Các giải pháp nâng cao kết quả xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2021-2025

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI  
KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN 2021-2025  
Nguyễn Tiếp Tân  
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam  
Nguyễn Hồng Trường  
Trung tâm tư vấn PIM  
Tóm tắt: Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) đã góp phần quan trọng thay đổi diện  
mạo khu vực nông thôn, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng được hoàn thiện. Tuy  
nhiên, kết quả xây dựng NTM có sự chênh lệch nhiều giữa các vùng, miền trong cả nước. Trong  
đó, thấp nhất là vùng Miền núi phía Bắc (đạt 34,3%), các tiêu chí khó thực hiện nhất là tiêu chí  
về Tổ chức sản xuất/Thu nhập và Môi trường- an toàn thực phẩm. Với tiếp cận “nguyên lý thùng  
gỗ”, thanh gỗ ngắn nhất là yếu điểm và cần tập trung vào cải thiện thanh gỗ ngắn nhất, bài báo  
đã đưa ra các giải pháp tập trung vào nâng cao kết quả thực hiện tiêu chí Tổ chức sản xuất/Thu  
nhập và Môi trường-an toàn thực phẩm, là những tiêu chí có tính quyết định cho thành công trong  
thực hiện NTM ở khu vực này trong giai đoạn tiếp theo (2021-2025)  
Từ khóa: Xây dựng nông thôn mới, tiêu chí xã nông thôn mới, vùng Miền núi phía Bắc  
Summary: The new rural program has made an important contribution to changing the face of rural  
areas, the system of socio-economic infrastructure has been increasingly improved. However, the  
results of new rural construction have a large gap between regions and regions. The northern  
mountainous region is the region with the lowest implementation results in the country (34,3%), the  
most difficult criteria to implement are the criteria on production organization/income and  
environment, food safety. With the “barrel principle” approach, the shortest wooden stick is the weak  
point and it is necessary to focus on improving this shortest wooden stick, the paper has proposed  
solutions focusing on improving the results of the implementation of the criteria of Income and  
Environment, food safety, these criteria are decisive for the success of new rural implementation in  
this region in the next period (2021-2025).  
Keywords: The new rural program, new rural commune criteria, Northern mountainous region  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*  
Chương trình NTM đã góp phần quan trọng  
thay đổi diện mạo khu vực nông thôn, hệ thống  
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng được  
hoàn thiện. Đời sống vật chất và tinh thần của  
người dân được cải thiện. Thu nhập bình quân  
đầu người/năm khu vực nông thôn năm 2018  
tăng 2,78 lần so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo  
nông thôn giảm nhanh từ 17,35% năm 2010  
xuống còn khoảng 5,9% năm 2019, khoảng  
cách phát triển giữa nông thôn - đô thị từng  
bước được thu hẹp. Tuy nhiên, kết quả xây  
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư của Trung  
Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng  
NTM” đã trở thành một phong trào có sức lan  
tỏa mạnh mẽ, sâu rộng trên phạm vi cả nước.  
Nếu tìm kiếm cụm từ “xây dựng nông thôn  
mới” trên Google thì trong vòng chưa đến 1  
giây có tới trên 23 triệu kết quả liên quan xuất  
hiện.  
Ngày nhận bài: 19/4/2021  
Ngày duyệt đăng: 15/6/2021  
Ngày thông qua phản biện: 21/5/2021  
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
dựng NTM có khoảng cách chênh lệch nhiều quản lý tốt và dân chủ. Những nội dung trên  
giữa các vùng, miền trên cả nước. Một số vùng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong  
tỷ lệ xã đạt NTM cao như Vùng đồng bằng sông quá trình thực hiện cần phải giải quyết đồng bộ  
Hồng (90,7%), Đông Nam Bộ (79,2%), Tây và toàn diện nhằm khơi dậy và phát huy tốt vai  
Nguyên (43,5%), vùng tỷ lệ xã đạt NTM thấp trò người nông dân trong công cuộc xây dựng  
nhất là vùng Miền núi phía Bắc (34,3%). Ở NTM ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại.  
vùng này một số địa phương có tỷ lệ xã đạt  
Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai  
chuẩn rất thấp dưới 25% như Hà Giang, Cao  
trò chủ thể của cộng đồng dân cư, dựa vào nội  
Bằng, Bắc Kạn, [1]. Đánh giá kết quả thực hiện  
lực của cộng đồng địa phương là chính, Nhà  
các tiêu chí xã NTM vùng MNPB giai đoạn  
nước chỉ hỗ trợ một phần làm động lực phát huy  
2016-2020 cho thấy số tiêu chí đạt chuẩn trung  
sự đóng góp của người dân và của cộng đồng.  
bình của các xã hiện nay là 13 tiêu chí/19 tiêu  
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành  
chí cần phải đạt. Trong đó Tiêu chí 10-Thu nhập  
các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách,  
cơ chế hỗ trợ, hướng dꢀn. Các hoạt động cụ thể  
do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn  
và Tiêu chí 17- Môi trường và an toàn thực  
phẩm đang là những tiêu chí khó thực hiện nhất.  
Bằng phương pháp thu thập tài liệu, xử lý số bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.  
liệu và phân tích biện luận; từ nghiên cứu thực  
trạng kết quả thực hiện xây dựng NTM giai  
đoạn 2010-2020, bài báo chỉ ra những tồn tại,  
bất cập trong thực hiện xây dựng NTM của  
vùng MNPB. Với tiếp cận “nguyên lý thùng  
thôn mới đã được ban hành đầy đủ, cơ bản đáp  
gỗ”, thanh gỗ ngắn nhất là yếu điểm và cần tập  
2.2 Hệ thống văn bản chính sách về xây dựng  
nông thôn mới  
Trong cả giai đoạn 2010-2020, Hệ thống chính  
sách, cơ chế hỗ trợ thực hiện Chương trình nông  
ứng yêu cầu thực tiễn. Đã có 4 Nghị quyết của  
Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 13  
Nghị quyết của Chính phủ, 54 Quyết định và  
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 106 Quyết  
định, Thông tư và văn bản hướng dꢀn thực hiện  
Chương trình được ban hành, [2]. Khi triển khai  
Chương trình, các địa phương sẽ ban hành tiếp  
số lượng lớn các văn bản để hướng dꢀn cụ thể.  
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai  
thực hiện và tạo nền tảng vững chắc và là đòn  
bẩy để tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình.  
trung vào cải thiện thanh gỗ ngắn nhất này, bài  
báo sẽ đưa ra các giải pháp để nâng cao kết quả  
thực hiện tiêu chí Thu nhập và tiêu chí Môi  
trường - an toàn thực phẩm, là những tiêu chí  
căn bản nhất và có tính quyết định cho thành  
công trong thực hiện NTM ở khu vực này trong  
giai đoạn 2021-2025.  
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG XÂY DỰNG  
NÔNG THÔN MỚI  
2.1 Mục tiêu, nguyên tắc trong xây dựng  
nông thôn mới  
2.3 Bài học về phát triển nông thôn của các  
quốc gia tiên tiến  
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của  
Ban Chấp hành trung ương về thực hiện  
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng  
NTM với năm nội dung cơ bản: Thứ nhất  
là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ  
tầng hiện đại. Hai là sản xuất bền vững, theo  
hướng hàng hóa. Ba là đời sống vật chất và tinh  
thần của người dân ngày càng được nâng  
cao. Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ  
gìn và phát triển. Năm là xã hội nông thôn được  
Kinh nghiệm các nước phát triển như Nhật Bản,  
Hàn Quốc, Thái Lan,... khi xây dựng, triển khai  
chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói  
chung, đã rất chú ý đến phát triển kinh tế - xã  
hội khu vực nông thôn theo hướng nội sinh, chú  
trọng các nguồn lực sẵn có làm động lực phát  
triển (đất đai, tài nguyên, điều kiện địa lý, lòng  
tự hào, khả năng sáng tạo,...).  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
- Tại Nhật Bản, phong trào “Mỗi làng, một sản phương; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực  
phẩm” ở những năm 1970. Sau khi đánh giá 20 và thúc đầy sự sáng tạo của cộng đồng.  
năm thực hiện phong trào OVOP (1979 - 1999),  
Kết quả các mô hình phát triển nông thôn ở các  
cơ sở lý luận về phát triển nông thôn nội sinh càng  
nước này đã thành công và có nét tương đồng  
được khẳng định, minh chứng rõ nét.  
với Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam.  
- Tại Hàn Quốc, phong trào làng mới hay cộng Đây là cơ sở để xem xét, phân tích, áp dụng phù  
đồng mới, Saemaul Undong (SU) vào những năm hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở mỗi địa  
1970. Cộng đồng mới khác với cộng đồng cũ vốn phương của Việt Nam trong từng giai đoạn phát  
dĩ thụ động, trì trệ, đói kém và bệnh tật. Cộng triển kinh tế, chính trị, xã hội.  
đồng mới nhấn mạnh đến sự chăm chỉ, tự lực, hợp  
tác, phát triển, vệ sinh và thịnh vượng. Tinh thần  
Saemaul dựa trên các giá trị cốt lõi: cần cù-tự lực-  
hợp tác là nền tảng của phong trào Saemaul.  
3. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NTM GIAI  
ĐOẠN 2016-2020 Ở CÁC TỈNH MNPB  
3.1 Kết quả xây dựng xã nông thôn mới giai  
đoạn 2016-2020  
Phong trào này được đánh giá là phương pháp  
luận đúng đắn và hiệu quả để xóa đói giảm nghèo Đến tháng 10/2019, cả nước có 4.665 xã  
ở khu vực nông thôn của nhiều quốc gia đang phát (52,4%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn  
triển ở Đông Nam Á.  
mới. Trong đó, đạt cao nhất là ở vùng Đồng  
bằng sông Hồng và đạt thấp nhất là ở MNPB,  
[1]. Hầu hết các tỉnh vùng MNPB tỷ lệ các xã  
đạt chuẩn thấp hơn nhiều so với bình quân cả  
nước, đều dưới 50%, ngoại trừ 3 tỉnh đạt kết quả  
khá tốt là Yên Bái (đạt 51%), Bắc Giang (đạt  
69%) và cao nhất là Thái Nguyên (79%). Khó  
khăn nhất là tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng khi số  
tiêu chí đạt chuẩn bình quân/xã lần lượt là 9,57  
và 9,61, chỉ mới đạt ½ số tiêu chí xã đạt chuẩn  
NTM (19 tiêu chí). Một số số liệu thu thập, [3],  
về kết quả thực hiện NTM ở 8 tỉnh MNPB như  
ở Bảng 1:  
- Tại Thái Lan, Chương trình Mỗi cộng đồng  
một sản phẩm OTOP được khởi xướng năm  
2001 nhằm khuyến khích phát triển kinh tế  
trong nước thông qua nhân tố phát triển con  
người, phát triển cộng đồng là chính trên nền  
tảng phát triển nền kinh tế cơ sở (xây dựng, phát  
triển và tái cấu trúc các hộ, nhóm, cơ sở sản  
xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã). Xây dựng xã,  
cộng đồng vững mạnh; phát triển tự lực của  
nhân dân; xây dựng gia đình hạnh phúc và có  
chất lượng; Tạo công ăn việc làm cho cộng  
đồng dân cư; phát triển trí tuệ, truyền thống địa  
Bảng 1: Kết quả thực hiện các tiêu chí NTM giai đoạn 2016-2020 ở một số tỉnh MNPB  
TT Nộ i dung  
Tên tỉnh  
Thái  
Cao  
Bắc  
Kạn  
108  
Lạng  
Sơn  
181  
Phú Tuyên  
Lai  
Điện  
Biên  
115  
Nguyên Bằng  
Thọ Quang Châu  
1
Tổ ng số xã  
137  
177  
9,61  
25  
247  
14,31  
81  
124  
14,45 13,58  
37 30  
96  
2
Số tiêu chí đạt chuẩn  
bình quân/xã  
17,26  
9,57  
13,39  
11,45  
3
4
Số xã được công nhận  
đạt chuẩnNTM  
108  
23  
65  
35  
(79%)  
(14%) (21%) (36%) (33%) (30%) (31%) (30%)  
Số xãđạttheotừngtiêuchí  
Nhóm tiêu chí về Quy hoạch và Hạ tầng kinh tế-xã hộ i  
- Tiêu chí 1: Quy hoạch 137 177 96 181  
247  
124  
96  
115  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
TT Nộ i dung  
CÔNG NGHỆ  
Thái  
Cao  
Bắc  
Kạn  
20  
Lạng  
Sơn  
76  
Phú Tuyên  
Lai  
Điện  
Biên  
52  
Tên tỉnh  
Nguyên Bằng  
Thọ Quang Châu  
- Tiêu chí 2: Giao thông  
- Tiêu chí 3: Thủy lợi  
112  
44  
133  
55  
54  
91  
132  
121  
89  
168  
226  
124  
70  
- Tiêu chí 4: Đ iện  
- Tiêu chí 5: Trường họ c  
- Tiêu chí 6: CSVC văn hóa  
137  
123  
109  
109  
33  
16  
84  
15  
11  
142  
72  
242  
148  
197  
115  
56  
45  
88  
38  
44  
83  
42  
38  
73  
-
Tiêu chí 7: CSHT  
132  
133  
89  
170  
214  
112  
96  
93  
thương mại nông thôn  
- Tiêu chí 8: Thông tin và  
truyền thông  
129  
112  
63  
47  
71  
94  
237  
154  
124  
42  
85  
46  
115  
39  
- Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư  
39  
157  
Nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ chức sản xuất  
- Tiêu chí 10: Thu nhập  
- Tiêu chí 11: Hộ nghèo  
Tiêu chí 12: Lao độ ng  
- Tiêu chí 13: Tổ chức sx  
108  
115  
139  
123  
20  
20  
164  
71  
17  
28  
92  
38  
78  
108  
181  
126  
136  
182  
243  
196  
59  
72  
124  
118  
33  
30  
96  
64  
35  
35  
81  
49  
Nhóm tiêu chí về Văn hóa-Xã hộ i-Môi trường  
- Tiêu chí 14: Giáo dục  
- Tiêu chí 15: Y tế  
- Tiêu chí 16: Văn hóa  
-Tiêuchí17:Môitrườngvà  
ATTP  
135  
136  
131  
110  
103  
113  
84  
87  
54  
181  
144  
117  
213  
171  
124  
107  
123  
96  
67  
75  
56  
93  
56  
222  
108  
24  
12  
98  
115  
38  
34  
60  
Nhóm tiêu chí về Hệ thống chính trị  
- Tiêu chí 18: HTCT và  
116  
165  
168  
31  
93  
90  
116  
114  
78  
93  
90  
tiếp cận pháp luật  
- Tiêu chí 19: An ninh quốc  
131  
77  
165  
169  
115  
phòng  
Trong 4 nhóm tiêu chí thì nhóm tiêu chí Hệ 34,3%. Kết quả phân bố không đều ở các tỉnh  
thống chính trị đạt kết quả cao nhất (88,78% số và ngay cả ở các huyện trong cùng một tỉnh. Đạt  
xã đạt), tiếp đó là nhóm tiêu chí Văn hóa-Xã kết quả cao nhất là tỉnh Thái Nguyên (79%),  
hội-Môi trường (69,05% số xã đạt), đứng thứ ba thấp nhất là tỉnh Cao Bằng (14%). Số tiêu chí  
là nhóm tiêu chí Hạ tầng – kinh tế xã hội đạt chuẩn bình quân/xã của toàn vùng đang là  
(68,60% số xã đạt) và cuối cùng là nhóm tiêu 13 tiêu chí/19 tiêu chí.  
chí Kinh tế - tổ chức sản xuất (61,12% số xã  
đạt).  
3.2. Những tồn tại, bất cập trong thực hiện  
Chương trình NTM ở vùng MNPB  
3.2.1 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới  
vùng MNPB đang thấp nhất trong cả nước  
Kết thúc giai đoạn 2016-2020, số xã được công  
nhận đạt chuẩn NTM của vùng MNPB là  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Hiện nay, nhiều tiêu chí tập trung vào nguồn lực  
vật chất (9 tiêu chí), ít tiêu chí tập trung vào  
nguồn lực con người. Riêng về nguồn lực tự  
nhiên thì không có tiêu chí riêng nào. Bộ tiêu chí  
vô tình đã định hướng mức độ ưu tiên các nguồn  
lực trong cơ cấu NTM. Các địa phương đa phần  
đều lo tập trung vào xây dựng hạ tầng như làm  
đường giao thông nông thôn, thủy lợi, chợ, nhà  
văn hóa, v.v…, có nơi chiếm đến 95% tổng  
nguồn lực, [5]. Các nội dung về phát triển sản  
xuất, nâng cao thu nhập, nâng cao ý thức bảo vệ  
môi trường chưa được quan tâm đúng mức nên  
chưa có sự chuyển biến rõ nét.  
Bảng 2: Tỷ lệ số xã đạt chuẩn xét  
theo từng tiêu chí  
Tỷ lệ xã  
TT Các tiêu chí  
đạt  
1
Tiêu chí 10: Thu nhập  
39,55%  
Tiêu chí 17: Môi trường và  
ATTP  
2
40,31%  
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất  
văn hóa  
3
41,76%  
42,91%  
45,85%  
46,78%  
51,15%  
4 Tiêu chí 5: Trường họ c  
5
6
7
8
Tiêu chí 2: Giao thông  
Tiêu chí 11: Hộ nghèo  
Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư  
Tiêu chí 13: Tổ chức sản xuất 64,81%  
Tiêu chí 18: HTCT và tiếp cận  
Tác giả Bạch Quốc Khang, [6], cũng cho rằng Bộ  
tiêu chí còn hạn chế, chưa tạo khung đủ mức linh  
hoạt giữa các vùng và trong nội vùng. Mức độ  
phân biệt về định lượng theo vùng miền ở một số  
chỉ tiêu chưa sát thực chất; Một số tiêu chí có chỉ  
tiêu định lượng như nhau cho tất cả các vùng  
miền; Một số chỉ tiêu đặt ra chưa sát với khả năng  
và nhu cầu của một số vùng; Một số chỉ tiêu tuy  
có sự khác biệt giữa các vùng, nhưng mức độ  
khác biệt không lớn, chưa sát thực. Xem xét các  
bất cập khi thực hiện trong giai đoạn 2016-2020,  
Tạ Đình Xuyên và cộng sự, [5] cho rằng Nhà  
nước cần tập trung rà soát, đánh giá lại các tiêu  
chí một cách khách quan, công bằng và có tính  
thực thi cao khi áp dụng tại các địa phương, vùng  
miền trên cả nước.  
9
pháp luật  
10 Tiêu chí 16: Văn hóa  
11 Tiêu chí 15: Y tế  
Tiêu chí 8: Thông tin và truyền  
12 thông  
13 Tiêu chí 4: Đ iện  
14 Tiêu chí 14: Giáo dục  
15 Tiêu chí 3: Thủy lợi  
Tiêu chí 7: CSHT thương mại  
16 nông thôn  
Tiêu chí 19: An ninh quố c  
17 phòng  
18 Tiêu chí 12: Lao độ ng  
19 Tiêu chí 1: Quy hoạch  
68,43%  
73,75%  
77,97%  
78,99%  
84,05%  
84,17%  
85,89%  
88,21%  
88,78%  
93,33%  
98,61%  
Tiêu chí 10-Thu nhập và Tiêu chí 17- Môi  
trường và an toàn thực phẩm đang là những tiêu  
chí khó thực hiện nhất ở vùng MNPB thể hiện ở  
Bảng 2. Đây cũng là những tiêu chí khó thực  
hiện nhất ngay cả với các tỉnh vùng đồng bằng,  
[4]. Ở các vùng nông thôn, nước thải sinh hoạt  
nhìn chung chưa được thu gom xử lý. Chất thải  
rắn, rác sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình  
thức chôn lấp. Các bãi chôn lấp không hợp vệ  
sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có  
hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là  
nguồn gây ô nhiễm môi trường. Quá trình kiểm  
soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong  
công tác bảo vệ môi trường, hiện vꢀn đang là vấn  
đề gây bức xúc trong xã hội.  
3.2.3 Các tiêu chí đạt nhưng chưa thực sự có  
hiệu quả  
- Tiêu chí quy hoạch: Lập quy hoạch tổng thể  
phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn  
(gắn với xây dựng NTM) là công việc thực hiện  
đầu tiên. Tuy nhiên, ở hầu hết các địa phương  
công việc này thường được thực hiện rất chậm.  
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng  
NTM giai đoạn 2021-2025 đã khởi động trong  
khi việc rà soát kết quả thực hiện quy hoạch của  
giai đoạn 2011-2020 và lập quy hoạch cho giai  
đoạn tiếp theo thì các địa phương chưa thực  
hiện. Các đồ án quy hoạch này ở giai đoạn  
2016-2020 hầu hết đều có chất lượng thấp, còn  
rập khuôn, chưa áp vào điều kiện thực tế của địa  
3.2.2Bộtiêuchíchưacósựphânhóavùngvàchưa  
cân đối giữa các nhóm tiêu chí  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
phương, đồ án quy hoạch sớm lạc hậu và hầu  
như nó được hoàn thành là để chạy theo bộ tiêu  
chí của Trung ương về xã NTM, [5].  
trình công cộng như làm thủy lợi, làm giao thông,  
công trình phúc lợi, bệnh viện, trường học… có  
thể góp bằng ngày công hoặc bằng tiền, [8].  
- Tiêu chí tổ chức sản xuất: Hình thức tổ chức  
sản xuất là một trong những tiêu chí chi phối  
đến nhiều lĩnh vực khác như thu nhập, cơ cấu  
lao động, việc làm, v.v…, ở các địa phương nếu  
phát huy được vai trò của các tổ chức sản xuất  
thì sẽ dễ thực hiện được các tiêu chí khác. Các  
hình thức tổ chức sản xuất trọng tâm là các hợp  
tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT). Thông qua các  
tổ chức kinh tế này, nông dân được tiếp cận các  
phương thức canh tác, tiến bộ kỹ thuật mới nâng  
cao hiệu quả sản xuất; liên kết chuỗi sản phẩm,  
bao tiêu đầu ra,…ổn định nguồn thu nhập, tạo  
điều kiện hoàn thành tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo  
và thu nhập. Tuy nhiên tiêu chí tổ chức sản xuất  
(tiêu chí 13) các địa phương có thể dễ dàng đạt  
được nếu trong xã có HTX, THT (được thành  
lập theo Luật HTX 2012) với một nhóm nhỏ  
tham gia. Nếu các mô hình tổ chức sản xuất  
chưa có tính lan tỏa, chưa tạo được lượng hàng  
hóa lớn và chưa đồng nhất theo yêu cầu thị  
trường mà đánh giá tiêu chí này hoàn thành thì  
địa phương chưa cần phải nỗ lực gì nhiều! Tổ  
chức sản xuất tốt, hiệu quả thì sẽ phản ánh qua  
thu nhập được nâng lên.  
3.2.5 Trình độ dân trí, năng lực quản lý của  
cán bộ cấp cộng đồng còn hạn chế  
Trong một nghiên cứu của Nguyễn Mậu Thái  
(2015), [9], tầm quan trọng ảnh hưởng của các  
nhân tố tới quá trình xây dựng NTM theo trình  
tự là: Trình độ dân trí, thu nhập, điều kiện tự  
nhiên kinh tế xã hội, năng lực trình độ của cán  
bộ địa phương, chương trình, chính sách của  
Chính phủ. Trong một nghiên cứu khác  
“Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến  
XDNTM bền vững” [10], tác giả chỉ ra một số  
nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng NTM tại vùng  
đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk là:  
(i) Điều kiện kinh tế; (ii) Điều kiện tự nhiên và  
cơ sở hạ tầng; (iii) Nhận thức của người dân;  
(iv) Sự tham gia của người dân; (v) Văn hóa,  
tôn giáo và vai trò của những người có uy tín  
trong cộng đồng; (vi) Vai trò của chính quyền  
địa phương và các tổ chức chính trị xã hội; (vii)  
Ảnh hưởng của các Chương trình dự án đến xây  
dựng NTM ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số;  
(viii) Vai trò của khoa học kỹ thuật; (ix) Lao  
động, việc làm ở nông thôn. Như vậy, dù ở vùng  
miền nào thì trình độ dân trí và năng lực của cán  
bộ cơ sở đều giữ vai trò quan trọng, nhân tố ảnh  
hưởng tốp đầu đến quá trình xây dựng NTM.  
Với vùng MNPB, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ lực  
lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng  
chỉ thấp thứ hai cả nước (thấp nhất là Đồng  
bằng sông Cửu Long), [11], đã là một khó khăn  
lớn trong việc tiếp nhận thông tin, hiểu biết của  
người dân về các chủ trương, chính sách của  
nhà nước về chương trình, phối hợp tổ chức  
thực hiện của người dân và chính quyền cấp cơ  
sở,…đã dꢀn đến xây dựng NTM đạt kết quả  
thấp ở nơi đây.  
3.2.4 Chưa phát huy được nội lực của cộng đồng  
Vai trò quan trọng của người dân trong xây dựng  
NTM với tư cách vừa là chủ thể, vừa là động lực,  
vừa là người hưởng thụ kết quả của Chương trình  
NTM; Người dân cần phải được làm chủ (được  
biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được  
hưởng lợi). Tuy nhiên ở nhiều nơi triển khai  
Chương trình chạy theo thành tích, người dân  
chưa thực sự được tham gia là chủ thể của chương  
trình, cách lấy ý kiến người dân còn mang tính  
hình thức, đôi khi là áp đặt [7]. Sự tham gia của  
người dân chủ yếu nhất vꢀn là hoạt động đóng  
góp tài chính cho hoạt động xây dựng NTM thông  
qua việc thu các quỹ gồm các quỹ bắt buộc theo  
quy định của Nhà nước và những quỹ tự nguyện,  
3.2.6 Xã đạt chuẩn NTM nhưng người dân  
chưa hài lòng  
Với chủ trương: Sự hài lòng của người dân là  
huyđộng lao động nghĩa vụ để thực hiện các công Thước đo hiệu quả của Chương trình XDNTM,  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam này phần nào là hệ quả của tiêu chí Thu nhập/Tổ  
đã ban hành Hướng dꢀn số 122/HD-MTTW- chức sản xuất. Bởi vì rằng, nếu địa phương có  
BTT ngày16/01/2019 về việc lấy ý kiến sự hài các mô hình kinh tế, tổ chức sản xuất tốt, hiệu  
lòng của người dân về kết quả xây dựng NTM, quả thì thu nhập của người dân sẽ được nâng cao  
với mục đích để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, và tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương.  
đề xuất của nhân dân đồng thời phát huy vai trò Khi đó, cùng với các Chương trình, dự án hỗ trợ  
làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM và của Chính phủ, sự tham gia vốn đối ứng của địa  
đánh giá khách quan, thực chất kết quả xây phương và sự chung sức, đóng góp của cộng  
dựng NTM. Tuy nhiên, việc tổ chức lấy ý kiến đồng thì lần lượt các tiêu chí này sẽ được thực  
đánh giá sự hài lòng của người dân ở nhiều nơi hiện.  
chưa đảm bảo tính độc lập, còn hình thức. Cá  
biệt một số nơi việc đánh giá còn phụ thuộc vào  
“Một sợi dây xích chỉ khỏe bằng mắt xích yếu  
nhất của nó” - tục ngữ của người Mỹ, hay tương  
chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương  
tự với nó là “nguyên lý thùng gỗ” do nhà quản  
nhất là ở cấp xã, vì vậy chưa thật sự đảm bảo  
lý học người Mỹ, Peter, đã đưa ra. Nguyên lý  
tính khách quan trong tổ chức triển khai thực  
này nói rằng lượng nước trong thùng được  
hiện. Đây là ý kiến chia sẻ của ông Hầu A Lềnh  
quyết định bởi độ cao của thanh gỗ ngắn nhất.  
- Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương  
Thanh gỗ ngắn này trở thành yếu điểm của  
chiếc thùng. Nếu muốn lượng nước trong thùng  
tăng lên thì buộc phải thay thanh gỗ ngắn bằng  
thanh dài hơn.  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Hội nghị Toàn  
quốc tổng kết 10 năm Chương trình MTQG xây  
dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 diễn ra tại TP.  
Nam Định tháng 10/2019, [1]. Chính vì xã  
Thanh gỗ ngắn nhất này biểu trưng cho những  
chuẩn NTM không thực chất, mang tính hình  
tiêu chí yếu kém nhất. Cần tập trung vào mắt  
thức, mang tính thành tích này mà ở các xã đó  
xích yếu nhất, tập trung vào cải thiện thanh gỗ  
chưa có các hoạt động mang tính kiến tạo, chưa  
ngắn nhất là việc cần làm. Với lý luận đó, người  
khai thác được hết tiềm năng thế mạnh của khu  
viết cho rằng để nâng cao tỷ lệ đạt chuẩn NTM  
vực nông thôn. Thu nhập, đời sống của các  
khu vực MNPB giai đoạn 2021-2025 thì tới đây  
vùng nông thôn còn thấp là nguyên nhân chính  
cần tập trung các giải pháp để nâng cao Thu  
người dân chưa hài lòng.  
nhập (tiêu chí 10, thực chất hơn là tiêu chí 13-  
Tổ chức sản xuất, vì giá trị thu nhập chẳng qua  
là thể hiện kết quả của hoạt động tổ chức sản  
xuất) và giải quyết các vấn đề về Môi trường  
3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ  
XDNTM KHU VỰC MNPB GIAI ĐOẠN  
2021-2025  
3.1 Phạm vi giải pháp  
nông thôn- an toàn thực phẩm (tiêu chí 17), là  
những tiêu chí căn bản nhất và có tính quyết  
định cho thành công trong thực hiện NTM ở  
khu vực này.  
Từ kết quả tổng hợp ở Bảng 2 có thể nói rằng  
tiêu chí 10: Thu nhập và tiêu chí 17: Môi trường-  
an toàn thực phẩm là những mắt xích yếu nhất  
trong tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu  
quốc gia xây dựng NTM của khu vực MNPB.  
Kết quả cũng cho thấy các tiêu chí 6 (Cơ sở vật  
chất văn hóa), tiêu chí 5 (Trường học), tiêu chí 2  
(Giao thông), tiêu chí 11 (Hộ nghèo) và tiêu chí  
9 (Nhà ở dân cư) tỷ lệ đạt cũng không cao, số  
lượng các xã đạt các tiêu chí này chỉ chiếm 41%  
đến 51%. Tuy nhiên, về bản chất thì các tiêu chí  
Hình 1: Minh họa nguyên lý thùng gỗ  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn  
thành công việc của họ. Các khóa đào tạo cho  
cán bộ cơ sở cấp cộng đồng để họ có vai trò  
quan trọng trong việc lan tỏa các giá trị liêm  
chính, tự lực, hợp tác cần được thực hiện  
thường xuyên liên tục. Đã có trường hợp người  
dân tham gia không phải do họ mong muốn mà  
do cảm động trước sự kiên nhꢀn và tấm lòng  
của cán bộ. Và để các cán bộ cấp cơ sở có được  
sức ảnh hưởng đó thì họ cần được đào tạo, bồi  
dưỡng một cách bài bản về kỹ năng lãnh đạo,  
trình độ kiến thức, kỹ năng hòa giải, khả năng  
đánh giá chất lượng,…  
3.2 Các giải pháp nâng cao kết quả xây dựng  
NTM khu vực MNPB giai đoạn 2021-2025  
3.2.1 Tập trung vào nhân tố con người, sức  
mạnh nội sinh của cộng đồng  
(1) Xây dựng NTM được thực hiện theo phương  
châm dựa vào nội lực và dựa vào cộng đồng địa  
phương. Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần làm  
động lực phát huy sự đóng góp của người dân  
và của cộng đồng. Tinh thần và các hành động  
để xây dựng nông thôn mới xoay quanh chủ thể  
là người dân thì câu ca dao mà Bác Hồ thường  
nói “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn  
lần dân liệu cũng xong” luôn phải thuộc nằm  
lòng trong đầu những người làm chính sách,  
những người thực hiện chương trình, dự án  
nông thôn mới.  
- Bằng cách nào để người nông dân có được tinh  
thần cần mꢀn, tự tạo và hợp tác cao? Đó là phải  
giải quyết được sinh kế cho người dân trong xây  
dựng NTM. Người nông dân thường chịu chi  
phối của các yếu tố có lợi trước mắt, vì vậy các  
dự án của Chương trình NTM cần giải quyết  
(2) Tiếp cận cách thực hiện từ dưới lên, tiếp cận  
có sự tham gia, lấy người dân làm trung tâm. được các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, cần  
đào tạo, hướng dꢀn kỹ thuật cho người dân thực  
hiện các dự án ngắn hạn, có kết quả rõ ràng như  
cải thiện môi trường sống, các ngành nghề tạo  
thu nhập và xây dựng cơ sở vật chất để người  
dân có được cảm giác tự hào về thành công của  
mình và có niềm tin, sau đó mới bước vào các  
dự án dài hơi hơn.  
Người dân là chủ thể, do vậy vấn đề nâng cao vai  
trò của người dân, thu hút sự tham gia đóng góp  
của người dân là vấn đề then chốt quyết định sự  
thành công của chương trình. Hiện nay việc xây  
dựng NTM vꢀn chủ yếu xuất phát từ cấp chính  
quyền, theo hướng tiếp cận từ trên xuống, nên vꢀn  
chưa tạo cho người dân cảm giác đây là quá trình  
của mình. Và do đó cần tiếp cận theo cách ngược  
lại, thực tế cũng đã cho thấy khi người dân trở  
thành chủ thể, họ nhập cuộc một cách chủ động,  
đem cả tinh thần lꢀn tài sản ủng hộ công cuộc xây  
dựng NTM.  
(4) Ban hành kịp thời hệ thống văn bản cơ chế  
chính sách: Để đẩy mạnh xây dựng NTM, ngoài  
các chính sách chung được ban hành từ phía trung  
ương thì các địa phương cần thiết phải ban hành  
kịp thời các cơ chế, chính sách cụ thể để vận dụng  
trong quá trình thực hiện xây dựng NTM ở địa  
phương mình. Bài học thành công từ Thái  
Nguyên, trong 10 năm triển khai (2010-2019),  
tỉnh đã có tổng cộng 3.609 các Nghị quyết,  
chương trình, kế hoạch, văn bản được ban hành.  
Trong đó cấp tỉnh là 1.011 văn bản, các huyện,thị  
xã là 2.598 văn bản, [7]. Đặc biệt, để đẩy mạnh  
triển khai thực hiện Chương trình xâydựng NTM,  
tỉnh đã ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ  
đặc thù hỗ trợ xây dựng hạ tầng nông thôn như:  
Cơ chế hỗ trợ kinh phí và xi măng xây dựng kết  
cấu hạ tầng nông thôn; Cơ chế hỗ trợ phát triển  
sản xuất thông qua triển khai các dự án, đề án,  
phương án hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với tái  
(3) Đề cao hơn nữa vai trò, giá trị con người trong  
công cuộc xây dựng NTM. Nhiều nghiên cứu về  
phong trào làng mới ở Hàn Quốc nhận định rằng,  
phong trào này đạt được thành công nhờ chính  
vào ba nhân tố con. Đó là vai trò lãnh đạo của tổng  
thống Park Chung Hee, tinh thần cống hiến của  
cán bộ quản lý tại các làng xã và tinh thần tham  
gia của người dân nông thôn.  
- Làm thế nào có được đội ngũ cán bộ quản lý,  
đặc biệt là cán bộ quản lý cấp cơ sở có tràn đầy  
nhiệt huyết và năng lực? Theo kinh nghiệm của  
Hàn Quốc, hệ thống cán bộ cơ sở, viên chức ở  
các cấp chịu trách nhiệm hướng dꢀn các hoạt  
động của phong trào “làng mới”, đây là một  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Liên quan tới đó là xác định tiềm năng đất đai  
phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, quỹ  
đất cho từng chỉ tiêu dùng đất của xã phù hợp với  
quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp tỉnh. Quy  
hoạch phải được căn cứ vào điều kiện tự nhiên,  
kinh tế xã hội, văn hóa, tập quán của từng vùng  
miền và phải có sự tham gia của cộng đồng người  
dân khi xây dựng quy hoạch, xem xét áp dụng  
phương pháp quy hoạch sử dụng đất với các tiêu  
chí bền vững có sự tham gia của cộng đồng  
(PLUP), (Nguyễn Hồng Trường).  
cơ cấu nông nghiệp và XDNTM; Chính sách  
khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn  
của tỉnh.  
(5) Công tác tuyên truyền vận động (qua tất cả các  
phương tiện truyền thông: truyền hình, phát  
thanh, báo, tạp chí, các tài liệu in ấn, tuyên truyền  
trực tiếp) là yếu tố quan trọng dꢀn đến thay đổi  
nhận thức của mọi người dân, để từ đó tham gia  
tích cực vào xây dựng NTM. Đích đến của công  
tác tuyên truyền là người dân đi bất cứ nơi đâu  
cũng thấy chữ NTM, thậm trí những người không  
biết đọc cũng có thể hiểu được chương trình, một  
chương trình toàn dân.  
- Các địa phương cần dựa vào điều kiện thực tế,  
lợi thế đất đai, khí hậu của địa phương để lựa  
chọn thực hiện một vài nội dung mang tính  
chiến lược đòn bẩy để thúc đẩy tiến trình này  
nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn. Các mô hình  
NTM cần khai thác thế mạnh về nông nghiệp  
sinh thái, nông nghiệp nghỉ dưỡng, chức năng  
môi trường, du lịch nông thôn, bảo tồn văn hóa  
và cảnh quan đặc trưng nông thôn truyền thống  
gắn với từng vùng, miền; mô hình NTM của các  
làng nghề truyền thống gắn chặt với phát triển  
OCOP, bền vững về văn hóa và môi trường.  
(6) Và cuối cùng, sự hài lòng của người dân là  
Thước đo hiệu quả của Chương trình xây dựng  
NTM. Nghiên cứu Hồ Chí Diên cho trường hợp  
tỉnh Thái Nguyên, [7], đã cho thấy các nhân tố  
ảnh hưởng tích cực tới sự hài lòng của người  
dân là: (i) thu nhập của người dân; (ii) người  
dân tham gia các tổ chức chính trị xã hội; (iii)  
người dân được tham gia bàn bạc; (iv) người  
dân được làm; (v) người dân được kiểm tra; (vi)  
quy trình thủ tục; (vii) công khai minh bạch.  
Các địa phương khác cũng có thể xem xét các  
yếu tố này trong thực hiện các chương trình, dự  
án xây dựng NTM ở địa phương mình. Và để  
cho thống nhất trên toàn quốc thì nên bổ sung  
tiêu chí đánh giá về yếu tố con người, yếu tố  
chủ thể của người dân, sự hài lòng của người  
dân trong Bộ tiêu chí ban hành sắp tới cho giai  
đoạn 2021-2025.  
- Phát triển Mỗi xã một sản phẩm trong  
XDNTM gắn với cơ cấu lại sản xuất nông  
nghiệp. Cần hình thành nhiều mô hình các  
doanh nghiệp liên kết với nông dân trong sản  
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Muốn vậy, các địa  
phương cần phải có cơ chế, chính sách ưu đãi  
hơn để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào  
nông nghiệp, dịch vụ và các hoạt động khác,  
nhất lĩnh vực chế biến, đẩy mạnh tiêu thụ sản  
phẩm cho nông dân.  
3.2.2Tập trungnhiềuhơn vàonhững“mắt xích”  
yếu nhất: Tiêu chí Thu nhập/Tổ chức sản xuất  
và tiêu chí Môi trường, an toàn thực phẩm  
- Đẩy mạnh công tác đổi mới các hình thức tổ  
chức sản xuất, phát triển kinh tế tập thể, trong  
đó xác định HTX là mấu chốt trong quản lý sản  
xuất, là cầu nối và đầu mối để thúc đẩy thu hút  
doanh nghiệp tham gia vào liên kết sản xuất,  
chế biến tiêu thụ sản phẩm từ đó nâng cao giá  
trị gia tăng, làm tăng thu nhập cho người dân ổn  
định bền vững.  
a) Giải pháp nâng cao kết quả thực hiện tiêu  
chí Tổ chức sản xuất/Thu nhập  
- Trước hết, cần giải quyết triệt để các vấn đề  
thuộc về tiền đề và nền tảng: quy hoạch sản xuất  
gắn với XDNTM. Tổ chức sản xuất sẽ phải dựa  
trên quy hoạch sản xuất. Chính vì vậy đồ án quy  
hoạch phục vụ XDNTM cần triển khai sớm ngay  
từ đầu mỗi giai đoạn, mỗi quy hoạch cho giai  
đoạn 10 năm và phân kỳ quy hoạch 5 năm cần  
phải dự báo được động lực phát triển kinh tế chủ  
đạo, sản phẩm chủ đạo, quy mô sản xuất, tiềm  
năng thị trường, định hướng đầu ra cho sản phẩm.  
- Cần có hệ thống các mô hình NTM làm mꢀu  
cho các loại hình nông thôn ở các vùng, miền  
và các tộc người. Đa dạng hóa sinh kế của cư  
dân nông thôn, một số mô hình NTM cho vùng  
MNPB có thể xem xét như sau:  
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
+ Mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp lúa, hái chè, thu hoạch cam, lê, bưởi hay trồng  
hữu cơ kết hợp du lịch:Tổ chức sản xuất nông rau hay tham quan làng nghề, khám phá văn hóa  
nghiệp dựa trên nắm bắt đặc điểm sinh thái của bản địa,… là những trải nghiệm thú vị mà du  
các loại cây trồng vật nuôi, không sử dụng các lịch nông nghiệp có thể mang lại. Nếu chỉ đơn  
yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường thuần là nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp  
sinh thái. Sản xuất bảo vệ tài nguyên đất, hệ hữu cơ thì do lợi ích trước mắt, năng suất thấp,  
sinh thái và sức khỏe con người. Mô hình nông có thể không thuyết phục được người dân, tuy  
nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, thân thiện với nhiên khi có gắn kết với du lịch, có thêm nguồn  
môi trường, kết hợp với du lịch sẽ làm tăng hiệu thu nhập và đồng thời các mô hình canh tác này  
quả của sản xuất nông nghiệp. Được trải an toàn sức khỏe cho chính bản thân người nông  
nghiệm các công việc làm ruộng, cấy lúa, gặt dân thì chắc chắn sẽ khác.  
Hình 2: Du khách tham quan và trải nghiệm hái  
chè tại xã Mỹ Bằng, Yên Sơn, Tuyên Quang  
(ảnh: Quốc Việt,  
Hình 3: Khách du lịch trải nghiệm làm  
nông cùng bà con nhân dân tại Hà Giang  
(ảnh: Linh Phan, https://nhandan.com.vn)  
https://baotuyenquang.com.vn)  
+ Mô hình du lịch sinh thái, Du lịch làng nghề khu vực đến đầu tư, khai thác hoạt động du lịch,  
truyền thống, Du lịch văn hóa bản địa: là loại dịch vụ du lịch chuyên nghiệp và bền vững.  
hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản  
địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp  
+ Mô hình “làng mới” của Hàn Quốc. Mô hình  
này đã thí điểm tại 9 tỉnh thành ở nước ta từ năm  
cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có cơ  
2002 đến nay, bao gồm: Quảng Trị, Lào Cai,  
hội để phát triển kinh tế và lợi ích cho cộng  
Thái Nguyên, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Ninh  
đồng địa phương. Khai thác du lịch sinh thái sẽ  
Thuận, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang  
là một trong những thế mạnh mà các tỉnh vùng  
thông qua các dự án như: “Chương trình hạnh  
MNPB có lợi thế, là vùng được thiên nhiên ban  
phúc”, “xây dựng NTM gắn với chuỗi giá trị  
tặng cảnh quan hùng vỹ, đặc trưng về địa hình,  
nông nghiệp”,... Kết quả các mô hình này đã  
khí hậu và hệ sinh thái đa dạng, là nơi sinh sống  
tham gia vào giải quyết các vấn đề kinh tế, văn  
của nhiều dân tộc thiểu số còn gìn giữ được  
hóa, xã hội và môi trường các làng ở Việt Nam.  
nhiều nét văn hóa đặc sắc. Đặc biệt Chương  
Cách thức chung của các mô hình này là: thứ  
nhất là giáo dục tinh thần Saemaul; thứ hai, là  
chỉnh trang môi trường sống và điều kiện sinh  
hoạt; thứ ba, là thực hiện các dự án phát triển  
và nâng cao thu nhập; thứ tư là giáo dục lối sống  
và ý thức cộng đồng; và cuối cùng là hình thành  
nền kinh tế hợp tác. Trong bước thực hiện dự án  
trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc  
(Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Giang, Hòa  
Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu) với 4 nội  
dung chính: Hợp tác xây dựng cơ chế, chính  
sách quản lý và phát triển du lịch địa phương;  
hợp tác phát triển sản phẩm du lịch; hợp tác  
tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch và hợp  
phát triển và nâng cao thu nhập, cách thức của  
tác phát triển nguồn nhân lực du lịch đã mở ra  
dự án là hướng dꢀn nông dân học cách hợp tác  
nền tảng hợp tác giữa các tỉnh, tạo hành lang  
với nhau trong công việc trước rồi sau mới xây  
pháp lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài  
dựng hạ tầng, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho  
10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
đến hỗ trợ bao tiêu (điểm khác ở Việt Nam).  
hình dịch vụ cấp nước như doanh nghiệp, mô  
hình Tổ hợp tác, mô hình Hợp tác xã dịch vụ về  
nước,... để có tính cạnh tranh, miễn sao ở đó  
tăng cường được năng lực quản lý, cơ chế tài  
chính minh bạch, đảm bảo giá nước và chất  
lượng dịch vụ tương xứng,... sẽ là các yếu tố  
quyết định hiệu quả và tính bền vững của các  
dự án cấp nước.  
3.2.2 Giải pháp nâng cao kết quả thực hiện  
tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm  
- Nếu phong trào “làng mới” của Hàn Quốc có  
mục tiêu xây dựng nông thôn thành một nơi “tốt  
đẹp hơn” thì nông thôn mới ở Việt nam hãy xây  
dựng nông thôn thành những “miền quê đáng  
sống”. Phát động nhiều các phong trào bảo vệ  
môi trường đã có hiệu quả tích cực như: “Vệ  
sinh môi trường đường làng, ngõ xóm”, phong  
trào “5 không, 3 sạch”, “Ngày thứ 7 về cơ sở  
giúp người dân thực hiện tiêu chí môi trường”,  
“Ngày thứ bảy tình nguyện”, “Ngày chủ nhật  
xanh” của đoàn thanh niên,... góp phần từng  
bước cải thiện chất lượng môi trường nông  
thôn; Gắn tiêu chí bảo vệ môi trường với gia  
đình văn hóa, đưa tiêu chí môi trường vào quy  
ước, hương ước của bản (bài học thành công từ  
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, [13]).  
- Về thu gom, xử lý rác thải: Đây cũng là một chỉ  
tiêu khó ngay cả với các tỉnh vùng đồng bằng.  
Chính vì vậy, bên cạnh sự hỗ trợ đầu tư của Nhà  
nước, các địa phương cần phát huy nội lực, huy  
động sự chung tay góp sức của cộng đồng, doanh  
nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ hợp tác, hợp tác xã  
tích cực tham gia vào hoạt động bảo vệ môi  
trường. Các địa phương cũng cần quy định  
nghiêm ngặt các tiêu chí về môi trường trong đồ  
án quy hoạch tổng thể, quy hoạch sử dụng đất để  
dễ dàng triển khai các dự án về môi trường, đồng  
thời cần có chính sách ưu đãi, chính sách hành  
chính thuận lợi để thu hút đầu tư, xã hội hóa đầu  
tư xây dựng các công trình xử lý rác tập trung  
quy mô thôn, bản.  
- Thực hiện hiệu quả Phong trào mô hình “làng  
mới” của Hàn Quốc; Phongtrào Mỗi làng một sản  
phẩm OVOP của Nhật Bản; Đề án mỗi xã một sản  
phẩm (Phê duyệt theo Quyết định số 2277/QĐ-  
BNN-VPĐP ngày 05/6/ 2017). Đề án hướng dꢀn  
4. KẾT LUẬN  
đánh giá xếp hạng các sản phẩm dựa trên các tiêu - Chương trình MTQG xây dựng NTM đã góp  
chí như: sản phẩm được sản xuất và sử dụng vật phần quan trọng thay đổi diện mạo khu vực nông  
liệu trên địa bàn tỉnh; có gia tăng giá trị; không thôn, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày  
ảnh hưởng xấu đến môi trường; góp phần phát càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, kết quả xây  
triển văn hóa, danh thắng, môi trường địa dựng NTM có khoảng cách chênh lệch nhiều  
phương; chú trọng ưu tiên các sản phẩm nông giữa các vùng, miền trên cả nước. Vùng có tỷ lệ  
nghiệp chủ lực. Như vậy, các tiêu chí về mô hình xã đạt NTM cao như vùng đồng bằng sông Hồng  
sản xuất trong đề án cũng đồng thời đảm bảo các (90,7%), Đông Nam Bộ (79,2%), Tây Nguyên  
tiêu chí về môi trường và an toàn thực phẩm.  
(43,5%), vùng tỷ lệ xã đạt NTM thấp nhất là  
vùng miền núi phía Bắc (34,3%).  
- Về chỉ tiêu nước hợp vệ sinh, nước sạch: tính  
đến 2019, tỷ lệ cấp nước hợp vệ sinh vùng nông - Cần đảm bảo tính thực chất vai trò làm chủ  
thôn MNPB trung bình đạt 79,7%, tỷ lệ được của người dân trong quá trình thực hiện. Sự hài  
dùng nước sạch đáp ứng QCVN 02:2009/BYT lòng của người dân là Thước đo hiệu quả của  
mới chỉ là 36,3%, [14], còn rất thấp. Chính vì Chương trình xây dựng NTM. Xem xét các  
vậy, bên cạnh sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, điểm hạn chế của Bộ tiêu chí giai đoạn 2016-  
các địa phương cần phát huy nội lực, huy động 2020, bổ sung tiêu chí đánh giá về yếu tố con  
sự chung tay góp sức của cộng đồng, doanh người, yếu tố chủ thể của người dân, sự hài lòng  
nghiệp tham gia vào dịch vụ ngành nước. Địa của người dân trong Bộ tiêu chí ban hành sắp  
phương cần có chính sách ưu đãi, cơ chế hỗ kịp tới cho giai đoạn 2021-2025.  
thời để thực hiện dự án thu hút đầu tư, xã hội  
hóa đầu tư xây dựng các công trình nước sạch  
- Khu vực MNPB cần tập trung vào mắt xích  
yếu nhất, cần tập trung nguồn lực để nâng cao  
tập trung; Thực hiện tốt công tác truyền thông,  
thu nhập và Môi trường, an toàn thực phẩm. Tổ  
nâng cao nhận thức cho các cộng đồng dân tộc  
chức sản xuất tốt, hiệu quả thì sẽ dꢀn đến thu  
về giá trị của nguồn nước, xem nước là một  
nhập cao và tăng nguồn thu cho ngân sách địa  
hàng hóa, chuyển từ cơ chế phục vụ sang thị  
phương. Khi đó, cùng với các Chương trình, dự  
trường. Xem xét phát triển đồng thời nhiều loại  
11  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
án hỗ trợ của Chính phủ, sự tham gia vốn đối thức tổ chức sản xuất mới hiệu quả, như Mô  
ứng của địa phương và sự chung sức, đóng góp hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu  
của cộng đồng thì lần lượt các tiêu chí khác cơ kết hợp du lịch, Mô hình du lịch sinh thái,  
cũng sẽ được thực hiện.  
Du lịch làng nghề truyền thống, Du lịch văn  
hóa bản địa,…, Phong trào Mỗi xã một sản  
phẩm, Phong trào “Làng mới” để nâng cao thu  
nhập và cải tạo môi trường cảnh quan, biến  
các vùng nông thôn thành những miền quê  
đáng sống.  
- Tập trung vào các lợi thế về cảnh quan hùng  
vỹ, đặc trưng về địa hình, khí hậu, hệ sinh thái  
đa dạng, đa sắc tộc với nhiều nét văn hóa đặc  
sắc để phát triển đa dạng sinh kế, các hình  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hội nghị Toàn quốc tổng kết 10 năm Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 -  
2020. TP. Nam Định, tháng 10/2019.  
[2] Quang Huy. (12/5/2020) Tạp chí Dân Vận. [Online]. http://danvan.vn/10-nam-thuc-hien-  
Chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-giai-doan-2010-2020-ket-qua-va-  
bai-hoc-kinh-nghiem  
[3] Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai  
đoạn 2016-2020 của các Tỉnh.  
[4] Viện Tài nguyên và Môi trường (2015), Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học &  
công nghệ phù hợp nhằm kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường phục vụ xây dựng  
nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Hồng.  
[5] Tạ Đình Xuyên và cộng sự, Bất cập chính sách trong thực hiện một số tiêu chí xây dựng  
nông thôn mới: Trung tâm thông tin và dự báo KT-XH quốc gia-Bộ kế hoạch và Đầu tư, Số  
85, tháng 9/2017.  
[6] Bạch Quốc Khang, Cách tiếp cận xây dựng nông thôn mới- chìa khóa thành công trong 10  
năm qua: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 1+2 năm 2020.  
[7] Hồ Chí Diên (2020), Đẩy mạnh xây dựng NTM ở tỉnh Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ.  
[8] Hoàng Vũ Quang (2014), Đề tài nghiên cứu khoa học, Nghiên cứu đóng góp của hộ nông  
thôn vào các hoạt động kinh tế xã hội địa phương.  
[9] Nguyễn Mậu Thái (2015), Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía tây thành  
phố Hà Nội.: Luận án tiến sĩ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
[10] Châu Thị Minh Long (2017). Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng xã nông thôn  
mới bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh DakLak. [Online].  
[11] Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê, Thông cáo báo chí kết quả  
tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.  
[12] Nguyễn Hồng Trường, "Quy hoạch sử dụng đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các  
tiêu chí bền vững có sự tham gia của cộng đồng," Tạp Chí Tài nguyên nước, ISSN 1859-  
3771, số 3 (tháng 8/2020).  
[13] Mai Sơn, Sơn La: 7 xã đạt chuẩn tiêu chí môi trường. [Online]: Báo TN&MT  
[14] Phạm Văn Ban và cộng sự, Đề tài KHCN cấp Nhà nước: "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp  
công nghệ và quản lý trong thu trữ nước mưa và nước mặt phục vụ dân sinh vùng Tây Bắc.  
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, 2019.  
12  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021  
                         
pdf 12 trang baolam 18900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các giải pháp nâng cao kết quả xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2021-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_giai_phap_nang_cao_ket_qua_xay_dung_nong_thon_moi_khu_vu.pdf