Ảnh hưởng của yếu tố vốn xã hội đến năng lực thoát nghèo bền vững của hộ gia đình dân tộc Mông tại tỉnh Thanh Hoá

No.20_Mar 2021| |p.197-202  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ VỐN XÃ HỘI ĐẾN NĂNG LỰC THOÁT  
NGHÈO BỀN VỮNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH DÂN TỘC MÔNG  
TẠI TỈNH THANH HOÁ  
Nguyễn Thị Duyên 1,*  
1Đại học Hồng Đức  
*Địa chỉ email: [email protected]  
Tóm tắt:  
Thông tin tác giả  
Bài viết phân tích sự tác động của vốn xã hội đến năng lực thoát nghèo của hộ  
gia đình dân tộc Mông tại tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Vốn xã hội được giới hạn  
nghiên cứu trong bài viết ở hai khía cạnh: Vốn xã hội tác động đến người lao  
động của hộ; thể hiện thông qua sự giúp đỡ của chính quyền các cấp (trung  
ương và địa phương). Nghiên cứu cũng mô tả: những nguồn hỗ trợ để phát huy  
năng lực thoát nghèo mà hộ gia đình dân tộc Mông nhận được, sự tham gia và  
đánh giá hiệu quả của người dân về các hoạt động hỗ trợ. Ngoài ra bài viết còn  
chỉ ra vai trò hỗ trợ của chính quyền các cấp trong quá trình hỗ trợ của người  
dân tộc Mông để vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo bền vững.  
Ngày nhận bài:  
07/12/2020  
Ngày duyệt đăng:  
22/02/2021  
Từ khóa:  
Vốn xã hội, hộ nghèo,  
năng lực thoát nghèo, dân  
tộc thiểu số  
1. Đặt vấn đề  
pháp cách thức mà các hộ gia đình đã thực hiện,  
Nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát được thực  
hiện từ năm 2018 – 2020 của đề tài “Nghiên cứu  
những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thoát nghèo  
bền vững của hộ gia đình dân tộc thiểu số miền núi  
tỉnh Thanh Hoá hiện nay”. Nghiên cứu được tiến  
hành phỏng vấn bán cấu trúc 400 đại diện hộ gia  
đình dân tộc Mông trong đó (nam giới chiếm 65%  
và 35% nữ giới; hộ nghèo chiếm 58,5% và 41,5%  
hộ thoát nghèo; Nghề nghiệp có 80% làm ruộng,  
4,5% trồng rừng, 2,5%buôn bán dịch vụ, 7% công  
nhân làm thuê; Học vấn có 20,5% không đi học,  
41,7% tiểu học, 30,8% trung học cơ sở, 9,2% trung  
học phổ thông, và 1% TC, CĐ, ĐH). Có 15 phỏng  
vấn sâu bổ sung thông tin cho các phân tích định  
lượng, (4 phỏng vấn dành cho cán bộ xã, thôn và 11  
phỏng vấn người dân). Nội dung phỏng vấn xoay  
quanh những thuận lợi và khó khăn, những biện  
nhưng mong muốn và đề xuất… của hộ gia đình  
trong quá trình phát triển kinh tế để vươn lên thoát  
nghèo và thoát nghèo bền vững.  
2. Nội dung nghiên cứu  
Năng lực thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc  
Mông chịu sự tác động chi phối của nhiều yếu tố  
khác nhau như: đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ,  
vốn vật chất để phát triển kinh tế xã hội, tài nguyên  
thiên thiên của hộ. Trong giới hạn của nghiên cứu  
này nhóm tác giả chỉ tập trung vào yếu tố nguồn  
vốn xã hội, đây là nhân tố quan trọng chi phối sự  
chuyển đổi cơ cấu việc làm, đa dạng hoá nguồn thu  
nhập của hộ gia đình dân tộc Mông. Có rất nhiều  
định nghĩa khác nhau về vốn xã hội nhưng điểm  
197  
N.T.Duyen/ No.20_Mar 2021|p.197-202  
chung của vốn xã hội là gắn liền với mạng lưới xã  
ham học hỏi và tiếp cận cái mới thì sẽ có nhiều cơ  
hội tiếp cận các nguồn vốn từ các cá nhân, tổ chức  
khác để nâng cao năng lực thoát nghèo cho hộ gia  
đình; Phong tục tập quán; Các thực hành tín  
ngưỡng tâm linh; Quan niệm về giới; Vai trò của  
người tiên phong, người có uy tín; các thiết chế phi  
chính thức tổ nhóm nông dân; dịch vụ công; Vai trò  
của doanh nghiệp; Tác động của các chính sách và  
chương trình-dự án giảm nghèo; cơ hội thị trường,  
bối cảnh rủi ro.  
hội, quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội được tạo ra  
thông qua việc đầu tư vào các quan hệ xã hội hoặc  
mạng lưới xã hội, các cá nhân có thể sử dụng vốn  
xã hội để tìm kiếm lợi ích riêng cho mình.  
Vốn xã hội là yếu tố quan trọng nói lên mối  
quan hệ của hộ trong sản xuất và trong xã hội, Gắn  
kết anh em, dòng họ; Uy tín hộ; mối quan hệ của hộ  
trong sản xuất và trong xã hội, nếu hộ có mối quan  
hệ gia đình, gắn kết cộng đồng tốt, có quan hệ rộng,  
Bảng 1. Phân tích hồi qui những nhân tố thuộc về vốn xã hội với biến dân tộc  
Hệ số hồi  
quy chưa  
tiêu chuẩn  
hoá(B)  
2.123  
Hệ số hồi  
quy đã  
Nhân tố  
phóng đại  
phương sai  
(VIF)  
Mức ý  
nghĩa  
(Sig.)  
Biến độc lập  
Giá trị t  
chuẩn hoá  
(Beta)  
Hằng số  
3.042  
.352  
.000  
.678  
.022  
Mối quan hệ của hộ với họ hàng  
Mối quan hệ với bạn bè  
.032  
.041  
1.463  
1.322  
-.143  
-.256  
-1.324  
Các tổ chức đoàn thể (Hội nông dân, Hội  
phụ nữ, Đoàn thanh niên...)  
.087  
.042  
-.134  
.055  
.056  
-123  
1.424  
1.566  
-2.100  
.564  
.054  
.011  
1.466  
1.546  
1.133  
Hộ đã chủ động tìm kiếm thị trường tiêu bao  
sản phẩm mình làm ra  
Năng lực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản  
phẩm mình làm ra của hộ  
Biến số phụ thuộc: Năng lực tiếp cận thị trường  
Dung lượng mẫu:400  
Giá trị F= 1.534  
Giá trị Sig = 0.23, với mức ý nghĩa 95% chứng tó yêu tố thiên tai dịch bệnh và thiếu tư liệu sản xuất có tác động  
đến năng lực thoát nghèo của hộ DT Mông  
Giá trị R2 điều chỉnh =0.62  
Giá trị Durbin Watson =.064  
Theo bảng 1 kết quả phân tích hồi qui đa biến  
cho giá trị Sig= 0,023, các biến đưa vào mô hình đề  
có độ phóng đại phương sai (VIF) nhỏ hơn nhiều so  
với 10, cho thấy các biến đưa vào mô hình không  
có hiện tượng đa cộng tuyến. Hệ số Durbin –  
Waston của mô hình là 0.64 chứng tỏ mô hình có  
sự tương quan. Hệ số R2 hiệu chỉnh của mô hình là  
62%, chứng tỏ mô hình hồi quy những nhân tố ảnh  
hưởng của năng lực tiếp cận thị trường của nghiên  
cứu đưa ra là phù hợp.  
các tổ chức hội đoàn: đoàn thanh niên, hội cựu  
chiến binh, hội phụ nữ Sig = 564, còn lại những  
nhân tố khác có ảnh hưởng đến năng lực thoát  
nghèo của hộ DT Mông. Năng lực tiếp cận thị  
trường tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào  
học vấn, nhóm tuổi, của người lao động trong hộ,  
hộ gia đình có nhiều lao động có độ tuổi thấp, sẽ có  
sức khoẻ tốt, học vấn cao có nhiều thuận lợi trong  
việc tiếp cận những yếu tố bên ngoài, dễ dàng mang  
hàng hóa của mình làm ra trao đổi với thị trường  
bên ngoài.  
Hai yếu tố không có ý nghĩa thống kê là mối  
quan hệ với họ hàng Sig=678; và mối quan hệ với  
198  
N.T.Duyen/ No.20_Mar 2021|p.197-202  
Bảng 2. Ảnh hưởng của những yếu tố thị trường đến năng lực thoát nghèo của hộ DT Mông  
Mức độ  
Tiêu chí  
Trung bình  
ảnh  
hưởng  
4
Tiếp cận thị trường giúp hộ có thêm kinh nghiệm trong sản xuất trồng trọt  
Tiếp cận thị trường giúp hộ có thêm kinh nghiệm chăn nuối  
Hộ đã chủ động tìm kiếm thị trường tiêu bao sản phẩm mình làm ra  
Năng lực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm mình làm ra của hộ  
Lập kế hoạch sản xuất và quản lý tài chính của hộ  
2.13  
3.02  
1.89  
2.03  
2.52  
2.53  
1
6
5
2
3
Chủ động than gia tích cực các phong trào do địa phương tổ chức  
Trung bình chung  
2.35  
Kết quả kiểm định phương sai ANOVA sự khác biệt về điểm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố chính sách  
đến nguồn lực con người của hộ DT Mông  
Thống kê F: 3.036  
Mức ý nghĩa thống kê: Sig: 0,003 >0,05 cho thấy có sự khác biệt giữa 6 nhóm dân tộc về những nhân tố liên  
quan đến tiếp cận thị trường.  
Kết quả phân tích số liệu điều tra nghiên cứu đề tài 2018 -2020  
Theo kết quả tính giá trị trung bình cho thấy các  
hộ đánh giá ở mức ảnh hưởng của những nhân tố  
thị trường đến năng lực thoát nghèo của hộ DT  
Mông trước hết giúp hộ có thêm kinh nghiệm chăn  
nuôi (3.02), lập kết hoạch sản xuất và quản lý tài  
chính của hộ (2.52), chủ động tham gia tích cực các  
phong trào do địa phương tổ chức (2.53)… trung  
bình của DT Môngg là 2.35, kết quả này có thể  
nhận định năng lực tiếp cận thị trường chung của  
hộ DT Mông đạt mức yếu, cũng chứng minh mặt  
bằng chung nguồn vốn xã hội của các hộ còn hạn  
chế. Mối quan hệ xã hội, tình làng, nghĩa xóm rất  
mật thiết, phong trào tương trợ, góp sức giúp hộ có  
thêm năng lực thoát nghèo và thoát nghèo bền  
vững, mặt khác sẽ luôn được phát huy, tinh thần,  
dân chủ ở xóm được đẩy mạnh, qua đó có khả năng  
hợp tác, hỗ trợ nhau trong cuộc sống cũng như  
trong sản xuất. Cùng nhau chia sẻ thông tin, vận  
động, tuyên truyền các quy ước, hủ tục lạc hậu, mê  
tín dị đoan bị bãi bỏ.  
Tuy nhiên mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội  
của hộ nghèo còn thấp, sự hỗ trợ của chính quyền  
các cấp và chính quyền địa phương mới chủ yếu tập  
chung vào lĩnh như cung cấp thông tin, thiếu hỗ trợ  
về kỹ thuật, trong khi đó nhu cầu của hộ như hướng  
dẫn kỹ thuật, thông tin tiếp cận thị trường … lại  
không được quan tâm.  
Biểu 1. Hộ đã chủ động đề nghị chính quyền các cấp bổ sung thêm tư liệu sản xuất để phát triển kinh tế hộ  
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018  
Chỉ một bộ phận nhỏ đại diện gia đình cho rằng  
để vươn lên thoát nghèo hộ được bổ sung thêm tư  
liệu sản xuất để làm ăn, hiện trạng này liên quan  
đến chính sách đất đai của nhà nước, việc chia đất  
và giao đất được thực hiện trong một thời gian dài,  
gần như là giao quyền sử hữu vĩnh viễn, đây là một  
199  
D.T.Hung et al/ No.20_Mar 2021|p.192-196  
trong những hạn chế lớn trong việc phát huy khả  
dạng hóa ngành nghề để tạo thu nhập rất hạn chế,  
do đó đất là tư liệu quan trọng nhất, họ chỉ có thể  
phát huy được hết tinh lực của mình nếu có đất có  
rừng…  
năng thoát nghèo của người dân. Đối với các hộ gia  
đình dân tộc Mông, sinh kế chính của họ là nông –  
lâm nghiệp, lại không có nghề phụ, khả năng đa  
Biểu 2. Chủ động học hỏi nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm để vươn lên thoát nghèo  
Nguồn: Kết quả khảo sát của đề tài, 2018  
Kỹ năng kinh nghiệm là một trong những yếu tố  
văn hóa sản xuất tiêu dùng mới, cách thức làm ăn mới,  
cơ hội mới được du nhập, và phù hợp với bối cảnh  
hiện tại, do đó cần phải trang bị những kiến thức, kinh  
nghiệm, kỹ năng mới cho cộng đồng dân tộc.  
quan trọng để phát huy năng lực thoát nghèo, có  
41% số đại diện hộ gia đình dân tôc Mông cho rằng  
nghèo do thiếu kỹ năng kinh nghiệm là hoàn toàn  
đúng, có 26% cho rằng đúng. Từ thực trạng này  
Đảng nhà nước, các hội đoàn cần trang bị, và tạo  
điều kiện để người dân được tập huấn, trang bị  
những kiến thức, kỹ năng để vươn lên thoát nghèo.  
Trong nền kinh tế thị trường, sự giao thoa các dòng  
người, nhóm người,…nhiều giá trị văn hóa, tri thức  
bản địa, và mô hình sinh kế truyền thống tỏ ra  
không còn phù hợp, ngược lại nhiều tri thức mới,  
Một trong những dạng tiên phong phổ biến và  
hiệu quả nhất đối với cộng đồng người dân tộc  
thiêu số nói chung và người Mông nói riêng là áp  
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đó là những  
giống mới, kỹ thuật mới (hoặc kỹ thuật cải tiến dựa  
trên tri thức bản địa) nhằm nâng cao hiệu quả của  
các mô hình sản xuất của nông hộ.  
Biểu 3. Nhận định về năng lực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm của hộ nghèo DT Mông (%)  
Không tốt  
Không tốt một phần  
Tốt một phần  
Tốt  
Rất tốt  
11%  
9%  
52%  
16%  
12%  
Kết quả phân tích số liệu điều tra nghiên cứu đề tài 2018 -2020  
200  
N.T.Duyen/ No.20_Mar 2021|p.197-202  
Kiểm đinh Chi – Squase cho giá trị Sig =  
trường của hộ gia đình nghèo chưa tốt, hoặc chưa  
tốt một phần chiếm tỷ lệ cao, gược lại số hộ có  
năng lực tốt và rất tốt chiếm tỷ lệ khiêm rất khiêm  
tốn.  
0,023<0,05 với mức ý nghĩa 95% chứng tỏ năng  
lực tiếp cận thị trường của hộ nghèo và yếu tố dân  
tộc có mối tương quan. Năng lực tìm kiếm thị  
Biểu 4. Nhận định về việc chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm của hộ thoát nghèo  
Kết quả phân tích số liệu điều tra nghiên cứu đề tài 2018 -2020  
Kiểm đinh Chi – Squase cho giá trị Sig =  
0,011<0,05 với mức ý nghĩa 95% hai biến số này  
có mối tương quan, tỷ lệ người dân chưa chủ động  
tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm còn cao, xuất  
phát tư tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, xem  
nghèo là bình thường. Tuy nhiên đây là một công  
đoạn quan trọng quyết định quá trình sản xuất thành  
công hay thất bại của nông hộ, Do đó việc chủ động  
tìm kiếm việc làm bên ngoài là có ảnh hưởng nhiều  
đến năng lực thoát nghèo và thoát nghèo bền vững  
của hộ.  
Biểu 5. Hộ nghèo mong muốn được sự hỗ trợ của bạn bè để vươn lên thoát nghèo  
Kết quả phân tích số liệu điều tra nghiên cứu đề tài 2018 -2020  
3. Kết luận  
Kiểm đinh Chi – Squase cho giá trị Sig =  
0,035<0,05 với mức ý nghĩa 95% chứng tỏ sự hỗ  
trợ của bạn bè có mối tương quan với năng lực  
thoát nghèo của hộ DT Mông. Tỷ lệ người trả  
lời thừa nhận mong muốn sự giúp đỡ của bạn bè  
để vươn lên thoát nghèo là đúng và hoàn toàn  
đúng chiếm tỷ lệ cao, sự giúp đỡ này là chia sẻ  
trao đổi kỹ năng kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ  
đổi ngày công; giống cây trồng, vật nuôi….để  
các hộ nâng cao những kỹ năng kinh nghiệm  
vươn lên thoát nghèo.  
Vốn xã hội được sử dụng để phát huy năng lực  
thoát nghèo của hộ gia đình dân tộc Mông còn  
nhiều hạn chế, người dân còn thụ động, ỷ lại,  
trông chờ vào các chính sách chương trình của nhà  
nước, nhiều nông hộ nhất là nhóm hộ nghèo chưa  
chủ động tìm kiếm việc làm bên ngoài địa  
phương, năng lực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản  
phẩm còn nhiều hạn chế, nhất là nhóm hộ nghèo  
(hơn 70%) số hộ tự nhận không tốt hoặc mới tốt  
một phần…., nhìn chung những hộ đã thoát được  
nghèo và trở lên giàu có đều có vốn xã hội tương  
201  
N.T.Duyen/ No.20_Mar 2021|p.197-202  
đối tốt, họ kết hợp làm tương đối nhiều nghề để  
2. Project “ Stabilizing production, life and  
socio- economic development in Mong ethnic  
villages, Quan Son district, Thanh Hoa province”;  
for the period 2016 - 2020  
tạo thu nhập cho hộ.  
Phần lớn hộ dân tộc Mông có nguồn vốn xã hội  
tương đối hạn chế, cụ thể như năng lực vay vốn sử  
dụng vốn, năng lực tìm kiếm việc làm bên ngoài,  
năng lập kế hoạch và định hướng chiến lược phát  
triển kinh tế hộ còn rất hạn chế, tự đánh nhận đình  
hộ dân tộc Mông cho rằng mới tốt một phần chiếm  
tỷ lệ cao (hơn 40% hộ thoát nghèo và 28,9% hộ  
nghèo), tỷ lệ hộ nghèo nhận định những năng lực  
về nguồn vốn xã hội chưa tốt chiếm tỷ lệ cao,  
51,6% hộ nghèo cho rằng có năng lực học hỏi kinh  
nghiệm làm ăn không tốt, và 56% hộ dân tộc Mông  
đồng ý với nguyên nhân nghèo vì thiếu kinh  
nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp…thực tế này ảnh  
hưởng rất lớn đến việc phát huy năng lực thoát  
nghèo của hộ.  
3. Project “ Stabilizing production, life and  
socio- economic development in Mong ethnic  
villages, Mong Lat district, Thanh Hoa province”  
for the period 2016 – 2020;  
4. Project of Stabilizing production, life and  
socio- economic development of the Mong people,  
Thanh Hoa province up to 2020;  
5. Policy scheme to support proverty reduction  
for communes with high poverty rate in  
mountainous areas, not in the list of communes  
with special difficulties (Program 135) of Thanh  
Hoa province, period 2015-2020;  
6. Resolution No. 09-NQ/TU of the Provincial  
Party Committees Executive Committee on  
strengthening leadership for fast and sustainable  
poverti reduction in mountainous districts of Thanh  
Hoa by 2020.  
REFERENCES  
1. The central programs to implement the  
Resolution of the XVIII Provincial Party Congress,  
the Party Committee of Thanh Hoa Province, 2016;  
EFFECTS OF SOCIAL CAPITAL FACTORS ON CAPACITY TO  
ESCAPE POVERTY OF THE MONG HOUSEHOLDS  
IN THANH HOA PROVINCE  
Nguyen Thi Duyen1,*  
1Hong Duc University, Viet Nam  
Article info  
Abstract  
The paper analyzes the impact of social capital on H'mong households’ capability  
to escape poverty in Thanh Hoa Province today. Social capital in the article is  
limited in two aspects: Social capital affects workers of the household; manifesting  
through the assistance of governments at all levels (central and local). The study  
also describes: the supporting sources to promote the capacity to escape poverty  
H'mong households receive, the citizens’ participation and evaluation of the  
effectiveness in supporting activities. Additionally, the article also shows the  
supporting role of governments at all levels in the process of supporting the Mong  
to get out of poverty and out of poverty sustainably.  
Recieved:  
07/12/2020  
Accepted:  
22/02/2021  
Keywords:  
Social capital, poor  
households, capacity to  
escape poverty, ethnic  
minorities.  
202  
pdf 6 trang baolam 25460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của yếu tố vốn xã hội đến năng lực thoát nghèo bền vững của hộ gia đình dân tộc Mông tại tỉnh Thanh Hoá", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_yeu_to_von_xa_hoi_den_nang_luc_thoat_ngheo_ben.pdf