Biến đổi cấu trúc và chức năng gia đình của người Châu Ro ở Đồng Nai trong bối cảnh công nghiệp hóa

59  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG GIA ĐÌNH  
CỦA NGƢỜI CHÂU RO Ở ĐỒNG NAI TRONG  
BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA  
NGUYỄN TẤN DÂN*  
Dưới tác động của quá trình biến đổi kinh tế - xã hội và hội nhập, những biến đổi  
diễn ra trong gia đình là một xu hướng tất yếu   ài viết đ  cập đến những biến  
đổi v  cấu trúc và chức năng gia đình ở người Châu Ro t i xã Túc Trưng, huyện  
Định Quán, tỉnh Đồng Nai  Cơ cấu gia đình của người Châu Ro có xu hướng  
chuyển từ gia đình nhi u thế hệ thành các gia đình h t nhân; tự do hôn nhân và  
sự cởi mở trong việc kết hôn với những tộc người khác và khác tôn giáo ngày  
càng phổ biến và được chấp nhận    n c nh đó, quá trình cộng cư với người  
Kinh, cùng với việc di cư đến các nơi khác, nhất là ở các thành phố lớn để học  
tập và làm việc hiện nay đã làm thay đổi các chức năng kinh tế, văn hóa, giáo  
dục của gia đình người Châu Ro.  
Từ khóa: biến đổi, gia đình, chức năng gia đình, người Châu Ro  
Nhận bài ngày: 16/11/2020; đưa vào bi n tập: 17/11/2020; phản biện: 18/11/2020;  
duyệt đăng: 30/11/2020  
1. DẪN NHẬP  
tính đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh  
Đồng Nai, có khoảng 16.169 người  
Châu Ro, chiếm 8,55% nhân khẩu là  
đồng bào dân tộc thiểu số, xếp thứ 4  
trong gần 40 thành phần dân tộc trong  
tỉnh.  
Người Châu Ro là một trong những  
dân tộc ít người bản địa cư trú lâu đời  
ở vùng trung du Đông Nam Bộ, tập  
trung và đông nhất là ở Đồng Nai, một  
số ít ở Bình Phước, Bà Rịa - Vũng  
Tàu, Bình Thuận và rải rác ở các tỉnh Từ năm 1975 đến nay, c  những công  
thành khác. Theo số liệu thống kê, trình nghiên cứu và tài liệu đề cập đến  
văn h a, kinh tế, xã hội của người  
Châu Ro, cụ thể như: Những vấn đ  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
v  dân tộc học mi n Nam Việt Nam  
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…  
60  
(Ban Dân tộc học - Viện Khoa học Xã hôn nhân (không có quan hệ huyết  
hội tại TPHCM, 1978); Các dân tộc ít  
người ở Việt Nam (các tỉnh phía  
Nam) (Viện Dân tộc học, 1984); Vấn  
đ  giao lưu và biến đổi văn hóa của  
người Châu Ro ở Đồng Nai trong giai  
đo n hiện nay của (Lâm Nhân, 2009);  
Tri thức bản địa của các tộc người  
thiểu số ở Đông Nam  ộ (2016) của  
nhóm tác giả Ngô Văn Lệ, Huỳnh  
Ngọc Thu và Ngô Thị Phương Lan đề  
cập tới cơ cấu tổ chức, chức năng gia  
đình của người Châu Ro ở Đồng Nai  
và Bà Rịa - Vũng Tàu. Một số bài viết  
về mảng đề tài này có: Chuyển đổi tín  
ngưỡng, tôn giáo trong các cộng đồng  
dân tộc thiểu số t i mi n Đông Nam  
Bộ (2018) của Phan Thị Yến Tuyết,  
Biến đổi văn hóa của các cộng đồng  
tộc người thiểu số ở Đông Nam  ộ  
(2015) của Trần Hạnh Minh Phương.  
Nhìn chung, các công trình đã tìm  
hiểu khái quát về văn h a, biến đổi  
văn h a, tôn giáo… nhưng chưa c  
công trình nào đi sâu nghiên cứu  
những biến đổi cấu trúc và chức năng  
gia đình người Châu Ro trong bối  
cảnh công nghiệp hóa.  
thống) vừa bằng quan hệ huyết thống  
(theo dòng mẹ hoặc dòng bố). Gia  
đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi  
cùng với sự phát triển của xã hội”.  
Định nghĩa vừa nêu hàm ý gia đình  
cũng là một định chế có tính truyền  
thống quy định các kiểu tổ chức  
những người có quan hệ huyết thống  
(ông bà, cha mẹ, con, cháu, chắt về  
phía mẹ hoặc về phía cha) và quan hệ  
hôn nhân (con dâu hay con rể). Các  
mối quan hệ của các thành viên trong  
gia đình làm nảy sinh hàng loạt vấn đề  
cũng mang tính định chế như ly dị và  
chia tài sản sau khi ly dị, sự khác biệt  
trong việc thừa kế tài sản giữa con trai  
và con gái khi cha mẹ qua đời, ai có  
trách nhiệm nuôi dưỡng và thờ cúng  
cha mẹ… cũng như mối quan hệ với  
dòng họ.  
Công trình Nhập môn xã hội học  
(1993) nhấn mạnh đến tính phổ biến  
của loại hình gia đình hạt nhân trong  
xã hội hiện đại và những khảo sát  
thực tế của đề tài này cũng đã cho  
thấy sự phổ biến loại hình gia đình hạt  
nhân.  
   CẤ     C   CHỨC NĂNG GIA  
ĐÌNH  
Lo i hình gia đình h t nhân: là gia  
đình gồm cha mẹ và con cái chưa lập  
gia đình (kể cả hộ chưa c  con).  
Từ điển bách khoa Việt Nam (2002,  
tập 2: 84) định nghĩa: “gia đình là thiết  
chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp  
những thành viên khác giới, thông  
quan hôn nhân để thực hiện các chức  
năng sinh học, kinh tế, văn h a, xã hội,  
tín ngưỡng,... Khi gia đình đã c  con  
thì các thành viên trong gia đình được  
Lo i hình gia đình mở rộng: Các hộ  
gia đình gồm thành viên của một gia  
đình hạt nhân và những người khác  
không có vợ hoặc có chồng cùng  
sống chung với gia đình hạt nhân.  
Lo i hình gia đình gh p chung hay đ i  
kết hợp với nhau vừa bằng quan hệ gia đình: là các hộ có thành viên tạo  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
61  
thành hai hay nhiều gia đình hạt nhân. dọc qua xã và là điểm đầu của tỉnh lộ  
Đây là loại gia đình phổ biến con cái DT763, đây là một trong những xã c  
đã lập gia đình c  con hay chưa c  lợi thế giao thông nhất huyện. Cơ cấu  
con cùng sống chung với cha mẹ và kinh tế là nông nghiệp - thương  
anh em.  
mại/dịch vụ - công nghiệp. Năm 2020,  
xã đã hoàn tất nhiệm vụ xây dựng  
nông thôn mới và chuyển đổi cơ cấu  
cây trồng hiệu quả.  
Lo i hình gia đình “không cấu thành  
gia đình h t nhân”: là những hộ mà  
trong đ  các thành viên không có  
quan hệ vợ chồng và không có quan Xã Túc Trưng c  9 ấp, người Châu  
hệ sinh thành  
Ro sống tập trung tại 4 ấp gồm: ấp  
Quyết Thắng 1, ấp Quyết Thắng 2, ấp  
Đồng Soài và ấp Suối Dzui. Hiện nay  
Xã Túc Trưng là xã nằm trong khu  
vực đô thị hóa nhanh, nằm gần các  
khu công nghiệp và cụm công nghiệp  
của tỉnh Đồng Nai, nằm gần hai trung  
tâm thị trấn của hai huyện lỵ là thị trấn  
Dầu Giây, huyện Thống Nhất và thị  
trấn Định Quán, huyện Định Quán  
Lo i hình gia đình một thành viên: là  
những hộ chỉ có duy nhất một thành  
viên.  
Chức năng gia đình được phân chia  
tùy quan điểm của từng học giả. Theo  
giáo trình Nhân học đ i cương, chức  
năng gia đình gồm: (i) chức năng tái  
sản xuất con người, (ii) chức năng  
kinh tế và (iii) chức năng văn h a -  
giáo dục (Khoa Nhân học, Trường Đại  
học Khoa học Xã hội và Nhân văn  
TPHCM, 2013: 374-375).  
Một số phƣơng pháp thu thập tƣ liệu  
Để đảm bảo tính khách quan khi tìm  
hiểu về gia đình người Châu Ro ở xã  
Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh  
Đồng Nai có sự biến đổi về cấu trúc  
và chức năng, chúng tôi thực hiện  
phỏng vấn bằng bảng hỏi 70 hộ gia  
đình. Đối tượng chọn mẫu là hộ gia  
đình và cách thức chọn mẫu ngẫu  
nhiên có hệ thống.  
3  PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Địa bàn nghiên cứu:  
Xã Túc Trưng c  4 tộc người sinh  
sống, người Kinh chiếm đa số (gần  
70% dân số), kế đến là người Châu  
Ro (chiếm 30% dân số), người Nùng  
(Hoa Nùng): 10 hộ, người Mường: 6  
hộ, xã tập trung đông cộng đồng  
người Châu Ro nên đề tài chọn xã  
Túc Trưng làm địa bàn nghiên cứu.  
Trong đ , chọn 10 hộ phỏng vấn cả  
nam và nữ là chủ hộ hay vợ chồng  
của chủ hộ nhằm tìm hiểu các vấn đề  
thuộc về quan niệm như: chuẩn mực  
về gia đình; vai trò nam nữ trong gia  
đình, những biến đổi trong cuộc sống  
gia đình, kinh tế, giáo dục so sánh  
Xã Túc Trưng thuộc huyện Định Quán,  
tỉnh Đồng Nai, phía bắc giáp sông  
Đồng Nai và xã La Ngà, phía nam  
giáp xã Phú Túc, phía đông giáp xã  
Túc Sơn, phía tây giáp sông Đồng Nai giữa truyền thống và hiện nay. Để dễ  
và xã Phú Cường; quốc lộ 20 chạy  
dàng thu thập được thông tin, nội  
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…  
62  
dung phỏng vấn sâu được xây dựng dự án, gồm các dự án: giao thông,  
thủy lợi, khu dân cư, tái định cư, khu  
công nghiệp, cụm công nghiệp; đồng  
thời đang thực hiện thu hồi khoảng  
4.056ha đất. Theo Nghị quyết số  
196/2019/NQ-HĐND của Hội đồng  
nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc thông  
qua danh mục các dự án thu hồi đất,  
các trường hợp chuyển đổi mục đích  
chuyển mục đích sử dụng đất đối với  
đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ và  
các dự án điều chỉnh quy mô, địa  
điểm thực hiện năm 2020 trên địa bàn  
tỉnh Đồng Nai, tỉnh đã thông qua danh  
mục Danh mục 100 dự án thu hồi đất  
với tổng diện tích là 426,10ha, và 102  
trường hợp được chuyển mục đích sử  
dụng đối với đất trồng lúa, đất rừng  
phòng hộ, với tổng diện tích 385,84ha.  
Việc thu hẹp diện tích đất - mất đất  
nông nghiệp đồng nghĩa với việc thu  
hẹp đất sản xuất. Trước đây người  
Châu Ro có nhiều đất sản xuất nông  
nghiệp, nhưng hiện nay c  đến 90%  
số hộ không c  đất sản xuất.  
theo một trình tự: khoảng thời gian  
xảy ra sự thay đổi về gia đình, xã hội  
và những biểu hiện của n  như thế  
nào? Đánh giá của chính bản thân  
người dân cộng đồng về nguyên nhân  
thay đổi và những tác động đến đời  
sống.  
Ngoài ra, quan sát các hoạt động sản  
xuất trong gia đình, cộng đồng để thấy  
được những biểu hiện, những thay đổi,  
những hoàn cảnh cụ thể.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1. Khái quát về quá trình công  
nghiệp hóa ở Đồng Nai những năm  
gần đây  
Quá trình công nghiệp h a, đô thị hóa  
tại Đồng Nai đã g p phần hình thành  
các khu đô thị, ra đời các khu công  
nghiệp, khu chế xuất, tạo nên sự biến  
đổi cơ cấu ngành nghề, nhưng đồng  
thời đã thu hẹp diện tích đất nông  
nghiệp, số hộ gia đình nông dân  
không c  đất sản xuất tăng, số người  
thất nghiệp ngày càng nhiều. Theo số  
liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường  
Đồng Nai, trong giai đoạn 2018-2020  
tỉnh Đồng Nai triển khai thực hiện 227  
Mặt khác, việc đẩy mạnh công nghiệp  
h a đã tạo ra công ăn việc làm và góp  
phần lớn vào việc thực hiện công  
bằng xã hội. Nhờ đ , đời sống kinh tế -  
Hình 1. Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn tỉnh (theo giá so sánh 2010)  
(*) Số liệu 6 tháng đầu năm 2020.  
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, 2018, 2019 và 6 tháng đầu năm 2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
63  
xã hội của tỉnh đã c  sự biến đổi họ khác nhau và phần lớn là có mối  
nhanh ch ng. Trước hết đ  là sự biến quan hệ họ hàng với nhau. Như vậy  
đổi của cơ cấu ngành nghề. Đồng thời, với cấu trúc nhà ở là nhà dài đã tạo  
quá trình phát triển kinh tế cũng đạt nên cơ cấu gia đình của người Châu  
được những bước tăng trưởng đáng Ro truyền thống là gia đình nhiều thế  
kể.  
hệ cùng chung sống với nhau. Mỗi gia  
đình lớn thường có một ông đầu  
nhang phụ trách các nghi lễ, công việc  
chung. Nếu người này mất thì con trai  
trưởng sẽ lên thay thế (Lâm Nhân,  
2007).  
Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã  
hội tỉnh Đồng Nai năm 2018, 2019 và  
6 tháng đầu năm 2020 thì tổng sản  
phẩm quốc nội (GRDP) năm 2018 đạt  
102,32 triệu đồng, tăng 8,84  so năm  
trước. Năm 2019, đạt 113,7 triệu  
đồng, tăng 9,69  so năm 2018. Như  
vậy, quá trình công nghiệp h a đã thu  
được nhiều thành tựu về phát triển  
kinh tế - xã hội và tạo ra những  
chuyển biến mạnh mẽ về xã hội. Tuy  
nhiên, những chuyển biến đ  không  
thể không tác động sâu sắc đến thiết  
chế gia đình - một thiết chế bền vững,  
lâu đời nhưng cũng hết sức nhạy cảm  
với những đổi thay của xã hội.  
Từ năm 1997, người Châu Ro được  
Nhà nước khuyến khích tập trung  
sống định canh, định cư. Nhà nước  
cho xây dựng nhà theo chương trình  
134, 135, xây dựng khu định cư, cấp  
đất định canh. Dần dần, người Châu  
Ro bỏ tập quán du canh du cư để ổn  
định cuộc sống (Trần Hạnh Minh  
Phương, 2015). Từ đây, dưới sự tác  
động từ thể chế chính sách nhà nước  
đối với việc phát triển kinh tế - xã hội  
của đồng bào dân tộc thiểu số trong  
đ  c  dân tộc Châu Ro, cấu trúc gia  
đình của người Châu Ro có nhiều  
biến chuyển và đổi thay. Từ việc sống  
tập trung nhiều thế hệ trong các gia  
đình lớn ở nhà dài chuyển dần thành  
mô hình gia đình hạt nhân. Từng hộ  
gia đình nhỏ được xác lập, vai trò của  
người đàn ông được coi trọng trong  
gia đình. Về mặt xã hội, người Châu  
Ro sống theo khuôn khổ và tuân thủ  
hệ thống chính quyền Nhà nước, mọi  
người đều bình đẳng theo hiến pháp,  
pháp luật.  
4.2. Những biến đổi về cấu trúc gia  
đình ngƣời Châu Ro  
4.2.1. Biến đổi về quy mô hộ gia  
đình  
Trước đây, người Châu Ro cư trú  
thành từng làng (bon/palây). Làng là  
một công xã thị tộc, mọi người trong  
làng đều có quan hệ huyết thống.  
Thậm chí, làng còn là một công xã gia  
đình (cả làng là một nhà) hoặc là một  
làng đại tông tộc (một làng có nhiều  
nhóm tông tộc). Mỗi làng thường có từ  
một hay nhiều nhà sàn dài, mỗi nhà  
dài 40-50m thậm chí có nhà dài 100m.  
Trong nhà dài có nhiều gia đình, bao Từ nửa sau thế kỷ XX do ảnh hưởng  
gồm các thế hệ của một dòng họ. của các yếu tố như: người Kinh mua  
Trong một làng thường có nhiều dòng  
đất trồng cao su, chính sách di dân,  
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…  
64  
quá trình công nghiệp hóa nên chế độ 4.2.2. Biến đổi trong quan hệ gia đình  
đại gia đình của tộc người Châu Ro  
Trong chế độ thị tộc, mối quan hệ  
dần tan rã, hình thành nên những tiểu  
giữa các thành viên trong gia đình  
gia đình vốn xuất thân là những gia  
được củng cố bằng chế độ gia trưởng  
đình hạt nhân, gia đình tế bào trong  
người chủ nhà dài. Theo đ , c  hơn 4  
cấu trúc gia đình trước đây. Bởi vì, gia  
đình hạt nhân có nhiều ưu điểm hơn  
một số hình thái gia đình khác, nó  
như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ và  
có khả năng thích ứng nhanh với các  
biến chuyển của xã hội. Cùng với sự  
phát triển đ , trong sinh hoạt gia đình  
đã xuất hiện chế độ phụ hệ. Hiện nay,  
gia đình người Châu Ro là tế bào độc  
lập, gồm chồng vợ và con cái, không  
còn tập trung nhiều thế hệ. Con cái  
khi lập gia đình thường tách hộ mới.  
Gia đình hạt nhân có sự độc lập về  
kinh tế và mỗi thành viên trong gia  
đình c  khoảng không gian tự do để  
phát triển. Đời sống xã hội hiện nay  
của người Châu Ro tiếp xúc và tiếp  
biến với văn h a của các cộng đồng  
dân tộc khác, chủ yếu là người Kinh,  
điều đ  cũng c  nhiều tác động tích  
cực đến nhiều mặt của đời sống cộng  
đồng.  
mối quan hệ cơ bản của gia đình (vợ -  
chồng; cha - con, anh - em, ông -  
cháu) tuân theo một tôn ti, trật tự chặt  
chẽ. Nhưng theo thời gian, mối quan  
hệ trên đã dần thay đổi đáng kể, thể  
hiện qua sự bình đẳng hơn giữa các  
thế hệ, “kính trên nhường dưới” cùng  
tự do cá nhân được đề cao. Điều này  
được thể hiện r  n t qua sự lựa chọn  
hôn nhân, kết hôn với tộc người khác  
của cá nhân trong gia đình. Với câu  
hỏi ai là người quyết định hôn nhân  
của anh/chị, có 89,13% ý kiến cho  
rằng bản thân tự quyết định; 4,35% ý  
kiến cho rằng cha mẹ quyết định, như  
có hỏi ý kiến; 2,17% ý kiến là do ông  
bà cha mẹ quyết định; 4,35% ý kiến  
khác. Với câu hỏi ông bà c  đồng ý  
cho con cháu kết hôn với dân tộc khác  
hay khác tôn giáo không, trong 70  
người được khảo sát thì có tới 68  
người trả lời đồng ý cho con cháu kết  
hôn khác tộc người, chiếm 97,1%;  
91,3% nữ và 89,1  nam đồng ý cho  
con cái kết hôn với người khác tôn  
giáo. Số liệu cho thấy một xu thế phổ  
biến trong việc quyết định kết hôn của  
người Châu Ro là do bản thân con cái  
quyết định. Tự do hôn nhân là quan  
điểm phù hợp với thời đại văn minh.  
Chế độ một vợ một chồng đã được  
thiết lập từ lâu trong xã hội người  
Châu Ro và vợ chồng chung sống với  
nhau hòa thuận.  
Theo kết quả khảo sát hộ gia đình tộc  
người Châu Ro tại xã Túc Trưng,  
huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai vào  
tháng 6/2020 thì số nhân khẩu trung  
bình là 5,1 người/hộ. Số nhân khẩu  
phổ biến nhất là 5 người/hộ. Tỷ lệ  
người trong độ tuổi lao động chiếm  
59,44 , dưới tuổi lao động chiếm  
28,61 , trên độ tuổi lao động chiếm  
11,94 . Điều này cho thấy, dân số  
trong tộc người Châu Ro hiện nay chủ  
yếu là dân số trẻ.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
65  
Hiện nay số lượng con cái trong một khít, chặt chẽ thì giờ đây c  phần mờ  
hộ gia đình c  xu hướng giảm, thu nhạt hơn vì mỗi gia đình phải lo toan  
cho gia đình của mình nên cũng  
không trợ giúp được nhiều cho anh  
chị em, họ hàng.  
nhập của gia đình lại tăng lên nên cha  
mẹ c  điều kiện nuôi con tốt hơn. Tuy  
nhiên có những cha mẹ chiều chuộng  
con quá mức và nhiều trường hợp  
cha mẹ đi làm suốt ngày, phần lớn ở  
xa nhà, ít có thời gian ở gần con,  
chăm s c và theo d i việc học tập, vui  
chơi của con cái. Sự tiếp xúc giao lưu  
văn h a với các dân tộc cùng cư trú  
cũng dẫn đến sự thay đổi ứng xử theo  
truyền thống của gia đình, không ít  
con cái c  xu hướng muốn tách khỏi  
sự kiểm soát của cha mẹ mặc dù còn  
đi học, chưa trưởng thành. Vì những  
lý do trên mà mối quan hệ giữa cha  
mẹ và con cái trong một số gia đình  
của người Châu Ro hiện nay trở nên  
khá lỏng lẻo và từ đ  phát sinh ra  
nhiều vấn đề cho gia đình, cộng đồng  
và xã hội.  
“Cũng c  hỗ trợ nhau, mà cuộc sống  
của anh chị em cũng trung bình thôi  
nên giúp thì giúp ít thôi chứ không  
giúp nhiều. Nói chứ mình cũng phải tự  
sống thôi, anh em không giúp gì  
nhiều” (PVS, nam, 40 tuổi, xã Túc  
Trưng).  
Mặt khác, dưới tác động công nghiệp  
hóa tạo nên sự chuyển đổi nghề  
nghiệp từ nông nghiệp định canh định  
cư đến việc di chuyển đến các địa  
phương khác nhất là những thành phố  
lớn để sinh sống, học tập và làm việc  
đã làm thay đổi mối quan hệ họ hàng,  
thân tộc của những người trong cộng  
đồng này. Tính di động xã hội đang  
diễn ra mạnh mẽ trong cộng đồng vốn  
Đồng thời, tác động của quá trình trước đây sống quây quần trong làng,  
công nghiệp hóa và hiện đại hóa, sự dưới nhà dài, nhưng từ sau chính  
sách tách hộ của nhà nước cùng với  
làn sóng công nghiệp h a đã đưa đến  
những chuyển biến mạnh mẽ về mọi  
mặt trong đời sống xã hội của người  
Châu Ro. Mối quan hệ họ hàng hiện  
nay được chuyển qua một hình thức  
mới, phần lớn là gián tiếp qua các  
phương tiện liên lạc. Họ thỉnh thoảng  
gặp nhau, đoàn tụ gia đình vào những  
ngày đặc biệt của gia đình như: đám  
cưới, tang ma, giỗ, lễ, tết…  
phát triển mạnh mẽ của gia đình hộ cá  
thể và sự hòa nhập với các nền văn  
hóa của các tộc người lân cận đã tạo  
ra sự biến đổi của quan hệ họ hàng và  
thân tộc ở người Châu Ro. Trong các  
mối quan hệ thân cận như anh em  
ruột, anh em chú bác cậu dì người  
Châu Ro vẫn thăm hỏi, qua lại, giúp  
đỡ nhau, đặc biệt trong những dịp đặc  
biệt như lễ tết, ma chay, cưới hỏi, giỗ  
chạp, nhưng mỗi gia đình c  cuộc  
sống riêng, không phụ thuộc nhiều  
vào họ hàng, thân tộc như trước đây.  
4.3. Biến đổi các chức năng trong  
gia đình ngƣời Châu Ro  
Mối quan hệ họ hàng, thân tộc của  
Chức năng của gia đình gắn liền với  
những nhu cầu của xã hội đối với thiết  
người Châu Ro trước đây khá khăng  
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…  
66  
chế gia đình, cũng như nhu cầu của biệt là từ người Kinh. Điều đ  được  
các cá nhân trong gia đình. Do đ , thể hiện ở những đặc điểm sau.  
chức năng gia đình một mặt đ ng g p  
Trong gia đình, vợ chồng tôn trọng  
vào sự tồn tại và phát triển của hệ  
nhau, không phân biệt khác dân tộc  
thống xã hội, mặt khác bảo đảm cuộc  
hay tôn giáo, cùng giáo dục, chăm lo  
sống, niềm vui và hạnh phúc cho mỗi  
cho con cái. Cha mẹ có trách nhiệm  
cá nhân. Gia đình là một thiết chế cấu  
nuôi nấng con cái khôn lớn, xây dựng  
thành nên xã hội cùng với các thiết  
gia đình riêng khi chúng đến tuổi  
chế khác (kinh tế, tôn giáo, pháp  
trưởng thành, hỗ trợ con trong giai  
luật…). Giữa các thiết chế này có mối  
đoạn đầu của cuộc sống hôn nhân.  
quan hệ qua lại với nhau và là mối  
Ngược lại, con cái có trách nhiệm  
quan hệ mang tính hai chiều. Những  
quan tâm, giúp đỡ đời sống tinh thần  
biến đổi kinh tế-xã hội đã diễn ra  
cũng như vật chất khi cha mẹ hoặc  
mạnh mẽ trên mọi khía cạnh của đời  
ông bà lớn tuổi: “N  ở trên Đắk Lắk để  
sống kéo theo sự biến đổi các chức  
làm củi, lâu lâu về đây thăm. Về đây  
năng của gia đình.  
n  cũng hay cho tiền bà ngoại” (PVS,  
4.3.1. Biến đổi chức năng văn hóa  
nữ, 36 tuổi, xã Túc Trưng).  
Mỗi gia đình là một tiểu văn h a và sẽ  
xã hội hóa cá nhân theo các chuẩn  
mực của tiểu văn h a này. Văn hóa  
gia đình là hệ thống những giá trị  
chuẩn mực đặc thù có chức năng  
kiểm soát, điều hành hành vi và mối  
quan hệ giữa các thành viên trong gia  
Truyền thống văn h a và bản sắc  
khác biệt của tộc người bị mai một, ít  
còn được duy trì, thay vào đ  là n t  
văn h a của tộc người đa số. Phụ nữ  
Châu Ro ở xã Túc Trưng c  áo dài và  
chị em mặc vào các dịp lễ tết, khi đi lễ  
nhà thờ, đi dự đám cưới và các dịp lễ  
đình và giữa gia đình với xã hội. Văn khác. Nhiều loại thực phẩm mới được  
h a gia đình là văn h a trong cách sử dụng để chế biến thức ăn và chế  
ứng xử giữa các thành viên trong gia biến m n ăn mà xưa kia họ không có  
hoặc không ăn do tập quán. Việc sử  
dụng các loại gia vị nhân tạo như mì  
chính, bột canh... và sử dụng các loại  
nước chấm như nước mắm, nước  
tương trong bữa ăn cũng đã trở nên  
phổ biến. Nhiều tập tục trong chu kỳ  
vòng đời của người Châu Ro cũng bị  
ảnh hưởng của người Kinh. Người  
dân cũng chú ý đến việc xem giờ khi  
tổ chức các công việc quan trọng như  
đám cưới, đám tang, làm nhà. Các  
nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như  
đình với nhau và giữa gia đình với xã  
hội. Cùng với việc hình thành và phát  
triển trong một quá trình lịch sử, trên  
một lãnh thổ địa lý, quá trình sống  
cộng cư lâu đời cùng với người Kinh  
và những tộc người khác, cùng chịu  
sự tác động tương đồng của quá trình  
công nghiệp hóa và hiện đại hóa nên  
nhìn chung văn h a gia đình của  
người Châu Ro tại khu vực Túc Trưng,  
Đồng Nai chịu ảnh hưởng sâu sắc từ  
văn h a chung của cả dân tộc, đặc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
67  
cúng thần lúa, thần rừng, thần rẫy… hiện đại của người Việt (máy cày, máy  
đã không còn, thay vào đ  các ngày lễ tuốt lúa, máy cắt cỏ...), áp dụng biện  
tết của người Kinh. Tiếng phổ thông  
được giao tiếp rộng rãi, thậm chí một  
số thanh niên ngày nay không nói  
được tiếng Châu Ro.  
pháp kỹ thuật trong canh tác nông  
nghiệp và chăn nuôi như sử dụng  
phân bón hóa học, các loại thuốc diệt  
cỏ… Thời gian gần đây, dưới tác  
động của cơ chế thị trường, nền kinh  
tế tự nhiên, tự cấp, tuy vẫn tồn tại  
nhưng nền kinh tế hàng h a đã thâm  
nhập và bước đầu nảy sinh. Người  
Châu Ro đã tham gia vào các hoạt  
động dịch vụ, buôn bán tại chợ ở địa  
phương như ấp, xã gần khu vực sinh  
sống. Họ bán các loại rau, củ, quả, có  
một vài gia đình mở quán bán bánh  
kẹo, ăn uống, dịch vụ nấu ăn ở các  
đám tiệc trong cộng đồng... Việc đầu  
tư để phát triển sản xuất đã bước đầu  
được chú trọng.  
Mai một và mất dần bản sắc văn hóa  
truyền thống (pha tạp, biến đổi, mất  
dần ngôn ngữ mẹ đẻ…) ở các dân tộc  
ít người đang ngày càng diễn ra ở  
nhiều chiều cạnh khác nhau. Ngôn  
ngữ, các vật dụng trong cuộc sống  
hàng ngày, kiến trúc nhà ở, các lễ  
nghi trong đời sống xã hội (hôn nhân,  
tang ma, thờ cúng...) mang bản sắc  
truyền thống và tính khác biệt của  
từng tộc người ít còn được duy trì,  
thay vào đ  là n t văn h a của tộc  
người đa số.  
Theo số liệu từ Kết quả đi u tra thực  
tr ng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu  
số năm 2015, thu nhập bình quân đầu  
người Châu Ro là 1.684,8 ngàn  
đồng/tháng và chỉ có 8,3% hộ nghèo,  
5% hộ cận nghèo (UNDP, Irish Aid và  
Ủy ban Dân tộc, 2017). Điều này cho  
thấy đời sống kinh tế của người Châu  
Ro là ở mức tương đối ổn so với các  
dân tộc thiểu số khác. Nhưng nếu đo  
lường dưới lăng kính nghèo đa chiều  
4.3.2. Sự biến đổi chức năng kinh  
tế và tổ chức đời sống gia đình  
Trước đây, kinh tế của người Châu  
Ro là kinh tế tự nhiên, tự cấp chủ yếu  
là làm nương rẫy và nguồn sống dựa  
vào kết quả mùa màng. Do trồng trọt  
theo lối du canh, du cư, năng suất  
thấp nên cuộc sống nghèo nàn và  
không ổn định. Bên cạnh trồng trọt và  
chăn nuôi, hai nghề thủ công chính  
của người Châu Ro là đan lát (mây,  
tre, nứa) và dệt vải (hiện nay đã mai (giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống,  
một).  
tiếp cận thông tin) thì c  đến 54,4% hộ  
gia đình Châu Ro thuộc diện nghèo đa  
chiều cao hơn nhiều so với mức trung  
bình chung của 53 dân tộc thiểu số  
(35,7%). Muốn đảm bảo chức năng  
kinh tế phát triển, mỗi thành viên của  
gia đình trong độ tuổi lao động cần có  
việc làm và thu nhập ổn định.  
Ngày nay, người Châu Ro không theo  
lối sống du canh du cư, mà đã cải tạo  
rẫy thành đất định canh và phát triển  
nương rẫy thành ruộng nước, áp dụng  
các phương pháp canh tác và giống  
cây trồng với khoa học kỹ thuật tiến  
bộ, sử dụng nhiều nông cụ sản xuất  
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…  
68  
- Chuyển đổi ngh  nghiệp  
Mặt khác, cơ cấu nghề nghiệp thay  
đổi làm cho sự di động xã hội của các  
cá nhân trong cộng đồng diễn ra năng  
động, ngày càng có nhiều người có  
trình độ học vấn cao, lao động tham  
gia trong công nghiệp hoặc rời khỏi  
cộng đồng đến các địa phương lân  
cận tìm kiếm cơ hội ngày càng tăng.  
Điều này khiến cho chức năng kinh tế  
của gia đình ngày càng hạn chế, gia  
đình dần mất đi vai trò của đơn vị sản  
xuất và vai trò là đơn vị tiêu dùng  
ngày càng thể hiện r  ràng hơn (Ngô  
Thị Ngọc Anh, 2010).  
Những năm gần đây, quá trình công  
nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ, cùng với  
chính sách của địa phương, nhiều nhà  
máy và khu công nghiệp được xây  
dựng nhiều, diện tích đất nông nghiệp  
của người dân bị thu hẹp, người dân  
Châu Ro chuyển sang làm những  
công việc đa dạng hơn như làm công  
nhân trong các nhà máy, buôn bán  
nhỏ, lái xe… Sự chuyên biệt h a định  
chế kinh tế đang diễn ra khi mà hình  
thức kinh tế của các hộ gia đình đã  
chuyển đổi từ đơn vị sản xuất sang  
đơn vị tiêu dùng.  
- Phân công lao động theo giới  
Bức tranh kinh tế thay đổi cũng k o  
theo sự thay đổi trong phân công lao  
động theo giới trong gia đình. Tuy cả  
nam và nữ đều có trách nhiệm lao  
động và xây dựng gia đình, nhưng vai  
trò kinh tế của người nam thường  
được kỳ vọng hơn, nữ giới ở vai trò  
nội trợ, sinh con và chăm s c con cái.  
Nhận thức mới này đã dẫn đến sự  
thay đổi, chế độ phụ hệ thay thế cho  
chế độ mẫu hệ mà không gặp phải  
xung đột trong gia đình. Hiện nay con  
cái lấy theo họ của cha, chàng trai  
không đến ở nhà vợ sau đám cưới và  
cặp vợ chồng trẻ thường sớm được  
cho ra ở riêng, tạo nên hộ gia đình cá  
thể.  
“Trước đây bà con ở đây chủ yếu làm  
nông nghiệp, làm rẫy, khi thời gian  
rảnh đi làm thuê làm mướn, nhưng  
hiện nay làm nông nghiệp đem lại thu  
nhập không cao, nên nhiều người  
chuyển sang làm công nhân ở các  
nhà máy, khu công nghiệp dưới khu  
vực Trảng Bom. Làm công nhân có  
thu nhập ổn định, làm công nhân có  
xe đưa rước tận nơi, 5 giờ sáng có xe  
lên rước chiều đưa về rất thuận lợi”  
(PVS, nữ, 32 tuổi, xã Túc Trưng).  
Việc chuyển từ nông nghiệp thuần  
túy dựa vào thiên nhiên sang nông  
nghiệp đã c  áp dụng khoa học kỹ  
thuật trong canh tác và có thêm sự  
hiện diện của các ngành nghề phi  
nông nghiệp đã tạo nên một bức  
tranh đa màu sắc về sinh kế của hộ  
Hơn nữa, với sự tác động của công  
nghiệp h a, trình độ học vấn được  
gia đình người Châu Ro hiện nay. Sự nâng cao, sự chuyển đổi nghề nghiệp  
dịch chuyển nghề nghiệp này đã đã làm cho vai trò của người phụ nữ  
mang lại sự khởi sắc cho đời sống có sự thay đổi so với trước đây. Cùng  
vật chất và tinh thần của tộc người  
với nam giới, phụ nữ bắt đầu tham gia  
vào các công việc trong xã hội. Tuy  
Châu Ro.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
69  
vậy, vai trò chính của phụ nữ trong gia phù hợp trong nền văn h a mà họ  
đình vẫn là nội trợ; chăm s c, giáo đang sinh trưởng. Giáo dục của gia  
đình đ ng vai trò là tạo ra người con  
hiếu thảo, người công dân có ích cho  
xã hội.  
dục con cái. Người đ ng vai trò quyết  
định chính về kinh tế thường là nam  
giới: “Trong gia đình tôi là chủ hộ, nên  
mọi việc quyết định đến kinh tế gia  
đình đều do tôi quyết định. Còn việc  
cơm nước, nội trợ trong gia đình thì  
người vợ mình phải lo những những  
đ ” (PVS, nam, 40 tuổi, xã Túc Trưng).  
“Trong gia đình em thì người chồng là  
chủ hộ và quyết định về kinh tế gia  
Từ xưa đến nay, văn h a của dân tộc  
Việt Nam n i chung đều rất chú ý và  
coi trọng: “học ăn, học nói, học gói,  
học mở”. Các bậc cha mẹ người dân  
tộc Châu Ro, đặc biệt là cha mẹ trẻ  
đang giáo dục con cái trước sự thay  
đổi của xã hội truyền thống dưới sự  
đình, người vợ lo việc cơm nước, nội tác động mạnh mẽ của quá trình công  
nghiệp hóa và hiện đại hóa.  
trợ và giáo dục con cái” (PVS, nữ, 27  
tuổi, xã Túc Trưng).  
“Giáo dục con cái hai vợ chồng cùng  
nhau tham gia, chỉ cho chúng biết các  
văn h a truyền thống của ông bà để  
lại cái nào cần được giữ gìn phát huy,  
dạy cho chúng biết cách cư xử đúng  
chuẩn mực hợp đạo lý. Nếu không  
quan tâm giáo dục thì con cái mình sẽ  
hư, vì hiện nay phim ảnh, internet  
nhiều trẻ con thường học theo” (PVS,  
nam, 40 tuổi, BPVS số 3).  
Nhìn chung, ngày nay, trong quá trình  
hội nhập và phát triển, dưới tác động  
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa,  
việc biến đổi kinh tế là xu hướng tất  
yếu. Từ kinh tế tự cung tự cấp đến  
kinh tế tiêu dùng, cũng như hình thức  
sinh kế thuần túy về nông nghiệp sinh  
kế của người dân nơi đây đang c  
những chuyển đổi rất đa dạng từ nông  
nghiệp cho đến công nghiệp và dịch  
“Con cái ngày nay cần cho đi học để  
vụ. Sự chuyển đổi chức năng kinh tế c  trình độ mai mốt còn có nghề  
nghiệp ổn định... bây giờ mà không  
trình độ thì không không xin được việc  
làm, đi làm thuê làm mướn thì cực  
lắm, rẫy không c  để làm. Hai vợ  
chồng quyết cho con học ít nhất hết  
lớp 12 sau này có xin làm công nhân  
cũng dễ dàng” (PVS, nữ, 37 tuổi, xã  
Túc Trưng).  
mang lại những biến chuyển trong cơ  
cấu nghề nghiệp cũng như phân công  
lao động trong gia đình ở cộng đồng  
người Châu Ro.  
4.3.3. Chức năng giáo dục trong gia  
đình  
Giáo dục con cái là chức năng quan  
trọng đối với đời sống của gia đình.  
Nhờ có quá trình xã hội hóa giáo dục  
mà các cá nhân trong gia đình học  
hỏi được các hành vi ứng xử hợp  
chuẩn với vị trí mà họ đang nắm giữ,  
Giáo dục con cái không còn đơn giản  
khi các yếu tố của công nghiệp đang  
hiện diện mạnh mẽ trong cộng đồng  
này như hiện nay. Kinh tế tiêu dùng  
tạo ra những cá nhân với nhân cách phát triển cha mẹ phải dành thời gian  
NGUYỄN TẤN DÂN – BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG…  
70  
để kiếm tiền nên thời gian dành cho những hỗ trợ đ  không mang tính chất  
con cái không nhiều. Nếu như trước trực tiếp mà là gián tiếp qua các  
đây, người mẹ là người chịu trách phương tiện trung gian. Nên việc  
nhiệm chính trong việc chăm s c và những cặp vợ chồng lớn tuổi không  
giáo dục con cái và một số công việc có con cái ở cùng đang xuất hiện  
nhà, thì hiện nay, do sự chuyển đổi ngày càng nhiều.  
nghề nghiệp, một số phụ nữ còn đảm  
5. KẾT LUẬN  
trách các công việc tạo ra thu nhập  
Gia đình là một thiết chế xã hội và  
cho gia đình, nên thời gian dành cho  
cũng là một nhóm xã hội đ ng vai trò  
việc chăm s c và giáo dục con cái  
quan trọng đối với sự tồn tại và phát  
không nhiều như trước nữa. Việc này  
triển của xã hội loài người. Dù nhìn  
được chuyển giao những cơ sở giáo  
nhận gia đình với tư cách là một thiết  
dục, nhất là khi người mẹ sau 6 tháng  
chế xã hội cơ bản hay với tư cách là  
nghỉ thai sản phải quay trở lại doanh  
một nhóm xã hội thì n  đều bao hàm  
nghiệp để làm việc.  
trong đ  những sự biển chuyển nhằm  
“Trước đây con cái còn nhỏ thì ở nhà  
thích ứng với điều kiện tự nhiên, kinh  
với cha mẹ được cha mẹ chăm lo,  
tế - xã hội trong bối cảnh công nghiệp  
nhưng nay đối với các cặp vợ chồng  
hóa. Sự thay đổi đ  điều chỉnh nội tại  
trẻ họ thường để con lại cho ông bà  
gia đình cho phù hợp với xã hội và  
chăm s c hoặc gửi nhà trẻ sáng sớm  
đồng thời cũng điều chỉnh xã hội cho  
họ đi làm công nhân ở Trảng Bom tối  
phù hợp với điều kiện cụ thể bên  
mới về nên việc dạy dỗ con cái nhờ  
ngoài. Từ đây tạo ra những mô hình  
ông bà và nhà trường là chính” (PVS,  
gia đình mới có khả năng thích ứng  
nam, 40 tuổi, xã Túc Trưng).  
tốt hơn với sự biến đổi của xã hội. Xu  
Mặt khác, công nghiệp h a đã tạo ra  
nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho  
người dân nơi đây, người trẻ di  
chuyển đến các thành phố lớn hoặc  
địa phương lân cận để học tập, làm  
việc, và rồi họ chọn làm nơi an cư lập  
nghiệp, chỉ trở về cộng đồng vào các  
dịp quan trọng của gia đình hoặc của  
cộng đồng: lễ hội, cưới xin, tang ma...  
nên nhiều gia đình, cha mẹ, ông bà  
thiếu sự hỗ trợ chăm s c của con  
cháu. Có thể con cái vẫn hỗ trợ cha  
mẹ già về vật chất và tinh thần nhưng  
hướng này mang đậm nét của sự tiến  
bộ, văn minh phù hợp với xã hội hiện  
đại, tuy vậy n  cũng tồn tại nhiều mặt  
hạn chế. Nếu bản thân các gia đình  
không ý thức được những mặt hạn  
chế này để giữ gìn n t khác biệt trong  
văn h a của tộc người thì bản sắc văn  
h a riêng c  của tộc người bị mai một  
và mất đi.  
Thời kỳ hội nhập người Châu Ro cùng  
với ổn định và phát triển thì việc giữ  
gìn bản sắc văn h a dân tộc là cần  
thiết.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 12 (268) 2020  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
71  
1. Ban Dân tộc học. 1978. Những vấn đ  v  dân tộc học mi n Nam Việt Nam. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
2. Bilton, Tony (Phạm Thủy Ba dịch), 1993. Nhập môn xã hội học. Hà Nội: Nxb. Khoa  
học Xã hội.  
3. Cổng Thông tin điện tử - Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. 2020. Kết quả đi u  
tra thu thập thông tin 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
4. Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai năm  
2018, 2019 và 6 tháng đầu năm 2020.  
5. Khoa Nhân học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM. 2013. Nhân  
học đ i cương. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.  
6. Lâm Nhân. 2007. “Tập quán cư trú và nhà ở cổ truyền của người Chơ-ro ở Đồng  
Nai”. T p chí Dân tộc học, số 4.  
7. Lâm Nhân. 2009. “Vấn đề giao lưu và biến đổi văn h a của người Châu ro ở Đồng  
Nai trong gia đoạn hiện nay”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị  
văn hóa truy n thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập.  
8. Nhiều tác giả. 2002. Từ điển bách khoa Việt Nam - tập 2. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã  
hội.  
9. Phan Đình Dũng. “Tìm hiểu về cộng đồng cư dân bản địa Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng  
ban-dia-chau-ro-chau-ma-o-dhong-nai, truy cập ngày 24/11/2020.  
10. Phan Thị Yến Tuyết. 2018. “Chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo trong các cộng đồng  
dân tộc thiểu số tại miền Đông Nam Bộ”. T p chí Khoa học xã hội TPHCM, số 2 (234).  
11. Trần Hạnh Minh Phương. 2015. “Biến đổi văn h a của các cộng đồng tộc người  
thiểu số ở Đông Nam Bộ”. T p chí Khoa học - Trường Đại học Trà Vinh, số 19.  
12. UNDP, Irish Aid và Ủy ban Dân tộc. 2017. Tổng quan thực tr ng kinh tế-xã hội của  
53 dân tộc thiểu số dựa trên kết quả phân tích số liệu đi u tra v  thực tr ng kinh tế-xã  
hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2015, thông qua tiểu dự án hỗ trợ giảm nghèo PRPP.  
13. Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê. “Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội  
dan-toc-thieu-so-nam-2015.htm, truy cập ngày 20/11/2020.  
14. Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. 2019. Nghị Quyết số 196/2019/NQ-HĐND của Hội  
đồng Nhân dân tỉnh Đồng Nai.  
pdf 13 trang baolam 20300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi cấu trúc và chức năng gia đình của người Châu Ro ở Đồng Nai trong bối cảnh công nghiệp hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_doi_cau_truc_va_chuc_nang_gia_dinh_cua_nguoi_chau_ro_o.pdf