Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ trồng tỏi tỉnh Thái Bình
J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 8: 1342-1350
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 8: 1342-1350
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU THAM GIA
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU TẬP THỂ TỎI THÁI THỤY
CỦA HỘ TRỒNG TỎI TỈNH THÁI BÌNH
Nguyễn Văn Song1*, Vũ Ngọc Huyên2, Hồ Ngọc Cường1
Nguyễn Văn Lượng3, Bùi Đức Hoàng3, Hoàng Thị Hằng1
1Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3Huyện ủy Thái Thụy và Trường trung cấp Nông nghiệp - Thái Bình
Email*: nguyensonghua@gmail.com
Ngày gửi bài: 18.06.2014
Ngày chấp nhận: 01.09.2014
TÓM TẮT
Theo quyết định 68/2005/QĐ-TTg, vấn đề thương hiệu và nhãn hiệu đang được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ.
Trên cơ sở điều tra 80 hộ sản xuất tỏi và sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM), nghiên cứu đã nêu
được thực trạng sản xuất tỏi và phân tích được sự ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhu cầu tham gia xây dựng và
sử dụng nhãn hiệu tập thể (NHTT) tỏi Thái Thụy. Nghiên cứu đã phân tích 4 yếu tố bao gồm: giới tính, trình độ học
vấn, thu nhập từ sản xuất tỏi và quy mô trồng tỏi. Hai biến thu nhập và quy mô trồng tỏi được xác định là có ảnh
hưởng lớn đến nhu cầu và mức sẵn lòng chi trả để tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy. Từ quá trình
khảo sát, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người dân tham gia xây dựng và sử dụng NHTT
cho sản phẩm tỏi Thái Thụy.
Từ khóa: Hộ trồng tỏi, nhu cầu, nhãn hiệu tập thể, sẵn lòng chi trả.
Analysis of Factors Affecting the Needs for Participation
and Use of The Collective Trademark “Thai Thuy Garlic”
of Garlic Grown Household Farmers in Thai Binh Province
ABSTRACT
According to the decision No. 68/2005/QD-TTg, the trademark and collective trademark are of concern and
support by the government. Based on survey data of 80 household farmers growing garlic and using contingent
valuation method (CVM), the study clarified the status of garlic production and analyzed effect of some factors on the
needs for participation and using collective trademark (CT) of Thai Thuy garlic. The four main factors included
gender, education level, income generated from garlic production and scale of garlic production. Income and the
scale of garlic production were considered to have great effect on the need and willingness to pay (WTP) level for
participation and using CT. From the survey, the research has also suggested measures to increase the level of
participation and use of collective trademark for Thai Thuy garlic product.
Keywords: Collective trademark, garlic, household farmers, willingness to pay.
tâm hàng đầu của các công ty, doanh nghiệp,
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tỏi Thái Thụy
Trong thời đại phát triển và xu thế hội
nhập toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề thương
hiệu, nhãn hiệu ngày càng trở thành mối quan
lâu nay đã được biết đến với uy tín và chất
lượng đảm bảo không chỉ trong và ngoài tỉnh mà
còn xuất khẩu ra nước ngoài. Tuy nhiên, do quy
1342
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng
mô sản xuất đơn lẻ, chưa được chú trọng đầu tư
phát triển đúng mức nên tỏi Thái Thụy có nguy
cơ mất dần vị thế cạnh tranh trên thị trường.
Đặc biệt là sự xuất hiện của tỏi Trung Quốc
mang ưu điểm củ to và giá thành rẻ tràn ngập
thị trường khiến người tiêu dùng không có
nhiều lựa chọn (Lan Chi, 2011). Tỏi Trung Quốc
đã từng bị phát hiện dư lượng thuốc trừ sâu khi
nhập khẩu vào Mỹ hồi tháng 7/2007 (Tố Như,
2013). Nhãn hiệu tập thể là một vấn đề về
thương hiệu được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ
theo chương trình 68 của Bộ Khoa học và Công
nghệ. Việc xây dựng nhãn hiệu tập thể “Tỏi
Thái Thụy” sẽ góp phần nâng cao giá trị, danh
tiếng sản phẩm nhãn hiệu tập thể, đảm bảo việc
xúc tiến thương mại có hiệu quả; góp phần nâng
cao giá trị kinh tế - xã hội của địa phương; bảo
tồn các giống tỏi truyền thống của địa phương có
chất lượng và đặc trưng riêng.
được thu thập thông qua việc phỏng vấn các hộ
trồng tỏi từ phiếu điều tra.
2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Để phân tích và xử lý số liệu, các phương
pháp nghiên cứu truyền thống được sử dụng
như phương pháp định lượng bao gồm: thống kê
mô tả, phân tích so sánh, phương pháp định
tính, tạo dựng thị trường trong phần phỏng vấn
và sử dụng bộ câu hỏi bằng cách xếp hạng, cho
điểm. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng
phương pháp phân tích mô hình hồi quy để
đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng như thế nào
đến mức sẵn lòng chi trả cho việc tham gia xây
dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng sản xuất tỏi của các hộ
điều tra huyện Thái Thụy
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Hiện nay, tại huyện Thái Thụy, người dân
sử dụng phương thức trồng tập trung lẫn phân
tán, trong đó trồng xen cây tỏi và cây hành là
chủ yếu. Theo báo cáo của phòng thống kê
huyện Thái Thụy, năm 2010 cả huyện có
khoảng 600ha trồng hành và tỏi, trong đó diện
tích trồng tỏi chiếm khoảng 90ha. Cùng với xu
hướng diện tích đất nông nghiệp giảm do phải
chuyển sang mục đích sử dụng khác, tập trung
cao phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và phát
triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa, diện tích đất trồng màu
giảm, từ đó diện tích trồng tỏi cũng có xu hướng
giảm. Năm 2010 diện tích trồng tỏi là 90ha và
giảm xuống còn 70ha năm 2012.
Huyện Thái Thụy có sản phẩm tỏi chất
lượng cao nhưng chưa có vị thế trên thị trường
do chưa có nhãn hiệu. Tại địa bàn nghiên cứu,
lựa chọn các hộ sản xuất và kinh doanh tỏi ở 3
xã có diện tích trồng tỏi lớn: Thụy An, Thụy
Lương và Thụy Tân.
2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ báo
cáo kinh tế xã hội huyện Thái Thụy, phòng
thống kê, phòng địa chính huyện qua 3 năm, từ
năm 2011 đến 2013. Nguồn số liệu sơ cấp được
thu thập qua 80 mẫu điều tra tại 3 xã trồng tỏi
với số mẫu điều tra tại xã Thụy An là 30 mẫu, 2
xã Thụy Lương và Thụy Tân mỗi xã 25 mẫu. Tài
liệu thu thập qua các tiêu thức phản ánh tình
hình kinh tế - xã hội của người được điều tra
như tuổi, giới tính, tình hình thu nhập, trình độ
văn hóa, nghề nghiệp nhằm xác định những yếu
tố này ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia và xây
dựng nhãn hiệu tập thể (NHTT) tỏi Thái Thụy.
Số liệu điều tra thông tin về tình hình sản xuất
tỏi và nhu cầu tham gia và xây dựng NHTT
Kết quả điều tra cho thấy, sản lượng trồng tỏi
hàng năm có xu hướng giảm. Năm 2012, người
dân phải chịu ảnh hưởng của cơn bão số 8 nên sản
xuất bị giảm, từ 10.250 tạ năm 2011 giảm còn
8.470 tạ năm 2012. Nhìn chung, năng suất tỏi
không thay đổi nhiều qua các năm (khoảng 125
tạ/ha) do người dân sử dụng giống tự có để lại từ
các mùa trước và sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm tích lũy qua các năm.
1343
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ
trồng tỏi tỉnh Thái Bình
Bảng 1. Tình hình sản xuất tỏi tại Thái Thụy qua 3 năm 2010-2012
Năm
2011
82
Tốc độ phát triển (%)
Chỉ tiêu
ĐVT
2010
90
2012
70
11/10
91,11
91,11
100,00
12/11
85,37
82,63
BQ
Diện tích
Sản lượng
Năng suất
Ha
Tạ
88,24
86,87
98,40
11250
125
10250
8470
121
Tạ/ha
125
96,80
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thái Thụy
Từ bảng kết quả hồi quy ta viết được
phương trình tuyến tính sau:
3.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới
nhu cầu tham gia và xây dựng NHTT tỏi
Thái Thụy
WTP = -32934,2 + 1127,053S + 7568,377Ed
+ 6132,271I + 33378,25A
3.2.1. Mô hình hồi quy mức sẵn lòng chi trả
để mua NHTT cho cây tỏi
Xét yếu tố quy mô trồng tỏi: nếu diện tích
trồng tỏi tăng 1 sào thì mức sẵn lòng trả sẽ tăng
lên 33.378,25 đồng/sào/năm; hệ số của biến có ý
nghĩa thống kê tại mức độ tin cậy là 99%;
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước
lượng mô hình hồi quy để phân tích sự ảnh
hưởng của một số yếu tố bao gồm: giới tính,
trình độ học vấn, thu nhập từ sản xuất tỏi và
quy mô trồng tỏi tới mức sẵn lòng chi trả để
tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái
Thụy. Kết quả nghiên cứu được trình bày qua
bảng 2.
Xét yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi: nếu
thu nhập từ trồng tỏi của hộ tăng 1 triệu
đồng/tháng thì mức sẵn lòng trả sẽ tăng lên
6.132,27 đồng/sào/năm; hệ số của biến có ý
nghĩa thống kê tại mức độ tin cậy là 95%;
Ta có hệ số xác định của mô hình:
Xét yếu tố trình độ học vấn: nếu trình độ
học vấn thay đổi theo xu hướng tăng 1 cấp bậc
thì mức sẵn lòng trả sẽ tăng lên 7.568,38
đồng/sào/năm; hệ số của biên có ý nghĩa thống
kê tại mức độ tin cậy là 90%.
R2 = 47,71% có ý nghĩa các biến đã đưa vào
mô hình đã giải thích được 47,71% mức sẵn lòng
trả để tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi
Thái Thụy.
Bảng 2. Kết quả hồi quy hàm WTP phụ thuộc vào các biến giải thích
Các biến
Hệ số tương quan
Giá trị P (P- value)
0,00682***
0,82118ns
C
-32934,20
1127,05
7568,38
6132,27
33378,25
S
Ed
0,02442*
I
0,06295**
A
F-kđ
8,75E-09***
17,11
0,4771
0,4492
R2
R2 điều chỉnh
Nguồn: Phân tích từ số liệu điều tra các hộ dân (2013)
Ghi chú: *** **; *; ns: có ý nghĩa thống kê tại mức tin cậy là 99%, 95%, 90% và không có ý nghĩa thống kê tương ứng.
;
WTP: Mức sẵn lòng chi trả cho phí tham gia và xây dựng NHTT tỏi Thái Thụy (đơn vị: đồng/sào/năm); S: Biến giới tính; Ed:
Biến trình độ học vấn (đơn vị: số năm đi học); I: Biến thu nhập từ sản xuất tỏi (đơn vị: triệu đồng/tháng); A: Biến quy mô trồng
tỏi (đơn vị: sào Bắc bộ).
1344
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng
Kết quả phân tích cho thấy: yếu tố giới
tính không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả;
các yếu tố còn lại bao gồm: trình độ học vấn,
thu nhập từ sản xuất tỏi, quy mô trồng tỏi có
ảnh hưởng theo mức độ tăng dần.
nên phụ nữ thường ra đồng làm việc hay bận
việc nhà. Vì thế, việc trả lời phỏng vấn có xu
hướng thiên về nam giới. Đồ thị 1, thể hiện rõ
kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa giới tính
và mức bằng lòng trả để tham gia xây dựng và
sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy.
3.2.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng
tới nhu cầu tham gia và xây dựng NHTT tỏi
Thái Thụy
Đồ thị trên cho thấy, mức sẵn lòng trả của
nữ cao hơn của nam. Mức WTP bình quân của
nữ là 37.742 đồng/sào/năm cao hơn so với nam
giới là 37.500 đồng/sào/năm. Tuy nhiên, sự
chênh lệch này không cao thể hiện không có
khác biệt nhiều giữa sự chi tiêu của nam và nữ.
a. Yếu tố giới tính
Để nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng
của người dân về mức sẵn lòng chi trả đã được
đưa ra trong khung phân tích thì trước tiên ta
phân tích ảnh hưởng của yếu tố giới tính.
b. Yếu tố trình độ học vấn
Trình độ học vấn được chia theo 4 mức độ:
dưới THPT, THPT, trung cấp - cao đẳng và đại
học - trên đại học. Kết quả nghiên cứu về trình
độ học vấn được thể hiện qua bảng 4.
Trong 80 đối tượng được phỏng vấn có 71 hộ
đồng ý chi trả để tham gia và xây dựng NHTT
(31 nữ và 40 nam) và có 9 hộ không đồng ý (3 nữ
và 6 nam). Do thời gian đi khảo sát là ban ngày
Bảng 3. Ảnh hưởng của giới tính đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy
Có nhu cầu
Không có nhu cầu
Chỉ tiêu
Số lượng (hộ)
Cơ cấu (%)
43,66
Số lượng (hộ)
Cơ cấu (%)
33,33
Nữ
31
40
71
3
6
9
Nam
Tổng
56,34
66,67
100,00
100,00
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân (2013)
37500
37742
40000
35000
30000
25000
20000
15000
10000
5000
0
Nữ
Nam
Đồ thị 1. Ảnh hưởng của yếu tố giới tính đến mức WTP
1345
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ
trồng tỏi tỉnh Thái Bình
Bảng 4. Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy
Có nhu cầu
Số lượng (hộ)
Không có nhu cầu
Chỉ tiêu
Cơ cấu (%)
59,15
Số lượng (hộ)
Cơ cấu (%)
55,56
Dưới THPT
42
22
5
5
3
1
0
9
THPT
30,99
33,33
Trung cấp - cao đẳng
Đại học - trên đại học
Tổng
7,04
11,11
2
2,82
0,00
71
100,00
100,00
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân (2013)
60000
50000
40000
52273
50000
34000
28049
30000
20000
10000
0
Dưới THPT
THPT
Trung cấp – cao
đẳng
Đại học – trên đại
học
Đồ thị 2. Ảnh hưởng của yếu tố trình độ học vấn đến mức WTP
Theo như nghiên cứu cho thấy, hầu hết
người được phỏng vấn ít qua đào tạo chuyên
nghiệp. Phần lớn người trả lời phỏng vấn đều có
trình độ hạn chế, chỉ có 40,85% người phỏng vấn
có trình độ từ THPT trở lên; phần nhiều từ THPT
trở xuống chiếm tới 59,15%. Do cư dân địa phương
sống tại khu vực nông thôn, sống chủ yếu dựa vào
nông nghiệp nên họ thường chỉ học hết THCS. Đồ
thị 2, thể hiện yếu tố trình độ học vấn ảnh hưởng
đến mức WTP để tham gia NHTT tỏi Thái Thụy.
đồng/sào/năm gần bằng ½ mức trả của nhóm hộ
trình độ THPT. Tuy nhiên, đối với những người
phỏng vấn có trình độ cao hơn nữa là trung cấp -
cao đẳng và đại học - sau đại học, họ có mức chi
trả cho việc tham gia xây dựng và sử dụng
NHTT là thấp hơn. Cụ thể là đối với nhóm hộ có
trình độ trung cấp - cao đẳng có mức sẵn lòng
trả là 34.000 đồng/sào/năm. Nhóm còn lại là 2
hộ có trình độ đại học - trên đại học sẵn lòng
tham gia với mức phí là 50.000 đồng/sào/năm.
Lý do là họ có thu nhập ổn định nhờ vào những
công việc không liên quan đến nông nghiệp
như công chức, công nhân,… Tuy nhiên, họ có
sự hiểu biết về nhãn hiệu tập thể cũng như lợi
ích của việc tham gia và sử dụng NHTT cho
sản phẩm của mình. Vì thế, họ sẵn sàng trả
một khoản phí lớn hơn các nhóm hộ khác với
Từ kết quả điều tra, ta thấy rằng nhu cầu
về tham gia xây dựng và sử dụng NHTT cho cây
tỏi của các hộ có trình độ THPT cao hơn là
những người có trình độ dưới THPT. Đối với
trình độ THPT, mức trung bình được trả là
52.273 đồng/sào/năm và mức trả trung bình đối
với nhóm hộ có trình độ dưới THPT là 28.049
1346
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng
mục đích là mong muốn dự án xây dựng NHTT
thành công.
trên 4 triệu đồng sẵn sàng chi trả, cao hơn
nhiều lần so với những người có mức thu nhập
thấp. Những hộ này thường sản xuất nhiều tỏi
hoặc có nguồn thu nhập khác ngoài sản xuất tỏi.
c. Yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi
Yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi được xác
định là có ảnh hưởng lớn tới mức WTP. Bảng 5
thể hiện mối quan hệ giữa yếu tố thu nhập và
mức WTP.
Như vậy, thu nhập ngày càng tăng thì nhu
cầu về nhãn hiệu tập thể cho cây tỏi cao hơn so
với khi có mức thu nhập thấp. Những hộ có mức
thu nhập thấp không phải là họ không có nhu
cầu về nhãn hiệu tập thể, những hộ này cũng
muốn tham gia nhưng với mức thu nhập thấp
họ vẫn chưa đảm bảo cuộc sống nên mức WTP
thường rất nhỏ.
Phần lớn các đối tượng được phỏng vấn có
mức thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng (trong đó
có 42 hộ đồng ý tham gia NHTT và 8 hộ không
đồng ý). Đây là mức thu nhập khá thấp do nhóm
hộ này chủ yếu là các hộ làm nông nghiệp,
không có thu nhập từ ngành nghề khác. Kết quả
điều tra cũng cho thấy có 2 hộ (chiếm 2,82%)
trong 71 hộ đồng ý tham gia có thu nhập trên 4
triệu đồng/tháng.
d. Yếu tố quy mô trồng tỏi
Kết quả điều tra cho thấy, đối với nhóm hộ có
quy mô dưới 1 sào chỉ có 3 hộ đồng ý tham gia xây
dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy. Phần lớn
nhóm hộ này cho rằng diện tích nhỏ nên với lượng
sản phẩm ít họ dễ dàng bán cho người thân hay
bạn bè trong một thời gian ngắn.
Đồ thị trên cho thấy, thu nhập tỷ lệ thuận
với mức WTP. Mức WTP cao nhất là 65.000
đồng/sào/năm được cá nhân có mức thu nhập
Bảng 5. Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi
đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy
Có nhu cầu
Số lượng (hộ)
Không có nhu cầu
Chỉ tiêu
Cơ cấu (%)
59,15
Số lượng (hộ)
Cơ cấu (%)
88,89
Dưới 2 triệu
Từ 2 - 4 triệu
Trên 4 triệu
Tổng
42
27
2
8
1
0
9
38,03
11,11
2,82
0,00
71
100,00
100,00
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân, năm 2013.
65000
70000
60000
50000
45926
30952
40000
30000
20000
10000
0
Dưới 2 triệu
Từ 2 - 4triệu
Trên 4 triệu
Đồ thị 3. Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi đến mức WTP
1347
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ
trồng tỏi tỉnh Thái Bình
Bảng 6. Ảnh hưởng của quy mô trồng tỏi đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy
Có nhu cầu
Số lượng (hộ)
Không có nhu cầu
Chỉ tiêu
Cơ cấu (%)
4,23
Số lượng (hộ)
Cơ cấu (%)
77,78
Dưới 1 sào
3
65
3
7
2
0
9
Từ 1 - 2 sào
Trên 2 sào
Tổng
91,55
22,22
4,23
0,00
71
100,00
100,00
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân (năm 2013)
76667
80000
70000
60000
50000
36462
40000
23333
30000
20000
10000
0
Dưới 1 sào
Từ 1 - 2 sào
Trên 2 sào
Đồ thị 4. Ảnh hưởng của yếu tố quy mô trồng tỏi đến mức WTP
Đối với nhóm hộ quy mô trên 2 sào, có 3 hộ
(tương ứng 100%) đồng ý tham gia xây dựng và
sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy.
3.3. Giải pháp nhằm thu hút người dân
tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi
Thái Thụy
Tại huyện Thái Thụy, số hộ có quy mô từ 1
sào đến 2 sào chiếm tỷ lệ lớn nhất là 67 hộ
(chiếm 83,75%). Trong đó có 65 hộ (chiếm
91,55%) trong 71 hộ đồng ý tham gia. Nhóm hộ
này có mức sẵn lòng chi trả là 36.462
đồng/sào/năm. Kết quả điều tra cũng cho thấy,
nhóm hộ có quy mô lớn nhất trên 2 sào có mức
sẵn lòng chi trả cao nhất là 76.667
đồng/sào/năm (chiếm 4,23%) do đây là những
hộ làm nông nghiệp là chính, có thu nhập từ
trồng tỏi là chủ yếu, nên họ quan tâm nhiều
đến tiêu chuẩn về chất lượng, quy trình kỹ
thuật cũng như các cách thức quảng bá sản
phẩm của mình.
3.3.1. Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng
Kết quả điều tra cho thấy trong 80 hộ phỏng
vấn có 9 hộ không đồng ý tham gia xây dựng và
sử dụng NHTT vì họ cho rằng họ không nhận
được nhiều lợi ích tham gia. Có 55,56% số không
đồng ý tham gia xây dựng và sử dụng NHTT có
trình độ dưới THPT. Vì thế cần nâng cao nhận
thức của người dân về vấn đề tham gia xây dựng
NHTT thông qua các hình thức tuyên truyền
khác nhau như: cung cấp kiến thức đầy đủ về vai
trò, lợi ích NHTT, khuyến khích người dân chủ
động hơn trong việc tìm hiểu các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển
sản phẩm tỏi theo hướng xây dựng NHTT thông
1348
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng
qua hệ thống pano, áp phích, băng rôn, phát
thanh của địa phương. Bên cạnh đó cần tổ chức
các buổi tập huấn, thảo luận nhằm nâng cao
nhận thức và kỹ thuật trồng tỏi cho cán bộ và
nhân dân địa phương; lồng ghép tuyên truyền về
NHTT vào các hoạt động của thôn, xóm như các
buổi họp xóm, họp thôn.
nhất cho các hộ trồng tỏi; Áp dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất tỏi để nâng cao chất lượng
sản phẩm tỏi, giảm chi phí, tăng năng suất từ
đó nâng cao danh tiếng tỏi Thái Thụy.
4. KẾT LUẬN
Việc xây dựng NHTT Tỏi Thái Thụy góp phần
vào việc gìn giữ, duy trì và phát triển một nghề
truyền thống của địa phương, tạo thêm công ăn
việc làm cho người lao động, tăng thêm thu nhập,
nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
3.3.2. Thành lập Hiệp hội Quản lý NHTT tỏi
Thái Thụy
Theo kết quả nghiên cứu, hiện nay chưa có
Hiệp hội Quản lý NHTT tỏi Thái Thụy vì thế để
khuyến khích người dân tham gia NHTT trước
hết cần thành lập Hiệp hội Sản xuất và kinh
doanh tỏi. Hiệp hội cần được thành lập dưới sự
chỉ đạo của UBND tỉnh Thái Bình và đăng ký
bảo hộ bởi Cục sở hữu trí tuệ và các cơ quan
chức năng; Hiệp hội cần có quy định, quy chế rõ
ràng về đối tượng tham gia vào Hiệp hội; đối
tượng, điều kiện, tiêu chuẩn được cấp phép sử
dụng NHTT, quy định về xử phạt đối với đối
tượng làm giả, làm nhái hay không đáp ứng
chất lượng sản phẩm mang nhãn hiệu Tỏi Thái
Thụy; quy định về mức phí đóng góp đối với các
thành viên của Hiệp hội; Hiệp hội cần có những
buổi tập huấn, tuyên truyền cho các thành viên
của Hiệp hội về quy trình trồng tỏi, vai trò, lợi
ích và quyền lợi khi tham gia để người dân có
thể hiểu rõ về NHTT từ đó đáp ứng được các quy
định của Hiệp hội, góp phần phát triển và nâng
cao danh tiếng sản phẩm tỏi Thái Thụy.
Diện tích trồng tỏi qua các năm có xu hướng
giảm từ 90ha năm 2010 xuống còn 70ha năm 2012.
Sử dụng các số liệu đã thu thập phân tích,
ước lượng được mô hình hồi quy tuyến tính, các
biến đưa vào mô hình đã giải thích 47,71% sự
thay đổi của mức WTP và các biến có ý nghĩa
thống kê là biến trình độ học vấn, quy mô trồng
tỏi và biến thu nhập.
Phân tích số liệu cũng cho thấy, mức sẵn
lòng chi trả TB để tham gia xây dựng và sử
dụng NHTT tỏi của nữ cao hơn nam nhưng sự
khác biệt không nhiều. Phân tích yếu tố trình
độ học vấn ta thấy được nhu cầu đóng phí để
tham gia xây dựng và sử dụng NHTT của các hộ
sản xuất và kinh doanh tỏi ở trình độ THPT cao
hơn những người dưới THPT nhưng đối với đối
tượng phỏng vấn có trình độ từ trung cấp trở lên
lại có mức WTP ít hơn. Yếu tố thu nhập được
xác định là có ảnh hưởng lớn tới mức WTP. Thu
nhập càng cao thì người dân có xu hướng sẵn
lòng trả càng nhiều. Đối với mức thu nhập trên
4 triệu, mức bằng lòng trả để tham gia xây dựng
và sử dụng NHTT là 65.000 đồng/sào/năm cao hơn
nhiều so với nhóm hộ có thu nhập dưới 2 triệu là
30.952 đồng/sào/năm. Yếu tố quy mô trồng tỏi
cũng có ảnh hưởng nhất định đến mức sẵn lòng
chi trả cho việc tham gia xây dựng và sử dụng
NHTT của người dân. Nhóm hộ có quy mô càng
lớn thì mức WTP càng cao.
3.3.3. Xây dựng khung pháp lý để tạo điều
kiện phát triển sản xuất và kinh doanh tỏi
Do có một số hộ có ý định không trồng tỏi
hoặc giảm diện tích trồng tỏi chuyển sang trồng
loại cây khác nên để chương trình xây dựng
NHTT thành công UBND tỉnh Thái Bình kết
hợp với UBND huyện Thái Thụy cần tạo điều
kiện cho các hộ tiếp tục sản xuất kinh doanh tỏi
bằng cách: có vùng quy hoạch riêng cho trồng
tỏi để thuận tiện cho việc tưới tiêu cũng như
chăm bón cho cây tỏi; Chuyển đổi loại cây trồng
có năng suất không cao hoặc ít đem lại lợi
nhuận sang sản xuất tỏi; Tạo điều kiện vay vốn,
cung cấp giống cũng như kỹ thuật trồng tỏi tốt
Để thu hút người dân tham gia xây dựng và
sử dụng NHTT sản phẩm tỏi Thái Thụy, bài viết
đã đưa ra các giải pháp: Một là, chính quyền địa
phương có các biện pháp nhằm nâng cao nhận
thức cộng đồng bao gồm cả cán bộ và người dân
1349
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ
trồng tỏi tỉnh Thái Bình
thông qua các hình thức tuyên truyền hoặc các
buổi tập huấn. Hai là, thành lập Hiệp hội Quản lý
NHTT tỏi Thái Thụy dưới sự chỉ đạo của UBND
tỉnh Thái Bình và sự bảo hộ của Cục Sở hữu trí
tuệ và các cơ quan chức năng. Ba là, xây dựng
khung pháp lý để tạo điều kiện phát triển sản
xuất và kinh doanh tỏi như quy hoạch vùng sản
xuất tỏi, chuyển đổi loại cây trồng có năng suất
không cao hoặc ít lợi nhuận sang sản xuất tỏi, tạo
điều kiện vay vốn, cung cấp giống cũng như kỹ
thuật trồng tỏi tốt nhất cho các hộ trồng tỏi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phòng thống kê (2012). Báo cáo tổng kết 3 năm 2010-
2012 huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Lan Chi (2011). Nghịch lý tỏi Trung Quốc lấn sân tỏi
nội.
Truy
cập
ngày
6/4/2013
tại
Quoc-lan-san-toi-noi/84/6751068.epi.
Tố Như (2013). Gia vị Trung Quốc có dư thuốc trừ sâu:
Âm thầm “tấn công”. Truy cập ngày 12/6/2013 tại
co-du-luong-thuoc-tru-sau-am-tham-tan-cong-
20130515102641983.htm.
1350
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ trồng tỏi tỉnh Thái Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_cac_yeu_to_anh_huong_den_nhu_cau_tham_gia_xay_dung.pdf

