Các giải pháp nâng cao kết quả xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2021-2025
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN 2021-2025
Nguyễn Tiếp Tân
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Nguyễn Hồng Trường
Trung tâm tư vấn PIM
Tóm tắt: Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) đã góp phần quan trọng thay đổi diện
mạo khu vực nông thôn, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng được hoàn thiện. Tuy
nhiên, kết quả xây dựng NTM có sự chênh lệch nhiều giữa các vùng, miền trong cả nước. Trong
đó, thấp nhất là vùng Miền núi phía Bắc (đạt 34,3%), các tiêu chí khó thực hiện nhất là tiêu chí
về Tổ chức sản xuất/Thu nhập và Môi trường- an toàn thực phẩm. Với tiếp cận “nguyên lý thùng
gỗ”, thanh gỗ ngắn nhất là yếu điểm và cần tập trung vào cải thiện thanh gỗ ngắn nhất, bài báo
đã đưa ra các giải pháp tập trung vào nâng cao kết quả thực hiện tiêu chí Tổ chức sản xuất/Thu
nhập và Môi trường-an toàn thực phẩm, là những tiêu chí có tính quyết định cho thành công trong
thực hiện NTM ở khu vực này trong giai đoạn tiếp theo (2021-2025)
Từ khóa: Xây dựng nông thôn mới, tiêu chí xã nông thôn mới, vùng Miền núi phía Bắc
Summary: The new rural program has made an important contribution to changing the face of rural
areas, the system of socio-economic infrastructure has been increasingly improved. However, the
results of new rural construction have a large gap between regions and regions. The northern
mountainous region is the region with the lowest implementation results in the country (34,3%), the
most difficult criteria to implement are the criteria on production organization/income and
environment, food safety. With the “barrel principle” approach, the shortest wooden stick is the weak
point and it is necessary to focus on improving this shortest wooden stick, the paper has proposed
solutions focusing on improving the results of the implementation of the criteria of Income and
Environment, food safety, these criteria are decisive for the success of new rural implementation in
this region in the next period (2021-2025).
Keywords: The new rural program, new rural commune criteria, Northern mountainous region
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*
Chương trình NTM đã góp phần quan trọng
thay đổi diện mạo khu vực nông thôn, hệ thống
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng được
hoàn thiện. Đời sống vật chất và tinh thần của
người dân được cải thiện. Thu nhập bình quân
đầu người/năm khu vực nông thôn năm 2018
tăng 2,78 lần so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo
nông thôn giảm nhanh từ 17,35% năm 2010
xuống còn khoảng 5,9% năm 2019, khoảng
cách phát triển giữa nông thôn - đô thị từng
bước được thu hẹp. Tuy nhiên, kết quả xây
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư của Trung
Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng
NTM” đã trở thành một phong trào có sức lan
tỏa mạnh mẽ, sâu rộng trên phạm vi cả nước.
Nếu tìm kiếm cụm từ “xây dựng nông thôn
mới” trên Google thì trong vòng chưa đến 1
giây có tới trên 23 triệu kết quả liên quan xuất
hiện.
Ngày nhận bài: 19/4/2021
Ngày duyệt đăng: 15/6/2021
Ngày thông qua phản biện: 21/5/2021
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
dựng NTM có khoảng cách chênh lệch nhiều quản lý tốt và dân chủ. Những nội dung trên
giữa các vùng, miền trên cả nước. Một số vùng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong
tỷ lệ xã đạt NTM cao như Vùng đồng bằng sông quá trình thực hiện cần phải giải quyết đồng bộ
Hồng (90,7%), Đông Nam Bộ (79,2%), Tây và toàn diện nhằm khơi dậy và phát huy tốt vai
Nguyên (43,5%), vùng tỷ lệ xã đạt NTM thấp trò người nông dân trong công cuộc xây dựng
nhất là vùng Miền núi phía Bắc (34,3%). Ở NTM ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại.
vùng này một số địa phương có tỷ lệ xã đạt
Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai
chuẩn rất thấp dưới 25% như Hà Giang, Cao
trò chủ thể của cộng đồng dân cư, dựa vào nội
lực của cộng đồng địa phương là chính, Nhà
các tiêu chí xã NTM vùng MNPB giai đoạn
nước chỉ hỗ trợ một phần làm động lực phát huy
2016-2020 cho thấy số tiêu chí đạt chuẩn trung
sự đóng góp của người dân và của cộng đồng.
bình của các xã hiện nay là 13 tiêu chí/19 tiêu
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành
chí cần phải đạt. Trong đó Tiêu chí 10-Thu nhập
các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách,
cơ chế hỗ trợ, hướng dꢀn. Các hoạt động cụ thể
do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn
và Tiêu chí 17- Môi trường và an toàn thực
phẩm đang là những tiêu chí khó thực hiện nhất.
Bằng phương pháp thu thập tài liệu, xử lý số bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
liệu và phân tích biện luận; từ nghiên cứu thực
trạng kết quả thực hiện xây dựng NTM giai
đoạn 2010-2020, bài báo chỉ ra những tồn tại,
bất cập trong thực hiện xây dựng NTM của
vùng MNPB. Với tiếp cận “nguyên lý thùng
thôn mới đã được ban hành đầy đủ, cơ bản đáp
gỗ”, thanh gỗ ngắn nhất là yếu điểm và cần tập
2.2 Hệ thống văn bản chính sách về xây dựng
nông thôn mới
Trong cả giai đoạn 2010-2020, Hệ thống chính
sách, cơ chế hỗ trợ thực hiện Chương trình nông
ứng yêu cầu thực tiễn. Đã có 4 Nghị quyết của
Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 13
Nghị quyết của Chính phủ, 54 Quyết định và
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 106 Quyết
định, Thông tư và văn bản hướng dꢀn thực hiện
Chương trình, các địa phương sẽ ban hành tiếp
số lượng lớn các văn bản để hướng dꢀn cụ thể.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai
thực hiện và tạo nền tảng vững chắc và là đòn
bẩy để tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình.
trung vào cải thiện thanh gỗ ngắn nhất này, bài
báo sẽ đưa ra các giải pháp để nâng cao kết quả
thực hiện tiêu chí Thu nhập và tiêu chí Môi
trường - an toàn thực phẩm, là những tiêu chí
căn bản nhất và có tính quyết định cho thành
công trong thực hiện NTM ở khu vực này trong
giai đoạn 2021-2025.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
2.1 Mục tiêu, nguyên tắc trong xây dựng
nông thôn mới
2.3 Bài học về phát triển nông thôn của các
quốc gia tiên tiến
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của
Ban Chấp hành trung ương về thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
NTM với năm nội dung cơ bản: Thứ nhất
là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ
tầng hiện đại. Hai là sản xuất bền vững, theo
hướng hàng hóa. Ba là đời sống vật chất và tinh
thần của người dân ngày càng được nâng
cao. Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ
gìn và phát triển. Năm là xã hội nông thôn được
Kinh nghiệm các nước phát triển như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Thái Lan,... khi xây dựng, triển khai
chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói
chung, đã rất chú ý đến phát triển kinh tế - xã
hội khu vực nông thôn theo hướng nội sinh, chú
trọng các nguồn lực sẵn có làm động lực phát
triển (đất đai, tài nguyên, điều kiện địa lý, lòng
tự hào, khả năng sáng tạo,...).
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
- Tại Nhật Bản, phong trào “Mỗi làng, một sản phương; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
phẩm” ở những năm 1970. Sau khi đánh giá 20 và thúc đầy sự sáng tạo của cộng đồng.
năm thực hiện phong trào OVOP (1979 - 1999),
Kết quả các mô hình phát triển nông thôn ở các
cơ sở lý luận về phát triển nông thôn nội sinh càng
nước này đã thành công và có nét tương đồng
được khẳng định, minh chứng rõ nét.
với Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam.
- Tại Hàn Quốc, phong trào làng mới hay cộng Đây là cơ sở để xem xét, phân tích, áp dụng phù
đồng mới, Saemaul Undong (SU) vào những năm hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở mỗi địa
1970. Cộng đồng mới khác với cộng đồng cũ vốn phương của Việt Nam trong từng giai đoạn phát
dĩ thụ động, trì trệ, đói kém và bệnh tật. Cộng triển kinh tế, chính trị, xã hội.
đồng mới nhấn mạnh đến sự chăm chỉ, tự lực, hợp
tác, phát triển, vệ sinh và thịnh vượng. Tinh thần
Saemaul dựa trên các giá trị cốt lõi: cần cù-tự lực-
hợp tác là nền tảng của phong trào Saemaul.
3. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NTM GIAI
ĐOẠN 2016-2020 Ở CÁC TỈNH MNPB
3.1 Kết quả xây dựng xã nông thôn mới giai
đoạn 2016-2020
Phong trào này được đánh giá là phương pháp
luận đúng đắn và hiệu quả để xóa đói giảm nghèo Đến tháng 10/2019, cả nước có 4.665 xã
ở khu vực nông thôn của nhiều quốc gia đang phát (52,4%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn
triển ở Đông Nam Á.
mới. Trong đó, đạt cao nhất là ở vùng Đồng
bằng sông Hồng và đạt thấp nhất là ở MNPB,
[1]. Hầu hết các tỉnh vùng MNPB tỷ lệ các xã
đạt chuẩn thấp hơn nhiều so với bình quân cả
nước, đều dưới 50%, ngoại trừ 3 tỉnh đạt kết quả
khá tốt là Yên Bái (đạt 51%), Bắc Giang (đạt
69%) và cao nhất là Thái Nguyên (79%). Khó
khăn nhất là tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng khi số
tiêu chí đạt chuẩn bình quân/xã lần lượt là 9,57
và 9,61, chỉ mới đạt ½ số tiêu chí xã đạt chuẩn
về kết quả thực hiện NTM ở 8 tỉnh MNPB như
ở Bảng 1:
- Tại Thái Lan, Chương trình Mỗi cộng đồng
một sản phẩm OTOP được khởi xướng năm
2001 nhằm khuyến khích phát triển kinh tế
trong nước thông qua nhân tố phát triển con
người, phát triển cộng đồng là chính trên nền
tảng phát triển nền kinh tế cơ sở (xây dựng, phát
triển và tái cấu trúc các hộ, nhóm, cơ sở sản
xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã). Xây dựng xã,
cộng đồng vững mạnh; phát triển tự lực của
nhân dân; xây dựng gia đình hạnh phúc và có
chất lượng; Tạo công ăn việc làm cho cộng
đồng dân cư; phát triển trí tuệ, truyền thống địa
Bảng 1: Kết quả thực hiện các tiêu chí NTM giai đoạn 2016-2020 ở một số tỉnh MNPB
TT Nộ i dung
Tên tỉnh
Thái
Cao
Bắc
Kạn
108
Lạng
Sơn
181
Phú Tuyên
Lai
Điện
Biên
115
Nguyên Bằng
Thọ Quang Châu
1
Tổ ng số xã
137
177
9,61
25
247
14,31
81
124
14,45 13,58
37 30
96
2
Số tiêu chí đạt chuẩn
bình quân/xã
17,26
9,57
13,39
11,45
3
4
Số xã được công nhận
đạt chuẩnNTM
108
23
65
35
(79%)
(14%) (21%) (36%) (33%) (30%) (31%) (30%)
Số xãđạttheotừngtiêuchí
Nhóm tiêu chí về Quy hoạch và Hạ tầng kinh tế-xã hộ i
- Tiêu chí 1: Quy hoạch 137 177 96 181
247
124
96
115
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
TT Nộ i dung
CÔNG NGHỆ
Thái
Cao
Bắc
Kạn
20
Lạng
Sơn
76
Phú Tuyên
Lai
Điện
Biên
52
Tên tỉnh
Nguyên Bằng
Thọ Quang Châu
- Tiêu chí 2: Giao thông
- Tiêu chí 3: Thủy lợi
112
44
133
55
54
91
132
121
89
168
226
124
70
- Tiêu chí 4: Đ iện
- Tiêu chí 5: Trường họ c
- Tiêu chí 6: CSVC văn hóa
137
123
109
109
33
16
84
15
11
142
72
242
148
197
115
56
45
88
38
44
83
42
38
73
-
Tiêu chí 7: CSHT
132
133
89
170
214
112
96
93
thương mại nông thôn
- Tiêu chí 8: Thông tin và
truyền thông
129
112
63
47
71
94
237
154
124
42
85
46
115
39
- Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
39
157
Nhóm tiêu chí về Kinh tế và tổ chức sản xuất
- Tiêu chí 10: Thu nhập
- Tiêu chí 11: Hộ nghèo
Tiêu chí 12: Lao độ ng
- Tiêu chí 13: Tổ chức sx
108
115
139
123
20
20
164
71
17
28
92
38
78
108
181
126
136
182
243
196
59
72
124
118
33
30
96
64
35
35
81
49
Nhóm tiêu chí về Văn hóa-Xã hộ i-Môi trường
- Tiêu chí 14: Giáo dục
- Tiêu chí 15: Y tế
- Tiêu chí 16: Văn hóa
-Tiêuchí17:Môitrườngvà
ATTP
135
136
131
110
103
113
84
87
54
181
144
117
213
171
124
107
123
96
67
75
56
93
56
222
108
24
12
98
115
38
34
60
Nhóm tiêu chí về Hệ thống chính trị
- Tiêu chí 18: HTCT và
116
165
168
31
93
90
116
114
78
93
90
tiếp cận pháp luật
- Tiêu chí 19: An ninh quốc
131
77
165
169
115
phòng
Trong 4 nhóm tiêu chí thì nhóm tiêu chí Hệ 34,3%. Kết quả phân bố không đều ở các tỉnh
thống chính trị đạt kết quả cao nhất (88,78% số và ngay cả ở các huyện trong cùng một tỉnh. Đạt
xã đạt), tiếp đó là nhóm tiêu chí Văn hóa-Xã kết quả cao nhất là tỉnh Thái Nguyên (79%),
hội-Môi trường (69,05% số xã đạt), đứng thứ ba thấp nhất là tỉnh Cao Bằng (14%). Số tiêu chí
là nhóm tiêu chí Hạ tầng – kinh tế xã hội đạt chuẩn bình quân/xã của toàn vùng đang là
(68,60% số xã đạt) và cuối cùng là nhóm tiêu 13 tiêu chí/19 tiêu chí.
chí Kinh tế - tổ chức sản xuất (61,12% số xã
đạt).
3.2. Những tồn tại, bất cập trong thực hiện
Chương trình NTM ở vùng MNPB
3.2.1 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới
vùng MNPB đang thấp nhất trong cả nước
Kết thúc giai đoạn 2016-2020, số xã được công
nhận đạt chuẩn NTM của vùng MNPB là
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Hiện nay, nhiều tiêu chí tập trung vào nguồn lực
vật chất (9 tiêu chí), ít tiêu chí tập trung vào
nguồn lực con người. Riêng về nguồn lực tự
nhiên thì không có tiêu chí riêng nào. Bộ tiêu chí
vô tình đã định hướng mức độ ưu tiên các nguồn
lực trong cơ cấu NTM. Các địa phương đa phần
đều lo tập trung vào xây dựng hạ tầng như làm
đường giao thông nông thôn, thủy lợi, chợ, nhà
văn hóa, v.v…, có nơi chiếm đến 95% tổng
xuất, nâng cao thu nhập, nâng cao ý thức bảo vệ
môi trường chưa được quan tâm đúng mức nên
chưa có sự chuyển biến rõ nét.
Bảng 2: Tỷ lệ số xã đạt chuẩn xét
theo từng tiêu chí
Tỷ lệ xã
TT Các tiêu chí
đạt
1
Tiêu chí 10: Thu nhập
39,55%
Tiêu chí 17: Môi trường và
ATTP
2
40,31%
Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất
văn hóa
3
41,76%
42,91%
45,85%
46,78%
51,15%
4 Tiêu chí 5: Trường họ c
5
6
7
8
Tiêu chí 2: Giao thông
Tiêu chí 11: Hộ nghèo
Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
Tiêu chí 13: Tổ chức sản xuất 64,81%
Tiêu chí 18: HTCT và tiếp cận
tiêu chí còn hạn chế, chưa tạo khung đủ mức linh
hoạt giữa các vùng và trong nội vùng. Mức độ
phân biệt về định lượng theo vùng miền ở một số
chỉ tiêu chưa sát thực chất; Một số tiêu chí có chỉ
tiêu định lượng như nhau cho tất cả các vùng
miền; Một số chỉ tiêu đặt ra chưa sát với khả năng
và nhu cầu của một số vùng; Một số chỉ tiêu tuy
có sự khác biệt giữa các vùng, nhưng mức độ
khác biệt không lớn, chưa sát thực. Xem xét các
bất cập khi thực hiện trong giai đoạn 2016-2020,
nước cần tập trung rà soát, đánh giá lại các tiêu
chí một cách khách quan, công bằng và có tính
thực thi cao khi áp dụng tại các địa phương, vùng
miền trên cả nước.
9
pháp luật
10 Tiêu chí 16: Văn hóa
11 Tiêu chí 15: Y tế
Tiêu chí 8: Thông tin và truyền
12 thông
13 Tiêu chí 4: Đ iện
14 Tiêu chí 14: Giáo dục
15 Tiêu chí 3: Thủy lợi
Tiêu chí 7: CSHT thương mại
16 nông thôn
Tiêu chí 19: An ninh quố c
17 phòng
18 Tiêu chí 12: Lao độ ng
19 Tiêu chí 1: Quy hoạch
68,43%
73,75%
77,97%
78,99%
84,05%
84,17%
85,89%
88,21%
88,78%
93,33%
98,61%
Tiêu chí 10-Thu nhập và Tiêu chí 17- Môi
trường và an toàn thực phẩm đang là những tiêu
chí khó thực hiện nhất ở vùng MNPB thể hiện ở
Bảng 2. Đây cũng là những tiêu chí khó thực
hiện nhất ngay cả với các tỉnh vùng đồng bằng,
[4]. Ở các vùng nông thôn, nước thải sinh hoạt
nhìn chung chưa được thu gom xử lý. Chất thải
rắn, rác sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình
thức chôn lấp. Các bãi chôn lấp không hợp vệ
sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có
hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là
nguồn gây ô nhiễm môi trường. Quá trình kiểm
soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong
công tác bảo vệ môi trường, hiện vꢀn đang là vấn
đề gây bức xúc trong xã hội.
3.2.3 Các tiêu chí đạt nhưng chưa thực sự có
hiệu quả
- Tiêu chí quy hoạch: Lập quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn
(gắn với xây dựng NTM) là công việc thực hiện
đầu tiên. Tuy nhiên, ở hầu hết các địa phương
công việc này thường được thực hiện rất chậm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
NTM giai đoạn 2021-2025 đã khởi động trong
khi việc rà soát kết quả thực hiện quy hoạch của
giai đoạn 2011-2020 và lập quy hoạch cho giai
đoạn tiếp theo thì các địa phương chưa thực
hiện. Các đồ án quy hoạch này ở giai đoạn
2016-2020 hầu hết đều có chất lượng thấp, còn
rập khuôn, chưa áp vào điều kiện thực tế của địa
3.2.2Bộtiêuchíchưacósựphânhóavùngvàchưa
cân đối giữa các nhóm tiêu chí
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
phương, đồ án quy hoạch sớm lạc hậu và hầu
như nó được hoàn thành là để chạy theo bộ tiêu
trình công cộng như làm thủy lợi, làm giao thông,
công trình phúc lợi, bệnh viện, trường học… có
- Tiêu chí tổ chức sản xuất: Hình thức tổ chức
sản xuất là một trong những tiêu chí chi phối
đến nhiều lĩnh vực khác như thu nhập, cơ cấu
lao động, việc làm, v.v…, ở các địa phương nếu
phát huy được vai trò của các tổ chức sản xuất
thì sẽ dễ thực hiện được các tiêu chí khác. Các
hình thức tổ chức sản xuất trọng tâm là các hợp
tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT). Thông qua các
tổ chức kinh tế này, nông dân được tiếp cận các
phương thức canh tác, tiến bộ kỹ thuật mới nâng
cao hiệu quả sản xuất; liên kết chuỗi sản phẩm,
bao tiêu đầu ra,…ổn định nguồn thu nhập, tạo
điều kiện hoàn thành tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo
và thu nhập. Tuy nhiên tiêu chí tổ chức sản xuất
(tiêu chí 13) các địa phương có thể dễ dàng đạt
được nếu trong xã có HTX, THT (được thành
lập theo Luật HTX 2012) với một nhóm nhỏ
tham gia. Nếu các mô hình tổ chức sản xuất
chưa có tính lan tỏa, chưa tạo được lượng hàng
hóa lớn và chưa đồng nhất theo yêu cầu thị
trường mà đánh giá tiêu chí này hoàn thành thì
địa phương chưa cần phải nỗ lực gì nhiều! Tổ
chức sản xuất tốt, hiệu quả thì sẽ phản ánh qua
thu nhập được nâng lên.
3.2.5 Trình độ dân trí, năng lực quản lý của
cán bộ cấp cộng đồng còn hạn chế
Trong một nghiên cứu của Nguyễn Mậu Thái
nhân tố tới quá trình xây dựng NTM theo trình
tự là: Trình độ dân trí, thu nhập, điều kiện tự
nhiên kinh tế xã hội, năng lực trình độ của cán
bộ địa phương, chương trình, chính sách của
Chính phủ. Trong một nghiên cứu khác
“Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến
nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng NTM tại vùng
đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Lắk là:
(i) Điều kiện kinh tế; (ii) Điều kiện tự nhiên và
cơ sở hạ tầng; (iii) Nhận thức của người dân;
(iv) Sự tham gia của người dân; (v) Văn hóa,
tôn giáo và vai trò của những người có uy tín
trong cộng đồng; (vi) Vai trò của chính quyền
địa phương và các tổ chức chính trị xã hội; (vii)
Ảnh hưởng của các Chương trình dự án đến xây
dựng NTM ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
(viii) Vai trò của khoa học kỹ thuật; (ix) Lao
động, việc làm ở nông thôn. Như vậy, dù ở vùng
miền nào thì trình độ dân trí và năng lực của cán
bộ cơ sở đều giữ vai trò quan trọng, nhân tố ảnh
hưởng tốp đầu đến quá trình xây dựng NTM.
Với vùng MNPB, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ lực
lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng
chỉ thấp thứ hai cả nước (thấp nhất là Đồng
lớn trong việc tiếp nhận thông tin, hiểu biết của
người dân về các chủ trương, chính sách của
nhà nước về chương trình, phối hợp tổ chức
thực hiện của người dân và chính quyền cấp cơ
sở,…đã dꢀn đến xây dựng NTM đạt kết quả
thấp ở nơi đây.
3.2.4 Chưa phát huy được nội lực của cộng đồng
Vai trò quan trọng của người dân trong xây dựng
NTM với tư cách vừa là chủ thể, vừa là động lực,
vừa là người hưởng thụ kết quả của Chương trình
NTM; Người dân cần phải được làm chủ (được
biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được
hưởng lợi). Tuy nhiên ở nhiều nơi triển khai
Chương trình chạy theo thành tích, người dân
chưa thực sự được tham gia là chủ thể của chương
trình, cách lấy ý kiến người dân còn mang tính
người dân chủ yếu nhất vꢀn là hoạt động đóng
góp tài chính cho hoạt động xây dựng NTM thông
qua việc thu các quỹ gồm các quỹ bắt buộc theo
quy định của Nhà nước và những quỹ tự nguyện,
3.2.6 Xã đạt chuẩn NTM nhưng người dân
chưa hài lòng
Với chủ trương: Sự hài lòng của người dân là
huyđộng lao động nghĩa vụ để thực hiện các công Thước đo hiệu quả của Chương trình XDNTM,
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam này phần nào là hệ quả của tiêu chí Thu nhập/Tổ
đã ban hành Hướng dꢀn số 122/HD-MTTW- chức sản xuất. Bởi vì rằng, nếu địa phương có
BTT ngày16/01/2019 về việc lấy ý kiến sự hài các mô hình kinh tế, tổ chức sản xuất tốt, hiệu
lòng của người dân về kết quả xây dựng NTM, quả thì thu nhập của người dân sẽ được nâng cao
với mục đích để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, và tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương.
đề xuất của nhân dân đồng thời phát huy vai trò Khi đó, cùng với các Chương trình, dự án hỗ trợ
làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM và của Chính phủ, sự tham gia vốn đối ứng của địa
đánh giá khách quan, thực chất kết quả xây phương và sự chung sức, đóng góp của cộng
dựng NTM. Tuy nhiên, việc tổ chức lấy ý kiến đồng thì lần lượt các tiêu chí này sẽ được thực
đánh giá sự hài lòng của người dân ở nhiều nơi hiện.
chưa đảm bảo tính độc lập, còn hình thức. Cá
biệt một số nơi việc đánh giá còn phụ thuộc vào
“Một sợi dây xích chỉ khỏe bằng mắt xích yếu
nhất của nó” - tục ngữ của người Mỹ, hay tương
chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương
tự với nó là “nguyên lý thùng gỗ” do nhà quản
nhất là ở cấp xã, vì vậy chưa thật sự đảm bảo
lý học người Mỹ, Peter, đã đưa ra. Nguyên lý
tính khách quan trong tổ chức triển khai thực
này nói rằng lượng nước trong thùng được
hiện. Đây là ý kiến chia sẻ của ông Hầu A Lềnh
quyết định bởi độ cao của thanh gỗ ngắn nhất.
- Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Ủy ban Trung ương
Thanh gỗ ngắn này trở thành yếu điểm của
chiếc thùng. Nếu muốn lượng nước trong thùng
tăng lên thì buộc phải thay thanh gỗ ngắn bằng
thanh dài hơn.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Hội nghị Toàn
quốc tổng kết 10 năm Chương trình MTQG xây
dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 diễn ra tại TP.
Thanh gỗ ngắn nhất này biểu trưng cho những
chuẩn NTM không thực chất, mang tính hình
tiêu chí yếu kém nhất. Cần tập trung vào mắt
thức, mang tính thành tích này mà ở các xã đó
xích yếu nhất, tập trung vào cải thiện thanh gỗ
chưa có các hoạt động mang tính kiến tạo, chưa
ngắn nhất là việc cần làm. Với lý luận đó, người
khai thác được hết tiềm năng thế mạnh của khu
viết cho rằng để nâng cao tỷ lệ đạt chuẩn NTM
vực nông thôn. Thu nhập, đời sống của các
khu vực MNPB giai đoạn 2021-2025 thì tới đây
vùng nông thôn còn thấp là nguyên nhân chính
cần tập trung các giải pháp để nâng cao Thu
người dân chưa hài lòng.
nhập (tiêu chí 10, thực chất hơn là tiêu chí 13-
Tổ chức sản xuất, vì giá trị thu nhập chẳng qua
là thể hiện kết quả của hoạt động tổ chức sản
xuất) và giải quyết các vấn đề về Môi trường
3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO KẾT QUẢ
XDNTM KHU VỰC MNPB GIAI ĐOẠN
2021-2025
3.1 Phạm vi giải pháp
nông thôn- an toàn thực phẩm (tiêu chí 17), là
những tiêu chí căn bản nhất và có tính quyết
định cho thành công trong thực hiện NTM ở
khu vực này.
Từ kết quả tổng hợp ở Bảng 2 có thể nói rằng
tiêu chí 10: Thu nhập và tiêu chí 17: Môi trường-
an toàn thực phẩm là những mắt xích yếu nhất
trong tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng NTM của khu vực MNPB.
Kết quả cũng cho thấy các tiêu chí 6 (Cơ sở vật
chất văn hóa), tiêu chí 5 (Trường học), tiêu chí 2
(Giao thông), tiêu chí 11 (Hộ nghèo) và tiêu chí
9 (Nhà ở dân cư) tỷ lệ đạt cũng không cao, số
lượng các xã đạt các tiêu chí này chỉ chiếm 41%
đến 51%. Tuy nhiên, về bản chất thì các tiêu chí
Hình 1: Minh họa nguyên lý thùng gỗ
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn
thành công việc của họ. Các khóa đào tạo cho
cán bộ cơ sở cấp cộng đồng để họ có vai trò
quan trọng trong việc lan tỏa các giá trị liêm
chính, tự lực, hợp tác cần được thực hiện
thường xuyên liên tục. Đã có trường hợp người
dân tham gia không phải do họ mong muốn mà
do cảm động trước sự kiên nhꢀn và tấm lòng
của cán bộ. Và để các cán bộ cấp cơ sở có được
sức ảnh hưởng đó thì họ cần được đào tạo, bồi
dưỡng một cách bài bản về kỹ năng lãnh đạo,
trình độ kiến thức, kỹ năng hòa giải, khả năng
đánh giá chất lượng,…
3.2 Các giải pháp nâng cao kết quả xây dựng
NTM khu vực MNPB giai đoạn 2021-2025
3.2.1 Tập trung vào nhân tố con người, sức
mạnh nội sinh của cộng đồng
(1) Xây dựng NTM được thực hiện theo phương
châm dựa vào nội lực và dựa vào cộng đồng địa
phương. Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần làm
động lực phát huy sự đóng góp của người dân
và của cộng đồng. Tinh thần và các hành động
để xây dựng nông thôn mới xoay quanh chủ thể
là người dân thì câu ca dao mà Bác Hồ thường
nói “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn
lần dân liệu cũng xong” luôn phải thuộc nằm
lòng trong đầu những người làm chính sách,
những người thực hiện chương trình, dự án
nông thôn mới.
- Bằng cách nào để người nông dân có được tinh
thần cần mꢀn, tự tạo và hợp tác cao? Đó là phải
giải quyết được sinh kế cho người dân trong xây
dựng NTM. Người nông dân thường chịu chi
phối của các yếu tố có lợi trước mắt, vì vậy các
dự án của Chương trình NTM cần giải quyết
(2) Tiếp cận cách thực hiện từ dưới lên, tiếp cận
có sự tham gia, lấy người dân làm trung tâm. được các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, cần
đào tạo, hướng dꢀn kỹ thuật cho người dân thực
hiện các dự án ngắn hạn, có kết quả rõ ràng như
cải thiện môi trường sống, các ngành nghề tạo
thu nhập và xây dựng cơ sở vật chất để người
dân có được cảm giác tự hào về thành công của
mình và có niềm tin, sau đó mới bước vào các
dự án dài hơi hơn.
Người dân là chủ thể, do vậy vấn đề nâng cao vai
trò của người dân, thu hút sự tham gia đóng góp
của người dân là vấn đề then chốt quyết định sự
thành công của chương trình. Hiện nay việc xây
dựng NTM vꢀn chủ yếu xuất phát từ cấp chính
quyền, theo hướng tiếp cận từ trên xuống, nên vꢀn
chưa tạo cho người dân cảm giác đây là quá trình
của mình. Và do đó cần tiếp cận theo cách ngược
lại, thực tế cũng đã cho thấy khi người dân trở
thành chủ thể, họ nhập cuộc một cách chủ động,
đem cả tinh thần lꢀn tài sản ủng hộ công cuộc xây
dựng NTM.
(4) Ban hành kịp thời hệ thống văn bản cơ chế
chính sách: Để đẩy mạnh xây dựng NTM, ngoài
các chính sách chung được ban hành từ phía trung
ương thì các địa phương cần thiết phải ban hành
kịp thời các cơ chế, chính sách cụ thể để vận dụng
trong quá trình thực hiện xây dựng NTM ở địa
phương mình. Bài học thành công từ Thái
Nguyên, trong 10 năm triển khai (2010-2019),
tỉnh đã có tổng cộng 3.609 các Nghị quyết,
chương trình, kế hoạch, văn bản được ban hành.
Trong đó cấp tỉnh là 1.011 văn bản, các huyện,thị
triển khai thực hiện Chương trình xâydựng NTM,
tỉnh đã ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ
đặc thù hỗ trợ xây dựng hạ tầng nông thôn như:
Cơ chế hỗ trợ kinh phí và xi măng xây dựng kết
cấu hạ tầng nông thôn; Cơ chế hỗ trợ phát triển
sản xuất thông qua triển khai các dự án, đề án,
phương án hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với tái
(3) Đề cao hơn nữa vai trò, giá trị con người trong
công cuộc xây dựng NTM. Nhiều nghiên cứu về
phong trào làng mới ở Hàn Quốc nhận định rằng,
phong trào này đạt được thành công nhờ chính
vào ba nhân tố con. Đó là vai trò lãnh đạo của tổng
thống Park Chung Hee, tinh thần cống hiến của
cán bộ quản lý tại các làng xã và tinh thần tham
gia của người dân nông thôn.
- Làm thế nào có được đội ngũ cán bộ quản lý,
đặc biệt là cán bộ quản lý cấp cơ sở có tràn đầy
nhiệt huyết và năng lực? Theo kinh nghiệm của
Hàn Quốc, hệ thống cán bộ cơ sở, viên chức ở
các cấp chịu trách nhiệm hướng dꢀn các hoạt
động của phong trào “làng mới”, đây là một
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
Liên quan tới đó là xác định tiềm năng đất đai
phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, quỹ
đất cho từng chỉ tiêu dùng đất của xã phù hợp với
quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp tỉnh. Quy
hoạch phải được căn cứ vào điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội, văn hóa, tập quán của từng vùng
miền và phải có sự tham gia của cộng đồng người
dân khi xây dựng quy hoạch, xem xét áp dụng
phương pháp quy hoạch sử dụng đất với các tiêu
chí bền vững có sự tham gia của cộng đồng
(PLUP), (Nguyễn Hồng Trường).
cơ cấu nông nghiệp và XDNTM; Chính sách
khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
của tỉnh.
(5) Công tác tuyên truyền vận động (qua tất cả các
phương tiện truyền thông: truyền hình, phát
thanh, báo, tạp chí, các tài liệu in ấn, tuyên truyền
trực tiếp) là yếu tố quan trọng dꢀn đến thay đổi
nhận thức của mọi người dân, để từ đó tham gia
tích cực vào xây dựng NTM. Đích đến của công
tác tuyên truyền là người dân đi bất cứ nơi đâu
cũng thấy chữ NTM, thậm trí những người không
biết đọc cũng có thể hiểu được chương trình, một
chương trình toàn dân.
- Các địa phương cần dựa vào điều kiện thực tế,
lợi thế đất đai, khí hậu của địa phương để lựa
chọn thực hiện một vài nội dung mang tính
chiến lược đòn bẩy để thúc đẩy tiến trình này
nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn. Các mô hình
NTM cần khai thác thế mạnh về nông nghiệp
sinh thái, nông nghiệp nghỉ dưỡng, chức năng
môi trường, du lịch nông thôn, bảo tồn văn hóa
và cảnh quan đặc trưng nông thôn truyền thống
gắn với từng vùng, miền; mô hình NTM của các
làng nghề truyền thống gắn chặt với phát triển
OCOP, bền vững về văn hóa và môi trường.
(6) Và cuối cùng, sự hài lòng của người dân là
Thước đo hiệu quả của Chương trình xây dựng
NTM. Nghiên cứu Hồ Chí Diên cho trường hợp
ảnh hưởng tích cực tới sự hài lòng của người
dân là: (i) thu nhập của người dân; (ii) người
dân tham gia các tổ chức chính trị xã hội; (iii)
người dân được tham gia bàn bạc; (iv) người
dân được làm; (v) người dân được kiểm tra; (vi)
quy trình thủ tục; (vii) công khai minh bạch.
Các địa phương khác cũng có thể xem xét các
yếu tố này trong thực hiện các chương trình, dự
án xây dựng NTM ở địa phương mình. Và để
cho thống nhất trên toàn quốc thì nên bổ sung
tiêu chí đánh giá về yếu tố con người, yếu tố
chủ thể của người dân, sự hài lòng của người
dân trong Bộ tiêu chí ban hành sắp tới cho giai
đoạn 2021-2025.
- Phát triển Mỗi xã một sản phẩm trong
XDNTM gắn với cơ cấu lại sản xuất nông
nghiệp. Cần hình thành nhiều mô hình các
doanh nghiệp liên kết với nông dân trong sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Muốn vậy, các địa
phương cần phải có cơ chế, chính sách ưu đãi
hơn để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp, dịch vụ và các hoạt động khác,
nhất lĩnh vực chế biến, đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm cho nông dân.
3.2.2Tập trungnhiềuhơn vàonhững“mắt xích”
yếu nhất: Tiêu chí Thu nhập/Tổ chức sản xuất
và tiêu chí Môi trường, an toàn thực phẩm
- Đẩy mạnh công tác đổi mới các hình thức tổ
chức sản xuất, phát triển kinh tế tập thể, trong
đó xác định HTX là mấu chốt trong quản lý sản
xuất, là cầu nối và đầu mối để thúc đẩy thu hút
doanh nghiệp tham gia vào liên kết sản xuất,
chế biến tiêu thụ sản phẩm từ đó nâng cao giá
trị gia tăng, làm tăng thu nhập cho người dân ổn
định bền vững.
a) Giải pháp nâng cao kết quả thực hiện tiêu
chí Tổ chức sản xuất/Thu nhập
- Trước hết, cần giải quyết triệt để các vấn đề
thuộc về tiền đề và nền tảng: quy hoạch sản xuất
gắn với XDNTM. Tổ chức sản xuất sẽ phải dựa
trên quy hoạch sản xuất. Chính vì vậy đồ án quy
hoạch phục vụ XDNTM cần triển khai sớm ngay
từ đầu mỗi giai đoạn, mỗi quy hoạch cho giai
đoạn 10 năm và phân kỳ quy hoạch 5 năm cần
phải dự báo được động lực phát triển kinh tế chủ
đạo, sản phẩm chủ đạo, quy mô sản xuất, tiềm
năng thị trường, định hướng đầu ra cho sản phẩm.
- Cần có hệ thống các mô hình NTM làm mꢀu
cho các loại hình nông thôn ở các vùng, miền
và các tộc người. Đa dạng hóa sinh kế của cư
dân nông thôn, một số mô hình NTM cho vùng
MNPB có thể xem xét như sau:
9
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
+ Mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp lúa, hái chè, thu hoạch cam, lê, bưởi hay trồng
hữu cơ kết hợp du lịch:Tổ chức sản xuất nông rau hay tham quan làng nghề, khám phá văn hóa
nghiệp dựa trên nắm bắt đặc điểm sinh thái của bản địa,… là những trải nghiệm thú vị mà du
các loại cây trồng vật nuôi, không sử dụng các lịch nông nghiệp có thể mang lại. Nếu chỉ đơn
yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường thuần là nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp
sinh thái. Sản xuất bảo vệ tài nguyên đất, hệ hữu cơ thì do lợi ích trước mắt, năng suất thấp,
sinh thái và sức khỏe con người. Mô hình nông có thể không thuyết phục được người dân, tuy
nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, thân thiện với nhiên khi có gắn kết với du lịch, có thêm nguồn
môi trường, kết hợp với du lịch sẽ làm tăng hiệu thu nhập và đồng thời các mô hình canh tác này
quả của sản xuất nông nghiệp. Được trải an toàn sức khỏe cho chính bản thân người nông
nghiệm các công việc làm ruộng, cấy lúa, gặt dân thì chắc chắn sẽ khác.
Hình 2: Du khách tham quan và trải nghiệm hái
chè tại xã Mỹ Bằng, Yên Sơn, Tuyên Quang
(ảnh: Quốc Việt,
Hình 3: Khách du lịch trải nghiệm làm
nông cùng bà con nhân dân tại Hà Giang
(ảnh: Linh Phan, https://nhandan.com.vn)
https://baotuyenquang.com.vn)
+ Mô hình du lịch sinh thái, Du lịch làng nghề khu vực đến đầu tư, khai thác hoạt động du lịch,
truyền thống, Du lịch văn hóa bản địa: là loại dịch vụ du lịch chuyên nghiệp và bền vững.
hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp
+ Mô hình “làng mới” của Hàn Quốc. Mô hình
này đã thí điểm tại 9 tỉnh thành ở nước ta từ năm
cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có cơ
2002 đến nay, bao gồm: Quảng Trị, Lào Cai,
hội để phát triển kinh tế và lợi ích cho cộng
Thái Nguyên, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Ninh
đồng địa phương. Khai thác du lịch sinh thái sẽ
Thuận, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang
là một trong những thế mạnh mà các tỉnh vùng
thông qua các dự án như: “Chương trình hạnh
MNPB có lợi thế, là vùng được thiên nhiên ban
phúc”, “xây dựng NTM gắn với chuỗi giá trị
tặng cảnh quan hùng vỹ, đặc trưng về địa hình,
nông nghiệp”,... Kết quả các mô hình này đã
khí hậu và hệ sinh thái đa dạng, là nơi sinh sống
tham gia vào giải quyết các vấn đề kinh tế, văn
của nhiều dân tộc thiểu số còn gìn giữ được
hóa, xã hội và môi trường các làng ở Việt Nam.
nhiều nét văn hóa đặc sắc. Đặc biệt Chương
Cách thức chung của các mô hình này là: thứ
nhất là giáo dục tinh thần Saemaul; thứ hai, là
chỉnh trang môi trường sống và điều kiện sinh
hoạt; thứ ba, là thực hiện các dự án phát triển
và nâng cao thu nhập; thứ tư là giáo dục lối sống
và ý thức cộng đồng; và cuối cùng là hình thành
nền kinh tế hợp tác. Trong bước thực hiện dự án
trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc
(Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Giang, Hòa
Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu) với 4 nội
dung chính: Hợp tác xây dựng cơ chế, chính
sách quản lý và phát triển du lịch địa phương;
hợp tác phát triển sản phẩm du lịch; hợp tác
tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch và hợp
phát triển và nâng cao thu nhập, cách thức của
tác phát triển nguồn nhân lực du lịch đã mở ra
dự án là hướng dꢀn nông dân học cách hợp tác
nền tảng hợp tác giữa các tỉnh, tạo hành lang
với nhau trong công việc trước rồi sau mới xây
pháp lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài
dựng hạ tầng, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho
10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
đến hỗ trợ bao tiêu (điểm khác ở Việt Nam).
hình dịch vụ cấp nước như doanh nghiệp, mô
hình Tổ hợp tác, mô hình Hợp tác xã dịch vụ về
nước,... để có tính cạnh tranh, miễn sao ở đó
tăng cường được năng lực quản lý, cơ chế tài
chính minh bạch, đảm bảo giá nước và chất
lượng dịch vụ tương xứng,... sẽ là các yếu tố
quyết định hiệu quả và tính bền vững của các
dự án cấp nước.
3.2.2 Giải pháp nâng cao kết quả thực hiện
tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm
- Nếu phong trào “làng mới” của Hàn Quốc có
mục tiêu xây dựng nông thôn thành một nơi “tốt
đẹp hơn” thì nông thôn mới ở Việt nam hãy xây
dựng nông thôn thành những “miền quê đáng
sống”. Phát động nhiều các phong trào bảo vệ
môi trường đã có hiệu quả tích cực như: “Vệ
sinh môi trường đường làng, ngõ xóm”, phong
trào “5 không, 3 sạch”, “Ngày thứ 7 về cơ sở
giúp người dân thực hiện tiêu chí môi trường”,
“Ngày thứ bảy tình nguyện”, “Ngày chủ nhật
xanh” của đoàn thanh niên,... góp phần từng
bước cải thiện chất lượng môi trường nông
thôn; Gắn tiêu chí bảo vệ môi trường với gia
đình văn hóa, đưa tiêu chí môi trường vào quy
ước, hương ước của bản (bài học thành công từ
- Về thu gom, xử lý rác thải: Đây cũng là một chỉ
tiêu khó ngay cả với các tỉnh vùng đồng bằng.
Chính vì vậy, bên cạnh sự hỗ trợ đầu tư của Nhà
nước, các địa phương cần phát huy nội lực, huy
động sự chung tay góp sức của cộng đồng, doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ hợp tác, hợp tác xã
tích cực tham gia vào hoạt động bảo vệ môi
trường. Các địa phương cũng cần quy định
nghiêm ngặt các tiêu chí về môi trường trong đồ
án quy hoạch tổng thể, quy hoạch sử dụng đất để
dễ dàng triển khai các dự án về môi trường, đồng
thời cần có chính sách ưu đãi, chính sách hành
chính thuận lợi để thu hút đầu tư, xã hội hóa đầu
tư xây dựng các công trình xử lý rác tập trung
quy mô thôn, bản.
- Thực hiện hiệu quả Phong trào mô hình “làng
mới” của Hàn Quốc; Phongtrào Mỗi làng một sản
phẩm OVOP của Nhật Bản; Đề án mỗi xã một sản
phẩm (Phê duyệt theo Quyết định số 2277/QĐ-
BNN-VPĐP ngày 05/6/ 2017). Đề án hướng dꢀn
4. KẾT LUẬN
đánh giá xếp hạng các sản phẩm dựa trên các tiêu - Chương trình MTQG xây dựng NTM đã góp
chí như: sản phẩm được sản xuất và sử dụng vật phần quan trọng thay đổi diện mạo khu vực nông
liệu trên địa bàn tỉnh; có gia tăng giá trị; không thôn, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ngày
ảnh hưởng xấu đến môi trường; góp phần phát càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, kết quả xây
triển văn hóa, danh thắng, môi trường địa dựng NTM có khoảng cách chênh lệch nhiều
phương; chú trọng ưu tiên các sản phẩm nông giữa các vùng, miền trên cả nước. Vùng có tỷ lệ
nghiệp chủ lực. Như vậy, các tiêu chí về mô hình xã đạt NTM cao như vùng đồng bằng sông Hồng
sản xuất trong đề án cũng đồng thời đảm bảo các (90,7%), Đông Nam Bộ (79,2%), Tây Nguyên
tiêu chí về môi trường và an toàn thực phẩm.
(43,5%), vùng tỷ lệ xã đạt NTM thấp nhất là
vùng miền núi phía Bắc (34,3%).
- Về chỉ tiêu nước hợp vệ sinh, nước sạch: tính
đến 2019, tỷ lệ cấp nước hợp vệ sinh vùng nông - Cần đảm bảo tính thực chất vai trò làm chủ
thôn MNPB trung bình đạt 79,7%, tỷ lệ được của người dân trong quá trình thực hiện. Sự hài
dùng nước sạch đáp ứng QCVN 02:2009/BYT lòng của người dân là Thước đo hiệu quả của
vậy, bên cạnh sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, điểm hạn chế của Bộ tiêu chí giai đoạn 2016-
các địa phương cần phát huy nội lực, huy động 2020, bổ sung tiêu chí đánh giá về yếu tố con
sự chung tay góp sức của cộng đồng, doanh người, yếu tố chủ thể của người dân, sự hài lòng
nghiệp tham gia vào dịch vụ ngành nước. Địa của người dân trong Bộ tiêu chí ban hành sắp
phương cần có chính sách ưu đãi, cơ chế hỗ kịp tới cho giai đoạn 2021-2025.
thời để thực hiện dự án thu hút đầu tư, xã hội
hóa đầu tư xây dựng các công trình nước sạch
- Khu vực MNPB cần tập trung vào mắt xích
yếu nhất, cần tập trung nguồn lực để nâng cao
tập trung; Thực hiện tốt công tác truyền thông,
thu nhập và Môi trường, an toàn thực phẩm. Tổ
nâng cao nhận thức cho các cộng đồng dân tộc
chức sản xuất tốt, hiệu quả thì sẽ dꢀn đến thu
về giá trị của nguồn nước, xem nước là một
nhập cao và tăng nguồn thu cho ngân sách địa
hàng hóa, chuyển từ cơ chế phục vụ sang thị
phương. Khi đó, cùng với các Chương trình, dự
trường. Xem xét phát triển đồng thời nhiều loại
11
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ
án hỗ trợ của Chính phủ, sự tham gia vốn đối thức tổ chức sản xuất mới hiệu quả, như Mô
ứng của địa phương và sự chung sức, đóng góp hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu
của cộng đồng thì lần lượt các tiêu chí khác cơ kết hợp du lịch, Mô hình du lịch sinh thái,
cũng sẽ được thực hiện.
Du lịch làng nghề truyền thống, Du lịch văn
hóa bản địa,…, Phong trào Mỗi xã một sản
phẩm, Phong trào “Làng mới” để nâng cao thu
nhập và cải tạo môi trường cảnh quan, biến
các vùng nông thôn thành những miền quê
đáng sống.
- Tập trung vào các lợi thế về cảnh quan hùng
vỹ, đặc trưng về địa hình, khí hậu, hệ sinh thái
đa dạng, đa sắc tộc với nhiều nét văn hóa đặc
sắc để phát triển đa dạng sinh kế, các hình
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hội nghị Toàn quốc tổng kết 10 năm Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 -
2020. TP. Nam Định, tháng 10/2019.
Chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-giai-doan-2010-2020-ket-qua-va-
bai-hoc-kinh-nghiem
[3] Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2016-2020 của các Tỉnh.
[4] Viện Tài nguyên và Môi trường (2015), Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học &
công nghệ phù hợp nhằm kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm môi trường phục vụ xây dựng
nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Hồng.
[5] Tạ Đình Xuyên và cộng sự, Bất cập chính sách trong thực hiện một số tiêu chí xây dựng
nông thôn mới: Trung tâm thông tin và dự báo KT-XH quốc gia-Bộ kế hoạch và Đầu tư, Số
85, tháng 9/2017.
[6] Bạch Quốc Khang, Cách tiếp cận xây dựng nông thôn mới- chìa khóa thành công trong 10
năm qua: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 1+2 năm 2020.
[7] Hồ Chí Diên (2020), Đẩy mạnh xây dựng NTM ở tỉnh Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ.
[8] Hoàng Vũ Quang (2014), Đề tài nghiên cứu khoa học, Nghiên cứu đóng góp của hộ nông
thôn vào các hoạt động kinh tế xã hội địa phương.
[9] Nguyễn Mậu Thái (2015), Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới các huyện phía tây thành
phố Hà Nội.: Luận án tiến sĩ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
[10] Châu Thị Minh Long (2017). Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng xã nông thôn
mới bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh DakLak. [Online].
[11] Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê, Thông cáo báo chí kết quả
tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.
[12] Nguyễn Hồng Trường, "Quy hoạch sử dụng đất vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các
tiêu chí bền vững có sự tham gia của cộng đồng," Tạp Chí Tài nguyên nước, ISSN 1859-
3771, số 3 (tháng 8/2020).
[13] Mai Sơn, Sơn La: 7 xã đạt chuẩn tiêu chí môi trường. [Online]: Báo TN&MT
[14] Phạm Văn Ban và cộng sự, Đề tài KHCN cấp Nhà nước: "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp
công nghệ và quản lý trong thu trữ nước mưa và nước mặt phục vụ dân sinh vùng Tây Bắc.
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, 2019.
12
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 66 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Các giải pháp nâng cao kết quả xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2021-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_giai_phap_nang_cao_ket_qua_xay_dung_nong_thon_moi_khu_vu.pdf

