Đánh giá tình hình thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
pISSN: 2588-1191; eISSN: 2615-9708
Tập 130, Số 3A, 2021, Tr. 143–153; DOI: 10.26459/hueunijard.v130i3A.5960
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẤP GIẤY
CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CHO HỘ GIA ĐÌNH,
CÁ NHÂN TẠI HUYỆN KRÔNG BUK, TỈNH ĐẮK LẮK
1
2
2
Huỳnh Văn Chương *, Trần Thị Minh Châu , Hồ Việt Hoàng ,
2
2
Trần Thị Ánh Tuyết , Lê Ly Đa
1 Cơ quan Đại học Huế, 1 Điện Biên Phủ, Huế, Việt Nam
2 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, 102 Phùng Hưng, Huế, Việt Nam
Tóm tắt: Nghiên cứu này tập trung phân tích tình hình thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện Krông Buk để làm cơ sở đề xuất được các giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý đất đai. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm: thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp; phương
pháp tổng hợp và xử lý số liệu; phương pháp so sánh thống kê mô tả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai
đoạn 2016–2019, huyện đã tiến hành cấp được 5.171 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 4.082,6 ha. Số
lượng và diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có xu hướng tăng lên trong giai từ năm
2016 gồm 1.333 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với 970,1 ha đến năm 2018 gồm 1.552 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và 1.101,1 ha. Theo kết quả từ khảo sát hộ gia đình, cá nhân thì hình thức cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất chủ yếu là kiểu tập trung, người dân tự đi làm thủ tục tại một của Uỷ ban nhân
dân huyện. Để nâng cao hiệu quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn huyện Krông Buk, nghiên cứu đã đề xuất được 4 nhóm giải pháp cụ thể.
Từ khóa: Cá nhân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia đình, huyện Krông Buk
Assessment of the implementation of granting land use right
certificates to households and individual users in Krong Buk
district, Dak Lak province
1
2
2
Huynh Van Chuong *, Tran Thi Minh Chau , Ho Viet Hoang ,
2
2
Tran Thi Anh Tuyet , Le Ly Da
1 Hue University, 1 Dien Bien Phu St., Hue, Vietnam
2 University of Agriculture and Forestry, Hue University, 102 Phung Hung St., Hue, Vietnam
Abstract: This study focuses on assess the implementation of land use right certificates (LUCs) to households
and individual users in Krong Buk district during the period of 2016–2019. The primary and secondary data
* Liên hệ: [email protected]du.vn
Nhận bài: 13–8–2020; Hoàn thành phản biện: 23–9–2020; Ngày nhận đăng: 28–9–2020
Huỳnh Văn Chương và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
collection, comparison and analysis methods were applied in this research. The results showed that Krong
Buk district has issued 5,171 LUCs for 4,082.6 ha. The number of LUCs and the areas where granted LUCs
has been increasing continuously in the period from 2016 (1333 LUCs and 970,1 ha) to the year of 2018
(1.552 LUCs and 1101,1 ha); however, it decreased dramatically in year of 2019 with 862 LUCs for 544.58 ha.
The land users usually do the procedures related to the issuance of land use right certificates at the District
People's Committee and the certificates are usually carried out done in batches. All most of land users ex-
pressed satisfaction with the work of issuing LUCs in the district. In order to improve the effectiveness of
land use right certification for households and individuals in Krong Buk district, the study has proposed 04
specific groups of solutions.
Keywords: Households, Individuals, Krong Buk district, land use right certificates
1
Đặt vấn đề
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là khâu rất quan trọng để
người sử dụng đất được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, giúp cho nhà nước thuận tiện
trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai và tạo tiền đề cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế, xã
hội [3]. Trong thời gian qua, đặc biệt sau khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, tùy từng
địa phương mà kết quả của công tác cấp GCNQSDĐ đạt được ở những mức độ khác nhau, kết
quả này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy trình, thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng, khả năng vận dụng thực hiện của từng địa phương [4].
Huyện Krông Buk thuộc tỉnh Đắk Lắk là địa phương có nhiều người đồng bào dân tộc
thiểu số sinh sống, trình độ học vấn còn thấp, hiệu quả sử dụng đất chưa cao và người sử dụng
đất chưa ý thức hết được tầm quan trọng việc đăng ký đất đai. Điều này dẫn đến việc diện tích
chưa được cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện còn nhiều. Thêm vào đó, địa phương cũng gặp
nhiều khó khăn trong việc quản lý biến động đất đai, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cũng như
giải quyết các tranh chấp về đất đai [5]. Do đó, việc đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ tại huyện
Krông Buk là cần thiết thực hiện để có các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả và góp phần
tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại địa phương.
2
Phương pháp nghiên cứu
2.1
Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Số liệu thứ cấp: Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; số liệu cấp Giấy chứng nhận
được thu thập tại Ủy ban nhân dân cấp xã và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông
Buk giai đoạn từ năm 2016–2019.
144
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình, cá nhân sử
dụng đất trên địa bàn huyện Krông Buk thông qua bảng khảo sát được thiết kế sẵn về các nội
dung liên quan đến cấp GCNQSDĐ.
Kích thước mẫu được xác định theo công thức Slovin (1984) như sau:
푁
푛 =
1 + 푁푒2
Trong đó: n là kích thước mẫu; N là tổng thể và e là sai số tiêu chuẩn.
Tổng số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện có nhu cầu đăng ký đất đai
năm 2019 là N = 634 và sai số tiêu chuẩn nghiên cứu sử dụng là e = 10%. Thay vào công thức
Slovin, kích thước mẫu được xác định là 87.
Phương pháp chọn mẫu: Dựa vào danh sách các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất
trên địa bàn huyện Krông Buk (năm 2019) được sắp xếp theo thứ tự ABC thu thập tại Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện, nghiên cứu tiến hành chọn mẫu theo phương pháp ngẫu
nhiên hệ thống, phân tầng và theo các yếu tố thuận lợi như (liền kề, trục đường giao thông, có
mặt tại thửa đất đã cấp giấy chứng nhận, …).
2.2
Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Sau khi được thu thập đầy đủ, số liệu được tổng hợp, nhập liệu và làm sạch trên phần
mềm MS Excel và phần mềm SPSS.
2.3
Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng để làm rõ sự khác biệt về số lượng
hộ gia đình được cấp GCNQSDĐ, số GCNQSDĐ được cấp, diện tích được cấp GCNQSDĐ theo
từng năm trong giai đoạn 2016–2019 và theo từng đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn huyện
Krông Buk.
Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp này giúp mô tả và hiểu được tính chất của các
biến liên quan đến công tác ˙cấp GCNQSDĐ như: hình thức, phương thức, nơi nộp hồ sơ, sự hài
lòng của người dân, …
145
Huỳnh Văn Chương và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
3
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1
Khái quát chung về khu vực nghiên cứu
Huyện Krông Buk nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Đắk Lắk, trung tâm huyện cách thành phố
Buôn Ma Thuột 60 km theo Quốc lộ 14. Huyện có 7 đơn vị hành chính cấp xã với tổng diện tích tự
nhiên là 35.767,5 ha. Huyện có vị trí nằm trên cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia
Lai, tỉnh Kon Tum, có Quốc lộ 14 chạy qua huyện tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế,
văn hóa, khoa học công nghệ, đồng thời cung ứng nguồn lao động dồi dào và hàng hoá nông sản
có giá trị kinh tế cao cho thị trường.
3.2
Hiện trạng sử dụng đất tại huyện Krông Buk
Theo kết quả thống kê đất đai, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Krông Buk năm 2019
là 35.767,5 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm phần lớn tổng diện tích đất của huyện với 92,0%,
tương ứng với 32.906,2 ha. Tổng diện tích các loại đất do các đối tượng sử dụng (bao gồm hộ gia
đình, cá nhân và tổ chức kinh tế) là 33.810,1 ha, chiếm 94,5% tổng diện tích đất toàn huyện bao
gồm đất nông nghiệp với 32.759,1 ha, đất phi nông nghiệp 1.049,4 ha, đất chưa sử dụng 1,6 ha.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng 29.068,1 ha, chiếm 81,3% tổng diện tích đất toàn huyện. Đất
nông nghiệp và đất phi nông nghiệp mà hộ gia đình, cá nhân sử dụng lần lượt là 28.437,8 ha và
630,3 ha (chủ yếu là đất ở tại nông thôn). Đây là diện tích cần kê khai, đăng ký, xét cấp giấy chứng
nhận cho hộ gia đình, cá nhân. Diện tích còn lại do các tổ chức trong nước sử dụng.
Hình 1. Sơ đồ địa giới hành chính huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk
146
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk năm 2019
Hộ gia đình,
cá nhân
Tổ chức kinh tế
Khác
Mục đích
sử dụng
đất
Diện
tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
ST
T
Diện tích Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ Diện tích
Tỷ lệ
(%)
(ha)
(%)
(ha)
(%)
(ha)
Tổng diện
tích đất
Đất nông
nghiệp
Đất phi
nông
nghiệp
Đất chưa
sử dụng
35.767,5 100,0
29.068,1
81,3
4.742,0
13,3
1.957,4
5,4
1
32.906,2
2.777,9
83,5
92,0
7,8
28.437,8
630,3
-
86,4
22,7
-
4.321,3
419,1
1,6
13,1
15,1
1,9
147,1
1.728,5
81,9
0,5
2
3
62,2
98,1
0,2
Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Krông Buk, năm 2020 [3]
3.3 Thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
tại huyện Krông Buk
Số liệu bảng 2 cho thấy trong giai đoạn từ năm 2016–2019 huyện Krông Buk đã cấp được
5.171 Giấy chứng nhận với tổng diện tích là 4082,6 ha. Xã Ea Sin có số GCNQSDĐ và diện tích
được cấp là nhiều nhất với 1.519 Giấy chứng nhận cho diện tích 1.894,3 ha. Kế tiếp là xã Cư Né
1.230 Giấy chứng nhận cho diện tích 872,7 ha. Xã có kết quả cấp GCNQSDĐ ít nhất là xã Pơng
Drang 294 GCNQSDĐ cho diện tích 47,2 ha. Qua đó, có thể nhận thấy nhu cầu cấp giấy chứng
nhận cho hộ gia đình, cá nhân tại xã Ea Sin, Xã Cư Né là rất lớn. Do đó, cần phải có sự đầu tư,
đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận trên các địa bàn này nhằm để người sử dụng đất có Giấy
chứng nhận để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Còn đối với xã Pơng Drang cơ bản
hoàn thành công tác cấp Giấy chứng nhận nên diện tích còn lại rất ít. Tuy nhiên, xã Pơng Drang
lại đang trong quá trình đô thị hóa rất nhanh, các thửa đất còn lại chưa cấp GCNQSDĐ có nguồn
gốc đất phức tạp, chưa rõ ràng. Do vậy tại xã Pơng Drang cần phải rà soát, thẩm tra, xác minh kỹ
và căn cứ các quy định pháp luật hiện hành để xét cấp GCNQSDĐ cho nhân dân đúng theo nguồn
gốc đất và quy định về thu tiền sử dụng đất của luật đất đai.
Số liệu tại bảng 3 cho thấy số lượng GCNQSDĐ và diện tích được cấp GCNQSDĐ tăng qua
các năm trong giai đoạn 2016–2018. Cụ thể: năm 2016 số lượng GCNQSDĐ được cấp là 1.333 và
diện tích được cấp GCNQSDĐ là 970,1 ha; đến năm 2018 số lượng GCNQSDĐ được cấp là 1.552
và diện tích được cấp GCNQSDĐ là 1.101,1 ha.
147
Huỳnh Văn Chương và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
Bảng 2. Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền trên địa bàn huyện Krông Buk giai đoạn 2016–2019
theo đơn vị hành chính cấp xã
Số giấy
chứng nhận
Diện tích đất được cấp
STT
Xã
Chư Kbô
Số hộ
(ha)
1
2
3
4
5
6
7
404
1041
763
488
1.230
859
260,4
872,7
722,1
136,7
1.894,3
47,2
Cư Né
Cư Pơng
Ea Ngai
212
260
Ea Sin
926
1.519
294
Pơng Drang
Tân Lập
Tổng cộng
201
456
521
149,2
4.082,6
4.003
5.171
Nguồn: Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk, năm 2020 [1]
Bảng 3. Kết quả cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện Krông Buk giai đoạn 2016–2019 theo từng năm
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018
Năm 2019
Diện
tích
(ha)
STT
Xã
Số
GCN
Diện tích
(ha)
Số
GCN
Diện tích
(ha)
Số
GCN
Diện tích
(ha)
Số
GCN
1
2
3
4
5
6
7
Chư Kbô
107
495
311
94
63,4
422,0
282,6
58,6
51,1
7,6
127
322
238
62
72,0
192,0
199,4
31,6
160
269
148
61
76,7
176,0
122,4
22,4
94
144
162
43
48,4
83,1
Cư Né
Cư Pơng
Ea Ngai
117,7
24,2
Ea Sin
41
495
47
925,5
12,1
699
105
110
1.552
669,0
16,9
284
101
34
248,7
10,6
Pơng Drang
Tân Lập
Tổng cộng
41
244
1.333
84,8
970,1
133
1.424
34,9
17,7
11,9
1.467,5
1101,1
862
544,6
Nguồn: Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk, năm 2020 [1]
Tuy nhiên, đến năm 2019 số lượng GCNQSDĐ và diện tích được cấp GCNQSDĐ lại giảm
đi đáng kể (862 GCNQSDĐ cho diện tích 544,6 ha). Kết quả cấp giấy chứng nhận trong năm 2019
đạt thấp là do hầu hết diện tích còn lại chưa cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện có nguồn
gốc từ các nông, lâm trường được UBND tỉnh thu hồi bàn giao về địa phương quản lý. Tuy nhiên
qua quá trình bàn giao hồ sơ, bản đồ ranh giới không rõ ràng gây khó khăn trong quá quản lý.
Việc lập phương án sử dụng đất đối với diện tích đất Nông lâm trường được UBND tỉnh giao về
148
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
cho địa phương quản lý đang được Sở ban ngành hướng dẫn phê duyệt. Tuy nhiên, đến nay vẫn
chưa hoàn thành nên chưa tham mưu cấp GCNQSDĐ lần đầu cho người sử dụng đất đối với
diện tích đất có nguồn gốc nông lâm trường giao về cho địa phương quản lý từ năm 2004 đến
nay. Ngoài ra, tuy các bản đồ địa chính đã được đo đạc trên phạm vi toàn huyện nhưng trong
quá trình kê khai cấp giấy chứng nhận phải tiến hành đo đạc lại do hiện trạng sử dụng đất của
hộ gia đình không đúng như trong bản đồ địa chính do biến động và sai sót trong quá trình đo
đạc, gây phiền hà, bức xúc trong nhân dân, chậm tiến độ cấp giấy chứng nhận. Thêm vào đó,
công tác cấp giấy chứng nhận QSD đất lần đầu còn chậm do công tác quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất và các quy hoạch khác chưa thống nhất, đồng bộ.
Tính đến ngày 31/12/2019, lũy kế kết quả cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân
trên địa bàn huyện Krông Buk là 37.513 GCNQSDĐ, diện tích 23.260,6 ha. Trong tổng diện tích
29.068,1 ha do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thì chỉ có 24.979,6 ha đủ điều kiện cấp giấy
chứng nhận.
Tỷ lệ cấp diện tích đã được cấp giấy chứng nhận so với diện tích cần cấp giấy chứng nhận
cho hộ gia đình cá nhân theo luỹ kế cấp GCNQSDĐ tính đến ngày 31/12/2019 trên địa bàn huyện
Krông Buk là 93,1%. Trong đó địa phương có tỷ lệ cấp giấy chứng nhận cao nhất là xã Pơng Drang
gần 99%, xã có tỷ lệ thấp nhất là xã Tân Lập với 81,8%.
Kết quả điều tra và tìm hiểu tại Ủy ban nhân dân các xã thì hầu hết hồ sơ đăng ký cấp giấy
chứng nhận đều xét duyệt tập trung.
Bảng 4. Tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Krông Buk theo luỹ kế cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến 31/12/2019
Luỹ kế cấp GCN đến 31/12/2019
Diện tích đủ điều
kiện cấp GCN
(ha)
Tỷ lệ đã cấp
GCN
STT
Xã
Diện tích
GCN
(ha)
(%)
1
2
3
4
5
6
7
Chư Kbô
Cư Né
2.480,0
5.725,0
6.827,9
3.185,0
3.294,0
2.701,1
766,6
5.650
6.900
9.087
3.271
3.037
7.813
1.755
37.513
92,8
88,5
98,1
91,2
90,9
98,7
81,8
93,1
2.301,3
5.067,9
6.700,9
2.903,3
2.993,8
2.666,2
Cư Pơng
Ea Ngai
Ea Sin
Pơg Drang
Tân Lập
Tổng cộng
627,1
24.979,6
23.260,6
Nguồn: Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk, năm 2020 [1]
149
Huỳnh Văn Chương và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
Bảng 5. Bảng tổng hợp kết quả phiếu điều tra các trường hợp đã cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại huyện Krông Buk
Tỷ lệ
(%)
STT
1
Nội dung đánh giá
Kết quả đánh giá
Số phiếu
Tập trung
82
5
94,3
Hình thức cấp
GCNQSDĐ
Riêng lẻ
5,7
100,0
0,0
Tự làm
87
0
2
3
Phương thức
Nơi nộp hồ sơ
Nhờ người khác
Một cửa UBND xã
87
100,0
Một cửa UBND
huyện
0
0,0
Mức độ hài lòng về
hướng dẫn, xử lý công
việc liên quan
GCNQSDĐ tại cấp xã
Mức độ hài lòng về
hướng dẫn, xử lý công
việc liên quan
Rất hài lòng
Hài lòng
20
67
51
36
22,9
77,1
58,6
41,4
4
5
Rất hài lòng
Hài lòng
GCNQSDĐ tại cấp huyện
Nhanh, gọn
Bình thường
Tại UBND xã
66
21
48
75,7
24,3
55,2
Đánh giá về thủ tục hành
chính về đất đai
6
7
8
Nơi tìm hiểu thông tin về
để cấp GCNQSDĐ
Được cán bộ có chức
trách hướng dẫn
39
40,8
Chưa biết
Đã biết
48
39
55,2
44,8
Dịch vụ trực tuyến về thủ
tục cấp GCNQSDĐ
Nguồn: tổng hợp số liệu điều tra, thu thập
Đặc biệt, 100,0% người sử dụng đất được điều tra là tự liên hệ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để
đăng ký, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận.
Người sử dụng đất đánh giá hài lòng và rất hài lòng về hướng dẫn, xử lý công việc của
công chức cấp xã (trong đó có 22,9% đánh gía ở mức rất hài lòng và 77,1% đánh giá ở mức hài
lòng) và cấp huyện (trong đó có 58,6% đánh gía ở mức rất hài lòng và 41,4% đánh giá ở mức hài
lòng). Như vậy có thể thấy mức độ hài lòng của người dân khi làm việc tại huyện cao hơn khi
làm việc tại xã. Điều này là do đối với các thủ tục thực hiện ở cấp huyện thì bước đầu đã qua cấp
xã nên người dân đã phần nào tiếp nhận được thông tin để chuẩn bị hồ sơ tốt hơn, mặt khác do
môi trường công sở ở cấp huyện có phần chuyên nghiệp hơn so với cấp xã.
150
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
Về việc đánh giá về thủ tục hành chính trong công tác cấp giấy chứng nhận trên 75% người
được hỏi có đánh giá là thủ tục hành chính hiện tại cũng đã được rút gọn, thời gian giải quyết là
nhanh, số còn lại đánh giá là bình thường.
Người sử dụng đất tìm hiểu và tiếp cận thông tin về thủ tục cấp giấy chứng nhận qua hai
kênh chính là thủ tục, các quy định Pháp luật niêm yết tại trụ sở UBND xã, loa phát thanh tại các
thôn buôn và được người có chức trách hướng dẫn, truyền đạt tại cấp xã và cấp huyện.
Trên 55% người được điều tra là không biết về dịch vụ hành chính công trực tuyến, còn
những người biết dịch vụ này nhưng chưa được tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng. Sau khi nghe
người phỏng vẫn giải thích về nội dung, tiện ích, chức năng của dịch vụ này thì hầu hết người sử
dụng đất đều mong muốn dịch vụ sớm được triển khai áp dụng rộng rãi vào thực tế ở mức độ 3
và mức độ 4 để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, tránh việc đi lại nhiều lần gây phiền phức,
tiết kiệm được thời gian, chi phí cho người dụng đất, đồng thời hạn chế việc nhũng nhiễu, gây
phiền hà và tham nhũng của những người có thẩm quyền trong giải quyết thủ tục hành chính về
đất đai.
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất tại huyện
Krông Buk
Giải pháp về thủ tục, hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cần tinh giảm số bộ hồ sơ phải nộp, loại bỏ một số loại giấy tờ phải nộp trong thành phần
các loại hồ sơ. Quy định cụ thể việc cung cấp thông tin, luân chuyển hồ sơ giữa Văn phòng đăng
ký đất đai, cơ quan thuê và Kho bạc Nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của người
sử dụng đất.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cấp GCNQSDĐ góp phần tự động
hoá, đơn giản hoá các quy trình thủ tục, tạo ra phong tác làm việc mới trong thời đại công nghệ
4.0, nghiên cứu các hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ công theo hướng trực tuyến. Thông
qua website huyện để cung cấp nhiều hơn thông tin cho người dân về pháp luật, hướng dẫn thực
hiện đăng ký đất đai và giải đáp những thắc mắc trực tuyến khi người dân cần.
Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ về công nghệ thông tin
Bồi dưỡng thêm kiến thức về công nghệ thông tin cho cán bộ công nhân viên chức tại Chi
nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk qua việc tổ chức các buổi tập huấn, bồi
dưỡng kiến thức về quản lý dự án công nghệ thông tin.
151
Huỳnh Văn Chương và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
Giải pháp nâng cao thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ
Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk cần quy định rõ ràng, cụ thể và
có biện pháp, chế tài đối với những cán bộ vi phạm quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong
công tác tiếp nhận và trả hồ sơ cho người dân. Khi làm việc với người dân, cán bộ cần thể hiện
thái độ hoà nhã, văn minh, lịch sự, luôn lắng nghe người dân trình bày ý kiến, nguyện vọng và
trả lời đầy đủ những thắc mắc của họ. Điều này sẽ góp phần nâng cao sự hài lòng của người dân
khi đến làm thủ tục cấp GCNQSDĐ tại đơn vị.
Giải pháp về hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất
Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk cần chú trọng đầu tư thêm các
phương tiện đáp ứng nhu cầu công việc như: máy tính, máy in giấy khổ lớn, máy phô tô, máy
toàn đạc điện tử, máy scan, tủ đựng hồ sơ, …
4
Kết luận
Trong giai đoạn 2016–2019, huyện Krông Buk đã tiến hành cấp được 5.171 GCNQSDĐ cho
4.082,6 ha. Trong đó, xã Ea Sin có số lượng GCNQSDĐ và diện tích được cấp GCNQSDĐ cao
nhất trong 7 xã thuộc huyện lần lượt là 1.519 GCNQSDĐ và 1.894,3 ha. Số lượng GCNQSDĐ và
diện tích được cấp GCNQSDĐ có xu hướng tăng lên trong giai từ năm 2016 (1.333 GCNQSDĐ
với 970,1 ha) đến năm 2018 (1.552 GCNQSDĐ và 1.101,1 ha), sau đó đến năm 2019 lại giảm khi
nhiều chỉ có 862 GCNQSDĐ cho 544,6 ha. Các chủ thể sử dụng đất chủ yếu là hộ gia đình cá nhân
với mục đích sử dụng đất chính là đất nông nghiệp. Theo kết quả từ khảo sát hộ gia đình, cá nhân
sử dụng đất trên địa bàn huyện thì hình thức cấp GCNQSDĐ chủ yếu là kiểu tập trung, người
dân tự đi làm thủ tục tại một của UBND xã. Phần lớn người dân tỏ ra hài lòng về công tác hướng
dẫn và các thủ tục liên quan đến đăng ký, lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ tại UBND xã. Đối với các hồ
sơ cần bổ sung thông tin, người dân cũng được sự hỗ trợ nhiệt tình và có hiệu quả của cán bộ
công chức tại cấp huyện. Mặc dù hiện nay, việc công khai trực tuyến các bộ hồ sơ và xử lý thông
tin hồ sơ đã bước đầu áp dụng tại huyện Krông Buk, tuy nhiên việc truy cập và tiếp cận của người
dân còn chưa phổ biến.
152
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
Tài liệu tham khảo
1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Krông Buk, (2020), Báo cáo tổng kết thực hiện
nhiệm vụ giai đoạn 2015–2020, Đắk Lắk.
2. Trần Thanh Đức, (2019), Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ gia đình cá nhân tại tỉnh Phú Yên, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
17, 143–148.
3. Phan Trọng Trí, Phan Công Tam và Nguyễn Văn Nam, (2017), Thực trang cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình trồng rừng ở tỉnh Quảng Nam,
Tạp chí Đại học Huế.
4. Uỷ ban nhân dân huyện Krông Buk, (2020), Báo cáo thống kê đất đai năm 2019, Đắk Lắk.
5. Uỷ ban nhân dân huyện Krông Buk, (2020), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh
tế –Xã hội, đảm bảo Quốc phòng–An ninh tháng 12/2019 và phương hướng nhiệm vụ trong tâm tháng
01/2020, Đắk Lắk.
153
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tình hình thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân tại huyện Krông Buk, tỉnh Đắk Lắk", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_tinh_hinh_thuc_hien_cong_tac_cap_giay_chung_nhan_qu.pdf

