ trƣớc kia. Ngày nay, đa ngƣời số ngƣời dân Libya  
chuyển về các thành phố, thị trấn và sống trong các tòa nhà chung cƣ hoặc các  
ngôi nhà riêng, tuỳ thuộc vào mức thu nhập của họ.  
Libya có rất ít nhà hát và các nhà hàng giải trí công cộng, chỉ có vài rạp  
chiếu phim. Gần đây nghệ thuật tại Libya đã bắt đầu khởi sắc, đặc biệt là hội  
hoạ, các cửa hiệu trƣng bày nghệ thuật của tƣ nhân bắt đầu phát triển. Tripoli có  
rất nhiều bảo tàng đẹp nhƣ: bảo tàng Dân tộc, bảo tàng Khảo cổ học, bảo tàng  
Hồi giáo.  
Bên cạnh những nét truyền thống văn hoá của ngƣời Ả rập, Libya có  
những nét văn hoá riêng đó là truyền thống hiếu khách, yêu ca hát nhảy múa  
trong lễ hội.  
Ngày nghỉ, Lễ hội  
Libya là một nƣớc đạo Hồi, Libya có tất cả những lễ hội của đạo Hồi và  
thêm vào đó là một số ngày nghỉ của quốc gia. Thứ 6 là ngày nghỉ chính.  
- Ngày 24/12/1951 là ngày chiến thắng, giải phóng đất nƣớc khỏi ách  
thống trị của thực dân Italia. Đây là một trong những ngày lễ lớn trong năm của  
ngƣời dân Libya.  
- Ngày 02/3 ngày đổi tên nƣớc từ Cộng hoà Ảrập Libya thành Gia-ma-hi-  
ri-a Ảrập Libya nhân dân xã hội chủ nghĩa vĩ đại (02/3/1977).  
- Ngày 11/6 ngày di tản của các căn cứ quân sự nƣớc ngoài.  
- Ngày 01/9 ngày Quốc khánh (01/9/1969).  
8. Xã hội  
8.1. Giáo dục  
17  
Dân số Libya 6.324.357 ngƣời trong đó có 1,7 triệu học sinh và sinh viên.  
Giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí từ 06 đến 15 tuổi . Tỷ lệ biết chữ của  
nƣớc này cao nhất Bắc Phi: 82,6% dân số biết đọc và viết. Sau khi Libya tuyên  
bố độc lập năm 1951, trƣờng đại học đầu tiên của họ là “Đại học Libya” đƣợc  
thành lập ở Benghazi.  
8.2. Truyền thông  
Chính phủ vẫn quản lý chặt chẽ các cơ sở phát thanh truyền hình. Tuy  
nhiên, ngƣời dân Libya vẫn thích xem các chƣơng trình giải trí trên các kênh tivi  
trong nƣớc và các kênh nƣớc ngoài thông qua việc lắp đặt các An ten chảo thu  
phát tín hiệu vệ tinh. Các chƣơng trình tivi của Libya chủ yếu là tiếng ¶rËp, tuy  
nhiên, cũng có 30 phút tin tức bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp.  
Nhà nƣớc sở hữu và kiểm soát chặt chẽ các phƣơng tiện tuyền thông và  
chính quyền không cho phép công khai ý kiến đối lập với chính sách của Chính  
phủ ra công chúng.  
Truy cập Intemet không bị giới hạn (vẫn đặt trong tình trạng kiểm tra- tự  
do trong giới hạn). Cơ quan hợp tác truyền hình Libya Jamahiriyah là cơ quan  
ngôn luận của Nhà nƣớc.  
9. Ẩm thực  
Ẩm thực của Libya có sự pha trộn của Ảrập và Địa trung Hải và chịu ảnh  
hƣởng mạnh ẩm thực của Italia. Libya du nhập văn hoá ẩm thực của Italia từ khi  
còn là thuộc địa.  
Thực phẩm trong bữa ăn gia đình ngƣời Libya chủ yếu đƣợc chế biến từ  
lúa mỳ, lúa mạch và khoai tây, thịt cừu, thịt gà, sữa lạc đà... Libya có nhiều loại  
hoa quả nhƣ chà là, cam, mơ, sung và ôliu . Ngƣời Libya thích ăn ở nhà (trừ thứ  
6 – vào ngày nghỉ, ngƣời dân thƣờng đi picnic).  
10. Giao thông vận tải  
Libya có 5 sân bay lớn, trong đó có 2 sân bay tƣơng đối hiện đại là Tripoli  
và Benghazi. Hệ thống giao thông vận tải của Libya đƣợc đầu tƣ xây dựng từ  
18  
những năm 1970, trong những năm bị cấm vận, hệ thống này đã bị xuống cấp rất  
nhiều. Hiện tại, chính phủ Libya đang đầu tƣ hàng trăm tỉ USD cho việc nâng  
cấp, làm mới lại cơ sở hạ tầng của Libya với mục tiêu xây dựng Libya là cửa  
ngõ của Châu Phi về thƣơng mại, tài chính.  
Libya có hệ thống đƣờng giao thông khá hoàn thiện. Tuy nhiên, ý thức bảo  
vệ an toàn giao thông của ngƣời tham gia giao thông còn hạn chế, các lái xe  
thƣờng đi với tốc độ rất cao nên mỗi khi tham gia giao thông cần phải cẩn thận  
để tránh tai nạn.  
11. Đồng tiền của Libya:  
Đơn vị tiền tệ của Libya là Libyan Dinar ( Ký hiệu viết tắt là LYD). Tiền  
của Libya có 2 loại: Tiền giấy và tiền xu.  
+ Mệnh giá tiền giấy: 1; 5;10;20;50 LYD  
+ Mệnh giá tiền xu: 1/50; 1/25;1/10; 1/5 và 1 LYD  
III. PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI LIBYA  
1. Một số tục lệ của người Libya  
Khi chào nhau bắt tay bằng tay phải; không bắt bằng tay trái; không đứng  
và ngồi gần phụ nữ, khi nói chuyện phải có một khoảng cách, không chuyển đồ  
vật bằng tay trái; không vào nhà riêng khi chƣa đƣợc mời và không tự ý lấy đồ  
của ngƣời khác; khi thấy phụ nữ không đƣợc có hành vi khiếm nhã (trêu chọc,  
huýt sáo...)  
Tôn trọng phụ nữ, khi đi ra ngoài thƣờng nhƣờng phụ nữ đi trƣớc.  
Không ngồi bắt chân chữ ngũ hoặc quay bàn chân trái về phía khách hoặc  
dùng chân để chỉ một vật gì đó; không dùng giấy có ảnh Tổng thống để làm việc  
khác. Không vỗ mông ngƣời bản xứ dù là thân và không mặc hở hang hoặc cởi  
trần khi giao tiếp.  
Không xem hoặc đi lại trƣớc mặt ngƣời Hồi giáo khi họ đang cầu nguyện .  
2.Tháng Ramadan và những điều cần biết về đạo Hồi  
19  
“Tháng Ramadan”, một số báo chí của ta thƣờng gọi là “ Tháng ăn chay”,  
hoặc “ Tháng nhịn ăn”.  
Ramadan là tên gọi tháng thứ 9 trong lịch Hồi giáo. Lịch Hồi giáo, hay  
còn gọi là Hijra, đƣợc tính theo mặt trăng và bắt đầu có từ ngày 16/7/622. Đối  
với những ngƣời theo đạo Hồi, Ramadan nghĩa là 4 tuần không ăn uống, không  
hút thuốc và không quan hệ tình dục từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn,  
chủ yếu là cầu nguyện, im lặng và chịu đựng. (ngƣời ốm, những phụ nữ có thai,  
phụ nữ đang cho con bú, trẻ nhỏ dƣới 05 tuổi và những ngƣời đang du học ở  
nƣớc ngoài đƣợc miễn) Những ngƣời theo đạo Hồi mà vì lý do nào đó không ăn  
kiêng thì cũng có xu hƣớng tự kiềm chế và điều chỉnh những hành vi của mình.  
Ramadan cũng là tháng làm từ thiện và bố thí cho ngƣời nghèo. Sau khi tháng  
Ramadan kết thúc, ngƣời dân đạo Hồi ăn Tết 3- 4 ngày liền. Trong những ngày  
này, những gia đình khá giả thƣờng thịt cừu và phân phát cho ngƣời nghèo, coi  
nhƣ là việc làm từ thiện để giúp ngƣời nghèo.  
Ramadan là một bài tập tinh thần về sức chịu đựng và sự kỷ luật đáng kể  
đối với những ngƣời theo đạo Hồi, họ đánh giá cao những hàm ý tôn giáo và xã  
hội của phong tục lễ giáo này. Trong suốt tháng Ramadan, mọi ngƣời nên ăn  
mặc nhã nhặn, mọi sinh hoạt cũng thay đổi, giờ mở và đóng cửa hàng cũng  
muộn hơn, giao thông cũng nhộn nhịp hơn về ban đêm. Thời gian làm việc đƣợc  
rút bớt 2 giờ/ngày.  
Chú ý: trong tháng Ramadan vào buổi chiều, nếu không có công chuyện  
thì không nên đi xe ra đƣờng. Bởi vì các lái xe taxi, xe bus…., sau cả một ngày  
nhịn ăn, nhịn uống rất mệt, vì thế họ đi rất nhanh để kịp về nhà trƣớc giờ đƣợc  
ăn, nên rất dễ xảy ra tai nạn giao thông.  
NĂM ĐIỀU CĂN BẢN CỦA ĐẠO HỒI  
1. Tuyên đọc câu Sahadah: La ila ha il lallah, có nghĩa “Allah là Đấng duy  
nhất để phụng thờ”.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 50 trang baolam 23940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt Nam đi làm việc tại Libya", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_kien_thuc_can_thiet_dung_cho_nguoi_lao_dong_viet_nam_d.pdf