Nghiên cứu đặc tính truyền vi rút lùn lúa cỏ (Rice grassy stunt virus, RGSV) của côn trùng Vectơ

Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH TRUYỀN VI RÚT LÙN LÚA CỎ (RICE GRASSY STUNT  
VIRUS, RGSV) CỦA CÔN TRÙNG VECTƠ  
Nguyễn Phú Dũng1, Phạm Văn Dư2, Nguyễn Văn Huỳnh3  
1ThS. Khoa Nông nghiệp & Tài nguyên Thiên nhiên, Trường Đại học An Giang  
2PGS.TS. Cục Trồng trọt Việt Nam  
3PGS.TS. Hội Côn trùng học Việt Nam  
Thông tin chung:  
Ngày nhận bài: 07/01/14  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
11/02/14  
Ngày chấp nhận đăng:  
22/10/14  
ABSTRACT  
These studies were conducted in the objective of determining the characteristics  
of brown planthopper (BPH) in transmission of Rice Grassy Stunt Virus (RGSV).  
Results showed that the incubation period of RGSV in BPH was average of 4.86  
± 1.63 days and the incidence of RGSV infected plants were with the lowest ratio  
of 10.4% after 3 days and highest after with 45.6% after 15 days by the serial  
transfer. The incubation period of RGSV in rice plant was average of 18.83 ±  
0.83 days and the transmission period of viruliferous BPH was from 1 to a  
maximum of 11 consecutive days (average of 1.9 ± 1.8 days). The time of virus  
multiplication in BPH was average of 4.2 ± 2.7 days and the average life of  
viruliferous BPH was 9.9 ± 5.2 days. The acquisition time of RGSV by BPH was  
30 minutes in minimum and 4 days for optimum and the inoculation time was 15  
minutes in minimum and 24 hours for maximum.  
Title:  
Studies on the characteristics  
of brown planthopper as an  
insect vector for transmission  
of RGSV  
Từ khóa:  
Vi rút lùn lúa cỏ, thời gian ủ,  
lấy và truyền vi rút  
TÓM TẮT  
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu đặc tính truyền vi rút Lùn lúa cỏ (RGSV)  
của côn trùng vectơ truyền bệnh. Kết quả thí nghiệm cho thấy thời gian ủ vi rút  
trong cơ thể rầy trung bình 4,86 ± 1,63 ngày, tỷ lệ (%) cây lúa nhiễm bệnh thể  
hiện thấp nhất với 10,4% ở ngày thứ 3 và cao nhất vào ngày thứ 15 với 45,6%.  
Thời gian ủ vi rút (thời gian ủ bệnh) trong cây lúa trung bình từ 18,83 ± 0,83  
ngày và rầy nâu truyền bệnh liên tục tối đa là 11 ngày, tối thiểu 1 ngày (trung  
bình 1,9 ± 1,8 ngày). Thời gian nhân mật số mầm bệnh trong rầy nâu trung bình  
4,2 ± 2,7 ngày và tuổi thọ trung bình của rầy truyền được bệnh là 9,9 ± 5,2 ngày.  
Thời gian để rầy nâu lấy được vi rút RGSV tối thiểu là 30 phút, tối thích 4 ngày  
và thời gian rầy truyền được bệnh này tối thiểu là 15 phút, tối thích 24 giờ.  
Keywords:  
Rice Grassy Stunt Virus,  
minimum incubation period,  
acquisition access and  
inoculation access time of  
virus  
các triệu chứng của dòng vi rút thông thường  
(dòng 1). Đến năm 1984 vi rút Lùn lúa cỏ (Rice  
1. GIỚI THIỆU  
Bệnh lùn lúa cỏ (LLC) được phát hiện đầu tiên  
năm 1962 ở Viện Lúa Quốc Tế (IRRI),  
Philippines. Bệnh cũng được ghi nhận ở Ấn Độ  
(1967), Srilanka (1969), Indonesia (1973),  
Malaysia (1969), Đài loan (1970), Thái Lan  
(1969), Nhật Bản (1980) và Việt Nam (Võ Thanh  
Hoàng, 2010; Du, 1988). Theo Hibino và  
Cabauatan (1985) ở Philippines thì một dòng vi  
rút mới (dòng 2) xuất hiện đầu tiên trong năm  
1982 – 1983 gây vàng lá lúa và chết cây bên cạnh  
Grassy Stunt Virus, RGSV) thường ít xuất hiện và  
gây thiệt hại tại Châu Á, dù chưa được chứng  
minh nhiều, nhưng có lẽ RGSV ít là do sự thay  
đổi trong khả năng truyền bệnh của quần thể rầy  
nâu. Tỉ lệ rầy nâu có thể lấy và truyền RGSV thay  
đổi từ 3 – 50% ở Philippines trước năm 1977  
(Ling, 1977 được trích dẫn bởi Hồ Xuân Thiện,  
2006), sang 0 – 15% trong năm 1984 (Hibino,  
1996). Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) kể  
từ đầu vụ lúa Hè thu 2006 dịch bệnh xảy ra và có  
11  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
mức lan rộng đến hầu hết các tỉnh ĐBSCL, với  
mật số rầy nâu rất cao, diện tích bị nhiễm bệnh  
vàng lùn riêng tại Đồng Tháp với thiệt hại < 30%  
là 613 ha, > 30% là 2.636 ha; trong đó thiêu hủy  
khoảng 500 ha và gây thiệt hại đáng kể đến năng  
suất lúa ước tính khoảng 800.000 tấn (Pham Van  
Du & cs., 2007). Trong thời gian này tỉ lệ rầy  
mang vi rút có lẽ rất cao, thường thì trong những  
trận dịch rầy có thể mang vi rút đến 70% (Ou,  
1983). Ở An Giang, trong vụ Đông xuân 2007 –  
2008 thì tổng diện tích nhiễm bệnh vàng lùn là  
3.262 ha với nhiễm trung bình là 58 ha và nhiễm  
nặng là 147 ha (Chi cục Bảo vệ Thực vật An  
Giang, 2008).  
2.1.2 Chuẩn bị cây lúa khoẻ  
Hạt giống lúa OM 1490 sẽ được ngâm trong nước  
24 giờ, sau đó sẽ ủ thêm 24 giờ, hạt giống nẩy  
mầm được gieo trong các chậu đất, đặt trong các  
lồng lưới, nhằm cách ly cây lúa khỏi bị chích hút  
bởi nguồn rầy bên ngoài. Đây sẽ là nguồn vật liệu  
sử dụng cho công tác nghiên cứu cũng như sử  
dụng làm nguồn thức ăn cho rầy.  
2.1.3 Chuẩn bị cây lúa bệnh  
Thu thập cây lúa bệnh từ các vùng đang có dịch  
bệnh, nhận dạng cây bệnh bằng triệu chứng bên  
ngoài và qua phương pháp ELISA để xác định  
chính xác triệu chứng bệnh, cây bệnh được tiếp  
tục trồng trong điều kiện nhà lưới để làm nguồn  
vật liệu truyền bệnh.  
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  
(2006), rầy nâu chích hút cây lúa bệnh sau 5 – 10  
phút là mang được mầm bệnh trong cơ thể và sau  
khoảng 10 ngày là có thể lan truyền vi rút gây  
bệnh sang cây lúa khoẻ khác. Rầy nâu chích hút  
cây bệnh đến 60 phút vẫn chưa lấy được vi rút  
LLC, thời gian ủ vi rút là 7 ngày và thời gian  
truyền được vi rút LLC tối thiểu là 30 phút (Lê  
Cẩm Loan và ctv, 2010). Tuy nhiên, các nghiên  
cứu về mối tương quan sinh học giữa virút và  
vectơ truyền bệnh hiện nay trong nước chỉ đang  
thực hiện ở một vài nơi mang tính chất tương đối  
(xác định các khoảng thời gian chích hút, ủ và  
truyền của rầy nâu đối với VL) và chưa có kết quả  
thống nhất chung. Vì vậy, đề tài "Nghiên cứu đặc  
tính truyền vi rút lùn lúa cỏ (Rice Grassy Stunt  
Virus, RGSV) của côn trùng vectơ" cần được tiến  
hành để góp phần làm cơ sở khoa học cho công  
tác chẩn đoán, phát hiện và quản lý bệnh hại được  
tốt hơn.  
2.1.4 Tạo nguồn rầy mang vi rút  
Cho rầy khoẻ chích hút trên cây lúa bệnh mang  
triệu chứng bệnh lùn lúa cỏ để tạo nguồn rầy  
mang vi rút. Đây là nguồn rầy bệnh mang vi rút sẽ  
được sử dụng để truyền bệnh cho cây lúa khoẻ.  
2.2 Bố trí thí nghiệm  
2.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định thời gian ủ vi rút lùn  
lúa cỏ trong cơ thể côn trùng vectơ và cây lúa  
- Sử dụng phương pháp chủng bệnh trong ống  
nghiệm với cây lúa 9 – 10 ngày tuổi của giống  
OM1490 ở điều kiện nhà lưới.  
- Cho rầy nâu tuổi 1 – 2 lấy vi rút trên cây bệnh  
trong 4 ngày.  
- Cho 01 rầy mang vi rút vào mỗi ống nghiệm với  
cây mạ 9 – 10 ngày tuổi bằng cách sử dụng ống  
hút rầy và đậy ống nghiệm lại bằng nắp nhựa.  
- Cho rầy chích hút trên cây mạ trong ống nghiệm  
trong 24 giờ.  
- Sử dụng 2 – 3 giá (racks) ống nghiệm (40  
ống/rack = 80 – 120 ống nghiệm 16x160 mm) cho  
thí nghiệm này.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
2.1 Chuẩn bị nguồn vật liệu truyền bệnh tại  
nhà lưới Đại học An Giang  
2.1.1 Chuẩn bị nguồn rầy sạch bệnh  
- Ngày tiếp theo (sau khi đã chủng 24 giờ), lấy  
cây mạ ra khỏi ống nghiệm và thay cây mạ mới.  
Cứ tiếp tục như thế cho các ngày tiếp theo cho  
đến khi rầy chết (thường khoảng 20 ngày).  
- Cây mạ đã chủng được cấy trên chậu (10  
cây/chậu) hay bể chứa đất 20 cây/hàng và được  
giữ trong nhà kính (lưới) cho đến khi triệu chứng  
bệnh xuất hiện.  
Tiến hành thu thập mẫu rầy từ một số địa phương  
trong vùng đang có dịch bệnh lùn lúa cỏ, mẫu rầy  
sau khi thu thập sẽ cho đẻ trứng (trên nhóm cây  
không thuộc phổ ký chủ như cây rau mác), sau  
bốn ngày rầy mẹ sẽ bị chết do thiếu nguồn thức  
ăn, trứng rầy sẽ nở ra sau chín ngày, đây là nguồn  
rầy không mang vi rút (Ling, 1977 được trích dẫn  
bởi Hồ Xuân Thiện, 2006) được sử dụng cho các  
nghiên cứu về truyền bệnh sau khi được test  
ELISA.  
- Những rầy nâu chết sẽ được thu thập và đánh  
dấu (nhãn hay ký hiệu) của mỗi ống nghiệm và  
được kiểm tra bằng ELISA để xác định rầy mang  
12  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
vi rút và khả năng truyền được bệnh có liên quan  
đến cây mạ trong từng ống nghiệm.  
- Sau 01 tháng tất cả các cây được chủng sẽ được  
kiểm tra ELISA để xác định sự hiện diện của  
RGSV.  
giữ trong nhà kính (lưới) cho đến khi triệu chứng  
bệnh xuất hiện.  
- Những rầy nâu chết sẽ được thu thập và đánh  
dấu (nhãn hay ký hiệu) của mỗi ống nghiệm và  
được kiểm tra bằng ELISA để xác định rầy mang  
vi rút và khả năng truyền được bệnh có liên quan  
đến cây mạ trong từng ống nghiệm.  
- Sau 01 tháng tất cả các cây được chủng sẽ được  
kiểm tra ELISA để xác định sự hiện diện của  
RGSV.  
* Ghi nhận:  
Xác định số ngày sau khi chích hút khi triệu  
chứng dương tính với RGSV trên cây mạ được  
kiểm tra ELISA: đây là thời gian (ngày) ủ vi rút  
RGSV trong rầy nâu sau khi chích hút từ cây  
nguồn bệnh.  
* Ghi nhận:  
Xác định thời gian ủ vi rút RGSV trong cây lúa  
bằng cách quan sát hằng ngày những cây mạ đã  
được chủng xuất hiện triệu chứng ở ngày đầu tiên:  
đây là thời gian (ngày) ủ bệnh trong cây lúa sau  
khi được chủng.  
Tính trung bình thời gian ủ bệnh RGSV trong rầy  
nâu và cây lúa.  
Xác định số ngày truyền được RGSV của những  
con rầy nâu nhiễm RGSV (hằng ngày, 2 ngày,  
…).  
Xác định tỉ lệ (%) rầy nhiễm RGSV truyền được  
như sau:  
Số rầy nhiễm  
% Rầy nhiễm bệnh = ---------------------------- x 100  
Tổng số rầy được kiểm tra  
Thời gian thể hiện bệnh  
Xác định thời gian tối thiểu và tối thích để rầy nâu  
lấy và truyền được vi rút RGSV từ cây nguồn  
bệnh  
Tổng số cây bị bệnh  
Tỷ lệ bệnh (%) = ---------------------------------- x 100  
Tổng số cây được chủng  
Xác định tỉ lệ (%) rầy nhiễm RGSV truyền được  
như sau:  
Số rầy nhiễm  
2.2.3 Thí nghiệm 3: Xác định các khoảng thời  
gian cần thiết cho côn trùng vectơ truyền bệnh  
RGSV  
% Rầy nhiễm bệnh = -------------------------- x 100  
Tổng số rầy được kiểm tra  
Thời gian thể hiện bệnh  
- Thí nghiệm này được thiết lập sau khi đã xác  
định được thời gian ủ và lấy vi rút tối thích.  
- Rầy nâu mang (đã lấy và ủ bệnh hoàn tất) vi rút  
RGSV sẽ chủng trên cây mạ khỏe giống OM1490  
trong ống nghiệm ở các nghiệm thức trong: (1) 15  
phút, (2) 30 phút, (3) 2 giờ, (4) 4 giờ, (5) 8 giờ và  
(6) 24 giờ. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu  
nhiên, 4 lần lặp lại trong điều kiện nhà lưới.  
- Sử dụng 2 giá (racks) ống nghiệm (40 ống/rack  
x 2 = 80 ống nghiệm 16x160 mm) cho thí nghiệm  
này.  
- Cây mạ đã chủng được cấy trên chậu (10  
cây/chậu) hay bể chứa đất 20 cây/hàng và được  
giữ trong nhà kính (lưới) cho đến khi triệu chứng  
bệnh xuất hiện.  
- Những rầy nâu chết sẽ được thu thập và đánh  
dấu (nhãn hay ký hiệu) của mỗi ống nghiệm và  
được kiểm tra bằng ELISA để xác định rầy mang  
vi rút và khả năng truyền được bệnh có liên quan  
đến cây mạ trong từng ống nghiệm.  
Tổng số cây bị bệnh  
Tỷ lệ bệnh (%) = ----------------------------- x 100  
Tổng số cây được chủng  
2.2.2 Thí nghiệm 2: Xác định khoảng thời gian  
cần thiết để côn trùng vectơ hút được RGSV từ  
cây lúa bệnh  
- Rầy nâu tuổi 2 sẽ được lấy vi rút RGSV trên cây  
bệnh ở các nghiệm thức trong: (1) 30 phút, (2) 2  
giờ, (3) 4 giờ, (4) 8 giờ, (5) 2 ngày và (6) 4 ngày.  
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 4  
lần lặp lại trong điều kiện nhà lưới.  
- Sau đó, rầy này được giữ trên cây mạ khỏe  
giống OM1490 trong suốt thời gian ủ bệnh (được  
xác định ở thí nghiệm 1) trong cơ thể của rầy nâu  
được hoàn tất.  
- Rầy mang vi rút RGSV này sẽ chủng cho cây mạ  
OM1490 (9 – 10 ngày tuổi) trong ống nghiệm  
suốt 24 giờ.  
- Sử dụng 2 giá (racks) ống nghiệm (40 ống/rack  
x 2 = 80 ống nghiệm 16x160 mm) cho thí nghiệm  
này.  
- Cây mạ đã chủng được cấy trên chậu (10  
cây/chậu) hay bể chứa đất 20 cây/hàng và được  
- Sau 01 tháng tất cả các cây được chủng sẽ được  
kiểm tra ELISA để xác định sự hiện diện của  
RGSV.  
13  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
ủ virút RGSV  
1. Tối thiểu  
2. Tối đa  
1490  
* Ghi nhận:  
Xác định tỉ lệ (%) rầy nhiễm RGSV truyền được  
như sau:  
1
10  
17  
30  
Số rầy nhiễm  
% Rầy nhiễm bệnh = ---------------------------- x 100  
Tổng số rầy được kiểm tra  
3. Trung bình 1 4,86 ± 1,63  
18,83 ± 0,83  
Ghi chú: 1: Độ lệch chuẩn  
Thời gian thể hiện bệnh  
%
50,0  
Xác định thời gian tối thiểu và tối thích để rầy nâu  
truyền được virút RGSV từ cây nguồn bệnh  
45,6  
35,0  
Tổng số cây bị bệnh  
Tỷ lệ bệnh (%) = ---------------------------------- x 100  
29,3  
27,1  
25,4  
23,2  
Tổng số cây được chủng  
22,7  
22,7  
20,0  
21,6  
2.2.4 Xử lí số liệu  
21,3  
20,7  
16,9  
16,7  
14,5  
17,6  
13,3  
11,7  
11,6  
10,4  
Số liệu được thu thập, xử lý và phân tích phương  
sai ANOVA theo phép thử DUNCAN ở các chỉ  
tiêu theo dõi trong toàn các thí nghiệm bằng phần  
mềm Microsoft Excel và SAS.  
Ngày  
chủng  
bệnh  
5,0  
S1  
S2  
S3  
S4  
S5  
S6  
S7  
S8  
S9  
S10  
S11  
S12  
S13  
S14  
S15  
S16  
S17  
S18  
Hình 1: Tỷ lệ (%) cây lúa nhiễm RGSV qua các ngày  
chủng bệnh liên tục  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Thí nghiệm 1:  
3.1.2 Thời gian ủ vi rút RGSV trong cây lúa  
Cũng từ dẫn liệu ở Bảng 1 cho thấy, thời gian ủ vi  
rút (thời gian ủ bệnh) trong cây lúa biến động từ  
10 – 30 ngày và trung bình là 18,83 ± 0,83 ngày.  
Trong đó, trung bình thời gian (ngày) ủ bệnh  
trong cây lúa ở các ngày truyền bệnh (tính từ lúc  
cây lúa được chủng đến khi thể hiện triệu chứng  
bệnh) được ghi nhận ở Hình 2 với thấp nhất là  
15,7 ngày (ngày thứ 9) và cao nhất ở ngày thứ 18  
với 26,6 ngày. Kết quả này tương tự như được ghi  
nhận ở nghiên cứu của Vương Thị Thắm (2010)  
với trung bình biến động từ 17,5 – 18,9 ngày và  
khá tương đồng với nghiên cứu của RC  
Cabunagan và ctv (2010) cho rằng trung bình thời  
gian ủ vi rút RGSV ở giống lúa TN1 là 18,7 ngày.  
Ngoài ra, kết quả thể hiện sự tương đồng với các  
nghiên cứu trước đây do có thể phụ vào nhiều yếu  
tố: khả năng hút được vi rút RGSV ở mỗi cá thể  
rầy nâu được lây nhiễm, khả năng nhân mật số  
mầm bệnh trong cơ thể rầy nâu, khả năng truyền  
được vi rút RGSV và sức đề kháng của từng cá  
thể trong cùng giống lúa hoặc khác giống lúa đối  
với mầm bệnh…  
Xác định thời gian ủ virút lùn lúa cỏ trong cơ thể  
côn trùng vectơ (rầy nâu) và cây lúa  
3.1.1 Thời gian ủ vi rút RGSV trong cơ thể rầy  
nâu  
Theo kết quả ở Bảng 1 cho thấy, thời gian ủ vi rút  
trong cơ thể rầy biến động từ 1 đến 17 ngày hay  
rầy nâu chỉ cần tối thiểu (thấp nhất) 1 ngày và tối  
đa (cao nhất) 17 ngày sau khi lấy được vi rút vào  
cơ thể thì có khả năng truyền được vi rút gây bệnh  
RGSV trên cây lúa, trung bình là 4,86 ± 1,63  
ngày. Kết quả cũng được ghi nhận theo nghiên  
cứu của Hibino (1996), Cabunagan và Cabauatan  
(2006) cho rằng rầy nâu cần một thời gian ủ vi rút  
trong cơ thể rầy nâu từ 5 – 25 ngày (trung bình 10  
– 11 ngày) kể từ sau khi bắt đầu được cho chích  
hút cây lúa bệnh 4 ngày.  
Tỷ lệ (%) cây lúa nhiễm vi rút RGSV qua các  
ngày chủng vi rút liên tục từ 1 – 18 ngày (sau khi  
lấy vi rút 4 ngày) được ghi nhận ở Hình 1 với thấp  
nhất là 10,4% ở ngày thứ 3 và cao nhất với 45,6%  
ở ngày thứ 15. Kết quả này cũng tương đối phù  
hợp với nghiên cứu của Ling và ctv (1969) được  
Hồ Xuân Thiện (2006) trích dẫn rằng giai đoạn ủ  
bệnh trung bình là 8 ngày (biến đổi từ 3 – 28  
ngày).  
Thời gian (ngày) ủ bệnh  
30,0  
26,6  
25,0  
23,3  
22,9  
22,8  
22,8  
21,0  
19,8  
20,0  
19,6  
19,4  
17,9  
17,9  
17,9  
17,6  
17,4  
16,7  
16,9  
15,7  
16,1  
Ngày  
chủng  
bệnh  
15,0  
Bảng 1: Thời gian (ngày) ủ vi rút RGSV của rầy nâu  
S1  
S2  
S3  
S4  
S5  
S6  
S7  
S8  
S9  
S10  
S11  
S12  
S13  
S14  
S15  
S16  
S17  
S18  
và cây lúa OM 1490  
Hình 2: Trung bình thời gian (ngày) ủ bệnh trong cây  
lúa qua các ngày chủng bệnh liên tục  
Rầy nâu  
Giống lúa OM  
Thời gian (ngày)  
14  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
3.1.3 Khả năng truyền bệnh của rầy nâu  
An Giang University  
Theo Ling (1972) cho rằng tuổi thọ trung bình của  
rầy nâu truyền bệnh là 15,4 ngày và ngắn hơn có ý  
nghĩa đối với rầy nâu không truyền bệnh (17,5  
ngày). Trong khi kết quả thí nghiệm thể hiện tuổi  
thọ trung bình của rầy truyền được bệnh là 9,9 ±  
5,2 ngày và biến động 2 – 18 ngày với 80/120  
(66,67%) rầy nâu thử nghiệm truyền được bệnh  
(Bảng 2). Điều này có thể do có sự thay đổi đặc  
tính của nòi virus, biotype của rầy nâu,…ảnh  
hưởng đến tuổi thọ của rầy nâu khi mang mầm  
bệnh khác so với các nghiên cứu khá lâu trước  
đây.  
Theo kết quả được ghi nhận ở Bảng 2, rầy nâu có  
khả năng truyền bệnh liên tục tối đa là 11 ngày  
trong 18 ngày được chủng bệnh, tối thiểu là 1  
ngày và trung bình là 1,9 ± 1,8 ngày. Rầy nâu cần  
phải có một khoảng thời gian nghỉ (không truyền  
bệnh liên tục) để nhân mật số mầm bệnh với biến  
động từ 1 – 13 ngày và trung bình là 4,2 ± 2,7  
ngày. Thời gian truyền bệnh trong suốt 18 ngày  
liên tục chủng bệnh có trung bình là 3,14 ± 0,63  
ngày, biến động từ 1 – 13 ngày.  
Bảng 2: Khả năng truyền bệnh của rầy nâu  
Thời gian (ngày)  
truyền bệnh  
Liên  
tục  
Thời  
gian nghỉ  
1
Tuổi  
thọ  
Truyền bệnh trong suốt 18 ngày  
chủng bệnh  
1. Tối thiểu  
1
2
1
2. Tối đa  
11  
13  
18  
13  
3. Trung bình1  
Ghi chú: 1: Độ lệch chuẩn  
1,9 ± 1,8  
4,2 ± 2,6  
9,9 ± 5,2  
3,14 ± 0,63  
Ngoài ra, thí nghiệm còn ghi nhận có 80 trong  
tổng số 120 con rầy có khả năng truyền bệnh và  
chiếm tỷ lệ 66,7%. Trong đó, tỷ lệ rầy nâu truyền  
được bệnh cao nhất ở ngày thứ 15 với 18,3% và  
thấp nhất ở 18 ngày với 5,8% và trung bình là  
11,39 ± 3,57%, nhưng khả năng truyền được bệnh  
ở từng cá thể rầy thử nghiệm là khác nhau (Hình  
3).  
- Tỷ lệ (%) của BPH lấy được vi rút tăng dần theo  
thời gian được cho chích hút cây lúa bệnh và  
tương ứng với % cây lúa thể hiện triệu chứng  
bệnh khi được truyền bệnh ở cùng khoảng thời  
gian (nghiệm thức) được cho chích hút vi rút  
(Hình 4). Hơn nữa, tỷ lệ (%) mẫu dương tính qua  
phép thử ELISA cũng cho thấy, các nghiệm thức  
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% đối  
với BPH và 1% đối với giống OM 1490 thử  
nghiệm, cụ thể thấp nhất ở 30 phút với 1,28%  
(BPH) và 2,53% (cây lúa) và cao nhất ở 4 ngày  
với 9,21% (BPH) và 16,67% (cây lúa).  
%
20,0  
18,3  
15,8  
15,0  
15,0  
14,2  
14,2  
13,3  
13,3  
13,3  
12,5  
Tỷ lệ (%)  
10,8  
10,0  
10,0  
18  
10,0  
a
9,2  
7,5  
7,5  
7,5  
6,7  
Ngày  
chủng  
bệnh  
5,8  
S18  
12  
5,0  
Rầy nâu  
S1  
S2  
S3  
S4  
S5  
S6  
S7  
S8  
S9  
S10  
S11  
S12  
S13  
S14  
S15  
S16  
S17  
a
b
OM1490  
ab  
Hình 3: Tỷ lệ (%) rầy nâu truyền được virút RGSV  
qua các ngày chủng bệnh liên tục  
bc  
bc  
6
0
ab  
bc  
c
b
b
b
3.2 Thí nghiệm 2: Xác định khoảng thời gian  
cần thiết để côn trùng vectơ hút được RGSV từ  
cây lúa bệnh  
Nghiệm thức  
30 phút  
2 giờ  
4 giờ  
8 giờ  
2 ngày  
4 ngày  
Hình 4: Tỷ lệ (%) lấy được virút RGSV của rầy nâu  
(BPH) ở những thời gian khác nhau  
Thí nghiệm được tiến hành nhằm xác định khoảng  
thời gian cần thiết để rầy nâu (côn trùng vectơ)  
lấy được virút RGSV vào trong cơ thể và có khả  
năng truyền được bệnh. Ghi nhận tỷ lệ cây lúa  
nhiễm bệnh ở thời điểm 30 ngày sau chủng bệnh  
(NSC) với 80 cây lúa trong mỗi nghiệm thức được  
thể hiện ở Hình 4 và Bảng 3 như sau:  
- Với kết quả thể hiện dương tính với vi rút RGSV  
qua thử nghiệm ELISA cho thấy % BPH luôn nhỏ  
hơn % cây lúa ở mỗi nghiệm thức, điều này có thể  
là do ngay thời điểm BPH đã truyền đi một lượng  
vi rút cho cây lúa được chủng hay đang ở giai  
đoạn nhân (tích lũy) mật số vi rút trong cơ thể,  
nên khi thu và phân tích mẫu BPH thì lượng vi rút  
15  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
không đủ (ít) để thể hiện kết quả dương tính dù  
rằng trong cơ thể của BPH vẫn mang vi rút  
RGSV. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu  
của Ngô Vĩnh Viễn và ctv (2010) cho rằng, sau  
khi rầy nâu truyền bệnh cần phải có thời gian 6 –  
9 giờ để nhân lượng vi rút trong cơ thể đủ để lây  
bệnh cho các cây lúa tiếp theo.  
Như vậy, thời gian tối thiểu (thấp nhất) cần thiết  
để rầy nâu lấy được vi rút để truyền được bệnh là  
30 phút, tối thích (cao nhất) là 4 ngày và triệu  
chứng bệnh thể hiện sau tối thiểu 2 tuần được  
truyền bệnh. Kết quả này cũng phù hợp với  
nghiên cứu của Hibino (1979, 1986 và 1989) cho  
rằng, thời gian rầy nâu chích hút đủ để gây được  
bệnh là 30 phút đến 6 giờ. Hơn nữa, kết quả này  
có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện ngoài đồng,  
khi có rầy nâu di trú đến ruộng lúa đang nhiễm  
bệnh và chỉ cần khoảng thời gian rất ngắn với tối  
thiểu là 30 phút đủ để lấy được vi rút RGSV vào  
cơ thể BPH và sẽ có thể phát tán nguồn bệnh trên  
diện rộng.  
- Thời gian (ngày) thể hiện triệu chứng ở các thời  
gian BPH được cho chích hút cây lúa bệnh biến  
động với từ 15 – 30 ngày và trung bình từ 18 –  
25,9ngày. Kết quả này tương tự như ghi nhận ở  
nghiên cứu của Phạm Văn Dư và ctv (2010) cho  
rằng, triệu chứng bệnh xuất hiện sau khi bị rầy  
nâu bay đến và chích hút là 15 – 20 ngày.  
Bảng 3: Thời gian (ngày) thể hiện bệnh  
BPH  
BPH  
lấy virút  
Nghiệm  
thức  
truyền virút  
Nghiệm  
thức  
Tối thiểu  
Tối  
thích  
Trung  
Tối thiểu  
Tối  
thích  
30  
Trung  
bình1  
bình1  
30 phút  
2 giờ  
18  
15  
20  
22  
20  
21  
20  
20  
30  
25  
25  
30  
19,0 ± 1,4  
18,0 ± 2,7  
24,8 ± 4,1  
24,3 ± 1,5  
21,9 ± 2,3  
25,9 ± 3,1  
15 phút  
30 phút  
2 giờ  
21  
20  
17  
18  
22  
15  
25,5 ± 6,4  
22,0 ± 1,3  
21,3 ± 2,7  
25,1 ± 4,8  
23,3 ± 2,3  
23,2 ± 4,8  
24  
4 giờ  
25  
8 giờ  
4 giờ  
30  
2 ngày  
4 ngày  
8 giờ  
26  
24 giờ  
30  
Ghi chú: 1: Độ lệch chuẩn  
cây bệnh và phải hoàn tất một khoảng thời gian  
cần thiết ủ vi rút trong cơ thể thì có khả năng  
truyền được bệnh từ vài phút đến 25 giờ, nhưng  
tối thiểu từ 5 – 15 phút.  
3.3 Thí nghiệm 3: Xác định các khoảng thời  
gian cần thiết cho côn trùng vectơ truyền bệnh  
RGSV  
Kết quả về tỷ lệ bệnh được ghi nhận ở thời điểm  
30 NSC với 80 cây lúa trong mỗi nghiệm thức và  
thể hiện ở Hình 5 và Bảng 3 cho thấy:  
- Thời gian tối thiểu (thấp nhất) để rầy nâu mang  
vi rút truyền được bệnh là 15 phút và tối thích  
(cao nhất) là 24 giờ (Bảng 3).  
- Tỷ lệ (%) mẫu BPH dương tính qua phép thử  
ELISA cho thấy, không có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê giữa các nghiệm thức và nhưng lại khác  
biệt có ý nghĩa thống kê 1% ở tỉ lệ nhiễm bệnh  
được thể hiện đối với giống OM 1490 thử nghiệm  
trong từng nghiệm thức. Trong đó, tỷ lệ bệnh thấp  
nhất ở 15 phút với 2,5%, có thể do thời gian quá  
ngắn nên lượng vi rút truyền vào cây không đủ để  
gây bệnh. Khi cho rầy truyền bệnh với thời gian  
kéo dài hơn thì tỷ lệ bệnh cũng tăng lên đáng kể  
và lần lượt ở 30 phút (7,5%), 2 giờ (10%), 4 giờ  
(12,5%), 8 giờ (16,25%) và cao nhất ở 24 giờ với  
31,25%. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên  
cứu của Hibino (1996), Cabunagan và Cabauatan  
(2006) cho rằng, rầy nâu sau khi lấy được vi rút từ  
- Thời gian (ngày) thể hiện triệu chứng bệnh ở các  
thời gian BPH truyền bệnh cho cây lúa tương tự  
như thí nghiệm cho BPH chích hút ở các khoảng  
thời gian khác nhau và cũng biến động với từ 15 –  
30 ngày, trung bình từ 21 – 25 ngày (Bảng 3). Kết  
quả cũng phù hợp với nghiên cứu của Phạm Văn  
Dư và cs. (2010) với triệu chứng bệnh xuất hiện là  
15 – 20 ngày sau khi được rầy nâu bay đến và  
chích hút.  
Ở điều kiện ĐBSCL, rầy nâu thường di trú vào  
chiều mát đến ban đêm mang mầm bệnh đến  
ruộng lúa, do vậy rầy di trú có đủ khoảng thời  
gian rất ngắn với tối thiểu là 15 phút đủ để truyền  
16  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
được bệnh vào cây lúa và cũng thể hiện triệu  
chứng bệnh tối thiểu sau 2 tuần được truyền bệnh  
làm ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây  
lúa trở về sau. Đặc biệt khi cây lúa nhiễm bệnh ở  
giai đoạn nhỏ hay dưới 15 ngày sau sạ (Ngô  
Thành Trí và ctv, 2010). Vì thế giải pháp né rầy di  
trú ở giai đoạn mạ là hợp lí và có thể tránh được  
những thiệt hại lớn do nhiễm rầy và vi rút gây  
nên.  
tương quan sinh học giữa rầy nâu và bệnh lùn lúa  
cỏ so với các nghiên cứu trước đây.  
Lời Cảm Tạ  
Xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm  
Văn Dư, PGS.TS Nguyễn Văn Huỳnh, TS. Hồ  
Văn Chiến, ThS. Lê Quốc Cường, TS. R  
Cabunagan và TS. IR Choi (IRRI) đã hỗ trợ,  
hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình, chu đáo  
trong quá trình nghiên cứu. Xin được gửi lời cảm  
ơn tới Trung tâm Bảo vệ Thực vật phía Nam và  
Khoa Nông nghiệp-Tài nguyên Thiên nhiên, Đại  
học An Giang cùng toàn thể các cán bộ đã tạo  
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên  
cứu và thực hiện đề tài.  
Tỷ lệ (%)  
40  
a
30  
Rầy Nâu  
OM 1490  
20  
10  
0
b
bc  
bc  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
bc  
c
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. (2006). Sổ tay  
hướng dẫn phòng trừ rầy nâu truyền bệnh vàng lùn,  
lùn xoắn lá hại lúa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
Nông thôn  
Cabunagan, R. C. and P.Q. Cabauatan. (2006). Biology,  
epidemiology, diagnosis and management of rice  
ragged and grassy stunt virus disease. Center for  
Plant Protection in South VietNam, Long Dinh,  
Tien Giang Province, VietNam. October 10-12,  
2006.  
Nghiệm  
thức  
15 phút 30 phút 2 giờ 4 giờ  
8 giờ 24 giờ  
Hình 5: Tỷ lệ (%) nhiễm và truyền được RGSV của  
rầy nâu ở những thời gian khác nhau  
4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
4.1 Kết luận  
Thời gian ủ vi rút lùn lúa cỏ trong cơ thể rầy nâu  
biến động từ 1 đến 17 ngày (sau khi lấy vi rút 4  
ngày), trung bình là 4,86 ± 1,63 ngày và thời gian  
ủ vi rút trong cây lúa biến động từ 10 – 30 ngày,  
trung bình là 18,83 ± 0,83 ngày cây lúa sẽ ảnh  
hưởng đến mức độ nhiễm bệnh, tốc độ sinh  
trưởng và năng suất lúa.  
Cabunagan RC, Cabauatan PQ, Cuong LC, Chien HV  
and Choi IR. (19/5/2010). On-Site Research and  
Hands-On Training on Brown Planthopper-  
Transmitted  
Viruses.  
Đọc  
từ:  
Tốc độ lan truyền bệnh lùn lúa cỏ còn thể hiện ở  
khả năng truyền bệnh của rầy nâu liên tục tối đa là  
11 ngày (trung bình 1,9 ± 1,8 ngày), thời gian  
nhân mật số mầm bệnh với trung bình là 4,2 ± 2,7  
ngày, dù tuổi thọ trung bình của rầy truyền được  
bệnh là 9,9 ± 5,2 ngày (biến động 2 – 18 ngày).  
Chi cục Bảo vệ Thực vật An Giang. (2008). Báo cáo  
công tác bảo vệ thực vật năm 2008 và kế hoạch  
hoạt động năm 2009. Sở Nông nghiệp và Phát triển  
Nông thôn tỉnh An Giang.  
Du P.V. (1988). Study on rice tungro virus, MSc Thesis  
submitted to Division of Mycology and Plant  
Pathology, Indian Agriculture Research Institute,  
New Delhi-110012.  
Hibino H. (1979). Rice ragged stunt, a new virus  
disease occurring in tropical Asia. Rev. Plant Prot.  
Res. 12:98.  
Hibino H, Cabunagan PQ. (1985). Rice grassy stunt  
virus causing tungro-like symptoms in the  
Philippines. Plant Dis. 69 (6):538-41.  
Khoảng thời gian cần thiết để rầy nâu lấy được vi  
rút RGSV từ cây lúa bệnh với tối thiểu là 30 phút,  
tối thích (cao nhất) là 4 ngày và thời gian thể hiện  
bệnh 18 – 25,9 ngày. Khoảng thời gian cần thiết  
để rầy nâu truyền bệnh lùn lúa cỏ với tối thiểu là  
15 phút, tối thích (cao nhất) là 24 giờ và thời gian  
thể hiện bệnh trung bình từ 21 – 25 ngày.  
Hibino H. (1986). Rice grassy stunt virus, CMI/AAB  
Descr. Plant Viruses No,320. Biology and  
Epidemiology of rice viruses. Annu. Rev.  
Phytopathol.34: 249-74.  
4.2 Khuyến nghị  
Phân tích đặc điểm cấu trúc di truyền của vi rút  
RGSV hiện tại để đánh giá sự khác biệt hơn ở mối  
17  
Journal of Science – 2014, Vol. 4 (3), 11 – 18  
An Giang University  
Hibino H. (1989). Insect-borne viruses of rice. In  
Advances in Disease Vector Research, ed. KF  
Harris, 6:209-41. New York: Springer Verlag.  
Hibino H. (1996). Biology and epidemilogy of rice  
viruses. Ann. Rev. Phytopathol. 34:249-74.  
Ou, S.H. (1983). Bệnh hại Lúa. Nhà xuất bản Nông  
Nghiệp Hà Nội.  
Phạm Văn Dư, RC Cabunagan & IR Choi. (2005).  
Rice "Yellowing Syndrome" in Mekong River Delta.  
Omonrice 13:135-138.  
Hồ Xuân Thiện. (2006). Các virút được nghi vấn là tác  
nhân gây bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá tại miền  
Nam Việt Nam. Trường Đại học Oxford.  
Lê Cẩm Loan, Võ Thị Dạ Thảo, & Phạm Văn Dư.  
(2009). Mối tương quan sinh học giữa rầy nâu,  
bệnh lùn lúa cỏ-lùn xoắn lá gây hại trên các vùng  
trồng lúa ở phía Nam. Hội thảo quốc gia lần 8 về  
Bệnh hại thực vật Việt Nam. Nhà xuất bản Nông  
Nghiệp.  
Pham Van Du, R.C. Cabunagan, P.Q. Cabauatan, H.S.  
Choi, I.R. Choi, Ho Van Chien & Nguyen Huu  
Huan. (2007). Yellowing syndrome of rice: etiology  
current status and future challenges. Omon Rice  
15:9-101.  
Phạm Văn Dư, Phạm Văn Quỳnh, Lê Hữu Hải, Nguyễn  
Văn Phương, Nguyễn Văn Dương, Trần Quang  
Củi, Nguyễn Văn Khang, Hồ Văn Chiến & Nguyễn  
Hữu Huân. (2010). Hiệu quả giải pháp “Gieo sạ  
đồng loạt và né rầy trên diện rộng” để phòng trừ  
bệnh lùn lúa cỏ và lùn xoắn lá ở ĐBSCL. Hội thảo  
quốc gia lần 9 về Bệnh hại thực vật Việt Nam. Nhà  
xuất bản Nông Nghiệp.  
Ling, K. (1972). Rice virus diseases. International Rice  
Research Institute.  
Ngô Vĩnh Viễn, Nguyễn Như Cường, Nguyễn Trường  
Thành, Lê Văn Trịnh, Đinh Văn Thành & Tạ  
Hoàng Anh. (2010). Nghiên cứu các giải pháp  
phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá  
hại lúa. Hội thảo quốc gia lần 9 về Bệnh hại thực  
vật Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp.  
Ngô Thành Trí, Nguyễn Chí Cương, Phạm Văn Kim &  
Vũ Triệu Mân. (2010). Điều tra, thu thập, thanh lọc  
và nhân nuôi lúa nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá  
và đánh giá hiệu quả sủa sản xuất kít chẩn đoán  
nhanh bệnh này. Hội thảo quốc gia lần 9 về Bệnh  
hại thực vật Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp.  
Võ Thanh Hoàng. (2010). Bệnh chuyên khoa. Giáo  
trình  
trực  
tuyến.  
Đọc  
từ:  
Vương Thị Thắm. (2010). Tương quan sinh học giữa vi  
rút lùn lúa cỏ (Rice Grassy Stunt Virus, RGSV) và  
rầy nâu trên cây lúa ở điều kiện nhà lưới. Luận văn  
tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt. Khoa Nông nghiệp-Tài  
nguyên Thiên nhiên, Đại học An Giang.  
18  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 19640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc tính truyền vi rút lùn lúa cỏ (Rice grassy stunt virus, RGSV) của côn trùng Vectơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_tinh_truyen_vi_rut_lun_lua_co_rice_grassy_stu.pdf