Biến đổi cấu trúc và chức năng gia đình của người Châu Ro ở Đồng Nai trong bối cảnh công nghiệp hóa
59
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG GIA ĐÌNH
CỦA NGƢỜI CHÂU RO Ở ĐỒNG NAI TRONG
BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA
NGUYỄN TẤN DÂN*
Dưới tác động của quá trình biến đổi kinh tế - xã hội và hội nhập, những biến đổi
diễn ra trong gia đình là một xu hướng tất yếu ài viết đ cập đến những biến
đổi v cấu trúc và chức năng gia đình ở người Châu Ro t i xã Túc Trưng, huyện
Định Quán, tỉnh Đồng Nai Cơ cấu gia đình của người Châu Ro có xu hướng
chuyển từ gia đình nhi u thế hệ thành các gia đình h t nhân; tự do hôn nhân và
sự cởi mở trong việc kết hôn với những tộc người khác và khác tôn giáo ngày
càng phổ biến và được chấp nhận n c nh đó, quá trình cộng cư với người
Kinh, cùng với việc di cư đến các nơi khác, nhất là ở các thành phố lớn để học
tập và làm việc hiện nay đã làm thay đổi các chức năng kinh tế, văn hóa, giáo
dục của gia đình người Châu Ro.
Từ khóa: biến đổi, gia đình, chức năng gia đình, người Châu Ro
Nhận bài ngày: 16/11/2020; đưa vào bi n tập: 17/11/2020; phản biện: 18/11/2020;
duyệt đăng: 30/11/2020
1. DẪN NHẬP
tính đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai, có khoảng 16.169 người
Châu Ro, chiếm 8,55% nhân khẩu là
đồng bào dân tộc thiểu số, xếp thứ 4
trong gần 40 thành phần dân tộc trong
tỉnh.
Người Châu Ro là một trong những
dân tộc ít người bản địa cư trú lâu đời
ở vùng trung du Đông Nam Bộ, tập
trung và đông nhất là ở Đồng Nai, một
số ít ở Bình Phước, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Bình Thuận và rải rác ở các tỉnh Từ năm 1975 đến nay, c những công
thành khác. Theo số liệu thống kê, trình nghiên cứu và tài liệu đề cập đến
văn h a, kinh tế, xã hội của người
Châu Ro, cụ thể như: Những vấn đ
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
v dân tộc học mi n Nam Việt Nam
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…
60
(Ban Dân tộc học - Viện Khoa học Xã hôn nhân (không có quan hệ huyết
hội tại TPHCM, 1978); Các dân tộc ít
người ở Việt Nam (các tỉnh phía
Nam) (Viện Dân tộc học, 1984); Vấn
đ giao lưu và biến đổi văn hóa của
người Châu Ro ở Đồng Nai trong giai
đo n hiện nay của (Lâm Nhân, 2009);
Tri thức bản địa của các tộc người
thiểu số ở Đông Nam ộ (2016) của
nhóm tác giả Ngô Văn Lệ, Huỳnh
Ngọc Thu và Ngô Thị Phương Lan đề
cập tới cơ cấu tổ chức, chức năng gia
đình của người Châu Ro ở Đồng Nai
và Bà Rịa - Vũng Tàu. Một số bài viết
về mảng đề tài này có: Chuyển đổi tín
ngưỡng, tôn giáo trong các cộng đồng
dân tộc thiểu số t i mi n Đông Nam
Bộ (2018) của Phan Thị Yến Tuyết,
Biến đổi văn hóa của các cộng đồng
tộc người thiểu số ở Đông Nam ộ
(2015) của Trần Hạnh Minh Phương.
Nhìn chung, các công trình đã tìm
hiểu khái quát về văn h a, biến đổi
văn h a, tôn giáo… nhưng chưa c
công trình nào đi sâu nghiên cứu
những biến đổi cấu trúc và chức năng
gia đình người Châu Ro trong bối
cảnh công nghiệp hóa.
thống) vừa bằng quan hệ huyết thống
(theo dòng mẹ hoặc dòng bố). Gia
đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi
cùng với sự phát triển của xã hội”.
Định nghĩa vừa nêu hàm ý gia đình
cũng là một định chế có tính truyền
thống quy định các kiểu tổ chức
những người có quan hệ huyết thống
(ông bà, cha mẹ, con, cháu, chắt về
phía mẹ hoặc về phía cha) và quan hệ
hôn nhân (con dâu hay con rể). Các
mối quan hệ của các thành viên trong
gia đình làm nảy sinh hàng loạt vấn đề
cũng mang tính định chế như ly dị và
chia tài sản sau khi ly dị, sự khác biệt
trong việc thừa kế tài sản giữa con trai
và con gái khi cha mẹ qua đời, ai có
trách nhiệm nuôi dưỡng và thờ cúng
cha mẹ… cũng như mối quan hệ với
dòng họ.
Công trình Nhập môn xã hội học
(1993) nhấn mạnh đến tính phổ biến
của loại hình gia đình hạt nhân trong
xã hội hiện đại và những khảo sát
thực tế của đề tài này cũng đã cho
thấy sự phổ biến loại hình gia đình hạt
nhân.
CẤ C CHỨC NĂNG GIA
ĐÌNH
Lo i hình gia đình h t nhân: là gia
đình gồm cha mẹ và con cái chưa lập
gia đình (kể cả hộ chưa c con).
Từ điển bách khoa Việt Nam (2002,
tập 2: 84) định nghĩa: “gia đình là thiết
chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp
những thành viên khác giới, thông
quan hôn nhân để thực hiện các chức
năng sinh học, kinh tế, văn h a, xã hội,
tín ngưỡng,... Khi gia đình đã c con
thì các thành viên trong gia đình được
Lo i hình gia đình mở rộng: Các hộ
gia đình gồm thành viên của một gia
đình hạt nhân và những người khác
không có vợ hoặc có chồng cùng
sống chung với gia đình hạt nhân.
Lo i hình gia đình gh p chung hay đ i
kết hợp với nhau vừa bằng quan hệ gia đình: là các hộ có thành viên tạo
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020
61
thành hai hay nhiều gia đình hạt nhân. dọc qua xã và là điểm đầu của tỉnh lộ
Đây là loại gia đình phổ biến con cái DT763, đây là một trong những xã c
đã lập gia đình c con hay chưa c lợi thế giao thông nhất huyện. Cơ cấu
con cùng sống chung với cha mẹ và kinh tế là nông nghiệp - thương
anh em.
mại/dịch vụ - công nghiệp. Năm 2020,
xã đã hoàn tất nhiệm vụ xây dựng
nông thôn mới và chuyển đổi cơ cấu
cây trồng hiệu quả.
Lo i hình gia đình “không cấu thành
gia đình h t nhân”: là những hộ mà
trong đ các thành viên không có
quan hệ vợ chồng và không có quan Xã Túc Trưng c 9 ấp, người Châu
hệ sinh thành
Ro sống tập trung tại 4 ấp gồm: ấp
Quyết Thắng 1, ấp Quyết Thắng 2, ấp
Đồng Soài và ấp Suối Dzui. Hiện nay
Xã Túc Trưng là xã nằm trong khu
vực đô thị hóa nhanh, nằm gần các
khu công nghiệp và cụm công nghiệp
của tỉnh Đồng Nai, nằm gần hai trung
tâm thị trấn của hai huyện lỵ là thị trấn
Dầu Giây, huyện Thống Nhất và thị
trấn Định Quán, huyện Định Quán
Lo i hình gia đình một thành viên: là
những hộ chỉ có duy nhất một thành
viên.
Chức năng gia đình được phân chia
tùy quan điểm của từng học giả. Theo
giáo trình Nhân học đ i cương, chức
năng gia đình gồm: (i) chức năng tái
sản xuất con người, (ii) chức năng
kinh tế và (iii) chức năng văn h a -
giáo dục (Khoa Nhân học, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TPHCM, 2013: 374-375).
Một số phƣơng pháp thu thập tƣ liệu
Để đảm bảo tính khách quan khi tìm
hiểu về gia đình người Châu Ro ở xã
Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh
Đồng Nai có sự biến đổi về cấu trúc
và chức năng, chúng tôi thực hiện
phỏng vấn bằng bảng hỏi 70 hộ gia
đình. Đối tượng chọn mẫu là hộ gia
đình và cách thức chọn mẫu ngẫu
nhiên có hệ thống.
3 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa bàn nghiên cứu:
Xã Túc Trưng c 4 tộc người sinh
sống, người Kinh chiếm đa số (gần
70% dân số), kế đến là người Châu
Ro (chiếm 30% dân số), người Nùng
(Hoa Nùng): 10 hộ, người Mường: 6
hộ, xã tập trung đông cộng đồng
người Châu Ro nên đề tài chọn xã
Túc Trưng làm địa bàn nghiên cứu.
Trong đ , chọn 10 hộ phỏng vấn cả
nam và nữ là chủ hộ hay vợ chồng
của chủ hộ nhằm tìm hiểu các vấn đề
thuộc về quan niệm như: chuẩn mực
về gia đình; vai trò nam nữ trong gia
đình, những biến đổi trong cuộc sống
gia đình, kinh tế, giáo dục so sánh
Xã Túc Trưng thuộc huyện Định Quán,
tỉnh Đồng Nai, phía bắc giáp sông
Đồng Nai và xã La Ngà, phía nam
giáp xã Phú Túc, phía đông giáp xã
Túc Sơn, phía tây giáp sông Đồng Nai giữa truyền thống và hiện nay. Để dễ
và xã Phú Cường; quốc lộ 20 chạy
dàng thu thập được thông tin, nội
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…
62
dung phỏng vấn sâu được xây dựng dự án, gồm các dự án: giao thông,
thủy lợi, khu dân cư, tái định cư, khu
công nghiệp, cụm công nghiệp; đồng
thời đang thực hiện thu hồi khoảng
4.056ha đất. Theo Nghị quyết số
196/2019/NQ-HĐND của Hội đồng
nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc thông
qua danh mục các dự án thu hồi đất,
các trường hợp chuyển đổi mục đích
chuyển mục đích sử dụng đất đối với
đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và
các dự án điều chỉnh quy mô, địa
điểm thực hiện năm 2020 trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai, tỉnh đã thông qua danh
mục Danh mục 100 dự án thu hồi đất
với tổng diện tích là 426,10ha, và 102
trường hợp được chuyển mục đích sử
dụng đối với đất trồng lúa, đất rừng
phòng hộ, với tổng diện tích 385,84ha.
Việc thu hẹp diện tích đất - mất đất
nông nghiệp đồng nghĩa với việc thu
hẹp đất sản xuất. Trước đây người
Châu Ro có nhiều đất sản xuất nông
nghiệp, nhưng hiện nay c đến 90%
số hộ không c đất sản xuất.
theo một trình tự: khoảng thời gian
xảy ra sự thay đổi về gia đình, xã hội
và những biểu hiện của n như thế
nào? Đánh giá của chính bản thân
người dân cộng đồng về nguyên nhân
thay đổi và những tác động đến đời
sống.
Ngoài ra, quan sát các hoạt động sản
xuất trong gia đình, cộng đồng để thấy
được những biểu hiện, những thay đổi,
những hoàn cảnh cụ thể.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Khái quát về quá trình công
nghiệp hóa ở Đồng Nai những năm
gần đây
Quá trình công nghiệp h a, đô thị hóa
tại Đồng Nai đã g p phần hình thành
các khu đô thị, ra đời các khu công
nghiệp, khu chế xuất, tạo nên sự biến
đổi cơ cấu ngành nghề, nhưng đồng
thời đã thu hẹp diện tích đất nông
nghiệp, số hộ gia đình nông dân
không c đất sản xuất tăng, số người
thất nghiệp ngày càng nhiều. Theo số
liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường
Đồng Nai, trong giai đoạn 2018-2020
tỉnh Đồng Nai triển khai thực hiện 227
Mặt khác, việc đẩy mạnh công nghiệp
h a đã tạo ra công ăn việc làm và góp
phần lớn vào việc thực hiện công
bằng xã hội. Nhờ đ , đời sống kinh tế -
Hình 1. Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh 2010)
(*) Số liệu 6 tháng đầu năm 2020.
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, 2018, 2019 và 6 tháng đầu năm 2020.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020
63
xã hội của tỉnh đã c sự biến đổi họ khác nhau và phần lớn là có mối
nhanh ch ng. Trước hết đ là sự biến quan hệ họ hàng với nhau. Như vậy
đổi của cơ cấu ngành nghề. Đồng thời, với cấu trúc nhà ở là nhà dài đã tạo
quá trình phát triển kinh tế cũng đạt nên cơ cấu gia đình của người Châu
được những bước tăng trưởng đáng Ro truyền thống là gia đình nhiều thế
kể.
hệ cùng chung sống với nhau. Mỗi gia
đình lớn thường có một ông đầu
nhang phụ trách các nghi lễ, công việc
chung. Nếu người này mất thì con trai
trưởng sẽ lên thay thế (Lâm Nhân,
2007).
Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã
hội tỉnh Đồng Nai năm 2018, 2019 và
6 tháng đầu năm 2020 thì tổng sản
phẩm quốc nội (GRDP) năm 2018 đạt
102,32 triệu đồng, tăng 8,84 so năm
trước. Năm 2019, đạt 113,7 triệu
đồng, tăng 9,69 so năm 2018. Như
vậy, quá trình công nghiệp h a đã thu
được nhiều thành tựu về phát triển
kinh tế - xã hội và tạo ra những
chuyển biến mạnh mẽ về xã hội. Tuy
nhiên, những chuyển biến đ không
thể không tác động sâu sắc đến thiết
chế gia đình - một thiết chế bền vững,
lâu đời nhưng cũng hết sức nhạy cảm
với những đổi thay của xã hội.
Từ năm 1997, người Châu Ro được
Nhà nước khuyến khích tập trung
sống định canh, định cư. Nhà nước
cho xây dựng nhà theo chương trình
134, 135, xây dựng khu định cư, cấp
đất định canh. Dần dần, người Châu
Ro bỏ tập quán du canh du cư để ổn
định cuộc sống (Trần Hạnh Minh
Phương, 2015). Từ đây, dưới sự tác
động từ thể chế chính sách nhà nước
đối với việc phát triển kinh tế - xã hội
của đồng bào dân tộc thiểu số trong
đ c dân tộc Châu Ro, cấu trúc gia
đình của người Châu Ro có nhiều
biến chuyển và đổi thay. Từ việc sống
tập trung nhiều thế hệ trong các gia
đình lớn ở nhà dài chuyển dần thành
mô hình gia đình hạt nhân. Từng hộ
gia đình nhỏ được xác lập, vai trò của
người đàn ông được coi trọng trong
gia đình. Về mặt xã hội, người Châu
Ro sống theo khuôn khổ và tuân thủ
hệ thống chính quyền Nhà nước, mọi
người đều bình đẳng theo hiến pháp,
pháp luật.
4.2. Những biến đổi về cấu trúc gia
đình ngƣời Châu Ro
4.2.1. Biến đổi về quy mô hộ gia
đình
Trước đây, người Châu Ro cư trú
thành từng làng (bon/palây). Làng là
một công xã thị tộc, mọi người trong
làng đều có quan hệ huyết thống.
Thậm chí, làng còn là một công xã gia
đình (cả làng là một nhà) hoặc là một
làng đại tông tộc (một làng có nhiều
nhóm tông tộc). Mỗi làng thường có từ
một hay nhiều nhà sàn dài, mỗi nhà
dài 40-50m thậm chí có nhà dài 100m.
Trong nhà dài có nhiều gia đình, bao Từ nửa sau thế kỷ XX do ảnh hưởng
gồm các thế hệ của một dòng họ. của các yếu tố như: người Kinh mua
Trong một làng thường có nhiều dòng
đất trồng cao su, chính sách di dân,
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…
64
quá trình công nghiệp hóa nên chế độ 4.2.2. Biến đổi trong quan hệ gia đình
đại gia đình của tộc người Châu Ro
Trong chế độ thị tộc, mối quan hệ
dần tan rã, hình thành nên những tiểu
giữa các thành viên trong gia đình
gia đình vốn xuất thân là những gia
được củng cố bằng chế độ gia trưởng
đình hạt nhân, gia đình tế bào trong
người chủ nhà dài. Theo đ , c hơn 4
cấu trúc gia đình trước đây. Bởi vì, gia
đình hạt nhân có nhiều ưu điểm hơn
một số hình thái gia đình khác, nó
như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ và
có khả năng thích ứng nhanh với các
biến chuyển của xã hội. Cùng với sự
phát triển đ , trong sinh hoạt gia đình
đã xuất hiện chế độ phụ hệ. Hiện nay,
gia đình người Châu Ro là tế bào độc
lập, gồm chồng vợ và con cái, không
còn tập trung nhiều thế hệ. Con cái
khi lập gia đình thường tách hộ mới.
Gia đình hạt nhân có sự độc lập về
kinh tế và mỗi thành viên trong gia
đình c khoảng không gian tự do để
phát triển. Đời sống xã hội hiện nay
của người Châu Ro tiếp xúc và tiếp
biến với văn h a của các cộng đồng
dân tộc khác, chủ yếu là người Kinh,
điều đ cũng c nhiều tác động tích
cực đến nhiều mặt của đời sống cộng
đồng.
mối quan hệ cơ bản của gia đình (vợ -
chồng; cha - con, anh - em, ông -
cháu) tuân theo một tôn ti, trật tự chặt
chẽ. Nhưng theo thời gian, mối quan
hệ trên đã dần thay đổi đáng kể, thể
hiện qua sự bình đẳng hơn giữa các
thế hệ, “kính trên nhường dưới” cùng
tự do cá nhân được đề cao. Điều này
được thể hiện r n t qua sự lựa chọn
hôn nhân, kết hôn với tộc người khác
của cá nhân trong gia đình. Với câu
hỏi ai là người quyết định hôn nhân
của anh/chị, có 89,13% ý kiến cho
rằng bản thân tự quyết định; 4,35% ý
kiến cho rằng cha mẹ quyết định, như
có hỏi ý kiến; 2,17% ý kiến là do ông
bà cha mẹ quyết định; 4,35% ý kiến
khác. Với câu hỏi ông bà c đồng ý
cho con cháu kết hôn với dân tộc khác
hay khác tôn giáo không, trong 70
người được khảo sát thì có tới 68
người trả lời đồng ý cho con cháu kết
hôn khác tộc người, chiếm 97,1%;
91,3% nữ và 89,1 nam đồng ý cho
con cái kết hôn với người khác tôn
giáo. Số liệu cho thấy một xu thế phổ
biến trong việc quyết định kết hôn của
người Châu Ro là do bản thân con cái
quyết định. Tự do hôn nhân là quan
điểm phù hợp với thời đại văn minh.
Chế độ một vợ một chồng đã được
thiết lập từ lâu trong xã hội người
Châu Ro và vợ chồng chung sống với
nhau hòa thuận.
Theo kết quả khảo sát hộ gia đình tộc
người Châu Ro tại xã Túc Trưng,
huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai vào
tháng 6/2020 thì số nhân khẩu trung
bình là 5,1 người/hộ. Số nhân khẩu
phổ biến nhất là 5 người/hộ. Tỷ lệ
người trong độ tuổi lao động chiếm
59,44 , dưới tuổi lao động chiếm
28,61 , trên độ tuổi lao động chiếm
11,94 . Điều này cho thấy, dân số
trong tộc người Châu Ro hiện nay chủ
yếu là dân số trẻ.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020
65
Hiện nay số lượng con cái trong một khít, chặt chẽ thì giờ đây c phần mờ
hộ gia đình c xu hướng giảm, thu nhạt hơn vì mỗi gia đình phải lo toan
cho gia đình của mình nên cũng
không trợ giúp được nhiều cho anh
chị em, họ hàng.
nhập của gia đình lại tăng lên nên cha
mẹ c điều kiện nuôi con tốt hơn. Tuy
nhiên có những cha mẹ chiều chuộng
con quá mức và nhiều trường hợp
cha mẹ đi làm suốt ngày, phần lớn ở
xa nhà, ít có thời gian ở gần con,
chăm s c và theo d i việc học tập, vui
chơi của con cái. Sự tiếp xúc giao lưu
văn h a với các dân tộc cùng cư trú
cũng dẫn đến sự thay đổi ứng xử theo
truyền thống của gia đình, không ít
con cái c xu hướng muốn tách khỏi
sự kiểm soát của cha mẹ mặc dù còn
đi học, chưa trưởng thành. Vì những
lý do trên mà mối quan hệ giữa cha
mẹ và con cái trong một số gia đình
của người Châu Ro hiện nay trở nên
khá lỏng lẻo và từ đ phát sinh ra
nhiều vấn đề cho gia đình, cộng đồng
và xã hội.
“Cũng c hỗ trợ nhau, mà cuộc sống
của anh chị em cũng trung bình thôi
nên giúp thì giúp ít thôi chứ không
giúp nhiều. Nói chứ mình cũng phải tự
sống thôi, anh em không giúp gì
nhiều” (PVS, nam, 40 tuổi, xã Túc
Trưng).
Mặt khác, dưới tác động công nghiệp
hóa tạo nên sự chuyển đổi nghề
nghiệp từ nông nghiệp định canh định
cư đến việc di chuyển đến các địa
phương khác nhất là những thành phố
lớn để sinh sống, học tập và làm việc
đã làm thay đổi mối quan hệ họ hàng,
thân tộc của những người trong cộng
đồng này. Tính di động xã hội đang
diễn ra mạnh mẽ trong cộng đồng vốn
Đồng thời, tác động của quá trình trước đây sống quây quần trong làng,
công nghiệp hóa và hiện đại hóa, sự dưới nhà dài, nhưng từ sau chính
sách tách hộ của nhà nước cùng với
làn sóng công nghiệp h a đã đưa đến
những chuyển biến mạnh mẽ về mọi
mặt trong đời sống xã hội của người
Châu Ro. Mối quan hệ họ hàng hiện
nay được chuyển qua một hình thức
mới, phần lớn là gián tiếp qua các
phương tiện liên lạc. Họ thỉnh thoảng
gặp nhau, đoàn tụ gia đình vào những
ngày đặc biệt của gia đình như: đám
cưới, tang ma, giỗ, lễ, tết…
phát triển mạnh mẽ của gia đình hộ cá
thể và sự hòa nhập với các nền văn
hóa của các tộc người lân cận đã tạo
ra sự biến đổi của quan hệ họ hàng và
thân tộc ở người Châu Ro. Trong các
mối quan hệ thân cận như anh em
ruột, anh em chú bác cậu dì người
Châu Ro vẫn thăm hỏi, qua lại, giúp
đỡ nhau, đặc biệt trong những dịp đặc
biệt như lễ tết, ma chay, cưới hỏi, giỗ
chạp, nhưng mỗi gia đình c cuộc
sống riêng, không phụ thuộc nhiều
vào họ hàng, thân tộc như trước đây.
4.3. Biến đổi các chức năng trong
gia đình ngƣời Châu Ro
Mối quan hệ họ hàng, thân tộc của
Chức năng của gia đình gắn liền với
những nhu cầu của xã hội đối với thiết
người Châu Ro trước đây khá khăng
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…
66
chế gia đình, cũng như nhu cầu của biệt là từ người Kinh. Điều đ được
các cá nhân trong gia đình. Do đ , thể hiện ở những đặc điểm sau.
chức năng gia đình một mặt đ ng g p
Trong gia đình, vợ chồng tôn trọng
vào sự tồn tại và phát triển của hệ
nhau, không phân biệt khác dân tộc
thống xã hội, mặt khác bảo đảm cuộc
hay tôn giáo, cùng giáo dục, chăm lo
sống, niềm vui và hạnh phúc cho mỗi
cho con cái. Cha mẹ có trách nhiệm
cá nhân. Gia đình là một thiết chế cấu
nuôi nấng con cái khôn lớn, xây dựng
thành nên xã hội cùng với các thiết
gia đình riêng khi chúng đến tuổi
chế khác (kinh tế, tôn giáo, pháp
trưởng thành, hỗ trợ con trong giai
luật…). Giữa các thiết chế này có mối
đoạn đầu của cuộc sống hôn nhân.
quan hệ qua lại với nhau và là mối
Ngược lại, con cái có trách nhiệm
quan hệ mang tính hai chiều. Những
quan tâm, giúp đỡ đời sống tinh thần
biến đổi kinh tế-xã hội đã diễn ra
cũng như vật chất khi cha mẹ hoặc
mạnh mẽ trên mọi khía cạnh của đời
ông bà lớn tuổi: “N ở trên Đắk Lắk để
sống kéo theo sự biến đổi các chức
làm củi, lâu lâu về đây thăm. Về đây
năng của gia đình.
n cũng hay cho tiền bà ngoại” (PVS,
4.3.1. Biến đổi chức năng văn hóa
nữ, 36 tuổi, xã Túc Trưng).
Mỗi gia đình là một tiểu văn h a và sẽ
xã hội hóa cá nhân theo các chuẩn
mực của tiểu văn h a này. Văn hóa
gia đình là hệ thống những giá trị
chuẩn mực đặc thù có chức năng
kiểm soát, điều hành hành vi và mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia
Truyền thống văn h a và bản sắc
khác biệt của tộc người bị mai một, ít
còn được duy trì, thay vào đ là n t
văn h a của tộc người đa số. Phụ nữ
Châu Ro ở xã Túc Trưng c áo dài và
chị em mặc vào các dịp lễ tết, khi đi lễ
nhà thờ, đi dự đám cưới và các dịp lễ
đình và giữa gia đình với xã hội. Văn khác. Nhiều loại thực phẩm mới được
h a gia đình là văn h a trong cách sử dụng để chế biến thức ăn và chế
ứng xử giữa các thành viên trong gia biến m n ăn mà xưa kia họ không có
hoặc không ăn do tập quán. Việc sử
dụng các loại gia vị nhân tạo như mì
chính, bột canh... và sử dụng các loại
nước chấm như nước mắm, nước
tương trong bữa ăn cũng đã trở nên
phổ biến. Nhiều tập tục trong chu kỳ
vòng đời của người Châu Ro cũng bị
ảnh hưởng của người Kinh. Người
dân cũng chú ý đến việc xem giờ khi
tổ chức các công việc quan trọng như
đám cưới, đám tang, làm nhà. Các
nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như
đình với nhau và giữa gia đình với xã
hội. Cùng với việc hình thành và phát
triển trong một quá trình lịch sử, trên
một lãnh thổ địa lý, quá trình sống
cộng cư lâu đời cùng với người Kinh
và những tộc người khác, cùng chịu
sự tác động tương đồng của quá trình
công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên
nhìn chung văn h a gia đình của
người Châu Ro tại khu vực Túc Trưng,
Đồng Nai chịu ảnh hưởng sâu sắc từ
văn h a chung của cả dân tộc, đặc
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020
67
cúng thần lúa, thần rừng, thần rẫy… hiện đại của người Việt (máy cày, máy
đã không còn, thay vào đ các ngày lễ tuốt lúa, máy cắt cỏ...), áp dụng biện
tết của người Kinh. Tiếng phổ thông
được giao tiếp rộng rãi, thậm chí một
số thanh niên ngày nay không nói
được tiếng Châu Ro.
pháp kỹ thuật trong canh tác nông
nghiệp và chăn nuôi như sử dụng
phân bón hóa học, các loại thuốc diệt
cỏ… Thời gian gần đây, dưới tác
động của cơ chế thị trường, nền kinh
tế tự nhiên, tự cấp, tuy vẫn tồn tại
nhưng nền kinh tế hàng h a đã thâm
nhập và bước đầu nảy sinh. Người
Châu Ro đã tham gia vào các hoạt
động dịch vụ, buôn bán tại chợ ở địa
phương như ấp, xã gần khu vực sinh
sống. Họ bán các loại rau, củ, quả, có
một vài gia đình mở quán bán bánh
kẹo, ăn uống, dịch vụ nấu ăn ở các
đám tiệc trong cộng đồng... Việc đầu
tư để phát triển sản xuất đã bước đầu
được chú trọng.
Mai một và mất dần bản sắc văn hóa
truyền thống (pha tạp, biến đổi, mất
dần ngôn ngữ mẹ đẻ…) ở các dân tộc
ít người đang ngày càng diễn ra ở
nhiều chiều cạnh khác nhau. Ngôn
ngữ, các vật dụng trong cuộc sống
hàng ngày, kiến trúc nhà ở, các lễ
nghi trong đời sống xã hội (hôn nhân,
tang ma, thờ cúng...) mang bản sắc
truyền thống và tính khác biệt của
từng tộc người ít còn được duy trì,
thay vào đ là n t văn h a của tộc
người đa số.
Theo số liệu từ Kết quả đi u tra thực
tr ng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu
số năm 2015, thu nhập bình quân đầu
người Châu Ro là 1.684,8 ngàn
đồng/tháng và chỉ có 8,3% hộ nghèo,
5% hộ cận nghèo (UNDP, Irish Aid và
Ủy ban Dân tộc, 2017). Điều này cho
thấy đời sống kinh tế của người Châu
Ro là ở mức tương đối ổn so với các
dân tộc thiểu số khác. Nhưng nếu đo
lường dưới lăng kính nghèo đa chiều
4.3.2. Sự biến đổi chức năng kinh
tế và tổ chức đời sống gia đình
Trước đây, kinh tế của người Châu
Ro là kinh tế tự nhiên, tự cấp chủ yếu
là làm nương rẫy và nguồn sống dựa
vào kết quả mùa màng. Do trồng trọt
theo lối du canh, du cư, năng suất
thấp nên cuộc sống nghèo nàn và
không ổn định. Bên cạnh trồng trọt và
chăn nuôi, hai nghề thủ công chính
của người Châu Ro là đan lát (mây,
tre, nứa) và dệt vải (hiện nay đã mai (giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống,
một).
tiếp cận thông tin) thì c đến 54,4% hộ
gia đình Châu Ro thuộc diện nghèo đa
chiều cao hơn nhiều so với mức trung
bình chung của 53 dân tộc thiểu số
(35,7%). Muốn đảm bảo chức năng
kinh tế phát triển, mỗi thành viên của
gia đình trong độ tuổi lao động cần có
việc làm và thu nhập ổn định.
Ngày nay, người Châu Ro không theo
lối sống du canh du cư, mà đã cải tạo
rẫy thành đất định canh và phát triển
nương rẫy thành ruộng nước, áp dụng
các phương pháp canh tác và giống
cây trồng với khoa học kỹ thuật tiến
bộ, sử dụng nhiều nông cụ sản xuất
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…
68
- Chuyển đổi ngh nghiệp
Mặt khác, cơ cấu nghề nghiệp thay
đổi làm cho sự di động xã hội của các
cá nhân trong cộng đồng diễn ra năng
động, ngày càng có nhiều người có
trình độ học vấn cao, lao động tham
gia trong công nghiệp hoặc rời khỏi
cộng đồng đến các địa phương lân
cận tìm kiếm cơ hội ngày càng tăng.
Điều này khiến cho chức năng kinh tế
của gia đình ngày càng hạn chế, gia
đình dần mất đi vai trò của đơn vị sản
xuất và vai trò là đơn vị tiêu dùng
ngày càng thể hiện r ràng hơn (Ngô
Thị Ngọc Anh, 2010).
Những năm gần đây, quá trình công
nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, cùng với
chính sách của địa phương, nhiều nhà
máy và khu công nghiệp được xây
dựng nhiều, diện tích đất nông nghiệp
của người dân bị thu hẹp, người dân
Châu Ro chuyển sang làm những
công việc đa dạng hơn như làm công
nhân trong các nhà máy, buôn bán
nhỏ, lái xe… Sự chuyên biệt h a định
chế kinh tế đang diễn ra khi mà hình
thức kinh tế của các hộ gia đình đã
chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang
đơn vị tiêu dùng.
- Phân công lao động theo giới
Bức tranh kinh tế thay đổi cũng k o
theo sự thay đổi trong phân công lao
động theo giới trong gia đình. Tuy cả
nam và nữ đều có trách nhiệm lao
động và xây dựng gia đình, nhưng vai
trò kinh tế của người nam thường
được kỳ vọng hơn, nữ giới ở vai trò
nội trợ, sinh con và chăm s c con cái.
Nhận thức mới này đã dẫn đến sự
thay đổi, chế độ phụ hệ thay thế cho
chế độ mẫu hệ mà không gặp phải
xung đột trong gia đình. Hiện nay con
cái lấy theo họ của cha, chàng trai
không đến ở nhà vợ sau đám cưới và
cặp vợ chồng trẻ thường sớm được
cho ra ở riêng, tạo nên hộ gia đình cá
thể.
“Trước đây bà con ở đây chủ yếu làm
nông nghiệp, làm rẫy, khi thời gian
rảnh đi làm thuê làm mướn, nhưng
hiện nay làm nông nghiệp đem lại thu
nhập không cao, nên nhiều người
chuyển sang làm công nhân ở các
nhà máy, khu công nghiệp dưới khu
vực Trảng Bom. Làm công nhân có
thu nhập ổn định, làm công nhân có
xe đưa rước tận nơi, 5 giờ sáng có xe
lên rước chiều đưa về rất thuận lợi”
(PVS, nữ, 32 tuổi, xã Túc Trưng).
Việc chuyển từ nông nghiệp thuần
túy dựa vào thiên nhiên sang nông
nghiệp đã c áp dụng khoa học kỹ
thuật trong canh tác và có thêm sự
hiện diện của các ngành nghề phi
nông nghiệp đã tạo nên một bức
tranh đa màu sắc về sinh kế của hộ
Hơn nữa, với sự tác động của công
nghiệp h a, trình độ học vấn được
gia đình người Châu Ro hiện nay. Sự nâng cao, sự chuyển đổi nghề nghiệp
dịch chuyển nghề nghiệp này đã đã làm cho vai trò của người phụ nữ
mang lại sự khởi sắc cho đời sống có sự thay đổi so với trước đây. Cùng
vật chất và tinh thần của tộc người
với nam giới, phụ nữ bắt đầu tham gia
vào các công việc trong xã hội. Tuy
Châu Ro.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020
69
vậy, vai trò chính của phụ nữ trong gia phù hợp trong nền văn h a mà họ
đình vẫn là nội trợ; chăm s c, giáo đang sinh trưởng. Giáo dục của gia
đình đ ng vai trò là tạo ra người con
hiếu thảo, người công dân có ích cho
xã hội.
dục con cái. Người đ ng vai trò quyết
định chính về kinh tế thường là nam
giới: “Trong gia đình tôi là chủ hộ, nên
mọi việc quyết định đến kinh tế gia
đình đều do tôi quyết định. Còn việc
cơm nước, nội trợ trong gia đình thì
người vợ mình phải lo những những
đ ” (PVS, nam, 40 tuổi, xã Túc Trưng).
“Trong gia đình em thì người chồng là
chủ hộ và quyết định về kinh tế gia
Từ xưa đến nay, văn h a của dân tộc
Việt Nam n i chung đều rất chú ý và
coi trọng: “học ăn, học nói, học gói,
học mở”. Các bậc cha mẹ người dân
tộc Châu Ro, đặc biệt là cha mẹ trẻ
đang giáo dục con cái trước sự thay
đổi của xã hội truyền thống dưới sự
đình, người vợ lo việc cơm nước, nội tác động mạnh mẽ của quá trình công
nghiệp hóa và hiện đại hóa.
trợ và giáo dục con cái” (PVS, nữ, 27
tuổi, xã Túc Trưng).
“Giáo dục con cái hai vợ chồng cùng
nhau tham gia, chỉ cho chúng biết các
văn h a truyền thống của ông bà để
lại cái nào cần được giữ gìn phát huy,
dạy cho chúng biết cách cư xử đúng
chuẩn mực hợp đạo lý. Nếu không
quan tâm giáo dục thì con cái mình sẽ
hư, vì hiện nay phim ảnh, internet
nhiều trẻ con thường học theo” (PVS,
nam, 40 tuổi, BPVS số 3).
Nhìn chung, ngày nay, trong quá trình
hội nhập và phát triển, dưới tác động
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
việc biến đổi kinh tế là xu hướng tất
yếu. Từ kinh tế tự cung tự cấp đến
kinh tế tiêu dùng, cũng như hình thức
sinh kế thuần túy về nông nghiệp sinh
kế của người dân nơi đây đang c
những chuyển đổi rất đa dạng từ nông
nghiệp cho đến công nghiệp và dịch
“Con cái ngày nay cần cho đi học để
vụ. Sự chuyển đổi chức năng kinh tế c trình độ mai mốt còn có nghề
nghiệp ổn định... bây giờ mà không
trình độ thì không không xin được việc
làm, đi làm thuê làm mướn thì cực
lắm, rẫy không c để làm. Hai vợ
chồng quyết cho con học ít nhất hết
lớp 12 sau này có xin làm công nhân
cũng dễ dàng” (PVS, nữ, 37 tuổi, xã
Túc Trưng).
mang lại những biến chuyển trong cơ
cấu nghề nghiệp cũng như phân công
lao động trong gia đình ở cộng đồng
người Châu Ro.
4.3.3. Chức năng giáo dục trong gia
đình
Giáo dục con cái là chức năng quan
trọng đối với đời sống của gia đình.
Nhờ có quá trình xã hội hóa giáo dục
mà các cá nhân trong gia đình học
hỏi được các hành vi ứng xử hợp
chuẩn với vị trí mà họ đang nắm giữ,
Giáo dục con cái không còn đơn giản
khi các yếu tố của công nghiệp đang
hiện diện mạnh mẽ trong cộng đồng
này như hiện nay. Kinh tế tiêu dùng
tạo ra những cá nhân với nhân cách phát triển cha mẹ phải dành thời gian
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…
70
để kiếm tiền nên thời gian dành cho những hỗ trợ đ không mang tính chất
con cái không nhiều. Nếu như trước trực tiếp mà là gián tiếp qua các
đây, người mẹ là người chịu trách phương tiện trung gian. Nên việc
nhiệm chính trong việc chăm s c và những cặp vợ chồng lớn tuổi không
giáo dục con cái và một số công việc có con cái ở cùng đang xuất hiện
nhà, thì hiện nay, do sự chuyển đổi ngày càng nhiều.
nghề nghiệp, một số phụ nữ còn đảm
5. KẾT LUẬN
trách các công việc tạo ra thu nhập
Gia đình là một thiết chế xã hội và
cho gia đình, nên thời gian dành cho
cũng là một nhóm xã hội đ ng vai trò
việc chăm s c và giáo dục con cái
quan trọng đối với sự tồn tại và phát
không nhiều như trước nữa. Việc này
triển của xã hội loài người. Dù nhìn
được chuyển giao những cơ sở giáo
nhận gia đình với tư cách là một thiết
dục, nhất là khi người mẹ sau 6 tháng
chế xã hội cơ bản hay với tư cách là
nghỉ thai sản phải quay trở lại doanh
một nhóm xã hội thì n đều bao hàm
nghiệp để làm việc.
trong đ những sự biển chuyển nhằm
“Trước đây con cái còn nhỏ thì ở nhà
thích ứng với điều kiện tự nhiên, kinh
với cha mẹ được cha mẹ chăm lo,
tế - xã hội trong bối cảnh công nghiệp
nhưng nay đối với các cặp vợ chồng
hóa. Sự thay đổi đ điều chỉnh nội tại
trẻ họ thường để con lại cho ông bà
gia đình cho phù hợp với xã hội và
chăm s c hoặc gửi nhà trẻ sáng sớm
đồng thời cũng điều chỉnh xã hội cho
họ đi làm công nhân ở Trảng Bom tối
phù hợp với điều kiện cụ thể bên
mới về nên việc dạy dỗ con cái nhờ
ngoài. Từ đây tạo ra những mô hình
ông bà và nhà trường là chính” (PVS,
gia đình mới có khả năng thích ứng
nam, 40 tuổi, xã Túc Trưng).
tốt hơn với sự biến đổi của xã hội. Xu
Mặt khác, công nghiệp h a đã tạo ra
nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho
người dân nơi đây, người trẻ di
chuyển đến các thành phố lớn hoặc
địa phương lân cận để học tập, làm
việc, và rồi họ chọn làm nơi an cư lập
nghiệp, chỉ trở về cộng đồng vào các
dịp quan trọng của gia đình hoặc của
cộng đồng: lễ hội, cưới xin, tang ma...
nên nhiều gia đình, cha mẹ, ông bà
thiếu sự hỗ trợ chăm s c của con
cháu. Có thể con cái vẫn hỗ trợ cha
mẹ già về vật chất và tinh thần nhưng
hướng này mang đậm nét của sự tiến
bộ, văn minh phù hợp với xã hội hiện
đại, tuy vậy n cũng tồn tại nhiều mặt
hạn chế. Nếu bản thân các gia đình
không ý thức được những mặt hạn
chế này để giữ gìn n t khác biệt trong
văn h a của tộc người thì bản sắc văn
h a riêng c của tộc người bị mai một
và mất đi.
Thời kỳ hội nhập người Châu Ro cùng
với ổn định và phát triển thì việc giữ
gìn bản sắc văn h a dân tộc là cần
thiết.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
71
1. Ban Dân tộc học. 1978. Những vấn đ v dân tộc học mi n Nam Việt Nam. Hà Nội: Nxb.
Khoa học Xã hội.
2. Bilton, Tony (Phạm Thủy Ba dịch), 1993. Nhập môn xã hội học. Hà Nội: Nxb. Khoa
học Xã hội.
3. Cổng Thông tin điện tử - Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. 2020. Kết quả đi u
tra thu thập thông tin 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
4. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai năm
2018, 2019 và 6 tháng đầu năm 2020.
5. Khoa Nhân học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. 2013. Nhân
học đ i cương. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.
6. Lâm Nhân. 2007. “Tập quán cư trú và nhà ở cổ truyền của người Chơ-ro ở Đồng
Nai”. T p chí Dân tộc học, số 4.
7. Lâm Nhân. 2009. “Vấn đề giao lưu và biến đổi văn h a của người Châu ro ở Đồng
Nai trong gia đoạn hiện nay”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa truy n thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập.
8. Nhiều tác giả. 2002. Từ điển bách khoa Việt Nam - tập 2. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã
hội.
9. Phan Đình Dũng. “Tìm hiểu về cộng đồng cư dân bản địa Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng
10. Phan Thị Yến Tuyết. 2018. “Chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo trong các cộng đồng
dân tộc thiểu số tại miền Đông Nam Bộ”. T p chí Khoa học xã hội TPHCM, số 2 (234).
11. Trần Hạnh Minh Phương. 2015. “Biến đổi văn h a của các cộng đồng tộc người
thiểu số ở Đông Nam Bộ”. T p chí Khoa học - Trường Đại học Trà Vinh, số 19.
12. UNDP, Irish Aid và Ủy ban Dân tộc. 2017. Tổng quan thực tr ng kinh tế-xã hội của
53 dân tộc thiểu số dựa trên kết quả phân tích số liệu đi u tra v thực tr ng kinh tế-xã
hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, thông qua tiểu dự án hỗ trợ giảm nghèo PRPP.
13. Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. “Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội
dan-toc-thieu-so-nam-2015.htm, truy cập ngày 20/11/2020.
14. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. 2019. Nghị Quyết số 196/2019/NQ-HĐND của Hội
đồng Nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi cấu trúc và chức năng gia đình của người Châu Ro ở Đồng Nai trong bối cảnh công nghiệp hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bien_doi_cau_truc_va_chuc_nang_gia_dinh_cua_nguoi_chau_ro_o.pdf

