Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ trồng tỏi tỉnh Thái Bình

J. Sci. & Devel. 2014, Vol. 12, No. 8: 1342-1350  
Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 8: 1342-1350  
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU THAM GIA  
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG NHÃN HIỆU TẬP THỂ TỎI THÁI THỤY  
CỦA HỘ TRỒNG TỎI TỈNH THÁI BÌNH  
Nguyễn Văn Song1*, Vũ Ngọc Huyên2, Hồ Ngọc Cường1  
Nguyễn Văn Lượng3, Bùi Đức Hoàng3, Hoàng Thị Hằng1  
1Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
2Khoa Kế toán và Quản trị Kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
3Huyện ủy Thái Thụy và Trường trung cấp Nông nghiệp - Thái Bình  
Ngày gửi bài: 18.06.2014  
Ngày chấp nhận: 01.09.2014  
TÓM TẮT  
Theo quyết định 68/2005/QĐ-TTg, vấn đề thương hiệu và nhãn hiệu đang được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ.  
Trên cơ sở điều tra 80 hộ sản xuất tỏi và sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM), nghiên cứu đã nêu  
được thực trạng sản xuất tỏi và phân tích được sự ảnh hưởng của một số yếu tố đến nhu cầu tham gia xây dựng và  
sử dụng nhãn hiệu tập thể (NHTT) tỏi Thái Thụy. Nghiên cứu đã phân tích 4 yếu tố bao gồm: giới tính, trình độ học  
vấn, thu nhập từ sản xuất tỏi và quy mô trồng tỏi. Hai biến thu nhập và quy mô trồng tỏi được xác định là có ảnh  
hưởng lớn đến nhu cầu và mức sẵn lòng chi trả để tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy. Từ quá trình  
khảo sát, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút người dân tham gia xây dựng và sử dụng NHTT  
cho sản phẩm tỏi Thái Thụy.  
Từ khóa: Hộ trồng tỏi, nhu cầu, nhãn hiệu tập thể, sẵn lòng chi trả.  
Analysis of Factors Affecting the Needs for Participation  
and Use of The Collective Trademark “Thai Thuy Garlic”  
of Garlic Grown Household Farmers in Thai Binh Province  
ABSTRACT  
According to the decision No. 68/2005/QD-TTg, the trademark and collective trademark are of concern and  
support by the government. Based on survey data of 80 household farmers growing garlic and using contingent  
valuation method (CVM), the study clarified the status of garlic production and analyzed effect of some factors on the  
needs for participation and using collective trademark (CT) of Thai Thuy garlic. The four main factors included  
gender, education level, income generated from garlic production and scale of garlic production. Income and the  
scale of garlic production were considered to have great effect on the need and willingness to pay (WTP) level for  
participation and using CT. From the survey, the research has also suggested measures to increase the level of  
participation and use of collective trademark for Thai Thuy garlic product.  
Keywords: Collective trademark, garlic, household farmers, willingness to pay.  
tâm hàng đầu của các công ty, doanh nghiệp,  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
các đơn vị sản xuất kinh doanh. Tỏi Thái Thụy  
Trong thời đại phát triển và xu thế hội  
nhập toàn cầu hóa hiện nay, vấn đề thương  
hiệu, nhãn hiệu ngày càng trở thành mối quan  
lâu nay đã được biết đến với uy tín và chất  
lượng đảm bảo không chỉ trong và ngoài tỉnh mà  
còn xuất khẩu ra nước ngoài. Tuy nhiên, do quy  
1342  
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng  
mô sản xuất đơn lẻ, chưa được chú trọng đầu tư  
phát triển đúng mức nên tỏi Thái Thụy có nguy  
cơ mất dần vị thế cạnh tranh trên thị trường.  
Đặc biệt là sự xuất hiện của tỏi Trung Quốc  
mang ưu điểm củ to và giá thành rẻ tràn ngập  
thị trường khiến người tiêu dùng không có  
nhiều lựa chọn (Lan Chi, 2011). Tỏi Trung Quốc  
đã từng bị phát hiện dư lượng thuốc trừ sâu khi  
nhập khẩu vào Mỹ hồi tháng 7/2007 (Tố Như,  
2013). Nhãn hiệu tập thể là một vấn đề về  
thương hiệu được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ  
theo chương trình 68 của Bộ Khoa học và Công  
nghệ. Việc xây dựng nhãn hiệu tập thể “Tỏi  
Thái Thụy” sẽ góp phần nâng cao giá trị, danh  
tiếng sản phẩm nhãn hiệu tập thể, đảm bảo việc  
xúc tiến thương mại có hiệu quả; góp phần nâng  
cao giá trị kinh tế - xã hội của địa phương; bảo  
tồn các giống tỏi truyền thống của địa phương có  
chất lượng và đặc trưng riêng.  
được thu thập thông qua việc phỏng vấn các hộ  
trồng tỏi từ phiếu điều tra.  
2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu  
Để phân tích và xử lý số liệu, các phương  
pháp nghiên cứu truyền thống được sử dụng  
như phương pháp định lượng bao gồm: thống kê  
mô tả, phân tích so sánh, phương pháp định  
tính, tạo dựng thị trường trong phần phỏng vấn  
và sử dụng bộ câu hỏi bằng cách xếp hạng, cho  
điểm. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng  
phương pháp phân tích mô hình hồi quy để  
đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng như thế nào  
đến mức sẵn lòng chi trả cho việc tham gia xây  
dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thực trạng sản xuất tỏi của các hộ  
điều tra huyện Thái Thụy  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Địa điểm nghiên cứu  
Hiện nay, tại huyện Thái Thụy, người dân  
sử dụng phương thức trồng tập trung lẫn phân  
tán, trong đó trồng xen cây tỏi và cây hành là  
chủ yếu. Theo báo cáo của phòng thống kê  
huyện Thái Thụy, năm 2010 cả huyện có  
khoảng 600ha trồng hành và tỏi, trong đó diện  
tích trồng tỏi chiếm khoảng 90ha. Cùng với xu  
hướng diện tích đất nông nghiệp giảm do phải  
chuyển sang mục đích sử dụng khác, tập trung  
cao phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và phát  
triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp  
hóa - hiện đại hóa, diện tích đất trồng màu  
giảm, từ đó diện tích trồng tỏi cũng có xu hướng  
giảm. Năm 2010 diện tích trồng tỏi là 90ha và  
giảm xuống còn 70ha năm 2012.  
Huyện Thái Thụy có sản phẩm tỏi chất  
lượng cao nhưng chưa có vị thế trên thị trường  
do chưa có nhãn hiệu. Tại địa bàn nghiên cứu,  
lựa chọn các hộ sản xuất và kinh doanh tỏi ở 3  
xã có diện tích trồng tỏi lớn: Thụy An, Thụy  
Lương và Thụy Tân.  
2.2. Phương pháp thu thập số liệu  
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ báo  
cáo kinh tế xã hội huyện Thái Thụy, phòng  
thống kê, phòng địa chính huyện qua 3 năm, từ  
năm 2011 đến 2013. Nguồn số liệu sơ cấp được  
thu thập qua 80 mẫu điều tra tại 3 xã trồng tỏi  
với số mẫu điều tra tại xã Thụy An là 30 mẫu, 2  
xã Thụy Lương và Thụy Tân mỗi xã 25 mẫu. Tài  
liệu thu thập qua các tiêu thức phản ánh tình  
hình kinh tế - xã hội của người được điều tra  
như tuổi, giới tính, tình hình thu nhập, trình độ  
văn hóa, nghề nghiệp nhằm xác định những yếu  
tố này ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia và xây  
dựng nhãn hiệu tập thể (NHTT) tỏi Thái Thụy.  
Số liệu điều tra thông tin về tình hình sản xuất  
tỏi và nhu cầu tham gia và xây dựng NHTT  
Kết quả điều tra cho thấy, sản lượng trồng tỏi  
hàng năm có xu hướng giảm. Năm 2012, người  
dân phải chịu ảnh hưởng của cơn bão số 8 nên sản  
xuất bị giảm, từ 10.250 tạ năm 2011 giảm còn  
8.470 tạ năm 2012. Nhìn chung, năng suất tỏi  
không thay đổi nhiều qua các năm (khoảng 125  
tạ/ha) do người dân sử dụng giống tự có để lại từ  
các mùa trước và sản xuất vẫn chủ yếu dựa vào  
kinh nghiệm tích lũy qua các năm.  
1343  
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ  
trồng tỏi tỉnh Thái Bình  
Bảng 1. Tình hình sản xuất tỏi tại Thái Thụy qua 3 năm 2010-2012  
Năm  
2011  
82  
Tốc độ phát triển (%)  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
2010  
90  
2012  
70  
11/10  
91,11  
91,11  
100,00  
12/11  
85,37  
82,63  
BQ  
Diện tích  
Sản lượng  
Năng suất  
Ha  
Tạ  
88,24  
86,87  
98,40  
11250  
125  
10250  
8470  
121  
Tạ/ha  
125  
96,80  
Nguồn: Phòng thống kê huyện Thái Thụy  
Từ bảng kết quả hồi quy ta viết được  
phương trình tuyến tính sau:  
3.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới  
nhu cầu tham gia và xây dựng NHTT tỏi  
Thái Thụy  
WTP = -32934,2 + 1127,053S + 7568,377Ed  
+ 6132,271I + 33378,25A  
3.2.1. Mô hình hồi quy mức sẵn lòng chi trả  
để mua NHTT cho cây tỏi  
Xét yếu tố quy mô trồng tỏi: nếu diện tích  
trồng tỏi tăng 1 sào thì mức sẵn lòng trả sẽ tăng  
lên 33.378,25 đồng/sào/năm; hệ số của biến có ý  
nghĩa thống kê tại mức độ tin cậy là 99%;  
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước  
lượng mô hình hồi quy để phân tích sự ảnh  
hưởng của một số yếu tố bao gồm: giới tính,  
trình độ học vấn, thu nhập từ sản xuất tỏi và  
quy mô trồng tỏi tới mức sẵn lòng chi trả để  
tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái  
Thụy. Kết quả nghiên cứu được trình bày qua  
bảng 2.  
Xét yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi: nếu  
thu nhập từ trồng tỏi của hộ tăng 1 triệu  
đồng/tháng thì mức sẵn lòng trả sẽ tăng lên  
6.132,27 đồng/sào/năm; hệ số của biến có ý  
nghĩa thống kê tại mức độ tin cậy là 95%;  
Ta có hệ số xác định của mô hình:  
Xét yếu tố trình độ học vấn: nếu trình độ  
học vấn thay đổi theo xu hướng tăng 1 cấp bậc  
thì mức sẵn lòng trả sẽ tăng lên 7.568,38  
đồng/sào/năm; hệ số của biên có ý nghĩa thống  
kê tại mức độ tin cậy là 90%.  
R2 = 47,71% có ý nghĩa các biến đã đưa vào  
mô hình đã giải thích được 47,71% mức sẵn lòng  
trả để tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi  
Thái Thụy.  
Bảng 2. Kết quả hồi quy hàm WTP phụ thuộc vào các biến giải thích  
Các biến  
Hệ số tương quan  
Giá trị P (P- value)  
0,00682***  
0,82118ns  
C
-32934,20  
1127,05  
7568,38  
6132,27  
33378,25  
S
Ed  
0,02442*  
I
0,06295**  
A
F-kđ  
8,75E-09***  
17,11  
0,4771  
0,4492  
R2  
R2 điều chỉnh  
Nguồn: Phân tích từ số liệu điều tra các hộ dân (2013)  
Ghi chú: *** **; *; ns: có ý nghĩa thống kê tại mức tin cậy là 99%, 95%, 90% và không có ý nghĩa thống kê tương ứng.  
;
WTP: Mức sẵn lòng chi trả cho phí tham gia và xây dựng NHTT tỏi Thái Thụy (đơn vị: đồng/sào/năm); S: Biến giới tính; Ed:  
Biến trình độ học vấn (đơn vị: số năm đi học); I: Biến thu nhập từ sản xuất tỏi (đơn vị: triệu đồng/tháng); A: Biến quy mô trồng  
tỏi (đơn vị: sào Bắc bộ).  
1344  
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng  
Kết quả phân tích cho thấy: yếu tố giới  
tính không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả;  
các yếu tố còn lại bao gồm: trình độ học vấn,  
thu nhập từ sản xuất tỏi, quy mô trồng tỏi có  
ảnh hưởng theo mức độ tăng dần.  
nên phụ nữ thường ra đồng làm việc hay bận  
việc nhà. Vì thế, việc trả lời phỏng vấn có xu  
hướng thiên về nam giới. Đồ thị 1, thể hiện rõ  
kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa giới tính  
và mức bằng lòng trả để tham gia xây dựng và  
sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy.  
3.2.2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng  
tới nhu cầu tham gia và xây dựng NHTT tỏi  
Thái Thụy  
Đồ thị trên cho thấy, mức sẵn lòng trả của  
nữ cao hơn của nam. Mức WTP bình quân của  
nữ là 37.742 đồng/sào/năm cao hơn so với nam  
giới là 37.500 đồng/sào/năm. Tuy nhiên, sự  
chênh lệch này không cao thể hiện không có  
khác biệt nhiều giữa sự chi tiêu của nam và nữ.  
a. Yếu tố giới tính  
Để nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng  
của người dân về mức sẵn lòng chi trả đã được  
đưa ra trong khung phân tích thì trước tiên ta  
phân tích ảnh hưởng của yếu tố giới tính.  
b. Yếu tố trình độ học vấn  
Trình độ học vấn được chia theo 4 mức độ:  
dưới THPT, THPT, trung cấp - cao đẳng và đại  
học - trên đại học. Kết quả nghiên cứu về trình  
độ học vấn được thể hiện qua bảng 4.  
Trong 80 đối tượng được phỏng vấn có 71 hộ  
đồng ý chi trả để tham gia và xây dựng NHTT  
(31 nữ và 40 nam) và có 9 hộ không đồng ý (3 nữ  
và 6 nam). Do thời gian đi khảo sát là ban ngày  
Bảng 3. Ảnh hưởng của giới tính đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy  
Có nhu cầu  
Không có nhu cầu  
Chỉ tiêu  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
43,66  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
33,33  
Nữ  
31  
40  
71  
3
6
9
Nam  
Tổng  
56,34  
66,67  
100,00  
100,00  
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân (2013)  
37500  
37742  
40000  
35000  
30000  
25000  
20000  
15000  
10000  
5000  
0
Nữ  
Nam  
Đồ thị 1. Ảnh hưởng của yếu tố giới tính đến mức WTP  
1345  
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ  
trồng tỏi tỉnh Thái Bình  
Bảng 4. Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy  
Có nhu cầu  
Số lượng (hộ)  
Không có nhu cầu  
Chỉ tiêu  
Cơ cấu (%)  
59,15  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
55,56  
Dưới THPT  
42  
22  
5
5
3
1
0
9
THPT  
30,99  
33,33  
Trung cấp - cao đẳng  
Đại học - trên đại học  
Tổng  
7,04  
11,11  
2
2,82  
0,00  
71  
100,00  
100,00  
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân (2013)  
60000  
50000  
40000  
52273  
50000  
34000  
28049  
30000  
20000  
10000  
0
Dưới THPT  
THPT  
Trung cấp – cao  
đẳng  
Đại học – trên đại  
học  
Đồ thị 2. Ảnh hưởng của yếu tố trình độ học vấn đến mức WTP  
Theo như nghiên cứu cho thấy, hầu hết  
người được phỏng vấn ít qua đào tạo chuyên  
nghiệp. Phần lớn người trả lời phỏng vấn đều có  
trình độ hạn chế, chỉ có 40,85% người phỏng vấn  
có trình độ từ THPT trở lên; phần nhiều từ THPT  
trở xuống chiếm tới 59,15%. Do cư dân địa phương  
sống tại khu vực nông thôn, sống chủ yếu dựa vào  
nông nghiệp nên họ thường chỉ học hết THCS. Đồ  
thị 2, thể hiện yếu tố trình độ học vấn ảnh hưởng  
đến mức WTP để tham gia NHTT tỏi Thái Thụy.  
đồng/sào/năm gần bằng ½ mức trả của nhóm hộ  
trình độ THPT. Tuy nhiên, đối với những người  
phỏng vấn có trình độ cao hơn nữa là trung cấp -  
cao đẳng và đại học - sau đại học, họ có mức chi  
trả cho việc tham gia xây dựng và sử dụng  
NHTT là thấp hơn. Cụ thể là đối với nhóm hộ có  
trình độ trung cấp - cao đẳng có mức sẵn lòng  
trả là 34.000 đồng/sào/năm. Nhóm còn lại là 2  
hộ có trình độ đại học - trên đại học sẵn lòng  
tham gia với mức phí là 50.000 đồng/sào/năm.  
Lý do là họ có thu nhập ổn định nhờ vào những  
công việc không liên quan đến nông nghiệp  
như công chức, công nhân,… Tuy nhiên, họ có  
sự hiểu biết về nhãn hiệu tập thể cũng như lợi  
ích của việc tham gia và sử dụng NHTT cho  
sản phẩm của mình. Vì thế, họ sẵn sàng trả  
một khoản phí lớn hơn các nhóm hộ khác với  
Từ kết quả điều tra, ta thấy rằng nhu cầu  
về tham gia xây dựng và sử dụng NHTT cho cây  
tỏi của các hộ có trình độ THPT cao hơn là  
những người có trình độ dưới THPT. Đối với  
trình độ THPT, mức trung bình được trả là  
52.273 đồng/sào/năm và mức trả trung bình đối  
với nhóm hộ có trình độ dưới THPT là 28.049  
1346  
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng  
mục đích là mong muốn dự án xây dựng NHTT  
thành công.  
trên 4 triệu đồng sẵn sàng chi trả, cao hơn  
nhiều lần so với những người có mức thu nhập  
thấp. Những hộ này thường sản xuất nhiều tỏi  
hoặc có nguồn thu nhập khác ngoài sản xuất tỏi.  
c. Yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi  
Yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi được xác  
định là có ảnh hưởng lớn tới mức WTP. Bảng 5  
thể hiện mối quan hệ giữa yếu tố thu nhập và  
mức WTP.  
Như vậy, thu nhập ngày càng tăng thì nhu  
cầu về nhãn hiệu tập thể cho cây tỏi cao hơn so  
với khi có mức thu nhập thấp. Những hộ có mức  
thu nhập thấp không phải là họ không có nhu  
cầu về nhãn hiệu tập thể, những hộ này cũng  
muốn tham gia nhưng với mức thu nhập thấp  
họ vẫn chưa đảm bảo cuộc sống nên mức WTP  
thường rất nhỏ.  
Phần lớn các đối tượng được phỏng vấn có  
mức thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng (trong đó  
có 42 hộ đồng ý tham gia NHTT và 8 hộ không  
đồng ý). Đây là mức thu nhập khá thấp do nhóm  
hộ này chủ yếu là các hộ làm nông nghiệp,  
không có thu nhập từ ngành nghề khác. Kết quả  
điều tra cũng cho thấy có 2 hộ (chiếm 2,82%)  
trong 71 hộ đồng ý tham gia có thu nhập trên 4  
triệu đồng/tháng.  
d. Yếu tố quy mô trồng tỏi  
Kết quả điều tra cho thấy, đối với nhóm hộ có  
quy mô dưới 1 sào chỉ có 3 hộ đồng ý tham gia xây  
dựng và sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy. Phần lớn  
nhóm hộ này cho rằng diện tích nhỏ nên với lượng  
sản phẩm ít họ dễ dàng bán cho người thân hay  
bạn bè trong một thời gian ngắn.  
Đồ thị trên cho thấy, thu nhập tỷ lệ thuận  
với mức WTP. Mức WTP cao nhất là 65.000  
đồng/sào/năm được cá nhân có mức thu nhập  
Bảng 5. Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi  
đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy  
Có nhu cầu  
Số lượng (hộ)  
Không có nhu cầu  
Chỉ tiêu  
Cơ cấu (%)  
59,15  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
88,89  
Dưới 2 triệu  
Từ 2 - 4 triệu  
Trên 4 triệu  
Tổng  
42  
27  
2
8
1
0
9
38,03  
11,11  
2,82  
0,00  
71  
100,00  
100,00  
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân, năm 2013.  
65000  
70000  
60000  
50000  
45926  
30952  
40000  
30000  
20000  
10000  
0
Dưới 2 triệu  
Từ 2 - 4triệu  
Trên 4 triệu  
Đồ thị 3. Ảnh hưởng của yếu tố thu nhập từ sản xuất tỏi đến mức WTP  
1347  
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ  
trồng tỏi tỉnh Thái Bình  
Bảng 6. Ảnh hưởng của quy mô trồng tỏi đến nhu cầu tham gia NHTT tỏi Thái Thụy  
Có nhu cầu  
Số lượng (hộ)  
Không có nhu cầu  
Chỉ tiêu  
Cơ cấu (%)  
4,23  
Số lượng (hộ)  
Cơ cấu (%)  
77,78  
Dưới 1 sào  
3
65  
3
7
2
0
9
Từ 1 - 2 sào  
Trên 2 sào  
Tổng  
91,55  
22,22  
4,23  
0,00  
71  
100,00  
100,00  
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra các hộ dân (năm 2013)  
76667  
80000  
70000  
60000  
50000  
36462  
40000  
23333  
30000  
20000  
10000  
0
Dưới 1 sào  
Từ 1 - 2 sào  
Trên 2 sào  
Đồ thị 4. Ảnh hưởng của yếu tố quy mô trồng tỏi đến mức WTP  
Đối với nhóm hộ quy mô trên 2 sào, có 3 hộ  
(tương ứng 100%) đồng ý tham gia xây dựng và  
sử dụng NHTT tỏi Thái Thụy.  
3.3. Giải pháp nhằm thu hút người dân  
tham gia xây dựng và sử dụng NHTT tỏi  
Thái Thụy  
Tại huyện Thái Thụy, số hộ có quy mô từ 1  
sào đến 2 sào chiếm tỷ lệ lớn nhất là 67 hộ  
(chiếm 83,75%). Trong đó có 65 hộ (chiếm  
91,55%) trong 71 hộ đồng ý tham gia. Nhóm hộ  
này có mức sẵn lòng chi trả là 36.462  
đồng/sào/năm. Kết quả điều tra cũng cho thấy,  
nhóm hộ có quy mô lớn nhất trên 2 sào có mức  
sẵn lòng chi trả cao nhất là 76.667  
đồng/sào/năm (chiếm 4,23%) do đây là những  
hộ làm nông nghiệp là chính, có thu nhập từ  
trồng tỏi là chủ yếu, nên họ quan tâm nhiều  
đến tiêu chuẩn về chất lượng, quy trình kỹ  
thuật cũng như các cách thức quảng bá sản  
phẩm của mình.  
3.3.1. Giải pháp nâng cao nhận thức cộng đồng  
Kết quả điều tra cho thấy trong 80 hộ phỏng  
vấn có 9 hộ không đồng ý tham gia xây dựng và  
sử dụng NHTT vì họ cho rằng họ không nhận  
được nhiều lợi ích tham gia. Có 55,56% số không  
đồng ý tham gia xây dựng và sử dụng NHTT có  
trình độ dưới THPT. Vì thế cần nâng cao nhận  
thức của người dân về vấn đề tham gia xây dựng  
NHTT thông qua các hình thức tuyên truyền  
khác nhau như: cung cấp kiến thức đầy đủ về vai  
trò, lợi ích NHTT, khuyến khích người dân chủ  
động hơn trong việc tìm hiểu các chủ trương,  
chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển  
sản phẩm tỏi theo hướng xây dựng NHTT thông  
1348  
Nguyễn Văn Song, Vũ Ngọc Huyên, Hồ Ngọc Cường Nguyễn Văn Lượng, Bùi Đức Hoàng, Hoàng Thị Hằng  
qua hệ thống pano, áp phích, băng rôn, phát  
thanh của địa phương. Bên cạnh đó cần tổ chức  
các buổi tập huấn, thảo luận nhằm nâng cao  
nhận thức và kỹ thuật trồng tỏi cho cán bộ và  
nhân dân địa phương; lồng ghép tuyên truyền về  
NHTT vào các hoạt động của thôn, xóm như các  
buổi họp xóm, họp thôn.  
nhất cho các hộ trồng tỏi; Áp dụng khoa học kỹ  
thuật vào sản xuất tỏi để nâng cao chất lượng  
sản phẩm tỏi, giảm chi phí, tăng năng suất từ  
đó nâng cao danh tiếng tỏi Thái Thụy.  
4. KẾT LUẬN  
Việc xây dựng NHTT Tỏi Thái Thụy góp phần  
vào việc gìn giữ, duy trì và phát triển một nghề  
truyền thống của địa phương, tạo thêm công ăn  
việc làm cho người lao động, tăng thêm thu nhập,  
nâng cao đời sống cho người dân địa phương.  
3.3.2. Thành lập Hiệp hội Quản lý NHTT tỏi  
Thái Thụy  
Theo kết quả nghiên cứu, hiện nay chưa có  
Hiệp hội Quản lý NHTT tỏi Thái Thụy vì thế để  
khuyến khích người dân tham gia NHTT trước  
hết cần thành lập Hiệp hội Sản xuất và kinh  
doanh tỏi. Hiệp hội cần được thành lập dưới sự  
chỉ đạo của UBND tỉnh Thái Bình và đăng ký  
bảo hộ bởi Cục sở hữu trí tuệ và các cơ quan  
chức năng; Hiệp hội cần có quy định, quy chế rõ  
ràng về đối tượng tham gia vào Hiệp hội; đối  
tượng, điều kiện, tiêu chuẩn được cấp phép sử  
dụng NHTT, quy định về xử phạt đối với đối  
tượng làm giả, làm nhái hay không đáp ứng  
chất lượng sản phẩm mang nhãn hiệu Tỏi Thái  
Thụy; quy định về mức phí đóng góp đối với các  
thành viên của Hiệp hội; Hiệp hội cần có những  
buổi tập huấn, tuyên truyền cho các thành viên  
của Hiệp hội về quy trình trồng tỏi, vai trò, lợi  
ích và quyền lợi khi tham gia để người dân có  
thể hiểu rõ về NHTT từ đó đáp ứng được các quy  
định của Hiệp hội, góp phần phát triển và nâng  
cao danh tiếng sản phẩm tỏi Thái Thụy.  
Diện tích trồng tỏi qua các năm có xu hướng  
giảm từ 90ha năm 2010 xuống còn 70ha năm 2012.  
Sử dụng các số liệu đã thu thập phân tích,  
ước lượng được mô hình hồi quy tuyến tính, các  
biến đưa vào mô hình đã giải thích 47,71% sự  
thay đổi của mức WTP và các biến có ý nghĩa  
thống kê là biến trình độ học vấn, quy mô trồng  
tỏi và biến thu nhập.  
Phân tích số liệu cũng cho thấy, mức sẵn  
lòng chi trả TB để tham gia xây dựng và sử  
dụng NHTT tỏi của nữ cao hơn nam nhưng sự  
khác biệt không nhiều. Phân tích yếu tố trình  
độ học vấn ta thấy được nhu cầu đóng phí để  
tham gia xây dựng và sử dụng NHTT của các hộ  
sản xuất và kinh doanh tỏi ở trình độ THPT cao  
hơn những người dưới THPT nhưng đối với đối  
tượng phỏng vấn có trình độ từ trung cấp trở lên  
lại có mức WTP ít hơn. Yếu tố thu nhập được  
xác định là có ảnh hưởng lớn tới mức WTP. Thu  
nhập càng cao thì người dân có xu hướng sẵn  
lòng trả càng nhiều. Đối với mức thu nhập trên  
4 triệu, mức bằng lòng trả để tham gia xây dựng  
và sử dụng NHTT là 65.000 đồng/sào/năm cao hơn  
nhiều so với nhóm hộ có thu nhập dưới 2 triệu là  
30.952 đồng/sào/năm. Yếu tố quy mô trồng tỏi  
cũng có ảnh hưởng nhất định đến mức sẵn lòng  
chi trả cho việc tham gia xây dựng và sử dụng  
NHTT của người dân. Nhóm hộ có quy mô càng  
lớn thì mức WTP càng cao.  
3.3.3. Xây dựng khung pháp lý để tạo điều  
kiện phát triển sản xuất và kinh doanh tỏi  
Do có một số hộ có ý định không trồng tỏi  
hoặc giảm diện tích trồng tỏi chuyển sang trồng  
loại cây khác nên để chương trình xây dựng  
NHTT thành công UBND tỉnh Thái Bình kết  
hợp với UBND huyện Thái Thụy cần tạo điều  
kiện cho các hộ tiếp tục sản xuất kinh doanh tỏi  
bằng cách: có vùng quy hoạch riêng cho trồng  
tỏi để thuận tiện cho việc tưới tiêu cũng như  
chăm bón cho cây tỏi; Chuyển đổi loại cây trồng  
có năng suất không cao hoặc ít đem lại lợi  
nhuận sang sản xuất tỏi; Tạo điều kiện vay vốn,  
cung cấp giống cũng như kỹ thuật trồng tỏi tốt  
Để thu hút người dân tham gia xây dựng và  
sử dụng NHTT sản phẩm tỏi Thái Thụy, bài viết  
đã đưa ra các giải pháp: Một là, chính quyền địa  
phương có các biện pháp nhằm nâng cao nhận  
thức cộng đồng bao gồm cả cán bộ và người dân  
1349  
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ  
trồng tỏi tỉnh Thái Bình  
thông qua các hình thức tuyên truyền hoặc các  
buổi tập huấn. Hai là, thành lập Hiệp hội Quản lý  
NHTT tỏi Thái Thụy dưới sự chỉ đạo của UBND  
tỉnh Thái Bình và sự bảo hộ của Cục Sở hữu trí  
tuệ và các cơ quan chức năng. Ba là, xây dựng  
khung pháp lý để tạo điều kiện phát triển sản  
xuất và kinh doanh tỏi như quy hoạch vùng sản  
xuất tỏi, chuyển đổi loại cây trồng có năng suất  
không cao hoặc ít lợi nhuận sang sản xuất tỏi, tạo  
điều kiện vay vốn, cung cấp giống cũng như kỹ  
thuật trồng tỏi tốt nhất cho các hộ trồng tỏi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Phòng thống kê (2012). Báo cáo tổng kết 3 năm 2010-  
2012 huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.  
Lan Chi (2011). Nghịch lý tỏi Trung Quốc lấn sân tỏi  
nội.  
Truy  
cập  
ngày  
6/4/2013  
tại  
Quoc-lan-san-toi-noi/84/6751068.epi.  
Tố Như (2013). Gia vị Trung Quốc có dư thuốc trừ sâu:  
Âm thầm “tấn công”. Truy cập ngày 12/6/2013 tại  
co-du-luong-thuoc-tru-sau-am-tham-tan-cong-  
20130515102641983.htm.  
1350  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 19460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia xây dựng và sử dụng nhãn hiệu tập thể tỏi Thái Thụy của hộ trồng tỏi tỉnh Thái Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_cac_yeu_to_anh_huong_den_nhu_cau_tham_gia_xay_dung.pdf