Biến đổi về kinh tế và văn hóa - xã hội của người Thái ở vùng tái định cư thủy điện Lai Châu

Biến đổi về kinh tế và văn hóa - xã hội của  
người Thái ở vùng tái định cư thủy điện Lai Châu  
Nguyễn Thị Tám1  
1 Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Email: hongtam.ls89@gmail.com  
Nhận ngày 4 tháng 6 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 7 tháng 7 năm 2017.  
Tóm tắt: Chịu ảnh hưởng từ quá trình di dân tái định cư ở vùng lòng hồ thủy điện Lai Châu, đời  
sống của tộc người Thái đã và đang có những biến đổi sâu sắc cả tích cực và tiêu cực về mặt kinh  
tế và văn hóa - xã hội. Một số khó khăn bước đầu (trong sản xuất nông nghiệp, trao đổi buôn bán,  
chăm sóc sức khỏe, giáo dục…) sẽ được khắc phục khi ổn định chỗ ở. Tuy nhiên, những thay đổi  
về văn hóa - xã hội sẽ ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của người dân trong tương lai. Để có thể  
giảm thiểu tối đa tác động của những biến đổi tiêu cực đến đời sống của đồng bào, cần phải thực  
hiện đồng bộ, triệt để, thỏa đáng và kịp thời các giải pháp như tạo sinh kế, phát huy truyền thống  
dân chủ, bảo vệ, giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Thái ở vùng tái định cư thủy  
điện Lai Châu.  
Từ khóa: Dân tộc Thái, kinh tế, văn hóa - xã hội, tái định cư, thủy điện, Lai Châu.  
Phân loại ngành: Dân tộc học  
Abstract: The life of Thai ethnic people who once lived in and have moved out of the area, which  
is now the reservoir of Lai Chau hydropower plant, has been undergoing profound changes, both  
positively and negatively, in economic, cultural and social aspects, as a result of the resettlement. A  
number of initial difficulties, e.g. those in agricultural production, trade, health care, education…,  
will be overcome once they have stable residence. Meanwhile, cultural and social changes will  
exert lasting impacts on their future life. In order to minimise the impacts of negative changes to  
their life, it is necessary to carry out synchronous, complete, satisfactory and timely solutions of  
livehood creation, and bring into full play the good impacts of fine community and traditional  
factors, namely democracy and the protection and preservation of the traditional cultural values.  
Keywords: Thai ethnic people, economy, culture and society, resettlement, hydropower, Lai Chau.  
Subject classification: Ethnology  
78  
Nguyễn Thị Tám  
1. Mở đầu  
Tại nơi ở mới, hầu hết người dân vẫn  
duy trì kinh tế nông nghiệp. Ngoài lúa,  
người dân còn trồng một số cây khác như  
sắn, khoai, các loại hoa màu. Người Thái  
cho biết, ưu điểm về đất đai ở các bản tái  
định cư là có sự gần gũi giữa nơi ở và nơi  
sản xuất. Tại bản Mường Mô, xã Mường  
Mô của huyện Nậm Nhùn, ruộng nước của  
đồng bào nằm tập trung ở cánh đồng cách  
nơi ở 2-3km, còn nương ngô, nương sắn  
cách từ 3-5km. Trong khi đó, ở bản tái định  
cư, người dân được bố trí đất nằm ngay sát  
khu ruộng nước, những khu đất làm nương  
lại nằm ngay trên các sườn đồi xung quanh  
bản, thuận tiện cho việc đi lại từ nhà ra  
ruộng, lên nương.  
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi  
trên, người Thái Trắng ở các bản tái định cư  
cũng gặp phải không ít trở ngại về đất đai.  
Thời điểm đầu của quá trình tái định cư,  
người Thái Trắng chưa có đủ đất ruộng để  
canh tác. Một số hộ dân ở bản Nậm Củm,  
xã Mường Tè, huyện Mường Tè trong thời  
gian nước chưa ngập vẫn tranh thủ cấy lúa  
trên diện tích ruộng tại bản cũ. Tuy nhiên,  
do ruộng ở xa bản mới, việc chăm sóc lúa  
không được thường xuyên nên năng suất  
lúa không cao. Người Thái ở thị trấn  
Mường Tè cho biết, do việc chia đất đến  
đầu năm 2015 chưa được tiến hành nên họ  
bị lỡ mất vụ trồng ngô hàng năm thường  
diễn ra vào tháng ba. Còn ở Mường Mô,  
mặc dù đã biết vị trí đất ruộng mới của  
mình, song đồng bào vẫn chưa được phân  
chia đất cụ thể. Thêm vào đó, người dân  
luôn thường trực nỗi băn khoăn là trong  
thời gian tới khi được phân đất thì diện tích  
mà họ nhận được sẽ ít hơn rất nhiều so với  
địa bàn cũ. Xét về lâu dài, khi cộng đồng cư  
dân đi vào cuộc sống ổn định, dân số gia  
tăng thì nhu cầu về đất đai sẽ ngày càng trở  
nên bức thiết hơn. Nhận thấy tầm quan  
trọng của đất sản xuất, một số hộ ở bản  
Nậm Củm, xã Mường Tè đã dùng một phần  
Thủy điện Lai Châu là một công trình  
trọng điểm có vai trò quan trọng đối với sự  
phát triển của đất nước cũng như các tộc  
người ở vùng Tây Bắc Việt Nam, trong đó  
có tộc người Thái chiếm số lượng đông  
nhất. Việc xây dựng và hoàn thành công  
trình thủy điện Lai Châu đã mang lại  
những lợi ích to lớn về nhiều mặt, nhưng  
đồng thời cũng đặt ra những thách thức,  
tác động không mong muốn đến tài  
nguyên, môi trường và các tộc người vốn  
cư trú lâu đời ở vùng lòng hồ và khu vực  
xây dựng nhà máy. Người Thái ở đây hầu  
hết là nhóm Thái Trắng (cư trú tập trung  
tại bản Nậm Củm của xã Mường Tè; khu  
5, khu 9 ở thị trấn Mường Tè của huyện  
Mường Tè; bản Mường Mô thuộc xã  
Mường Mô của huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai  
Châu). Bài viết này phân tích những biến  
đổi trong đời sống của dân tộc Thái về  
kinh tế và văn hóa - xã hội; từ đó đưa ra  
một số giải pháp phát triển bền vững cho  
tộc người Thái tại vùng tái định cư thủy  
điện Lai Châu.  
2. Biến đổi về kinh tế  
2.1. Sở hữu đất đai  
Trong quá trình di dân tái định cư, biến đổi  
rõ nhất là sự thay đổi về sở hữu đất đai. Đối  
với người Thái ở Mường Tè và Nậm Nhùn,  
nông nghiệp được coi là ngành kinh tế chủ  
đạo, do vậy đất đai là tư liệu sản xuất quan  
trọng nhất. Khảo sát thực tế cho thấy, ở vị  
trí bản cũ, mỗi gia đình người Thái có từ 3-  
4ha đất các loại, bao gồm đất thổ cư, đất  
trồng cây lương thực, đất vườn. Diện tích  
đất này đã đảm bảo được một phần đáng kể  
về lương thực dùng trong cuộc sống hàng  
ngày cho đa số các hộ gia đình người Thái.  
79  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
tiền hỗ trợ tái định cư để mua đất ruộng của trồng lúa nên người dân chỉ tiếp tục trồng  
người Giáy ở bản Giẳng (cách bản tái định ngô trên diện tích đất nương, do vậy tạm  
cư của người Thái Trắng 3km). Một vài hộ thời ngô trở thành cây lương thực chủ đạo  
phải bỏ ra 26 triệu đồng để mua thửa ruộng của đồng bào. Ở bản cũ, người dân trồng rất  
với diện tích 1 sào (360m2).  
nhiều loại cây ăn quả trong vườn nhà (như  
xoài, mít, bưởi, na, ổi...), nhưng khi lên bản  
tái định cư, họ không mang theo được các  
loại cây này, để trồng lại được cần phải mất  
5 đến 10 năm.  
2.2. Sản xuất nông nghiệp  
Đi kèm với vấn đề sở hữu đất đai, sản xuất  
nông nghiệp của người Thái Trắng cũng  
đang chịu tác động khá lớn từ quá trình tái  
định cư. Ở địa bàn cư trú cũ, người Thái  
Trắng đã chọn cho mình những mảnh đất  
màu mỡ gắn với nguồn nước thuận lợi để  
canh tác lúa nước 2 vụ/năm (ở bản Mường  
Mô, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn và  
bản Nậm Củm, xã Mường Tè, huyện  
Mường Tè), 1 vụ/năm (ở bản Mấn và bản  
Bo, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè).  
Tại bản cũ, ruộng nước của người dân nằm  
sát sông Đà nên đất đai được bồi đắp  
thường xuyên, do đó khi trồng lúa nước,  
đồng bào ít sử dụng phân bón mà năng suất  
lúa vẫn cao. Khi sang bản mới ở khu tái  
định cư, việc sản xuất nông nghiệp sẽ có  
một số thay đổi mang tính tiêu cực so với  
trước: hầu hết diện tích ruộng ở nơi ở mới  
Về chăn nuôi: tại nơi ở cũ, nhờ có những  
cánh đồng và đồi cỏ rộng lớn nên trung  
bình mỗi hộ dân nuôi 1 - 2 con trâu, 3 - 4  
con bò đáp ứng sức kéo. Tuy nhiên, đến nơi  
ở mới, người dân nhận định việc chăn nuôi  
khó khăn hơn do thiếu bãi chăn thả. Ở khu  
5 của thị trấn Mường Tè, khi có kế hoạch di  
chuyển lên nơi ở mới, đồng bào đã bán hết  
số trâu, bò để phụ thêm vào việc xây dựng  
nhà cửa khang trang tại bản tái định cư.  
Trước đây, những vật nuôi này được coi là  
tài sản lớn trong gia đình người Thái Trắng,  
nay bán đi trong khi cơ giới hóa chưa đến  
được với đồng ruộng của họ thì rất có thể  
trong những vụ tới ruộng, nương của người  
dân sẽ thiếu sức cày kéo. Tại bản Mường  
Mô, xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, các  
hộ nghèo được nhận sự hỗ trợ của Nhà  
đều cách xa nguồn nước sông Đà, vì hệ nước bằng trâu, bò. Năm 2012, bản nhận  
thống đập thủy lợi chưa được xây dựng nên được 6 con bò; năm 2014, bản được nhận  
trong vài năm tới người dân chỉ chờ vào  
nước mưa và chỉ có thể trồng được 1 vụ lúa  
thay vì 2 vụ như trước. Thêm nữa là, do  
không gần sông Đà nên lượng phù sa bồi  
đắp cho ruộng không có, mặc dù đất đai ở  
khu tái định cư khá màu mỡ nhưng sử dụng  
trong một thời gian nhất định, đất dễ bị  
thoái hóa dẫn đến năng suất không cao.  
Trong trường hợp đó, đồng bào sẽ phải đầu  
tư các loại phân bón để cải tạo đất ruộng.  
Về cơ cấu cây trồng: tại nơi ở cũ, lúa là  
loại cây trồng chủ đạo bên cạnh các cây phụ  
trợ như ngô, sắn, vì thế người dân hoàn  
toàn có thể chủ động về lương thực. Khi  
chuyển lên vùng tái định cư, do chưa có đất  
14 con trâu. Tuy nhiên, cả 6 con bò đều bị  
chết, trâu thì bị gầy còm. Lý giải về thực  
trạng này, đồng bào cho biết do giống trâu,  
bò này đều nhập từ nơi khác (Hà Nam,  
Ninh Bình) nên về đây không hợp khí hậu,  
dễ bị dịch bệnh vào mùa lạnh. Người dân  
mong muốn Nhà nước cung cấp giống vật  
nuôi phù hợp với thời tiết ở địa phương để  
vật nuôi có thể sống và phát triển được,  
hoặc hỗ trợ tiền mặt để người dân tự tìm  
giống vật nuôi thích hợp (cán bộ dự án có  
thể xuống địa bàn để nghiệm thu). Bên cạnh  
chăn nuôi trâu, bò, người Thái Trắng sau  
khi chuyển cư cũng mang theo các loại gia  
súc nhỏ và gia cầm, tuy nhiên khi đến nơi ở  
80  
Nguyễn Thị Tám  
mới số vật nuôi này bị chết hoặc gầy còm Mường Tè và bản Mường Mô, xã Mường  
dần do thay đổi môi trường sống và thiếu  
nguồn thức ăn dành cho chăn nuôi. Hiện  
nay, đồng bào dành ra một khoản tiền sau  
khi đã xây dựng nhà cửa để mua giống gia  
súc, gia cầm về nuôi, nhằm gây dựng lại  
đàn vật nuôi như trước.  
Mô thì ở Khu 5, Khu 9 của thị trấn Mường  
Tè, hoạt động trao đổi buôn bán diễn ra tấp  
nập hơn do vị trí bản nằm ở trung tâm của  
huyện. Người dân ở bản Nậm Củm muốn  
mua các mặt hàng điện tử, đồ dùng trong  
gia đình phải đi ra chợ huyện Mường Tè.  
Thời gian đó mất cả mấy tiếng đồng hồ  
khiến người dân hiếm khi đi chợ. Từ khi có  
dự án thủy điện Lai Châu, các tuyến đường  
giao thông, các cây cầu được xây dựng, nhờ  
vậy mà hàng hóa từ dưới Thổ Tang (Vĩnh  
2.3. Thủ công nghiệp  
Trước đây, người Thái Trắng thường khai  
thác các sản vật từ rừng để phát triển một số  
nghề thủ công phục vụ cuộc sống và tạo Tường, Vĩnh Phúc), Điện Biên được vận  
thêm thu nhập cho gia đình, trong đó nghề  
dệt và nghề đan được đồng bào chú trọng  
phát triển. Tuy nhiên, nghề đan nay còn ít  
xuất hiện trong cuộc sống của người Thái  
Trắng ở bản tái định cư do họ bị hạn chế  
khai thác các sản vật từ rừng nên thiếu  
nguyên liệu để duy trì nghề này. Từ khi đến  
bản mới, người dân chủ yếu sử dụng các đồ  
dùng đan lát đã có sẵn từ trước chứ chưa  
làm thêm các đồ dùng mới hoặc làm thêm  
để mang bán ngoài chợ như trước kia. Cũng  
giống như nghề đan, nghề dệt không có  
điều kiện hoạt động do không khai thác  
được nguyên liệu từ rừng và hiện tại chưa  
có đất để trồng các loại cây lấy sợi. Hiện  
nay, người Thái Trắng giữ lại rất ít bộ  
khung dệt, hộ nào còn thì cất gọn gàng vào  
một góc nhà sàn. Họ đa phần đều mua quần  
áo may sẵn của người Kinh hoặc mua vải  
sẵn về tự cắt may.  
chuyển lên một cách dễ dàng. Thậm chí  
ngay tại bản tái định cư, các cửa hàng, quán  
dịch vụ mọc lên ngày càng nhiều. Số lượng  
cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể của người  
Thái Trắng ở vùng tái định cư thủy điện Lai  
Châu cũng tăng lên đáng kể và đa dạng các  
loại hình như buôn bán tạp hóa, vật liệu xây  
dựng, thực phẩm tươi sống, cửa hàng  
ăn/uống, dịch vụ giải trí (karaoke, bi-a,...),  
dịch vụ xay xát nông sản, cửa hàng sản xuất  
đồ gỗ... Các cửa hàng này phần nào đáp ứng  
nhu cầu trong đời sống của người dân tại  
vùng tái định cư, từ lương thực thực phẩm,  
đồ dùng sinh hoạt, nguyên vật liệu xây dựng  
đến những nhu cầu về giải trí… Đồng bào  
mang bán các sản phẩm lúa gạo, ngô tự sản  
xuất được cho đại lý thu mua lương thực để  
đổi lấy các mặt hàng hữu dụng trong cuộc  
sống của họ. Hiện tại, khi số tiền hỗ trợ tái  
định cư vẫn còn dư giả, sức mua của người  
dân còn lớn để phục vụ cho hoạt động xây  
dựng nhà cửa, ăn uống. Tuy nhiên, xét về lâu  
dài, nếu vấn đề đất đai chưa được giải quyết  
thì sẽ thiếu nguồn nguyên liệu để làm ra sản  
phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp. Khi  
số tiền đền bù hết, người dân không những  
hạn chế việc mua hàng do không có thu  
nhập, mà còn khó có thể tham gia vào thị  
trường với tư cách người bán do không có  
sản phẩm để mang đi trao đổi.  
2.4. Hoạt động trao đổi buôn bán  
Việc quy hoạch các vùng tái định cư tạo  
điều kiện cho thương nghiệp phát triển. Do  
Nhà nước đầu tư xây dựng các tuyến đường  
giao thông nên việc vận chuyển trao đổi  
hàng hóa từ các nơi khác đến diễn ra thuận  
lợi. Trước đây, ở địa bàn cư trú của người  
Thái Trắng, so với bản Nậm Củm, xã  
81  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
2.5. Hoạt động khai thác sản vật tự nhiên  
động từ 500 - 600m). Việc canh tác nông  
nghiệp trên diện tích ruộng mới của bản tái  
định cư cũng gặp khó khăn do thiếu nước,  
vì vậy, người dân chỉ mong chờ vào lượng  
nước mưa và bể nước trên đầu nguồn mà  
Ban dự án thủy điện nói là sẽ xây dựng cho  
đồng bào.  
Mặc dù ở địa bàn mới, người Thái Trắng  
gặp phải nhiều khó khăn, song xét về mặt  
điều kiện tự nhiên, đây vẫn là những khu  
vực có tài nguyên thiên nhiên đa dạng và  
thuận lợi cho hoạt động mưu sinh của  
người dân. Trước hết về tài nguyên rừng  
(xã Mường Tè có 11.902,2 ha đất lâm  
nghiệp [5], thị trấn Mường Tè có 818,7 ha  
đất lâm nghiệp [6], xã Mường Mô có  
12.266,3 ha đất lâm nghiệp [4], phong phú  
về lâm sản. Khu tái định cư của người Thái  
Trắng là nơi có rừng bao quanh và khá gần  
nơi cư trú (chỉ cách 3 - 4km). Về nguồn  
nước, hầu hết quanh các bản tái định cư  
đều có suối chảy qua, nước trong và có  
nguồn thủy sản dồi dào.  
3. Biến đổi về văn hóa - xã hội  
3.1. Không gian sinh sống  
Khi chuyển lên bản mới, do những khác  
biệt về địa hình và cách bố trí của chính  
quyền sở tại, nên không gian sống của  
người Thái Trắng cũng có những thay đổi  
nhất định.  
Các hộ gia đình được bố trí 320m2 đất ở,  
Khi chuyển đến nơi ở mới, nhu cầu của  
người dân về những sản vật từ rừng (như gỗ đó là không gian tương đối rộng, khoảng  
cách giữa mỗi nhà từ 15-25m. Với ô đất  
được chia, người dân có nhiều lựa chọn hơn  
để dựng nhà, rau, măng làm thực phẩm…)  
là rất lớn. Tuy nhiên, ở thị trấn Mường Tè  
do Ban quản lý dự án cấp huyện chưa hoàn trong việc xây dựng nhà cửa theo ý muốn,  
đồng thời có thể tận dụng tốt hơn diện tích  
đất xung quanh nhà để làm vườn, chăn nuôi  
tất việc đền bù, thu hồi rừng từ dân sở tại và  
chuyển giao cho dân mới đến, nên toàn bộ  
diện tích rừng xung quanh khu tái định cư hoặc mở cửa hàng… Rõ ràng là, khi có sự  
can thiệp của Ban quản lý dự án Thủy điện  
thì việc phân bố dân cư tại bản tái định cư  
vẫn do chính quyền và dân sở tại quản lý.  
Người Thái Trắng mới đến chỉ được vào  
rừng lấy củi, măng; không được lấy các loại được quy hoạch khoa học và hợp lý. Vị trí  
các hộ gia đình được phân bố dọc theo mặt  
đường, có các đường cấp phối đến từng hộ,  
lâm sản khác, đặc biệt là gỗ. Không những  
vậy, tại nơi ở mới, người Thái cũng khó tìm  
nguồn nước. Ở bản Nậm Củm, xã Mường nhờ vậy mà không gian toàn bản thoáng mở  
hơn so với nơi ở cũ. Khi hệ thống đường  
giao thông chính và đường liên bản hoàn  
Tè và bản tái định cư 11, thị trấn Mường  
Tè, lúc đầu khi mới chuyển cư đến, người  
dân dùng nước đập do Ban quản lý dự án thành thì việc đi lại trong bản tái định cư sẽ  
thuận tiện và dễ dàng hơn so với trước đây.  
Tuy nhiên, sự thay đổi về không gian  
sống là một sự biến đổi không nhỏ trong tập  
quán cư trú mật tập trước đây, và có thể  
phải mất một thời gian dài người dân tái  
định cư mới quen với kiểu phân bố mới. Do  
việc xây dựng nhà máy thủy điện Lai Châu,  
nên cộng đồng dân tộc Thái ở nhiều bản đã  
phải rời bỏ môi trường sinh sống truyền  
xây dựng nhưng chỉ sử dụng được chục  
ngày thì đập bị vỡ. Từ đó, đồng bào dùng  
nguồn nước mắc từ các khe trên núi về,  
song tình trạng mất nước diễn ra liên tục do  
đường dẫn ống hầu hết là các ống cũ được  
tận dụng lại. Ở bản Mường Mô, nước từ bể  
không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của  
người dân nên rất nhiều gia đình trong bản  
dẫn nước từ khe về nhà, khoảng cách dao  
82  
Nguyễn Thị Tám  
thống của mình đến các khu tái định cư. đồng ít nhiều bị thay đổi. Ảnh hưởng đầu  
Nhìn về mặt kiến trúc xây dựng, các bản tái  
định cư của đồng bào đều mới, đẹp, khang  
trang và kiên cố hơn nhiều so với chỗ ở cũ  
của đồng bào. Mỗi căn nhà có giá trị tương  
ứng trên dưới 100 triệu đồng. Thêm vào đó,  
sự đầu tư về cơ sở hạ tầng đã giúp cho  
người dân vùng tái định cư được hưởng lợi  
từ các điều kiện y tế, giáo dục, giao lưu  
ngoài cộng đồng. Song, tâm lý chung của  
họ khi phải rời bỏ môi trường sinh sống đã  
gắn bó bao đời là sự hoang mang, lo lắng  
cho cuộc sống tương lai và sự tiếc nuối  
phần nào cuộc sống cũ.  
tiên của việc cộng đồng bị chia nhỏ là các  
mối quan hệ họ hàng, thông gia bị thay đổi,  
thể hiện qua việc thành viên trong một dòng  
họ bị chia tách đi những vị trí tái định cư  
khác nhau. Sở dĩ có sự chia tách giữa các  
thành viên, hộ gia đình trong cùng một  
dòng họ là do có sự lựa chọn điểm di cư  
khác nhau của các cá nhân, gia đình. Mặt  
khác, do xuất phát từ quy mô thiết kế của  
mỗi điểm tái định cư tương đối nhỏ so với  
bản cũ, nên không thể đưa toàn bộ dân cư  
của một bản vào một điểm tái định cư mà  
phải chia thành nhiều điểm. Đây chính là  
nguyên nhân làm cho cấu trúc dòng họ bị  
chia tách. Điều dễ nhận thấy là, khi cấu trúc  
dòng họ thay đổi kéo theo sự biến đổi của  
các mối quan hệ cộng đồng truyền thống,  
rất có thể tính cố kết cộng đồng cũng không  
được duy trì như trước.  
3.2. Quan hệ cộng đồng, dòng họ  
So với nơi ở cũ, trong quá trình chuyển cư  
lên nơi ở mới, quan hệ cộng đồng, dòng họ  
đã biểu hiện nhiều nét biến đổi rõ rệt: quá  
trình chuyển cư diễn ra nhiều công đoạn,  
trong đó khâu vận chuyển và dựng nhà mất  
nhiều sức lực và thời gian nhất. Thông qua  
đó, sự đoàn kết tương trợ nhau trong cộng  
đồng người Thái Trắng được biểu hiện rõ  
nét hơn. Bên cạnh những thay đổi theo  
chiều hướng tích cực, quá trình tái định cư  
đã tạo ra những thay đổi mang tính tiêu cực  
trong quan hệ cộng đồng. Để thích hợp với  
quy mô của các điểm tái định cư, người  
Thái Trắng được chia thành các bản nhỏ và  
phân về một số điểm tái định cư khác nhau  
hoặc dồn vào ở cùng với người dân ở bản  
khác. Thậm chí, thay vì di cư tập trung theo  
tổ chức của dự án, một số hộ gia đình lựa  
chọn phương án khác (như di cư tự do đi  
nơi khác). Ở bản Mường Mô, xã Mường  
Mô có hai hộ di cư vào Tây Nguyên và một  
hộ đi vào Bình Phước do có người nhà ở  
đó. Bản Nậm Củm, xã Mường Tè có một hộ  
xuống Mộc Châu, Sơn La sinh sống. Rõ  
ràng là, dưới tác động của quá trình tái định  
cư, cộng đồng cũ đã được chia tách thành  
nhiều bộ phận làm cho kết cấu của cộng  
3.3. Phong tục tập quán  
Thứ nhất là, những biến đổi về tập quán  
sản xuất trong nông nghiệp: lúa từ hai  
vụ/năm sang một vụ/năm, từ chỗ lúa là cây  
trồng chủ đạo, nay chưa có đất ruộng canh  
tác nên ngô tạm thời trở thành cây lương  
thực chính.  
Thứ hai là, những thay đổi về nhà cửa.  
Việc hỗ trợ kinh phí cho đồng bào dựng  
nhà mới đã khiến cho người dân được tự  
do lựa chọn mô hình và kiểu cách ngôi nhà  
của mình. Tùy thuộc vào số tiền đền bù  
nhiều hay ít mà các hộ gia đình dựng nhà  
theo ý muốn của mình. Nhà nào được đền  
bù nhiều tiền có thể xây kiểu nhà mái  
bằng; nhà tầng, hộ nào được đền bù ít thì  
dựng nhà sàn (có tận dụng gỗ ở nhà sàn  
cũ) và lợp mái bằng nguyên liệu tôn, tấm  
lợp xi măng, ngói. Trong một bản tái định  
cư, xuất hiện nhiều kiểu hình nhà khác  
nhau, ít nhiều làm mất đi tính thống nhất  
83  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
trước đó. Tất cả người dân ở các bản tái  
định cư đều có thẻ bảo hiểm y tế, khi ốm  
đau có thể ra trạm xá xin thuốc. Nhưng  
trong một số trường hợp bệnh nặng, họ phải  
đi ra bệnh viện huyện, tỉnh. Thời điểm đầu  
của quá trình tái định cư, trong điều kiện  
đường sá chưa hoàn thiện, người dân đi lại  
gặp rất nhiều khó khăn, nên việc đảm bảo  
sức khỏe cho đồng bào hiện nay đang trở  
thành vấn đề cần được cấp chính quyền sở  
tại quan tâm giúp đỡ. Ngoài dịch vụ y tế  
hiện đại, người Thái Trắng còn sử dụng các  
tri thức dân gian về bốc thuốc nam trong  
chăm sóc sức khỏe. Trong quá trình chuyển  
cư lên bản mới, khi bị cảm cúm hoặc tai  
nạn nhẹ do dựng nhà cửa (gãy tay, gãy  
chân, bong gân…), họ thường nhờ cậy các  
thày lang trong bản lấy lá đắp, uống để  
chữa trị tạm thời, sau đó nhờ đến cán bộ y  
tế xã hoặc đi bệnh viện.  
Bên cạnh vấn đề chăm sóc sức khỏe,  
người Thái Trắng ở các bản tái định cư vẫn  
đang có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề  
giáo dục. Theo quy hoạch, ở các điểm tái  
định cư đều có trường học. Tuy nhiên, tại  
các điểm khảo sát, chúng tôi thấy hầu hết  
các em nhỏ vẫn phải đi về bản cũ để tham  
gia công việc học tập do trường học mới  
chưa được hoàn thiện. Ở thị trấn Mường Tè  
và bản Nậm Củm, học sinh đến lớp phải  
vượt qua con suối, đa phần các em đều tự  
đi. Ở bản Mường Mô, con em của đồng bào  
phải quay về trường học ở bản cũ cách  
điểm tái định cư 4km để học tập. Do các  
bậc phụ huynh đang bận làm nhà cửa nên  
không thể đưa đón con em mình đến  
trường. Đối với những em đang độ tuổi học  
trong một không gian cư trú đặc thù của  
người Thái Trắng.  
Thứ ba là, những biến đổi về mặt văn  
hóa tinh thần. Người Thái Trắng chủ yếu  
sống dựa vào sản xuất nông nghiệp nên hệ  
thống các nghi lễ, lễ hội gắn liền với nông  
nghiệp của đồng bào rất phong phú, thu hút  
sự tham gia của cả cộng đồng. Trước đây,  
khi còn ở bản cũ, người dân vẫn tổ chức  
đều đặn các lễ hội, nghi lễ hàng năm. Tuy  
nhiên, trong quá trình tái định cư, các nghi  
lễ, lễ hội, một số hoạt động sinh hoạt cộng  
đồng đang tạm thời bị gián đoạn.  
3.4. Y tế, giáo dục  
Ở cả ba địa bàn tái định cư của người Thái  
Trắng đều có trạm y tế xã. Số lượng cán bộ  
y tế vẫn còn hạn chế (mỗi xã có 1 bác sĩ, 1  
y sĩ kiêm nhiệm vụ y tá, riêng ở thị trấn  
Mường Tè có 1 bác sĩ, 2 y sĩ và 1 y tá). Hầu  
hết đội ngũ cán bộ y tế xã đều là người  
Kinh đến từ các tỉnh miền xuôi. Cơ sở vật  
chất còn thiếu thốn khiến cho cán bộ y tế  
trạm không thể đảm đương việc chăm sóc  
sức khỏe của người dân, nhất là trong giai  
đoạn di chuyển dân lên vùng tái định cư,  
nhu cầu khám chữa bệnh của người dân  
càng cao hơn. Đối với người Thái Trắng, từ  
khi đến nơi ở mới, thay đổi thời tiết đột  
ngột, vận chuyển đồ đạc và dựng nhà cửa  
trong điều kiện trời nắng nóng khiến nhiều  
người bị ốm (viêm đường hô hấp, tiêu  
chảy…), gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức  
khỏe của người dân. Trước đây, khi còn ở  
bản cũ, thi thoảng cán bộ y tế vẫn đến thăm  
khám sức khỏe của bà con, trẻ em được đưa  
đi tiêm phòng vắc xin định kỳ. Khi sang mẫu giáo, đa phần đều được phụ huynh cho  
bản mới, cán bộ y tế vẫn chưa có đợt khám  
sức khỏe mới nào cho người dân, thậm chí  
việc cấp phát thuốc theo quy định hỗ trợ  
cho dân tái định cư cũng được thực hiện  
chậm hơn so với kế hoạch mà cán bộ dự án  
thủy điện dự kiến thông báo cho người dân  
nghỉ ở nhà (đợi khi trường lớp xây dựng  
xong mới tiếp tục theo học). Một số em học  
cấp hai cũng không duy trì lịch học thường  
xuyên ở trường do phải ở nhà phụ giúp  
công việc nhà và vận chuyển đồ đạc. Người  
Thái Trắng mong chờ việc xây dựng trường  
84  
Nguyễn Thị Tám  
cộng đồng ở các bản tái định cư của người  
Thái. Bên cạnh đó, cần phát huy việc giáo  
dục mang tính dân gian truyền thống trong  
hôn nhân và gia đình của người Thái; tạo  
cho con cái làm quen dần với các kỹ năng  
lao động, cung cách ứng xử trong gia đình,  
dòng họ và ngoài xã hội [3]. Ngoài ra, cần  
tiếp tục thực hiện tốt công tác an sinh xã hội  
về giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe ban  
đầu cho người dân.  
Thứ ba, cần tuyên truyền cho các gia đình  
người Thái thuộc diện di dân cho thủy điện  
Lai Châu những kiến thức về bảo vệ, giữ gìn  
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình  
khi chuyển đến nơi ở mới. Chẳng hạn, cần  
thực hiện tốt các hoạt động sinh hoạt văn hóa  
cộng đồng như đám cưới, đám ma, lễ cúng  
bản, văn nghệ... Để duy trì các hoạt động này,  
lớp sớm được hoàn thiện để con em bản tái  
định cư được ổn định và tiếp tục việc học  
hành. Thiết nghĩ, đây chỉ là những vấn đề  
mang tính chất tạm thời bắt nguồn từ những  
khó khăn trong giai đoạn đầu của quá trình  
tái định cư. Về lâu dài, khi cuộc sống của  
người dân đã ổn định, cơ sở hạ tầng được  
hoàn thiện, việc đi lại trở nên dễ dàng, đồng  
bào Thái Trắng sẽ có nhiều thuận lợi hơn  
trong việc tiếp cận với hệ thống y tế hiện  
đại, đồng thời chuyện đi lại học hành của  
các em nhỏ cũng sẽ đỡ vất vả hơn. Thực tế  
đến nay, các trường học, trạm y tế đã và  
đang được hoàn thiện, tạo điều kiện cho  
đồng bào đến khám chữa bệnh cũng như trẻ  
em được đến trường đầy đủ.  
4. Giải pháp phát triển bền vững cho tộc cần thiết xây dựng nhà văn hóa cho mỗi bản  
người Thái ở nơi tái định cư  
tái định cư, bởi đây là nơi tụ họp tuyên truyền  
về các chủ trương, chính sách của Đảng và  
Nhà nước, các quy ước của cộng đồng. Đồng  
thời, đây cũng là nơi để mỗi người dân có thể  
tìm đến và chia sẻ các mối quan tâm của  
mình với văn hóa dân tộc.  
Thứ nhất, để các hộ người Thái tái định cư  
có thể “an cư”, những giải pháp tạo sinh kế  
cho họ phải được triển khai và thực hiện  
hiệu quả. Chính quyền, phòng ban các cấp  
của địa phương cần nỗ lực thực hiện có  
hiệu quả chính sách hỗ trợ sản xuất cho  
vùng tái định cư, tư vấn hướng dẫn người  
dân áp dụng những tiến bộ khoa học vào  
sản xuất, triển khai nuôi, trồng những cây  
con phù hợp với thực tế cuộc sống tại các  
điểm tái định cư, như tổ chức chăn nuôi  
theo mô hình hộ gia đình; nuôi cá chiên, cá  
lăng trên hồ thủy điện; thâm canh tăng vụ  
trên diện tích ruộng hiện có; triển khai thực  
hiện các mô hình trồng cây phù hợp với thổ  
nhưỡng của địa phương... Qua đó để người  
dân ở các điểm tái định cư chủ động áp  
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào  
sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, ổn  
định cuộc sống tại nơi ở mới.  
Cần đào tạo nâng cao năng lực quản lý  
văn hóa của cán bộ các cấp, nhất là cán bộ  
văn hóa cơ sở. Bởi vì họ là những người  
trực tiếp làm việc với dân, nắm bắt mọi  
diễn biến của đời sống văn hóa cơ sở; đồng  
thời họ còn là những người có thể làm tốt  
công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức tự  
giác của người dân trên địa bàn họ quản lý.  
Bảo tồn các giá trị văn hóa Thái bằng  
việc đầu tư tài chính thông qua ngân sách  
và kêu gọi sự đầu tư của các cá nhân, tổ  
chức. Cần kiến nghị các nhà đầu tư quan  
tâm đến những dự án bảo tồn các yếu tố văn  
hóa Thái truyền thống như trang phục, các  
điệu múa, nghi lễ cưới xin, tang ma, nghề  
thủ công...  
Bên cạnh việc bảo tồn những giá trị văn  
hóa truyền thống của tộc người Thái, các  
cấp chính quyền cần quan tâm đến việc tiếp  
Thứ hai, cần khuyến khích và phát huy  
yếu tố cố kết cộng đồng và truyền thống  
dân chủ tại nơi tái định cư nhằm duy trì tính  
85  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
thu những yếu tố văn hóa mới phù hợp với  
sự phát triển chung của đất nước và phù  
hợp với văn hóa tộc người Thái. Đồng thời,  
cần loại bỏ những yếu tố văn hóa lỗi thời và  
không còn phù hợp với cuộc sống mới của  
đồng bào tại nơi tái định cư.  
việc thực hiện những giải pháp về mặt  
kinh tế, xã hội, văn hóa một cách triệt để,  
kịp thời sẽ tạo nên những hiệu quả tích  
cực, góp phần giảm thiểu tối đa tác động  
tiêu cực, phát huy những giá trị tốt đẹp  
vốn có của đồng bào Thái tại nơi ở mới.  
5. Kết luận  
Tài liệu tham khảo  
Để phục vụ cho lợi ích phát triển kinh tế -  
xã hội chung của đất nước, việc di dời  
người dân bị ảnh hưởng ra khỏi địa bàn  
cư trú lâu đời đến nơi tái định cư mới là  
chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà  
nước ta. Tuy nhiên, trong quá trình thực  
thi, bên cạnh những lợi ích kinh tế - xã  
hội, thì việc di dời tái định cư cũng dẫn  
đến sự đảo lộn cuộc sống, sự thay đổi về  
môi trường cư trú, tập quán canh tác, sự  
biến đổi về lối sống và nguy cơ mai một  
các giá trị văn hóa truyền thống... Những  
biến đổi cơ bản về mặt kinh tế và văn hóa -  
xã hội của người Thái ở khu vực tái định  
cư vùng lòng hồ thủy điện Lai Châu thể  
hiện ở vấn đề sở hữu đất đai, sản xuất  
nông nghiệp, thủ công nghiệp, trao đổi  
buôn bán, khai thác tài nguyên, không  
gian cư trú, quan hệ cộng đồng, dòng họ,  
các phong tục tập quán... Bên cạnh những  
chuyển biến mang tính tích cực vẫn còn  
tồn tại nhiều thay đổi mang tính tiêu cực  
trong cuộc sống của người Thái ở vùng tái  
định cư. Trong các biến đổi đó, một số  
biến đổi chỉ khó khăn bước đầu, sẽ được  
khắc phục khi ổn định chỗ ở, song, những  
thay đổi về mặt văn hóa - xã hội nhiều  
khả năng sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến  
cuộc sống của người dân về sau. Vì vậy,  
[1] Lâm Minh Châu (2010), “Tái định cư và biến  
đổi kinh tế trong đời sống của người Thái  
(Trường hợp bản Nậm Rên, xã Chiềng Sơn,  
huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La)”, Tạp chí Dân  
tộc học, số 2, Hà Nội.  
[2] Nguyễn Văn Quân và cộng sự (2011), “Công  
tác tái định cư dự án thủy điện Sơn La dưới  
góc độ phong tục và tập quán canh tác của  
đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc”, Tạp chí  
Khoa học và phát triển, t.9, số 6.  
[3] Nguyễn Ngọc Thanh (Chủ biên) và các cộng sự  
(2016), Văn hóa các dân tộc vùng lòng hồ thủy  
điện Lai Châu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[4] UBND xã Mường Mô (2015), Báo cáo Tình hình  
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đảm  
bảo quốc phòng-an ninh năm 2014 phương  
hướng, nhiệm vụ năm 2015, Mường Mô.  
[5] UBND huyện Mường Tè (2014), Báo cáo tình  
hình thực hiện Nghị quyết số 16/2011/NQ-  
HĐND của HĐND tỉnh Lai Châu về công tác  
bồi thường di dân, tái định cư dự án thủy điện  
Lai Châu, Mường Tè.  
[6] UBND Thị trấn Mường Tè (2014), Báo cáo tình  
hình triển khai và kết quả thực hiện việc bố trí  
dân cư các vùng thường xảy ra thiên tai theo  
Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg, ngày 28-4-  
2006 và Quyết định số 1776/QĐ-TTg, ngày 21-  
11-2012 của Thủ tướng Chính phủ, Mường Tè.  
86  
pdf 9 trang baolam 21780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi về kinh tế và văn hóa - xã hội của người Thái ở vùng tái định cư thủy điện Lai Châu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_doi_ve_kinh_te_va_van_hoa_xa_hoi_cua_nguoi_thai_o_vung.pdf