Biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội và sự thay đổi tín ngưỡng phật giáo nam tông sang đạo tin lành của người Khmer ở Nam Bộ

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021  
66  
BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ XÃ HỘI VÀ SỰ THAY ĐỔI  
TÍN NGƯỠNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG SANG ĐẠO  
TIN LÀNH CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ  
NGUYỄN ĐỨC DŨNG*  
ĐỖ THU HƯỜNG**  
Khi nói về các hiện tượng tôn giáo, hay các hình thái ý thức xã hội, C. Mác  
không coi chúng như là những sự vật tự nó hay những đặc trưng vốn có của các  
xã hội hay các nhóm người trong lịch sử, mà ông luận giải rằng sự xuất hiện và  
tồn tại của tôn giáo xuất phát từ hiện thực khách quan và nguồn gốc quan trọng  
nhất của tôn giáo chính là điều kiện kinh tế - xã hội. Từ quan điểm duy vật lịch  
sử này của C. Mác, chúng tôi nghiên cứu sự ảnh hưởng của cơ cấu kinh tế - xã  
hội đến biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo của người Khmer ở Nam Bộ trong mối  
quan hệ với chính quá trình biến đổi kinh tế - xã hội, nhất là trong công cuộc đổi  
mới ở nước ta hiện nay. Bài viết này, chúng tôi coi sự cải đạo của người Khmer  
từ Phật giáo Nam tông sang Tin Lành như một sự biến đổi đặc biệt.  
Từ khóa: cơ cấu kinh tế - xã hội, biến đổi tín ngƣỡng, tôn giáo, ngƣời Khmer, Nam  
Bộ  
Nhận bài ngày: 15/11/2020; đưa vào biên tập: 20/12/2020; phản biện: 15/3/2021;  
duyệt đăng: 5/6/2021  
kê, 2019). Tỷ lệ đô thị hóa cũng đã  
tăng gần gấp đôi so với những năm  
80 của thế kỷ XX (từ 20% lên 38%).  
Điều này cho thấy cơ cấu kinh tế của  
nƣớc ta dƣới tác động của nền kinh tế  
thị trƣờng và quá trình công nghiệp  
hóa đã chuyển dịch mạnh mẽ từ kinh  
tế nông nghiệp sang kinh tế công  
nghiệp và dịch vụ. Về mặt xã hội, tỷ lệ  
hộ nghèo trong cả nƣớc giảm nhanh  
từ 58% năm 1993 xuống 14,5% năm  
2008, nhờ đó mà khoảng gần 30 triệu  
ngƣời đã thoát nghèo trong giai đoạn  
này. Đây là thành tựu rất ấn tƣợng đã  
đƣợc cộng đồng quốc tế ghi nhận và  
đánh giá cao. Cùng với những cải  
1. DẪN NHẬP  
Kể từ khi Việt Nam bƣớc vào công  
cuộc đổi mới kinh tế xã hội (1986) cho  
đến nay, nền kinh tế đã chuyển dịch  
theo hƣớng công nghiệp hóa và đô thị  
hóa ngày càng mạnh mẽ. Cơ cấu  
GDP năm 2018 của cả nƣớc cho thấy  
khu vực nông lâm thủy sản, mặc dù  
vẫn tăng hàng năm song chỉ còn  
chiếm 8,7% trong mức tăng trƣởng  
chung, trong khi khu vực công nghiệp,  
xây dựng chiếm tới 48,6% và khu vực  
dịch vụ chiếm 42,7% (Tổng cục Thống  
*, ** Trƣờng Đại học Nội vụ Hà Nội.  
NGUYỄN ĐỨC DŨNG - ĐỖ THU HƢỜNG – BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ…  
67  
thiện căn bản về mức sống, chất là khi con cái lập gia đình, cha mẹ  
lƣợng cuộc sống của ngƣời dân cũng chia đất để canh tác, hình thành hộ  
gia đình mới. Các hộ có con cái ở  
cùng trên khu đất của gia đình cha mẹ,  
tạo thành một đại gia đình nhƣng vẫn  
độc lập với nhau về kinh tế. Sở hữu  
chung trong đại gia đình chỉ là giếng  
nƣớc, cây rơm hay các khu sân vƣờn.  
đƣợc cải thiện trong tiếp cận các dịch  
vụ giao thông, cung cấp nƣớc sạch,  
điện, giáo dục và y tế… Đa số các  
vùng nông thôn đã phát huy đƣợc  
những lợi thế của kinh tế hộ gia đình.  
Các chính sách ƣu đãi của nhà nƣớc  
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu  
kinh tế nông thôn để tiếp cận với kinh  
tế thị trƣờng đã căn bản chuyển dịch  
đƣợc cơ cấu kinh tế hộ gia đình, nhờ  
đó, ngày càng nhiều hộ gia đình có  
nguồn thu nhập cao và ổn định. Trong  
nhiều năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã  
có nhiều chƣơng trình phát triển kinh  
tế xã hội ở nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo  
giảm mạnh, tuy nhiên tỷ lệ này chủ  
yếu tập trung ở khu vực đồng bào các  
dân tộc thiểu số, những ngƣời nhập  
cƣ đô thị. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo  
của ngƣời dân tộc Khmer năm 2009 là  
34,6% so với tỷ lệ chung trên cả nƣớc  
là 14,5%, dân tộc Khmer có tỷ lệ  
nghèo thấp nhất so với tất cả các  
nhóm dân tộc thiểu số khác (có tỷ lệ  
từ 45% đến 73%) (Viện khoa học xã  
hội Việt Nam, 2011: 83).  
Do đặc trƣng của kinh tế hộ gia đình,  
mỗi hộ gia đình Khmer ở Đồng bằng  
sông Cửu Long đều có khu đất ở, đất  
trồng lúa. Nơi cƣ trú thƣờng ở các  
giồng đất cao và đất thấp xung quanh  
để trồng lúa. Khi các hộ gia đình phát  
triển từ đơn vị gia đình nhỏ thành đại  
gia đình gồm gia đình cha mẹ và các  
gia đình con cháu, đất đai đƣợc chia  
cho các gia đình con cháu để mỗi gia  
đình đều là một đơn vị kinh tế hộ gia  
đình riêng biệt và độc lập với nhau,  
mặc dù sự hợp tác tƣơng trợ lẫn nhau  
giữa các thành viên trong đại gia đình  
vẫn là nguyên tắc đạo đức và nghĩa  
vụ. Không gian cƣ trú và canh tác của  
một đại gia đình hay một tập hợp các  
đơn vị kinh tế hộ gia đình nhƣ thế,  
theo cách gọi của ngƣời Khmer Nam  
Bộ là một phum. Mỗi phum thƣờng chỉ  
có khoảng từ 5 đến 7 gia đình, đôi khi  
10 gia đình (Nguyễn Khắc Cảnh,  
1997). Tính độc lập của kinh tế hộ gia  
đình vì thế làm cho mối quan hệ giữa  
Mặc dù tình trạng nghèo trên cả nƣớc  
đã đƣợc giải quyết về căn bản, song  
ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số,  
trong đó có đồng bào Khmer ở Nam  
Bộ vẫn còn phải khắc phục trong các hộ gia đình trong cùng một đại gia  
nhiều năm tới.  
đình hay trong cùng một phum chỉ  
mang ý nghĩa là cộng đồng huyết  
thống, cộng đồng cƣ trú hơn là một  
cộng đồng kinh tế.  
2. KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÀ TÍN  
NGƯỠNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG  
CỦA NGƯỜI KHMER Ở NAM BỘ  
Ngƣời Khmer ở Đồng bằng sông Cửu  
Long trồng lúa nƣớc với tập quán định  
Truyền thống gia đình của ngƣời  
Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021  
68  
canh định cƣ và hình thức gia đình ngƣỡng thờ tổ tiên, ông bà trong mỗi  
mẫu hệ. Tuy nhiên hiện nay tập quán gia đình. Mặt khác, khi ý thức về các  
cƣ trú bên nhà vợ không còn tuân thủ quan hệ cộng đồng nhƣ là chỗ dựa  
nghiêm ngặt nhƣ trƣớc, tổ chức gia thiết yếu của mỗi thành viên trong  
đình theo mẫu hệ của ngƣời Khmer cộng đồng từ sản xuất cho đến đời  
đã giảm dần ảnh hƣởng, chỉ duy trì sống, họ tái hiện tinh thần cộng đồng  
trong các nghi lễ tôn giáo, kết hôn.  
này nhƣ những sức mạnh siêu nhiên  
hay các vị thần bảo trợ cộng đồng.  
Phật giáo Nam tông và các tín  
ngƣỡng Arak hay Neak tà vốn là tín  
ngƣỡng tôn giáo của ngƣời Khmer ở  
Đồng bằng sông Cửu Long. Trƣớc khi  
du nhập Phật giáo Nam tông, ngƣời  
Khmer Nam Bộ vốn chịu ảnh hƣởng  
của đạo Bà la môn. Các nghi lễ truyền  
thống thờ Arak và Neak tà dần dần  
đƣợc tích hợp vào trong các nghi lễ  
Phật giáo ở chùa và trong các dịp lễ  
hội lớn hàng năm. Ngày nay, bên  
cạnh tín ngƣỡng thờ Arak (thờ bà tổ  
dòng họ) và Neak tà (thần bảo hộ  
phum, sóc), ngƣời Khmer còn thờ một  
số vị thần có nguồn gốc từ các tôn  
giáo cổ ở Ấn Độ, nhƣ : Siva, Visnou,  
Brahman, Riahu…  
Do điều kiện sản xuất nông nghiệp  
nhỏ lẻ - hộ gia đình nên năng suất  
thấp, chỉ đủ cho các nhu cầu cơ bản  
và thiết yếu trong một năm. Nếu số  
nhân khẩu không lao động nhiều hơn  
số lao động, cùng với những bất lợi về  
thời tiết, giá bán buôn... thì chỉ có thể  
bảo đảm cho đời sống vật chất của hộ  
gia đình ở mức tối thiểu, thậm chí có  
nguy cơ thiếu đói thƣờng xuyên.  
Do truyền thống và tập quán cƣ trú  
nên khi đến thu hoạch mùa vụ, các  
thành viên trong gia đình cùng phân  
chia công việc theo lứa tuổi, theo lao  
động chính - lao động phụ, nam - nữ,  
ông bà - cha mẹ - con - cháu, và tự ý  
thức về chịu trách nhiệm phần việc  
đƣợc phân. Từ ý thức trách nhiệm đối  
với công việc sản xuất của gia đình  
hình thành ý thức trách nhiệm chăm lo  
đối với cuộc sống của mỗi thành viên  
trong gia đình. Từ đó, ý thức về đạo  
đức gia đình bắt đầu nảy sinh và  
chiếm vị thế quan trọng trong hệ thống  
đạo đức của mỗi ngƣời. Ý thức này  
3. ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU KINH  
TẾ XÃ HỘI ĐẾN BIẾN ĐỔI TÍN  
NGƯỠNG SANG ĐẠO TIN LÀNH  
CỦA NGƯỜI KHMER THEO PHẬT  
GIÁO NAM TÔNG Ở NAM BỘ  
3.1 Kinh tế hộ gia đình người Khmer  
thời kỳ đổi mới  
đƣợc mở rộng ra các quan hệ xã hội Kinh tế hộ gia đình của ngƣời Khmer  
ngoài gia đình.  
đã có sự cải thiện đáng kể trong quá  
trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã  
hội qua các chỉ số thu nhập bình quân  
đầu ngƣời và chỉ số giảm nghèo.  
Từ ý thức về tổ tiên, ông bà, cha mẹ  
đã nuôi dƣỡng, gây dựng cơ nghiệp  
đảm bảo cho cuộc sống của con cháu  
– ý thức về lòng biết ơn và sự tôn kính Trong một nghiên cứu về sinh kế của  
tổ tiên, ông bà cha mẹ trở thành tín  
ngƣời Khmer ở hai xã nông nghiệp  
NGUYỄN ĐỨC DŨNG - ĐỖ THU HƢỜNG – BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ…  
69  
của tỉnh Trà vinh năm 2012, Ngô Thị Quá trình thâm canh tăng vụ này bắt  
Phƣơng Lan (2012: 47) nhận xét: “các  
nghề nghiệp phổ biến là trồng lúa,  
trồng hoa màu (hoa màu lƣơng thực  
và hoa màu thực phẩm), cây ăn trái,  
cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi  
gia súc - gia cầm, nuôi trồng thủy sản  
và đi làm mƣớn… Làm mƣớn là một  
công việc phổ biến để đa dạng nguồn  
thu nhập cho cá nhân và hộ gia đình  
ngƣời Khmer kể cả nông nghiệp và  
phi nông nghiệp. Hoạt động làm thuê  
hiện nay chủ yếu là trong nông nghiệp  
nên thu nhập không cao và công việc  
không thƣờng xuyên. Tiền công lao  
động đối với nam giới là 80.000-  
90.000đ/ngày, nữ giới 60.000đ/ngày,  
cơm nƣớc ngƣời đi làm thuê phải tự  
lo”. Vì thế, nhiều ngƣời Khmer, nhất là  
ngƣời trẻ và có học vấn nhất định, có  
xu hƣớng di cƣ ra các trung tâm đô thị  
tìm việc làm.  
đầu từ giai đoạn 1993-1996” (Ngô Thị  
Phƣơng Lan, 2012: 48). Tuy nhiên,  
quá trình canh tác thâm canh đòi hỏi  
sự đầu tƣ khá cao về phân bón và  
thuốc trừ sâu (tới 50% thu nhập), nên  
không ít hộ thiếu vốn đầu tƣ.  
Thực tế cho thấy, sản xuất nông  
nghiệp theo cách truyền thống của  
ngƣời Khmer chỉ có thể đáp ứng phần  
nào nhu cầu lƣơng thực. Khi nền kinh  
tế thị trƣờng đã tác động tới mọi vùng  
nông thôn, ngƣời Khmer buộc phải  
đầu tƣ các sản phẩm công nghiệp  
trong nông nghiệp nhƣ phân bón và  
thuốc trừ sâu, phải sử dụng lao động  
làm thuê ngoài gia đình và đi làm thuê  
cho các hộ khác khi thiếu việc làm,  
hoặc di cƣ tìm việc làm. Với các hộ  
không có đất canh tác, các thành viên  
trong gia đình phải đi làm thuê hay  
kinh doanh (buôn bán nhỏ hoặc dịch  
vụ). Những hộ có ruộng đất thì làm  
nông để giữ truyền thống, đáp ứng  
nhu cầu lƣơng thực, phần đông  
chuyển sang kinh doanh, dịch vụ hay  
làm thuê để đảm bảo chi tiêu trong gia  
đình. Sự phân công lao động trong hộ  
gia đình gắn với nền kinh tế thị trƣờng  
nên tính năng động của cá nhân ngày  
càng phát triển, tính ràng buộc của  
sản xuất nông nghiệp đối với các  
thành viên trong hộ gia đình giảm sút.  
Trƣớc đây, phần lớn dân cƣ vẫn sống  
bằng nông nghiệp nhƣng các hộ gia  
đình Khmer thƣờng đông con, nên  
việc chia đất cho con cái khi tách hộ  
và tình trạng cầm cố ruộng đất khi  
phải lo những công việc lớn trong gia  
đình đã nhanh chóng thu hẹp diện tích  
đất canh tác và làm gia tăng tình trạng  
thiếu đất canh tác dẫn đến đời sống  
khó khăn, không ổn định. Do diện tích  
đất canh tác ngày càng thu hẹp,  
ngƣời Khmer thay vì chủ yếu trồng lúa  
một vụ nhƣ trƣớc đây thì hiện nay họ  
thâm canh tăng vụ “ở các vùng thích  
hợp hiện nay ngƣời dân có thể làm từ  
hai đến ba vụ một năm, thậm chí bảy  
vụ trong hai năm (Trà Kháo, Trà Vinh).  
Trong các quan hệ họ hàng và cộng  
đồng, hoạt động nông nghiệp không  
còn là mối quan tâm chung của mọi  
ngƣời, nên truyền thống vần đổi công,  
giúp đỡ lẫn nhau khi mùa vụ mất dần,  
các hoạt động thuê mƣớn nhân công  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021  
70  
ngày càng phổ biến. Sự trợ giúp lẫn thống cũng nhƣ hệ thống tín ngƣỡng  
tôn giáo của ngƣời Khmer. Trong khi  
đó các hộ thành công trong quá trình  
chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang các  
hoạt động phi nông lâm thủy sản, họ  
có nhiều cơ hội tham gia vào các sinh  
hoạt cộng đồng để thể hiện sự thành  
công của mình, đôi khi có những biểu  
hiện nặng về hình thức, nhƣ phô  
trƣơng sự đóng góp vật chất cá nhân  
hay sự vụ lợi trong các sinh hoạt cộng  
đồng nhƣ lễ hội, xây sửa chùa chiền...  
Vì thế, sự khác biệt về kinh tế cũng  
dẫn tới sự khác biệt thái độ của con  
ngƣời đối với các sinh hoạt và các  
nghi lễ tôn giáo cộng đồng.  
nhau trong kinh doanh hay tiêu dùng  
càng hạn chế hơn vì mọi ngƣời vẫn  
chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp hay  
làm thuê nên không thể có nguồn thu  
nhập bằng tiền dồi dào để trợ giúp lẫn  
nhau. Theo khảo sát của Nguyễn  
Ngọc Minh (2018: 48), có 46% ngƣời  
dân không vay mƣợn, 35% vay từ  
Ngân hàng Chính sách xã hội, 7% vay  
từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn, 6% từ ngƣời chuyên  
cho vay, 3% từ họ hàng, 2% từ bạn bè,  
1% từ định chế ngân hàng và từ  
ngƣời buôn bán. Tình hình này cho  
thấy, ngƣời nông dân Khmer hiện nay  
có rất ít khả năng trợ giúp lẫn nhau  
bằng tiền và kinh tế hộ gia đình cũng  
không nhƣ trƣớc nên không thƣờng  
giúp nhau bằng sức lao động. Vì thế,  
quan hệ gia đình, họ hàng, phum sóc  
cũng mất dần sự tƣơng trợ, gắn bó và  
tinh thần cộng đồng.  
Điều đáng chú ý là trong quá trình  
chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội tại  
các vùng dân tộc thiểu số hiện nay  
dẫn đến hiện tƣợng biến đổi tín  
ngƣỡng tôn giáo ở những mức độ  
khác nhau. Từ sự giảm sút niềm tin  
vào tín ngƣỡng tôn giáo truyền thống,  
xem nhẹ giá trị tâm linh chỉ xem nhƣ  
là phƣơng tiện tìm kiếm những lợi ích  
vật chất, tinh thần trong các sinh hoạt  
cộng đồng, thậm chí là từ bỏ tín  
ngƣỡng tôn giáo truyền thống để theo  
các tôn giáo khác, hoặc tìm kiếm một  
cộng đồng tôn giáo mới có thể làm  
chỗ dựa cho đời sống vật chất trƣớc  
mắt lẫn đời sống tinh thần ở thế giới  
bên kia. Dù hiện tƣợng này chƣa  
đƣợc nghiên cứu một cách toàn diện  
và có hệ thống, nhƣng thực tế đã xảy  
ra ở một số cộng đồng dân tộc thiểu  
số ít có khả năng tiếp cận kinh tế thị  
3.2 Biến đổi tín ngưỡng theo đạo  
Tin Lành của người Khmer ở Nam  
Bộ  
Do sự chi phối của nhu cầu sinh kế cá  
nhân ngày càng tăng, mối quan tâm  
của các cá nhân đến đời sống tinh  
thần của gia đình và cộng đồng phum  
sóc cũng bị chi phối, nhất là với đa số  
ngƣời Khmer đang gặp khó khăn  
trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh  
tế - xã hội. Sự thu hẹp vai trò của sản  
xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị  
trƣờng đã làm giảm thiểu chức năng  
cố kết gia đình và cộng đồng của kinh  
tế hộ gia đình vốn là cơ sở kinh tế xã trƣờng hay có những hoàn cảnh đặc  
hội của hệ thống đạo đức truyền  
biệt khó khăn. Trên bình diện xã hội  
NGUYỄN ĐỨC DŨNG - ĐỖ THU HƢỜNG – BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ…  
71  
và văn hóa, hiện tƣợng này đặt ra thời gian đồng bào bỏ đạo Phật vì  
chùa tại địa phƣơng không có sƣ sãi  
hoạt động. Vì lý do này nên hầu hết  
ngƣời Khmer tại đây đã cải đạo theo  
Tin Lành…” (Phan Thị Yến Tuyết,  
2018: 71).  
những vấn đề của sự xung khắc trong  
các quan hệ gia đình và cộng đồng, vì  
mỗi hệ thống tín ngƣỡng tôn giáo đều  
giả định sự hình thành của một cộng  
đồng xã hội khác biệt với những quan  
niệm khác nhau về đời sống xã hội, về  
thế giới tâm linh và về một kiểu tổ  
chức xã hội riêng biệt.  
Theo Nguyễn Thị Thanh Trang (2014),  
một trong những nguyên nhân ngƣời  
Khmer cải đạo sang đạo Tin Lành là  
do điều kiện sống khó khăn trong nền  
kinh tế thị trƣờng.  
Các nghiên cứu về sự chuyển đổi tôn  
giáo của cộng đồng dân tộc thiểu số ở  
Nam Bộ đều cho rằng, sự chuyển đổi  
tôn giáo thƣờng gắn với sự thay đổi  
nơi cƣ trú và môi trƣờng sống do  
chiến tranh hay các biến động kinh tế  
xã hội. Để hòa nhập vào môi trƣờng  
sinh sống mới, các nhóm dân tộc  
thiểu số phải từ bỏ tín ngƣỡng tôn  
giáo truyền thống của mình và theo tín  
ngƣỡng của cộng đồng dân cƣ nơi cƣ  
trú mà họ mới đến. Sự chấp nhận tín  
ngƣỡng của cộng đồng nơi cƣ trú mới  
là điều kiện của sự hòa hợp tôn giáo,  
chính trị và xã hội giữa nhóm dân cƣ  
mới đến và cộng đồng dân cƣ tại chỗ.  
Vì thế, sự thống nhất trong thực tại  
của đời sống cộng đồng hay xã hội là  
yếu tố đòi hỏi sự thống nhất về ý thức  
hay tín ngƣỡng tôn giáo của các  
thành viên của họ. Mặt khác, tổ chức  
tôn giáo còn có vai trò quan trọng  
trong các cộng đồng dân cƣ tự quản  
nên việc chọn lựa tham gia một tôn  
giáo cũng đảm bảo cho đời sống cộng  
đồng của con ngƣời luôn có tính tổ  
chức và tính ổn định: “Ngƣời Khmer ở  
xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh, tỉnh  
Bình Phƣớc vốn là những tín đồ Phật  
giáo Nam tông lâu đời. Song có một  
Bảng 1. Số lƣợng tín đồ Tin Lành ở tỉnh  
Trà Vinh từ 1954 đến 2005(11)  
Năm Số tín đồ Tin Lành Tỷ lệ tăng %  
1954  
1975  
2001  
2005  
90  
192  
0%  
53%  
49%  
63%  
376  
1011  
Nguồn: Theo Nguyễn Thị Thanh Trang,  
2014: 43-44.  
Điều đáng chú ý là giai đoạn 1954-  
1975 và 1975-2001 tỷ lệ tín đồ tăng  
luôn xấp xỉ 50%. Giai đoạn 2001-2005  
(5 năm) tỷ lệ lệ tín tăng lên 63%. Điều  
này có nghĩa là sự chuyển đổi tín  
ngƣỡng tôn giáo của các vùng dân tộc  
thiểu số có biểu hiện mạnh nhất từ  
những năm 2001 đến năm 2005, gắn  
liền với những tác động của quá trình  
chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội trên  
cả nƣớc.  
Bảng 2. Số lƣợng tín đồ của đạo Tin Lành  
trong dân tộc Khmer ở Trà Vinh (2005-  
2010)  
Tín đồ  
ngƣời  
Khmer  
Tín đồ Tỷ lệ  
toàn tỉnh tăng %  
Tỷ lệ  
tăng %  
Năm  
2005 1.011  
0%  
309  
0%  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021  
72  
quả khảo sát ở Bảng 3 thì nhóm  
nghèo luôn đề cao ý nghĩa sinh hoạt  
cộng đồng trong các nghi lễ ở chùa  
hơn các nhóm trung bình và khá -  
giàu qua hai chỉ số “cộng đồng” và  
“hội hè”. Điều này cho thấy, ngƣời  
nghèo luôn xem sinh hoạt tôn giáo tín  
ngƣỡng gắn liền với tinh thần của đời  
sống cộng đồng với tƣ cách là chỗ  
dựa cho đời sống vật chất và tinh thần.  
2006 1.118  
2007 1.181  
10%  
339  
375  
336  
385  
414  
9,8%  
10%  
5,6%  
2008 1.139 -3,5%  
-10%  
14,5%  
7,5%  
2009 1.194  
2010 1.287  
5%  
7,7%  
Nguồn: Theo Nguyễn Thị Thanh Trang,  
2014: 52.  
Sự gia tăng mạnh số tín đồ Tin Lành  
là ngƣời Khmer ở Trà Vinh cho thấy  
sự tác động của những biến đổi kinh  
tế xã hội đến đời sống vật chất và tinh  
thần còn mạnh hơn so với sự tác  
động này ở các nhóm không phải là  
ngƣời Khmer.  
Trong Bảng 4, quan niệm của những  
ngƣời Khmer về sự tham gia vào các  
sinh hoạt tôn giáo ở nhà thờ dƣới các  
hình thức khác nhau cho thấy nhóm  
nghèo có tỷ lệ quan tâm tìm hiểu mọi  
sinh hoạt ở nhà thờ và hội hè cao hơn  
các nhóm trung bình. Dù quan tâm  
đến các sinh hoạt tôn giáo ở chùa hay  
ở nhà thờ, ngƣời Khmer vẫn coi các  
biểu tƣợng tôn giáo nhƣ hiện thân của  
sức mạnh siêu nhiên chi phối các hiện  
tƣợng của thiên nhiên và những may  
rủi trong cuộc sống con ngƣời nên số  
lƣợng tín đồ tham dự luôn cao tuyệt  
đối.  
Tuy nhiên vấn đề chuyển đổi tín  
ngƣỡng tôn giáo và sự biến đổi của  
trạng thái tín ngƣỡng tôn giáo ở  
ngƣời Khmer trong khảo sát (tháng  
11/2017) của tác giả lại không hoàn  
toàn đồng nhất với nhau. Kết quả  
khảo sát ở xã Phú Tân, huyện Châu  
Thành, tỉnh Sóc Trăng cho thấy,  
những ngƣời nghèo trong mẫu điều  
tra vẫn có tỷ lệ tin tƣởng cao đối với  
các tín ngƣỡng tôn giáo, trong khi các  
nhóm có mức sống trung bình và khá -  
giàu có tỷ lệ tin tƣởng giảm dần. Kết  
Sau khi trải nghiệm đời sống cộng  
đồng của các tôn giáo mới, nếu các  
tôn giáo này thực sự đáp ứng đƣợc  
Bảng 3: Sự tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở chùa của ngƣời Khmer ở xã Phú Tân,  
(Châu Thành, Sóc Trăng)  
Nghĩa vụ  
Đón tết Nghi lễ Cộng đồng Hội hè Cầu may  
tôn giáo  
Số hộ  
%
24  
96  
21  
84  
18  
95  
26  
93  
19  
76  
13  
68  
15  
54  
7
28  
3
24  
96  
20  
80  
15  
79  
25  
89  
Nghèo  
Số hộ  
%
19  
19  
Trung bình  
Khá - giàu  
100  
28  
16  
4
100  
27  
Số hộ  
%
100  
14  
96  
Nguồn: Nguyễn Đức Dũng, 2017.  
NGUYỄN ĐỨC DŨNG - ĐỖ THU HƢỜNG – BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ…  
73  
Bảng 4. Sự tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở nhà thờ của ngƣời Khmer ở xã Phú Tân,  
(Châu Thành, Sóc Trăng)  
Quan hệ  
Tìm hiểu Nghi lễ Hội hè Trợ giúp Cầu may  
Đã bỏ  
mới  
Số hộ  
%
11  
44  
5
12  
48  
6
6
24  
2
3
12  
1
11  
44  
5
9
1
4
0
0
2
7
Nghèo  
36  
0
Số hộ  
%
Trung bình  
Khá - giàu  
25  
6
30  
8
10  
1
5
25  
7
0
Số hộ  
%
4
3
21  
27  
3,5  
14  
24,5  
10,5  
Nguồn: Nguyễn Đức Dũng, 2017.  
những nhu cầu vật chất và tinh thần vì họ đã tạo lập đƣợc cơ sở khá vững  
thì ngƣời Khmer mới hoàn toàn thay chắc cho kinh tế gia đình, do đó ít cảm  
đổi tín ngƣỡng truyền thống của mình. thấy phải lệ thuộc vào các quan hệ  
Điều này giải thích tại sao những cộng đồng nhƣ trƣớc.  
ngƣời Khmer nghèo thƣờng có tỷ lệ  
4. KẾT LUẬN  
chuyển đổi tôn giáo cao hơn dù họ  
Từ những biến đổi trong kinh tế hộ gia  
vẫn tin tƣởng ở tín ngƣỡng truyền  
đình khi tiếp cận với kinh tế thị trƣờng  
thống, bởi tín ngƣỡng truyền thống có  
của ngƣời Khmer ở Nam Bộ, cho thấy  
sự khác biệt và sự phân biệt đối xử  
đa số ngƣời Khmer đã có sự cải thiện  
trong sinh hoạt cộng đồng, nhất là khi  
căn bản về mức sống. Sự biến đổi  
sự quan tâm tƣơng trợ giúp đỡ lẫn  
của kinh tế hộ gia đình về phƣơng  
nhau gắn với các quan hệ cộng đồng  
diện tổ chức sản xuất hay quan hệ  
và tín ngƣỡng truyền thống của ngƣời  
sản xuất đã dẫn đến sự đề cao các  
Khmer không còn đƣợc duy trì. Vì thế,  
hoạt động sinh kế của cá nhân hơn là  
hiện tƣợng các cộng đồng hay nhóm  
của hộ gia đình nhƣ một đơn vị kinh tế  
dân tộc thiểu số đi theo các tôn giáo  
trƣớc đây. Sự giảm thiểu vai trò tổ  
mới một thời gian rồi lại trở về với các  
chức kinh tế của hộ gia đình trong nền  
tín ngƣỡng tôn giáo truyền thống cũng  
là hiện tƣợng khá phổ biến hiện nay.  
Trong khi đó các nhóm trung bình và  
khá - giàu, do đã chuyển đổi cơ cấu  
kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông  
nghiệp, từ kinh tế tự cung tự cấp sang  
kinh tế thị trƣờng, nên luôn có những  
biểu hiện tin tƣởng vào tín ngƣỡng,  
kinh tế thị trƣờng dẫn tới sự giảm  
thiểu ý thức của cá nhân về vai trò  
của cộng đồng trong đời sống kinh tế  
xã hội. Các cá nhân, nhất là những  
ngƣời trẻ hay những ngƣời có hoàn  
cảnh đặc biệt khó khăn, khi không còn  
chỗ dựa vào các quan hệ hợp tác  
tƣơng trợ của cộng đồng nông nghiệp  
tôn giáo truyền thống thấp hơn nhƣng truyền thống phải di cƣ hay xa rời  
cuộc sống cộng đồng để tìm sinh kế  
họ lại ít có sự chuyển đổi tôn giáo hơn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (274) 2021  
74  
khác hay những ngƣời không thể thay tập trung chủ yếu vào các sinh hoạt  
đổi công việc thƣờng đi tìm chỗ dựa tôn giáo hơn là chú ý đến các hoạt  
trong các quan hệ cộng đồng mới đã động kinh tế xã hội trong các cộng  
dẫn tới sự chuyển đổi tín ngƣỡng nhất đồng dân cƣ. Nếu Phật giáo Nam tông  
thời hay lâu dài. Vì thế, sự chuyển đổi muốn giữ đƣợc vị thế ảnh hƣởng  
tín ngƣỡng tôn giáo của ngƣời Khmer tuyệt đối nhƣ trƣớc đây cần phải mở  
Nam Bộ hiện nay gắn với những biến rộng ảnh hƣởng ra các hoạt động kinh  
đổi trong đời sống cộng đồng trong khi tế và những sinh hoạt cộng đồng.  
tinh thần của Phật giáo Nam tông vẫn  
TÀI LIỆU TRÍCH LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Ngô Thị Phƣơng Lan. 2012. Bất ổn sinh kế và di cư lao động của người Khmer ở Đồng  
bằng sông Cửu Long. Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 3/2012.  
2. Nguyễn Đức Dũng. 2017. Số liệu điều tra tại xã Tân Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc  
Trăng, tháng 11 năm 2017.  
3. Nguyễn Khắc Cảnh. 1997. Loại hình công xã của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu  
Long. Luận án phó tiến sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học, Trƣờng Đại học  
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM.  
4. Nguyễn Ngọc Minh. 2018. Sinh kế của người Khmer tại xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu tỉnh  
Sóc Trăng. Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học  
Xã hội Việt Nam.  
5. Nguyễn Thị Thanh Trang. 2014. Sự du nhập và ảnh hưởng của đạo Tin Lành trong đời  
sống văn hóa của người Khmer ở Trà Vinh. Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Trƣờng Đại học  
Trà Vinh.  
6. Phan Thị Yến Tuyết. 2018. Chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo trong các cộng đồng dân tộc  
thiểu số tại miền Đông Nam Bộ. Tạp chí Khoa học Xã hội (TPHCM), số 2 (234), tr. 68-83.  
7. Tổng cục Thống kê. 2019. Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018.  
22/6/2019.  
8. Viện Khoa học xã hội Việt Nam. 2011. Giảm nghèo ở Việt Nam, thành tựu và thách thức.  
Kỷ yếu hội thảo.  
pdf 9 trang baolam 22740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội và sự thay đổi tín ngưỡng phật giáo nam tông sang đạo tin lành của người Khmer ở Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_doi_co_cau_kinh_te_xa_hoi_va_su_thay_doi_tin_nguong_pha.pdf