Ảnh hưởng của một số nhân tố ngoại sinh lên sự tăng trưởng và tích lũy Lipid ở vi tảo Haematococcus pluvialis flotow

Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32 23  
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ NGOẠI SINH LÊN SỰ  
TĂNG TRƯỞNG VÀ TÍCH LŨY LIPID Ở VI TẢO  
HAEMATOCOCCUS PLUVIALIS FLOTOW  
NGUYỄN TRẦN ĐÔNG PHƯƠNG1,2,*  
LÊ HUYỀN ÁI THÚY2, BÙI TRANG VIỆT1  
1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.HCM  
2Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh  
(Ngày nhận: 20/07/2018; Ngày nhận lại: 26/09/2018; Ngày duyệt đăng: 15/10/2018)  
TÓM TẮT  
Tế bào vi tảo Haematococcus pluvialis được nuôi cấy trong bình 500mL chứa 250mL môi  
trường lỏng BB được sục khí, theo hai giai đoạn, với mật độ tế bào ban đầu là 4,3.103 tế bào/mL.  
Tất cả các thí nghiệm được đặt ở nhiệt độ 25 ± 3oC, cường độ ánh sáng huỳnh quang 50µmol  
photon m-2s-1 và thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày, trừ các xử lý với ánh sáng đèn LED. Sau 7  
tuần nuôi cấy trong môi trường BB (giai đoạn 1), một số nhân tố ngoại sinh gồm ánh sáng đèn  
LED trắng, đỏ (610 - 760 nm) và lục (460 - 490 nm) đều ở cường độ 50 µmol photon m-2s-1 (xử  
lý trong 3 tuần, 24 giờ, hay gián đoạn đêm 30 phút), sốc nhiệt độ (50oC trong 1,5 hay 2 giờ, 7 ±  
3oC trong 2, 3, 4 hay 6 giờ, 0 ± 2oC trong 1,5 hay 2 giờ), kim loại nặng (bổ sung Cu2+, Fe2+,  
Mg2+, Zn2+ với nồng độ cao gấp 1,5 hay 2 lần so với môi trường BB), hoặc NaCl 0,5; 0,9 hay  
3,0% được áp dụng trong giai đoạn 2 (3 tuần) để khảo sát sự tăng trưởng và tích lũy lipid ở vi  
tảo. Sau 10 tuần nuôi cấy, kết quả cho thấy, chỉ có xử lý ánh sáng đèn LED đỏ trong 24 giờ làm  
tăng lượng dầu sinh học, nhưng làm giảm trọng lượng tươi và khô so với đối chứng (ánh sáng  
huỳnh quang). Xử lý 7 ± 3oC trong 2 giờ làm tăng hàm lượng dầu sinh học và thay đổi không  
đáng kể trọng lượng tươi, nhưng giảm trọng lượng khô. Các xử lý Cu2+, Fe2+, Mg2+ và Zn2+ với  
nồng độ cao gấp 1,5 hay 2 lần làm giảm hoặc không tăng hàm lượng dầu sinh học. Xử lý NaCl  
0,5% làm tăng hàm lượng dầu sinh học, nhưng làm giảm trọng lượng tươi và khô.  
Từ khóa: Haematococcus pluvialis; Kim loại nặng; Sốc nhiệt độ; Tăng trưởng; Tích lũy  
lipid.  
Effects of some exogenous factors on growth and lipid accumulation in microalgae  
Haematococcus pluvialis Flotow  
ABSTRACT  
Haematococcus pluvialis cells were cultured in 500-ml bottles in two stages, each contained  
250ml of liquid BB medium with aeration and an initial cell density of 4.3×103 cells/mL. All the  
experiments were carried out at 25 ± 3°C, and under the effect of fluorescence light (50µmol  
photon m-2s-1, 12 h/12 h light/dark cycle), except the experimentsunder the effect of LED  
24 Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32  
lighting. After 7 weeks culture in BB medium (phase 1), some exogenous factors including LED  
light (intensity of 50μmol photon m-2s1): white, red (610 - 760nm) and blue (460 - 490nm)  
(treatment in 3 weeks, or 24 hours, or a 30-minute night interruption), heat shock (50oC during  
1.5 or 2 hours, 7 ± 3oC during 2, 3, 4 or 6 hours, and 0 ± 2oC during 1.5 or 2 hours), heavy  
metals (Cu2+, Fe2+, Mg2+, Zn2 and NaCl at high concentrations during 3 days) were applied to  
study growth and lipid accumulation in Haematococcus pluvialis. After 10- week culture, the  
results showed that only red LED light treatment for 24 hours increased the biodiesel content,  
but reduced the fresh weight and the dry weight compared to the control (under the effect of  
fluorescent light). Treatment of 7 ± 3°C for 2 hours increased the biodiesel content and did  
insignificantly change the fresh weight, and reduced the dry weight. The treatments of Cu2+,  
Fe2+, Mg2+ and Zn2+ in 1,5 or double concentration not increase the biodiesel content. The  
treatment of 0.5% NaCl increased the biodiesel content, but reduced the fresh weight and the dry  
weight.  
Keywords: Growth; Haematococcus pluvialis; Heat shock; Heavy metal; Lipid accumulation.  
1. Mở đầu  
2. Vật liệu và Phương pháp  
Sản xuất dầu diesel từ vi tảo được xem là  
phương pháp khả thi do không cạnh tranh đất  
sản xuất nông nghiệp và không làm ô nhiꢀm  
môi trường. Tảo lục nước ngọt H. pluvialis  
Flotow được chứng minh là vật liệu chứa  
nhiều dầu sinh học và astaxanthin, một chất  
màu có giá trị kinh tế cao. Quá trình tích lũy  
lipid xảy ra trong tế bào H. pluvialis ở giai  
đoạn tạo nang được cảm ứng bởi stress như  
dinh dưỡng giới hạn, cường độ ánh sáng cao,  
FeSO4 450µM hoặc sodium acetate 45mM  
kích thích sự tích lũy lipid (Lei và cộng sự,  
2012). Trong các nghiên cứu trước đây, nhóm  
chúng tôi đã xác định nồng độ BA, IAA và  
GA3 có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và tích  
lũy lipid ở vi tảo H. pluvialis (Nguyꢀn Trần  
Đông Phương và cộng sự, 2015). Bên cạnh  
đó, chúng tôi còn tối ưu hóa qui trình xác định  
các gene mã hóa cho enzyme khởi đầu (biotin  
carboxylase, BC) và kết thúc (fatty acyl-acyl  
carrier protein thioesterase, FATA) của quá  
trình sinh tổng hợp lipid ở vi tảo H. pluvialis  
(Nguyꢀn Trần Đông Phương và cộng sự,  
2016). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm  
tìm hiểu sự tăng trưởng và tích lũy lipid ở vi  
tảo H. pluvialis Flotow dưới tác động của số  
yếu tố gồm có loại ánh sáng, nhiệt độ, kim  
loại, nồng độ muối.  
Vật liệu  
Vi tảo H. pluvialis Flotow được phòng  
Sinh học thực nghiệm của Viện Nghiên cứu  
và Nuôi trồng Thủy sản II, TP. Hồ Chí Minh  
cung cấp lại từ bộ sưu tập giống tảo của  
phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ Sinh  
học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công  
nghệ Việt Nam, Hà Nội.  
Phương pháp  
50mL vi tảo ở tuần thứ 9, được nuôi trong  
bình 500mL có chứa 250mL môi trường lỏng  
BB với pH 7 được sục khí, mật độ tế bào ban  
đầu 4,3.103 tế bào/mL, được dùng để bố trí thí  
nghiệm. Tất cả các thí nghiệm được đặt ở  
nhiệt độ 25 ± 3oC, cường độ ánh sáng huỳnh  
quang 50µmol photon m-2s-1 và thời gian  
chiếu sáng 12 giờ/ngày trừ các xử lý với ánh  
sáng LED.  
Ảnh hưởng của loại ánh sáng lên sự  
tăng trưởng và tích lũy lipid của vi tảo  
Vi tảo sau 7 tuần nuôi cấy dưới ánh sáng  
huỳnh quang (thời gian chiếu sáng 12  
giờ/ngày) được chuyển sang ánh sáng LED  
trắng phổ rộng hoặc LED đỏ với bước sóng  
610 - 760nm hoặc LED xanh với bước sóng  
460 - 490nm trong 3 tuần tiếp theo, hoặc đặt  
dưới ánh sáng LED trắng, LED đỏ hoặc LED  
xanh trong 24 giờ liên tục, hoặc xử lý một lần  
Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32 25  
gián đoạn đêm trong 30 phút từ lúc 0 giờ đến  
0 giờ 30 phút tối. Tất cả các loại ánh sáng  
LED trắng, đỏ, xanh và đèn huỳnh quang  
trong thí nghiệm này đều ở cường độ ánh sáng  
50µmol photon m-2s-1.  
Ảnh hưởng của xử lý nhiệt độ lên sự  
tăng trưởng và tích lũy lipid của vi tảo  
Vi tảo sau 7 tuần nuôi cấy được xử lý ở  
nhiệt độ 50oC bằng cách đặt bình chứa vi tảo  
trong nồi cách thủy trong 1,5 hoặc 2 giờ. Xử  
lý từ -3 tới 0oC bằng cách đặt bình chứa vi tảo  
ở ngăn đông tủ lạnh trong 1,5 hoặc 2 giờ. Xử  
lý nhiệt độ từ 4 tới 10oC bằng cách đặt bình  
chứa vi tảo ở ngăn mát tủ lạnh trong 2, 3, 4  
hay 6 giờ.  
6,8mL methanol, 1,2mL NaOH 0,1N và 8mL  
chloroform. Ủ cách thủy ở 90oC trong 40  
phút, để nguội. Thêm vào 4mL nước cất để  
dung dịch phân thành ba lớp. Lớp dưới cùng  
là dầu sinh học (Bligh và Dyer, 1959; Hossain  
và cộng sự, 2008, Johnson và Wen, 2009).  
Với phương pháp này, cả lipid tích lũy trong  
tế bào lẫn lipid thoát ra môi trường nuôi cấy  
đều được thu nhận bằng sự ester hóa các  
acid béo.  
Tất cả các thí nghiệm được thực hiện với  
3 lần lặp lại, mỗi lần với 3 bình 500mL chứa  
250mL môi trường lỏng BB được sục khí vào  
lúc 8 giờ sáng.  
3. Kết quả  
Ảnh hưởng của Cu2+, Fe2+, Mg2+ và  
Zn2+ lên sự tăng trưởng và tích lũy lipid  
của vi tảo  
(B) Ảnh hưởng của xử lý ánh sáng đèn  
LED trắng, đỏ và xanh  
(C) Xử lý ánh sáng trong 3 tuần: dưới  
đèn LED trắng: vi tảo vẫn còn màu xanh  
nhưng có sự phân hủy dần nội dung của tế  
bào, đèn LED đỏ làm cho phần lớn các tế bào  
vi tảo chuyển sang màu nâu sậm và nhiều tế  
bào bị phân hủy, trong khi đèn LED xanh làm  
cho tất cả các tế bào vi tảo bị phân hủy hoàn  
toàn (Hình 1.1).  
Xử lý ánh sáng trong 24 giờ: dưới đèn  
LED trắng và đèn LED xanh: vi tảo có hình  
cầu và vẫn còn màu xanh với ánh sáng, nhưng  
mất dần nội dung với ánh sáng đèn LED đỏ  
(Hình 1.2).  
(D) Xử lý ánh sáng gián đoạn đêm  
trong 30 phút: dưới đèn LED trắng: vi tảo có  
hình cầu hoặc hình elip và một số tế bào  
phóng thích nội dung, mất dần nội dung với  
ánh sáng đèn LED đỏ, một số tế bào chuyển  
sang màu đỏ với ánh sáng đèn LED xanh  
(Hình 1.3).  
Vi tảo sau 7 tuần nuôi cấy trong bình  
chứa môi trường lỏng BB được sục khí được  
chuyển sang môi trường BB mới có sự gia  
tăng nồng độ các kim loại nặng trong 3 ngày:  
CuSO4: 2,355mg/L (gấp 1,5) hoặc 3,14mg/L  
(gấp đôi), MgSO4: 112,5mg/L (gấp 1,5) hoặc  
150mg/L (gấp đôi), FeSO4: 7,47mg/L  
(gấp 1,5) hoặc 9,96mg/L (gấp đôi), ZnSO4:  
13,23mg/L (gấp 1,5) hoặc 17,64mg/L  
(gấp đôi).  
Ảnh hưởng của nồng độ muối NaCl  
trong môi trường nuôi cấy lên sự tăng  
trưởng và tích lũy lipid của vi tảo  
Vi tảo sau 7 tuần nuôi cấy trong bình  
chứa môi trường lỏng BB được sục khí được  
chuyển sang môi trường BB mới được bổ  
sung NaCl ở tỉ lệ 0,5%, 0,9%, 1,5%, 3,0%  
trong 3 tuần hoặc môi trường bổ sung NaCl  
1,5%, 2,0%, 3,0%, 3,5% trong 24 giờ.  
Trong các xử lý chiếu sáng bằng đèn  
LED xanh và đỏ liên tục trong 24 giờ hoặc  
gián đoạn đêm trong 30 phút vào lúc 0 giờ,  
chỉ có xử lý ánh sáng đèn LED đỏ trong 24  
giờ làm tăng có ý nghĩa lượng dầu sinh học,  
nhưng làm giảm mạnh trọng lượng tươi và  
khô so với đối chứng (ánh sáng huỳnh quang)  
(Bảng 1).  
(A) Hàm lượng dầu sinh học từ vi tảo  
1mL môi trường chứa vi tảo H. pluvialis  
từ bình chứa môi trường lỏng BB được sục  
khí ở các nghiệm thức khác nhau được dùng  
để thu sinh khối và xác định trọng lượng tươi  
và khô của vi tảo, sau đó thêm vào 12mL  
chloroform và 24mL methanol. Ly tâm 3.500  
vòng/phút trong 15 phút. Thu dịch nổi, thêm  
26 Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32  
Bảng 1  
Ảnh hưởng của xử lý ánh sáng đèn LED trắng, đỏ và xanh lên sự tăng trưởng và tích lũy lipid  
của vi tảo trong bình chứa môi trường lỏng BB được sục khí.  
Xử lý  
Trọng lượng tươi  
Trọng lượng khô  
Dầu sinh học  
(mg/mL)  
(mg/mL)  
(mg/mL)  
29,370a  
3,270a  
0,050b  
Đối chứng  
(đèn huỳnh quang)  
LED trắng, 24 giờ  
LED đỏ, 24 giờ  
21,570b  
15,300c  
15,760c  
27,100a  
26,870a  
27,000a  
1,720c  
0,920d  
0,970d  
2,200b  
2,180b  
2,280b  
0,054ab  
0,063a  
0,059ab  
0,057ab  
0,058ab  
0,055ab  
LED xanh, 24 giờ  
LED trắng, 30 phút  
LED đỏ, 30 phút  
LED xanh, 30 phút  
Các chữ cái theo sau số trung bình trong cùng một cột khác nhau biểu hiện sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê ở mức P ≤ 0,05  
10 µm  
1c  
10 µm  
1b  
10 µm  
1a  
10 µm  
2c  
10 µm  
10 µm  
2a  
10 µm  
2b  
3a  
3b  
10 µm  
10 µm  
3c  
Hình 1. Vi tảo sau 7 tuần được nuôi cấy dưới ánh sáng đèn huỳnh quang trong bình chứa môi  
trường lỏng BB được sục khí và xử lý ánh sáng đèn LED  
Trong 3 tuần (1a) Trắng: màu lục, phân hủy nhiều (1b) Đỏ: màu nâu đỏ, phân hủy nhiều (1c)  
Xanh: phân hủy hoàn toàn  
Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32 27  
Trong 24 giờ (2a) Trắng: Vi tảo màu lục, phân hủy một phần (2b) Đỏ: Vi tảo màu đỏ, phân hủy  
nhiều (2c) Xanh: Vi tảo màu lục, phân hủy nhiều  
Gián đoạn đêm 30 phút (3a) Trắng: Vi tảo màu lục, phân hủy một phần (3b) Đỏ: Một số vi tảo có  
màu đỏ, phân hủy một phần (3c) Xanh: Một vi số tảo có màu đỏ  
nhiệt độ làm thay đổi hình thái của tế bào vi  
tảo. Sau 2 giờ xử lý ở 50oC, vi tảo vẫn giữ hình  
cầu và có màu lục như đối chứng. Ở 0 ± 2oC, vi  
tảo có hình cầu và một số tế bào chuyển sang  
màu đỏ sau 1,5 giờ xử lý, nhưng phần lớn có  
màu đỏ và phóng thích nội dung ra ngoài môi  
trường sau 2 giờ xử lý (Hình 2). Ở 7 ± 3oC, các  
vi tảo chuyển dần sang màu đỏ sau 2 giờ xử lý,  
trong khi một số tế bào bị phân hủy và một số  
tế bào khác phân chia sau 3 giờ xử lý. Các tế  
bào có thể bị phân hủy, có màu đỏ hay vẫn giữ  
màu xanh sau 4 và 6 giờ xử lý (Hình 2).  
Ảnh hưởng của xử lý nhiệt độ  
Sau 7 tuần nuôi cấy vi tảo trong bình  
chứa môi trường lỏng BB được sục khí, trong  
số các xử lý nhiệt độ cao (50oC) và thấp (0 ±  
2oC) trong 1,5 hoặc 2 giờ, và xử lý nhiệt độ  
nhiệt độ 7 ± 3oC trong 2, 3, 4 hoặc 6 giờ, chỉ  
có xử lý 7 ± 3oC trong 2 giờ làm tăng hàm  
lượng dầu sinh học và thay đổi không đáng kể  
trọng lượng tươi, nhưng giảm trọng lượng khô  
so với đối chứng (Bảng 2).  
Cùng với sự thay đổi về hàm lượng dầu  
sinh học và trọng lượng tươi và khô, các xử lý  
Bảng 2  
Ảnh hưởng của xử lý nhiệt độ lên sự tăng trưởng và tích lũy lipid của vi tảo trong bình chứa môi  
trường lỏng BB được sục khí  
Xử lý  
Trọng lượng tươi  
Trọng lượng khô  
Dầu sinh học  
(mg/mL)  
(mg/mL)  
(mg/mL)  
Đối chứng 25 ± 3oC  
50oC, 2 giờ  
29,370a  
29,000a  
24,170a  
16,630ab  
27,100ab  
26,870ab  
27,000ab  
21,570b  
3,800a  
2,470b  
2,400b  
1,600d  
2,200bc  
2,180bcd  
2,280bc  
1,720cd  
0,052c  
0,053c  
0,061bc  
0,061bc  
0,108a  
0,069b  
0,060bc  
0,060bc  
0 ± 2oC, 1,5 giờ  
0 ± 2oC, 2 giờ  
7 ± 3oC, 2 giờ  
7 ± 3oC, 3 giờ  
7 ± 3oC, 4 giờ  
7 ± 3oC, 6 giờ  
Các chữ cái theo sau số trung bình trong cùng một cột khác nhau biểu hiện sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê ở mức P ≤ 0,05  
28 Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32  
10 µm  
10 µm  
20 µm  
A
B
C
10 µm  
10 µm  
20 µm  
F
D
E
10 µm  
10 µm  
G
H
Hình 2. Vi tảo sau 7 tuần được nuôi cấy trong bình chứa môi trường lỏng BB được sục khí, xử  
lý nhiệt độ và quan sát ngay khi kết thúc thí nghiệm  
(A) Đối chứng: màu lục (B) 50oC, 2 giờ: màu lục (C) 0 ± 2oC; 1,5 giờ: màu đỏ  
(D) 0 ± 2oC; 2 giờ: màu đỏ (E) 7 ± 3oC; 2 giờ: màu đỏ (F) 7 ± 3oC; 3 giờ: màu đỏ hoặc lục, có  
sự phân hủy nội dung (G) 7 ± 3oC; 4 giờ: màu đỏ nhạt và phân hủy nội dung (H) 7 ± 3oC; 6 giờ:  
Một số tế bào vi tảo có màu đỏ hoặc lục, có sự phân hủy nội dung  
Ảnh hưởng của Cu2+, Fe2+, Mg2+ và Zn2+  
Sự bổ sung CuSO4 (2,355 hoặc 3,14mg/L),  
FeSO4 (7,47 hoặc 9,96mg/L), MgSO4 (112,5  
hoặc 150mg/L) và ZnSO4 (13,23 hoặc  
7,64mg/L) vào môi trường nuôi cấy ở tuần thứ  
7, trong 3 ngày, không làm thay đổi đáng kể  
hay làm giảm lượng dầu sinh học, dù các xử  
lý có thể gây thay đổi tăng trưởng, hình thái  
và màu sắc vi tảo: sự tăng nồng độ FeSO4 gấp  
1,5 lần (7,47mg/L) cảm ứng gia tăng mật độ  
tế bào, trong khi sự tăng nồng độ CuSO4 gấp 2  
lần (3,14mg/L) cảm ứng sự gia tăng trọng  
lượng tươi và cả trọng lượng khô của vi tảo  
(Bảng 3, Hình 3).  
Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32 29  
Bảng 3  
Ảnh hưởng của kim loại nặng sau 3 ngày xử lý lên sự tăng trưởng của vi tảo sau 7 tuần nuôi cấy  
Xử lý  
Dầu sinh học  
(mg/mL)  
0,049a  
0,000  
Mật độ tế bào  
Trọng lượng  
tươi (mg/mL)  
Trọng lượng khô  
(x103 tb/ mL)  
(mg/mL)  
Đối chứng  
100,670b  
52,670c  
130,700b  
184,000a  
41,670c  
50,330c  
46,000c  
43,670c  
13,670c  
79,330bc  
137,330bc  
427,000a  
131,000bc  
77,000c  
159,670bc  
237,670b  
143,670bc  
103,670bc  
2,330b  
4,000b  
23,330a  
5,000b  
2,000b  
5,330b  
10,000b  
4,330b  
2,000b  
2,355  
3,14  
7,47  
9,96  
112,5  
150  
CuSO4  
(mg/L)  
0,080a  
0,080a  
0,083a  
0,000  
FeSO4  
(mg/L)  
MgSO4  
(mg/L)  
0,000  
0,000  
13,23  
7,64  
ZnSO4  
(mg/L)  
0,000  
Các chữ cái theo sau số trung bình trong cùng một cột khác nhau biểu hiện sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê ở mức P ≤ 0,05.  
10 µm  
10 µm  
10 µm  
C
F
A
B
E
H
10 µm  
D
10 µm  
10 µm  
10 µm  
G
10 µm  
10 µm  
L
Hình 3. Vi tảo sau 3 tuần được nuôi cấy trong bình chứa môi trường lỏng BB  
được sục khí và xử lý kim loại trong 3 ngày  
(A) Đối chứng: màu lục, vách mỏng (B) MgSO4 112,5mg/L: màu cam, vách dày  
(C) MgSO4 150mg/L: màu cam, vách dày (D) FeSO4 7,98mg/L: màu lục, vách mỏng  
(E) FeSO4 9,96mg/L: màu cam, vách dày (F) CuSO4 2,355mg/L: màu cam, vách mỏng  
(G) CuSO4 3,14mg/L: màu đỏ, vách rất dày (H) ZnSO4 13,23mg/L: màu lục  
(I) ZnSO4 26,46mg/L: màu lục với một số tế bào bị phân hủy  
30 Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32  
trường với NaCl ở nồng độ từ 0,9% đến 3%, tế  
bào vi tảo có màu đỏ, vách rất dày. Nồng độ  
muối càng cao, vách tế bào càng dày và rất nhiều  
tế bào bị phân hủy trong môi trường (Hình 4).  
Ảnh hưởng của NaCl  
NaCl 0,5%, làm tăng lượng dầu sinh học  
trích được so với đối chứng, nhưng làm giảm  
trọng lượng tươi và khô (Bảng 4). Trong môi  
Bảng 4  
Ảnh hưởng của NaCl ở các nồng độ khác nhau lên sự tăng trưởng của vi tảo trong bình chứa môi  
trường lỏng BB được sục khí sau 3 tuần xử lý  
NaCl  
(%)  
Trọng lượng tươi  
Trọng lượng khô  
Dầu sinh học  
(mg/mL)  
(mg/mL)  
(mg/mL)  
0,0025 (Đối chứng)  
12,000a  
6,870b  
2,500b  
3,330b  
1,400b  
3,070a  
1,040b  
1,630ab  
2,040ab  
2,380ab  
0,050b  
0,640a  
0,110b  
0,090b  
0,060b  
0,5  
0,9  
1,5  
3,0  
Các chữ cái theo sau số trung bình trong cùng một cột khác nhau biểu hiện sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê ở mức P ≤ 0,05  
10 µm  
10 µm  
A
B
10 µm  
C
D
Hình 4. Vi tảo sau 7 tuần nuôi cấy trong bình chứa môi trường lỏng BB được sục khí  
và xử lý với các nồng độ NaCl trong 3 tuần  
(A) 0,5%: màu lục (B) 0,9%: màu đỏ  
(C) 1,5%: màu đỏ (D) 3,0%: màu đỏ, vách dày, tế bào phân hủy nhiều  
Điều này có lẽ do cường độ ánh sáng chưa  
thích hợp. Quá trình thích nghi/đáp ứng với  
ánh sáng phụ thuộc vào quá trình quang hợp,  
thông qua nhiều biến đổi liên quan tới kiểu và  
số lượng các sắc tố, tăng trưởng vi tảo, hô hấp  
4. Thảo luận  
Các loại ánh sáng LED trắng, LED đỏ và  
LED xanh ở các thời gian xử lý khác nhau  
trong nghiên cứu này làm giảm sự tăng trưởng  
và không kích thích sự tích lũy lipid ở vi tảo.  
Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32 31  
tối và các acid béo cơ bản (Dubinsky và cộng  
sự, 1995). Bên cạnh cường độ, chu kỳ và phổ  
ánh sáng cũng có ảnh hưởng trên tảo. Phổ ánh  
sáng 300 - 400nm (gần tia UV) hoặc 400 -  
480nm (ánh sáng xanh lơ) tốt hơn 620 - 750nm  
(ánh sáng đỏ). Khi dùng ánh sáng đỏ cần bổ  
sung một ít photon của ánh sáng xanh lơ.  
Ngoài năng lượng, các thành phần đặc biệt của  
ánh sáng có tác động trong các quá trình điều  
hòa nội bào gồm: tổng hợp chlorophyll, sửa  
chữa hư hỏng do ánh sáng và phân chia tế bào.  
Nhiệt độ cao 50oC trong 2 giờ, không làm  
tế bào vi tảo chuyển đổi trạng thái và tăng  
tổng hợp lipid. Điều này chưa phù hợp với  
nghiên cứu của Lei và cộng sự (2012), nhiệt  
độ 42oC trong bốn ngày kích thích vi tảo tổng  
hợp acid béo. Có lẽ, trong nghiên cứu này,  
thời gian xử lý chưa đủ và vi tảo này được  
phân lập ở Việt Nam nên thích nghi với nhiệt  
độ cao. Nhiệt độ thấp 7 ± 3oC làm giảm sự  
tăng trưởng nhưng kích thích sự tích lũy lipid  
ở vi tảo. Lúc này, các tế bào vi tảo chuyển  
sang màu đỏ, vách tương đối dày. Sự tổng  
hợp astaxanthin vào lúc này có lẽ giúp vi tảo  
chống chịu với stress nhiệt độ (Bảng 2, Hình  
2). Nhiệt độ quá cao hay quá thấp ảnh hưởng  
đến sự tăng trưởng của vi tảo giống như ở  
thực vật. Nhiệt độ cao gây mất cân bằng giữa  
hô hấp và quang hợp. Quang hợp và hô hấp  
đều giảm nhưng quang hợp giảm nhanh hơn  
hô hấp. Nhiệt độ cao làm xáo trộn màng  
thylakoid trước khi giảm hoạt tính enzyme  
quang hợp. Nhiệt độ cao còn làm giảm tính  
bền của các màng tế bào. Tuy nhiên, một số  
sinh vật đơn bào có thể hoàn tất chu trình  
sống ở 50oC. Nhiệt độ thấp làm sự tăng  
trưởng bị chậm lại, thoát các chất hòa tan do  
làm giảm tính lỏng của màng plasma (Bùi  
Trang Việt, 2016).  
nhưng kích thích sự tích lũy lipid. Harker và  
cộng sự (1996), nghiên cứu ảnh hưởng của Fe  
ở nồng độ 36,0µM (gấp 2 lần) và 72,0µM  
(gấp 4 lần so với đối chứng là 18µM trong  
môi trường BB) trong 7 ngày cho thấy Fe  
36µM làm giảm nhẹ mật độ tế bào và tăng  
nhẹ tích lũy astaxanthin. Ngược lại, Fe 7,2µM  
làm giảm mật độ tế bào nhưng kích thích tích  
lũy astaxanthin ở vi tảo H. pluvialis. Như vậy,  
sắt có thể kích thích sự tăng trưởng hoặc sự  
tích lũy lipid và astaxanthin tùy theo nồng độ.  
Fe là thành phần của nhiều enzyme (hiện diện  
trong vòng porphyrin của cytochrome,  
catalase và peroxidase), và có vai trò quan  
trọng trong sinh tổng hợp chlorophyll (Bùi  
Trang Việt, 2016). Fe là khoáng vi lượng  
quan trọng cho sự tăng trưởng bình thường,  
chức năng quang hợp và hô hấp, hoạt động  
như chất xúc tác trong quang hợp, đồng hóa  
nitrogen (nitrogen assimilation) và các phản  
ứng chuyển electron ở sinh vật quang hợp  
(Terry và cộng sự, 1985). Thiếu hụt Fe làm  
giảm chuyển electron trong quang hợp dẫn tới  
sự hình thành NADPH. Tăng nồng độ Fe kích  
thích sự gia tăng lipid (Liu và cộng sự, 2008).  
CuSO4 gấp 2 lần giúp tế bào vi tảo tích lũy  
các chất khô, nhưng lượng dầu sinh học gia  
tăng nhưng không có ý nghĩa so với đối chứng  
(Bảng 3). Cu liên kết với plastocyanin,  
enzyme chuyển electron trong quang hợp (Bùi  
Trang Việt, 2016). Cu là một trong các kim  
loại gây độc (Cu, Ni, Fe, Zn) cho tế bào tảo ở  
nồng độ cao. Các kim loại này có thể ức chế  
cố định carbon và làm chậm hấp thu các chất  
dinh dưỡng (Rai và cộng sự, 1993).  
NaCl 0,5% kích thích tế bào vi tảo tạo  
lipid. Khi nồng độ NaCl cao hơn 0,9%, tế bào  
vi tảo chuyển sang trạng thái stress tạo nang,  
nội dung tế bào màu đỏ và vách tế bào rất dày  
(Bảng 4, Hình 4). Các kết quả nghiên cứu này  
phù hợp với nghiên cứu của Sarada và cộng  
sự (2002). Nồng độ NaCl cao gây cản tăng  
trưởng, xáo trộn cân bằng nước, và gia tăng  
áp suất thẩm thấu. Nhiꢀm muối (salinity) hay  
stress nồng độ muối cao (salinity stress), hiꢀm  
FeSO4 gấp 1,5 lần kích thích sự gia tăng  
mật độ tế bào và tích lũy lipid ở vi tảo. Tuy  
nhiên, sự gia tăng mật độ tế bào (184x103 tế  
bào/mL) không đi kèm với sự tích lũy chất  
khô (5,00mg/mL) (Bảng 3). FeSO4 gấp 2 lần  
không kích thích sự gia tăng mật độ tế bào  
32 Nguyễn T. Đ. Phương và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 62(5), 23-32  
sodium (sodicity) và stress nước (water stress)  
có liên quan chặt chẽ với nhau. Ở thực vật,  
nhiꢀm muối hay nhiꢀm sodium (Na+) cản tăng  
trưởng và quang hợp và gây xáo trộn cân bằng  
nước vì thế nước bên ngoài hệ thống thực vật  
bị hạ thấp (Bùi Trang Việt, 2016). Sự thay đổi  
nồng độ muối cao hơn hoặc thấp hơn điều  
kiện sống tự nhiên của tảo đều ảnh hưởng đến  
tăng trưởng và thay đổi thành phần, và nồng  
độ muối cao làm gia tăng thành phần lipid  
trong tảo (Zhila và cộng sự, 2011).  
5. Kết luận  
Ánh sáng đèn LED (liên tục hoặc gián  
đoạn) chưa kích thích sự tăng trưởng và tích  
lũy lipid ở vi tảo. Xử lý nhiệt độ 7 ± 3oC trong  
2 giờ, CuSO4 gấp 2 lần, FeSO4 gấp 1,5 hoặc 2  
lần hoặc xử lý NaCl 0,5% kích thích sự tích  
lũy lipid ở vi tảo  
Lời cảm ơn: Các tác giả xin chân thành cảm ơn phòng Công nghệ Tảo, Viện Công nghệ Sinh  
học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội đã cho phép sử dụng  
nguồn vật liệu này.  
Tài liệu tham khảo  
Bùi Trang Việt (2016). Sinh lý thực vật đại cương, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, đại học  
Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh.  
Dubinsky Z., Matsukawa R., & Karube I. (1995). Photobiological aspects of algal mass culture,  
J. Mar. Biotechnol., 2, 61-65.  
Harker M., Tsavalos A.J., & Young A.J. (1996). Factors responsible for astaxanthin formation in  
the chlorophyte Haematococcus pluvialis. Bioresource Technology, 55, 207-214.  
Lei A., Chen H., Shen G., Hu Z., Chen L., & Wang J. (2012). Expression of fatty acid synthesis  
genes and fatty acid accumulation in Haematococcus pluvialis under different stressors.  
Biotechnology for Biofuels, 5(18), 2-11.  
Liu Z.Y., Wang G.C., & Zhou B.C. (2008). Effect of iron on growth and lipid accumulation in  
Chlorella vulgaris. Bioresour. Technol., 99, 4717-4722.  
Nguyen Tran Dong Phuong, Lao Duc Thuan, Le Huyen Ai Thuy, & Bui Trang Viet (2016).  
Initial studies on Biotin carboxylase (BC) and acyl-acyl carrier protein thioesterase (FATA)  
genes in Haematococcus pluvialis Flotow. J Biotech 14(1A): 531-538 The 7th AFOB  
regional symposium (In English).  
Nguyꢀn Trần Đông Phương, Lê Huyền Ái Thúy, Bùi Trang Việt (2015). Ảnh hưởng cùa các chất  
điều hòa sinh trưởng thực vật lên sự sinh trưởng của vi tảo Haematococcus pluvialis Flotow.  
Tạp chí Công nghệ Sinh học, 13(2), 269-247.  
Rai L., & Mallick N. (1993). Heavy metal toxicity to algae under synthetic microcosm.  
Ecotoxicology, 2, 231-242.  
Sarada R., Tripathi U., & Ravishankar G.A. (2002). Influence of stress on astaxanthin production  
in Haematococcus pluvialis grown under different culture conditions. Process Biochemitry,  
37, 623-627.  
Terry N. , & Abadía J. (1986). Function of iron in chloroplasts. J. Plant. Nutr., 9, 609 - 646.  
Zhila N.O., Kalacheva G.S., & Volova T.G. (2011). Effect of salinity on biochemical composition  
of the alga Botryococcus braunii Kutz IPPAS H-252. J. Appl. Phycol., 23, 47-52.  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 9720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của một số nhân tố ngoại sinh lên sự tăng trưởng và tích lũy Lipid ở vi tảo Haematococcus pluvialis flotow", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_mot_so_nhan_to_ngoai_sinh_len_su_tang_truong_v.pdf