Các nhân tố thúc đẩy ý định khởi tạo nội dung người dùng của giới trẻ trong bán lẻ hợp kênh

TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY Ý ĐỊNH KHỞI TẠO NỘI DUNG  
NGƯỜI DÙNG CỦA GIỚI TRẺ TRONG BÁN LẺ HỢP KÊNH  
DRIVERS OF USER GENERATED CONTENT CREATION INTENTION  
OF YOUNG SHOPPERS IN OMNI-CHANNEL RETAILING  
Ngày nhận bài: 07/09/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 22/12/2020  
Trương Thị Hiếu Hạnh, Nguyễn Lê Thanh Tiền, Phan Thị Hòa, Trần Thị Bảo Nhi  
TÓM TẮT  
Ngày nay, khách hàng có thể tạo ra các nội dung người dùng được cá nhân hóa trên các nền tảng  
Internet, vốn được xem như một hình thức truyền miệng điện tử. Khái niệm này giành được sự  
quan tâm lớn từ các học giả lẫn nhà tiếp thị bởi tầm quan trọng của nó. Nghiên cứu này bổ sung  
khoảng trống lý thuyết về các tiền đề thúc đẩy ý định khởi tạo nội dung người dùng trong bán lẻ  
hợp kênh. Sau khi phân tích dữ liệu thu từ 304 người tiêu dùng trong nhóm 18-35 tuổi bằng PLS-  
SEM, kết quả cho thấy hành vi mua sắm tìm kiếm, cảm nhận tương thích tác động tích cực và rủi  
ro nhận thức tác động tiêu cực đến ý định mua sắm hợp kênh. Đồng thời, mối quan hệ giữa ý định  
mua sắm hợp kênh và khởi tạo nội dung người dùng được xác lập. Qua đó, giúp các nhà bán lẻ  
thiết kế chiến lược kênh hiệu quả nhằm gia tăng ý định mua sắm hợp kênh và khởi tạo nội dung  
người dùng, đặc biệt là đối với nhóm khách hàng trẻ tuổi.  
Từ khóa: ý định khởi tạo nội dung người dùng; ý định mua sắm hợp kênh; kỳ vọng của khách  
hàng về trải nghiệm mua sắm hợp kênh.  
ABSTRACT  
Today, customers can create personalized user content on Internet platforms, which is seen as a  
form of electronic word of mouth. This concept has gained great interest from both academics and  
marketers because of its importance. This study adds theoretical gaps on the premises that drive  
the intentions of user content creation in omni-channel retailing. After analyzing data collected from  
304 consumers in the 18 - 35 year-old group by using PLS-SEM, the results showed that research  
shopping behavior, perceived compatibility affect positively and perceived risk impacts negatively  
on shopping intention. At the same time, the relationship between the omni-channel shopping  
intention and the user-generated content is established. Thereby, the role of designing an effective  
channel strategy in order to increase the intention to participate in omni-channel shopping and  
user-generated content creation intention, especially for young customers.  
Keywords: User-generated content creation intention, omni-channel shopping intention,  
customers’ expectation of omni-channel experience.  
nhằm giúp các nhà quản lý mang đến những  
1. Đặt vấn đề  
trải nghiệm mua sắm tốt hơn, đồng nhất hoàn  
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ  
toàn trải nghiệm mua sắm cho người tiêu  
thông tin trong kỷ nguyên số là một trong  
dùng và cải thiện hiệu quả kinh doanh của  
những đòn bẩy quan trọng cho sự trỗi dậy  
doanh nghiệp (Kang, 2018).Do đó, bán lẻ  
mạnh mẽ của các mô hình mua sắm đa kênh  
hợp kênh nhận được sự quan tâm đặc biệt  
(gồm các kênh bán hàng trực tuyến và trực  
tiếp) trong vòng vài thập kỷ trở lại đây (Shi  
& cộng sự, 2017). Với đặc trưng là cách tiếp  
cận liền mạch và tích hợp các kênh bán hàng  
Trương Thị Hiếu Hạnh, Nguyễn Lê Thanh Tiền,  
khác nhau, bán lẻ hợp kênh (omni-channel  
Phan Thị Hoà, Trần Thị Bảo Nhi, Trường Đại học  
Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
retailing) đang là một chiến lược chủ đạo  
79  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
của giới học thuật khi được xếp hạng thứ ba  
Mặt khác, khái niệm nội dung người dùng  
(UGC) được xem là một cuộc cách mạng  
trong tương tác giữa những người tiêu dùng  
với nhau, cho phép họ có thể tạo các nội  
dung được cá nhân hóa trên nền tảng Internet  
thay vì chỉ sử dụng các nội dung có sẵn được  
cung cấp bởi người bán (Naem & Okafor,  
2019). Rất nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng  
khái niệm này không chỉ có liên hệ chặt chẽ  
(Henning-Thurau & cộng sự, 2013) mà thậm  
chí còn được xem như một cách gọi khác của  
truyền miệng điện tử (Manap & Adzharudin,  
2013). Qua đó, có thể thấy được vai trò quan  
trọng của nội dung người dùng đối với hoạt  
động kinh doanh thông qua những ảnh hưởng  
đến các khách hàng hiện tại và khách hàng  
tiềm năng của doanh nghiệp. Thật vậy, người  
tiêu dùng có xu hướng tin tưởng các nội dung  
người dùng hơn so với các thông điệp quảng  
cáo truyền thống và do đó, các nhà quản trị  
đang cố gắng tìm ra những cách thức để thúc  
đẩy hành vi khởi tạo nội dung người dùng  
tích cực của người tiêu dùng, qua đó không  
chỉ gia tăng sự gắn kết của họ với nhà cung  
cấp mà còn tạo ra những giá trị ảnh hưởng  
đến các nhóm khách hàng khác nhau của  
doanh nghiệp (Rodgers & Wang, 2011). Tuy  
nhiên, bất chấp ý nghĩa này, các nghiên cứu  
tìm hiểu về cơ chế hành vi tạo dựng nội dung  
người dùng trong bối cảnh bán lẻ đa kênh  
vẫn còn khá hạn chế (Kang, 2018). Do đó,  
đóng góp chính của nghiên cứu này là đi sâu  
tìm hiểu những khoảng trống nghiên cứu như  
đã đề cập: các kỳ vọng của khách hàng về  
trải nghiệm mua sắm hợp kênh, cơ chế thúc  
đẩy ý định của người tiêu dùng về việc tham  
gia hình thức bán lẻ kiểu mới này cũng như ý  
định khởi tạo nội dung người dùng. Đặc biệt,  
nghiên cứu quan tâm đến nhóm đối tượng là  
người tiêu dùng thuộc thế hệ Y và Z - vốn  
được xem là nhóm khách hàng chiếm đa số  
trong xu hướng bán lẻ hiện đại. Tuy nhiên,  
đây cũng là nhóm khách hàng khó tạo dựng  
lòng trung thành với một nhà cung cấp nhất  
về các chủ đề hấp dẫn trong nghiên cứu dịch  
vụ (Ostom & cộng sự, 2015). Đáng chú ý,  
phần lớn các nghiên cứu về bán lẻ hợp kênh  
thường tập trung xem xét các vấn đề dựa trên  
quan điểm của nhà bán lẻ như hoạt động tích  
hợp kênh (Zhang & cộng sự, 2018), chất  
lượng tích hợp kênh (Shen & cộng sự, 2018)  
hay quản trị chuỗi cung cứng trong bán lẻ  
hợp kênh (Liu & cộng sự, 2020). Trong khi  
đó, số lượng các nghiên cứu đứng trên quan  
điểm của người tiêu dùng lại khá hạn chế,  
chủ yếu phân tích về hành vi khách hàng như  
ý định lựa chọn kênh (Xu & Jackson, 2019),  
ý định mua lặp lại (Savila & cộng sự, 2019),  
ý định lựa chọn mua sắm hợp kênh (Shi &  
cộng sự, 2020). Có thể thấy rằng, việc đi sâu  
tìm hiểu các cơ chế hành vi của người tiêu  
dùng trong xu hướng bán lẻ kiểu mới là rất  
cần thiết để các nhà quản trị có thể đáp ứng  
tốt hơn những đòi hỏi của khách hàng, vốn  
trở nên phức tạp trong một thị trường bán lẻ  
có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay.  
Hansen & Sia (2015) thừa nhận rằng vẫn tồn  
tại một khoảng cách đáng kể giữa những gì  
khách hàng mong muốn và năng lực cung  
ứng đa kênh tích hợp của nhà bán lẻ. Những  
khách hàng thực hiện mua sắm hợp kênh  
không được phục vụ hiệu quả bởi các nhà  
cung cấp không thể đáp ứng những nhu cầu  
cụ thể của họ vì các chiến lược kênh bán lẻ  
hiện có là không phù hợp (Hooglved &  
Koster, 2016). Thực tiễn từ các nhà quản lý  
lẫn các nghiên cứu hàn lâm đều chấp nhận  
chất lượng của những trải nghiệm mua sắm  
là một trong những yếu tố hàng đầu ảnh  
hưởng đến ý định mua sắm của khách hàng  
cũng như sự thành công của các doanh  
nghiệp bán lẻ áp dụng mô hình bán lẻ kiểu  
mới. Ngạc nhiên rằng đây lại là một khoảng  
trống trong nghiên cứu bán lẻ, đặc biệt liên  
quan đến đo lường những kỳ vọng của khách  
hàng về trải nghiệm mua sắm đa kênh (Shi &  
cộng sự, 2020).  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
định, có sự cởi mở cao đối với những trải  
mua sắm hợp kênh của người tiêu dùng thay  
vì tập trung vào một vài khía cạnh nhất định  
như các nghiên cứu trước đó: tích hợp kênh  
(Li & cộng sự, 2018), quản lý điểm tiếp xúc  
(Homburg & cộng sự, 2017), quản lý lưu trữ  
thông tin (Burford & Resmini, 2017).  
nghiệm mua sắm mới và thường xuyên tìm  
kiếm thông tin trong quá trình ra quyết định  
mua hàng (Lachman & Brett, 2013). Ngành  
bán lẻ thời trang được lựa chọn để xem xét  
trong nghiên cứu này bởi đây là một trong số  
ít những ngành triển khai các phương thức  
bán lẻ đa kênh và hợp kênh sớm nhất tại Việt  
Nam. Điều này mang đến thuận lợi khi đánh  
giá trải nghiệm của khách hàng khi mua sắm  
trên nhiều kênh cũng như đánh giá ý định  
tham gia mua sắm hợp kênh của họ trong  
một bối cảnh mua sắm khá gần gũi. Về mặt  
thực tiễn, nghiên cứu kỳ vọng giúp các nhà  
bán lẻ có cái nhìn sâu sắc hơn về những yếu  
tố thúc đẩy ý định tham gia vào mua sắm hợp  
kênh và khởi tạo nội dung người dùng của  
khách hàng, qua đó đưa ra những hàm ý quan  
trọng để quản lý các kênh bán hàng hiệu quả  
nhằm thúc đẩy hành vi khởi tạo nội dung  
người dùng và phát huy giá trị ảnh hưởng của  
các khách hàng.  
Sau cùng, dựa trên việc tổng thuật các tài  
liệu có liên quan, Shi & cộng sự (2020) đã  
xác định được năm khía cạnh chính thể hiện  
những kỳ vọng của khách hàng về trải  
nghiệm mua sắm hợp kênh bao gồm: tính kết  
nối, tính tích hợp, tính nhất quán, tính linh  
hoạt, tính cá nhân hoá. Các khía cạnh này mô  
tả những trải nghiệm mua sắm trong môi  
trường bán lẻ hợp kênh dựa trên quan điểm  
tiếp cận theo hành trình trải nghiệm từ trước  
khi bán đến sau khi bán. Mặc dù rằng, Cao &  
Li (2018) cho rằng rất khó để phân biệt rạch  
ròi những khía cạnh đặc trưng của bán lẻ hợp  
kênh như tính tích hợp, tính kết nối và tính  
nhất quán. Nghiên cứu của Shi & cộng sự  
(2020) đã làm nổi bật được sự khác nhau  
quan trọng giữa các khía cạnh đã đề cập dựa  
theo nhận thức của khách hàng. Định nghĩa  
của những khía cạnh này sẽ được đề cập chi  
tiết hơn ở những phần sau.  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Kỳ vọng của khách hàng về trải  
nghiệm mua sắm hợp kênh  
2.1.2. Hành vi mua sắm tìm kiếm  
Khác với mô hình bán lẻ đa kênh - nơi  
nhà bán lẻ tổ chức và vận hành nhiều kênh  
khác nhau một cách độc lập, mô hình bán lẻ  
đa kênh tích hợp hay bán lẻ hợp kênh cho  
phép các khách hàng đồng nhất hoàn toàn  
các trải nghiệm mua sắm của họ xuyên suốt  
tất cả các kênh hiện có của nhà bán lẻ. Shi &  
cộng sự (2020) đã nỗ lực để đo lường những  
kỳ vọng của khách hàng về trải nghiệm mua  
sắm hợp kênh thông qua những cuộc phỏng  
vấn sâu với những nhà quản lý có am hiểu  
sâu sắc về quản lý kênh và các khách hàng có  
trải nghiệm mua sắm ở môi trường đa kênh.  
Điều này khiến cho nghiên cứu của nhóm tác  
giả này có một cái nhìn toàn diện hơn về các  
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trải nghiệm  
Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằng  
hành vi mua sắm tìm kiếm là một chủ đề  
nghiên cứu nổi bật trong kỷ nguyên mới của  
bán lẻ, đặc biệt là các chiến lược liên quan  
đến quản lý khách hàng đa kênh (Verhoef &  
cộng sự, 2007; Mau & cộng sự, 2015). Đáng  
chú ý, định nghĩa mua sắm tìm kiếm của các  
tác giả này là khá rõ ràng và được chấp nhận  
rộng rãi. Cụ thể, khái niệm này được hiểu là  
khuynh hướng khách hàng tìm kiếm thông  
tin trên một kênh và sau đó mua sản phẩm ở  
kênh khác (Verhoef & cộng sự, 2007; Neasar  
& cộng sự, 2016). Hành vi mua sắm tìm  
kiếm bao gồm hành vi showrooming và  
webrooming, được xem là những xu hướng  
mua sắm nổi bật của người mua hàng hợp  
81  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
kênh (Kang, 2018). Trong khi, showrooming  
dịch vụ của doanh nghiệp gửi đến cho nhiều  
cá nhân hay tổ chức khác trên các nền tảng  
hoạt động dưới sự hỗ trợ của Internet”. Theo  
Kaplan & Haenlein (2010) thì UGC là nội  
dung được tạo ra bởi công chúng hay người  
tiêu dùng thay vì bởi các chuyên gia tiếp thị,  
dưới định dạng là các văn bản hoặc các hình  
thức khác như các dòng trạng thái, hình ảnh,  
video, các đánh giá sản phẩm, v..v nhờ sự  
phát triển của Internet và các nền tảng truyền  
thông xã hội.  
được mô tả là thực tiễn mà ở đó khách hàng  
tìm kiếm thông tin thực tế và sau đó mua sản  
phẩm trực tuyến, thì webrooming được đề  
cập như là hoạt động tìm kiếm thông tin trực  
tuyến và sau đó mua sản phẩm tại các cửa  
hàng thực tế (Flavián & cộng sự, 2016).  
Theo nhiều nhà nghiên cứu, hiện tượng  
này xảy ra bởi sự thiếu nhất quán trong hoạt  
động tích hợp kênh của các nhà bán lẻ, các  
đặc tính thúc đẩy tiến trình ra quyết định  
(Verhoef & cộng sự, 2007) và các đặc điểm  
tâm lý của khách hàng (sự nhạy cảm về giá,  
nhu cầu tìm kiếm sự độc đáo, v..v) (Kumar &  
Venkatesan, 2005). Hành vi mua sắm tìm  
kiếm có thể đem lại lợi ích cho người tiêu  
dùng trong quá trình thu thập thông tin và ra  
quyết định, tuy nhiên cũng có thể khiến việc  
quản lý và giữ chân khách hàng trở nên khó  
khăn hơn vì khách hàng ở các giai đoạn trước  
mua, trong khi mua có thể là không như nhau  
(Nunes & Cespedes, 2003).  
Có thể thấy rằng, sự thống nhất trong định  
nghĩa của thuật ngữ “UGC” và sự thừa nhận  
rộng rãi thuật ngữ này là một cách hiểu khác  
của khái niệm “truyền miệng điện tử-  
eWOM” được tìm thấy trong phần lớn các  
nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Điều  
này đem đến rất nhiều hướng đi cho các nhà  
nghiên cứu bởi ý nghĩa to lớn của truyền  
miệng nói chung và truyền miệng điện tử nói  
riêng đối với hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp đã được quan tâm, kiểm chứng  
và xác nhận qua nhiều công trình nghiên cứu  
của các học giả. Đáng chú ý, không chỉ có  
các học giả, các nhà marketing cũng thừa  
nhận vai trò của nội dung người dùng khởi  
tạo có một ý nghĩa nhất định trong việc triển  
khai các chiến lược marketing và xem nó như  
một công cụ marketing mới hiệu quả (Müller  
& Christandl, 2019).  
2.1.3. Nội dung người dùng khởi tạo (UGC)  
Nội dung người dùng khởi tạo hay nội  
dung người dùng còn được biết đến như là  
một cách gọi khác của truyền miệng điện tử  
(Manap & Adzharudin, 2013). Thuật ngữ này  
đề cập đến bất kỳ những nội dung nào được  
người dùng tạo ra và đăng tải lên các nền  
tảng trực tuyến khác nhau với hỗ trợ của  
Internet và có những ảnh hưởng lớn đến việc  
tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ của mọi  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
2.2.1. Căn cứ phát triển mô hình  
người (Cheong  
&
Morrison, 2008;  
Một khung nghiên cứu đã được đề xuất  
nhằm khám phá các tiền đề thúc đẩy ý định  
khởi tạo nội dung người dùng (được minh  
họa ở Hình 1). Kế thừa các nghiên cứu của  
Lin (2007), Chen & cộng sự (2013), Shi &  
cộng sự (2019) và Kang (2019), các biến số  
liên quan đến các kỳ vọng của khách hàng về  
trải nghiệm mua sắm hợp kênh, cảm nhận  
tính tương thích, cảm nhận rủi ro, cảm nhận  
giá trị của các hành vi showrooming và  
webrooming được lập luận là có tác động đến  
Shneerman & cộng sự, 2011; Presi & cộng  
sự, 2014), trong đó các nội dung thường  
được chia sẻ trên truyền thông xã hội như  
Facebook, Youtube, Twitter và Instagram.  
Ngoài ra, Hennig-Thurau & cộng sự (2004)  
định nghĩa khái niệm nội dung người dùng  
khởi tạo hay truyền miệng điện tử là “bất kỳ  
những thông điệp tích cực hoặc tiêu cực  
được đưa ra bởi các khách hàng tiềm năng  
hay các khách hàng đã sử dụng sản phẩm/  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
ý định tham gia mua sắm hợp kênh của người  
webrooming có thể được sử dụng để dự đoán  
ý định của họ trong giai đoạn mua và sau  
mua như ý định sử dụng phương thức mua  
sắm hợp kênh hay ý định khởi tạo nội dung  
người dùng.  
tiêu dùng, qua đó gia tăng ý định khởi tạo nội  
dung người dùng. Cụ thể hơn, mô hình lý  
thuyết trong nghiên cứu này được phát triển  
dựa trên lý thuyết khuếch tán đổi mới (IDT)  
của Rogers (2010) và lý thuyết triển vọng  
của Kahneman & Tversky (1979).  
2.2.2. Các giả thuyết nghiên cứu  
a) Kỳ vọng của khách hàng về trải  
nghiệm mua sắm hợp kênh và cảm nhận  
tính tương thích  
Rogers (2010) đề xuất một sự đổi mới  
được truyền đạt qua một số kênh nhất định  
theo thời gian giữa các thành viên của một hệ  
thống xã hội. Sự đổi mới này đề cập đến một  
ý tưởng, một thực tiễn hoặc một đối tượng  
được xem là mới và áp dụng bởi một cá nhân  
hay một tổ chức. Cũng theo đó, Dwivedi &  
cộng sự (2019) cho rằng mọi quyết định chấp  
nhận hoặc từ chối sự đổi mới của một cá  
nhân được dựa trên những nhận thức và niềm  
tin của họ về sự đổi mới đó. Đặc biệt, theo  
Rogers (2010), quá trình ra quyết định đó của  
cá nhân thường trải qua ba giai đoạn chính:  
nhận thức trước khi áp dụng đổi mới, nhận  
thức về việc áp dụng đổi mới và ra quyết  
định có chấp nhận đổi mới hay không. Thú vị  
là, Carroll & Guzmán (2015) nhận định rằng  
mua sắm hợp kênh được coi là một hình thức  
mua sắm mới và sáng tạo. Vì vậy, nếu xét  
trong bối cảnh của nghiên cứu này, ý định  
mua sắm hợp kênh được coi là kết quả chấp  
nhận của việc áp dụng mua sắm hợp  
kênh. Do đó, rủi ro nhận thức và cảm nhận  
tính tương thích giữa các kênh có thể được  
xem là những đặc điểm đổi mới cần thiết và  
có liên kết với ý định mua sắm hợp kênh.  
Tính kết nối  
Tính kết nối liên quan đến mức độ mà nội  
dung tiếp thị và thông tin sản phẩm, dịch vụ  
giữa các kênh được liên kết sâu sắc với nhau  
(Joseph, 2015). Trong bán lẻ hợp kênh,  
khách hàng có xu hướng chuyển đổi từ kênh  
này sang kênh khác và mong đợi các nhà bán  
lẻ có sự kết nối hoàn toàn để tạo điều kiện  
thuận lợi cho việc chuyển đổi suôn sẻ giữa  
các kênh (Joseph, 2015). Tính kết nối không  
chỉ giúp khách hàng dễ dàng thực hiện hành  
động tìm kiếm trong quá trình mua sắm trên  
các kênh khác nhau mà còn giúp tối ưu hoá  
lưu lượng thông tin trên mỗi kênh  
(Piotrowicz & Cuthbertson, 2014). Do đó,  
tính kết nối sẽ là một đặc điểm quan trọng  
trong trải nghiệm mua sắm hợp kênh theo  
mong đợi của người tiêu dùng vì giúp họ  
tăng khả năng cảm nhận tính tương thích  
giữa phương thức mua sắm mới này với các  
trải nghiệm/ thói quen hoặc thậm chí sở thích  
của họ về mua sắm trong quá khứ (Shi &  
cộng sự, 2019). Đồng quan điểm trên, chúng  
tôi đề xuất giả thuyết H1 như sau:  
Đối với lý thuyết triển vọng, Kahneman  
& Tversky (1979) nhấn mạnh quan điểm tối  
đa hoá giá trị trong dự báo hành vi ra quyết  
định của cá nhân đối với các tình huống chưa  
xác định hoặc chưa thể quyết định. Do đó, có  
thể hiểu rằng trong môi trường bán lẻ, các giá  
trị mà khách hàng cảm nhận được trong tiến  
trình ra quyết định mua hàng có thể ảnh  
hưởng đến ý định hay hành vi của họ. Đặc  
biệt, trong nghiên cứu này, nhận thức của  
khách hàng về giá trị của showrooming và  
H1: Tính kết nối có ảnh hưởng tích cực  
đến cảm nhận tương thích trong mua sắm  
hợp kênh.  
Tính tích hợp  
Tính tích hợp được định nghĩa là mức độ  
mà một doanh nghiệp điều phối các mục tiêu,  
thiết kế và triển khai các kênh của mình  
nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp cho doanh  
nghiệp và mang lại lợi ích cho người tiêu  
dùng (Neslin & cộng sự, 2006; Cao & Li,  
83  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
2015). Tích hợp kênh được coi là sự khác  
b) Kỳ vọng của khách hàng về mua sắm  
biệt đáng kể nhất giữa mua sắm đa kênh và  
hợp kênh vì nó cho phép các nhà bán lẻ duy  
trì một hồ sơ thống nhất của từng khách hàng  
trên các kênh (Saghiri & cộng sự, 2017).  
Trong bối cảnh mua sắm hợp kênh, tích hợp  
kênh cũng cần được làm nổi bật để phù hợp  
với sở thích mua sắm của khách hàng  
(Verhoef & cộng sự, 2015). Chẳng hạn, khi  
khách hàng mua sắm trực tuyến, nhà bán lẻ  
khuyến khích mua lặp lại bằng việc cung cấp  
mã giảm giá và khách hàng có thể sử dụng  
cho lần mua tiếp theo tại cửa hàng vật lý.  
Những lợi ích này mang lại cho khách hàng  
sẽ giúp họ cảm thấy rằng mua sắm hợp kênh  
tương thích với niềm tin và giá trị mua sắm  
của họ. Do đó, chúng tôi đưa ra giả thuyết  
H2 như sau:  
hợp kênh và rủi ro cảm nhận  
Tính nhất quán  
Kazancoglu & Aydin (2018) đã nhận định  
rằng sự nhất quán về chất lượng sản phẩm và  
chiến lược giá trên các kênh giúp giảm sự bất  
đối xứng trong thông tin và nhận thức rủi ro  
của người tiêu dùng. Ngoài ra, nếu những  
đánh giá và cảm nhận của khách hàng về sản  
phẩm, dịch vụ trên các kênh khác nhau có sự  
tương đồng, sẽ góp phần làm giảm rủi ro  
nhận thức khi chuyển đổi kênh trong mua  
sắm hợp kênh (Rodrígueztorrico & cộng sự,  
2017). Ngược lại, nếu không tạo được sự  
nhất quán trên các kênh, khách hàng sẽ dễ  
dàng cảm thấy thất vọng khi họ chuyển từ  
kênh này sang kênh khác (Matt, 2016). Nói  
cách khác, tính nhất quán có thể giúp loại bỏ  
mâu thuẫn trong hành trình mua sắm của  
khách hàng và rút ngắn quy trình giao dịch,  
do đó họ sẽ coi trọng nó và trở nên gắn bó  
hơn (Lexmark, 2016). Từ đó, giả thuyết H4  
được đề xuất:  
H2: Tính tích hợp có ảnh hưởng tích cực  
đến khả năng cảm nhận tương thích trong  
mua sắm hợp kênh.  
Tính nhất quán  
Tính nhất quán đề cập đến mức độ nội  
dung, thông tin và quy trình được nhất quán  
giữa các kênh (Shi & cộng sự, 2019). Một  
mặt, dịch vụ và thông tin nhất quán trên các  
kênh giúp cải thiện tính minh bạch của kênh  
(Shen & cộng sự, 2018). Yếu tố này tạo ra sự  
tương thích với niềm tin mua sắm của khách  
hàng trong quá khứ với mua sắm hợp kênh  
(Denis & Karsenty, 2004). Bên cạnh đó, tính  
nhất quán giữa các kênh cũng giúp giảm  
thiểu nỗ lực tìm kiếm và nhận thức khi  
chuyển kênh (Mosteller & cộng sự, 2014),  
H4: Tính nhất quán có ảnh hưởng tiêu  
cực đến rủi ro nhận thức trong mua sắm  
hợp kênh.  
Tính linh hoạt  
Tính linh hoạt đề cập đến việc khách hàng  
được cung cấp các tùy chọn linh hoạt và trải  
nghiệm tính liên tục khi di chuyển từ kênh  
này sang kênh khác (Shi & cộng sự, 2019).  
Khách hàng có thể lo lắng về những rủi ro có  
thể xảy ra khi chuyển kênh, chẳng hạn như  
tính bảo mật của thanh toán, tính sẵn có của  
sản phẩm và hiệu suất giao hàng  
(Kazancoglu & Aydin, 2018). Tính linh hoạt  
của việc chuyển đổi giữa các kênh ở mỗi giai  
đoạn trong tiến trình mua sắm giúp tăng nhận  
thức kiểm soát hành vi và giảm thiểu rủi ro  
(Juanedaayensa & cộng sự, 2016). Ngoài ra,  
tính linh hoạt của mua sắm hợp kênh cũng  
đảm bảo một trải nghiệm liên tục trên các  
kênh khác nhau cho người tiêu dùng, giúp  
giảm  
rủi  
ro  
khi  
chuyển  
kênh  
(Rodrígueztorrico & cộng sự, 2017) và từ đó  
giúp cho khách hàng cảm nhận được sự  
tương thích với trải nghiệm mua sắm trước  
đó. Đồng ý với những lập luận trên, chúng  
tôi đề xuất giả thuyết H3 như sau:  
H3: Tính nhất quán có ảnh hưởng tích  
cực đến cảm nhận tương thích trong mua  
sắm hợp kênh.  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
giảm các rủi ro liên quan đến lỗi hệ thống, lỗi  
H6: Cá nhân hóa có ảnh hưởng tiêu cực đến  
rủi ro nhận thức trong việc mua sắm hợp kênh.  
giao dịch và tự chủ thấp trong mua sắm hợp  
kênh (Shen & cộng sự, 2018 ). Theo đó,  
chúng tôi đề xuất giả thuyết H5 như sau:  
c) Cảm nhận tính tương tích và ý định  
mua sắm hợp kênh  
H5: Tính linh hoạt có ảnh hưởng tiêu cực  
đến rủi ro nhận thức trong mua sắm hợp kênh.  
Cảm nhận tương thích được chấp nhận là  
một trong những đặc điểm đổi mới trong lý  
thuyết khuếch tán sự đổi mới IDT (Kim &  
cộng sự, 2017; Shi & cộng sự, 2020). Nhiều  
nhà nghiên cứu như Moore & Benbasat  
(1991), Aljabri & Sohail (2012) định nghĩa  
khái niệm này là mức độ mà một trải nghiệm  
được coi là phù hợp với các giá trị, nhu cầu  
hiện có và kinh nghiệm trong quá khứ của  
người dùng tiềm năng. Theo Shen & cộng sự  
(2018), trong môi trường hợp kênh, trải  
nghiệm mua sắm trước đây của khách hàng  
với các kênh cụ thể có thể được sử dụng làm  
yếu tố dự đoán cho ý định áp dụng mua sắm  
hợp kênh. Limayem & cộng sự (2007) cũng  
kết luận rằng, khách hàng thường đánh giá  
công nghệ theo thói quen mà ít khi phụ thuộc  
vào đánh giá ý thức khi mức độ thói quen đó  
ngày càng tăng lên. Do đó, nghiên cứu này  
đề xuất giả thuyết H7 như sau:  
Tính cá nhân hoá  
Tính cá nhân hóa đề cập đến việc mà  
khách hàng nhận được các đề xuất giá trị từ  
nhà cung cấp, phù hợp với sở thích cá nhân  
dựa trên các thông tin cũng như lịch sử giao  
dịch của họ (Ramamoorthy & cộng sự,  
2018). Cá nhân hóa được coi là tiêu chí hàng  
đầu để đánh giá trải nghiệm của khách hàng  
trong lĩnh vực bán lẻ kỹ thuật số (Bhalla,  
2014). Bởi đây là yếu tố giúp khách hàng  
tăng cảm nhận về chất lượng dịch vụ, sự hài  
lòng và lòng trung thành đối với nhà cung  
cấp (Zhang & cộng sự, 2019). Với sự tiên  
tiến của công nghệ hỗ trợ quản lý dữ liệu  
khách hàng trên các kênh, các nhà bán lẻ có  
thể phân tích tốt hơn các hành vi của khách  
hàng và cung cấp các dịch vụ được cá nhân  
hóa một cách tốt hơn (Oh & Teo, 2010). Mặc  
dù khách hàng coi sự không chắc chắn của  
nhà bán lẻ là một rủi ro đáng kể trong bán lẻ  
hợp kênh (Fei & Su, 2017), dịch vụ được cá  
nhân hóa có thể giúp giảm thiểu sự không  
chắc chắn đó bằng cách hỗ trợ người tiêu  
dùng mua hàng có thông tin tốt hơn, điều này  
sẽ nâng cao niềm tin và giảm nhận thức rủi  
ro (Schramm-Klein & cộng sự, 2011). Qua  
đó, có thể thấy rằng, cá nhân hoá là một  
chiến lược quan trọng đối với các nhà bán lẻ  
hợp kênh trong việc gia tăng lợi ích cảm  
nhận (đáp ứng chính xác yêu cầu khách hàng  
bằng cách điều chỉnh các sản phẩm và dịch  
vụ cũng như cung cấp những gợi ý phù hợp  
với sở thích cá nhân) và góp phần giảm thiểu  
rủi ro nhận thức của khách hàng (hạn chế sự  
không chắc chắn trong việc ra quyết định).  
Dựa vào những lập luận trên, chúng tôi phát  
triển giả thuyết H6 như sau:  
H7: Cảm nhận tương thích có ảnh hưởng  
tích cực đến ý định mua sắm hợp kênh.  
d) Rủi ro nhận thức và ý định mua sắm  
hợp kênh  
Rủi ro nhận thức được xem là một yếu tố  
quan trọng trong việc dự đoán ý định hành vi  
của người tiêu dùng, vốn đã được thừa nhận  
nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến tâm  
lý học hành vi (Chiu & cộng sự, 2014). Rủi  
ro nhận thức có liên quan đến những đánh  
giá của khách hàng về sự không chắc chắn và  
những kết quả bất lợi có thể xảy ra trong quá  
trình mua sắm (Herhausen & cộng sự, 2015).  
Trong nhiều nghiên cứu liên quan đến lý  
thuyết khuếch tán sự đổi mới, rủi ro nhận  
thức được xem là một rào cản trong việc các  
cá nhân áp dụng những đổi mới trong nhiều  
bối cảnh khác nhau như: ngân hàng trực  
tuyến (Alalwan & cộng sự, 2018) hay thanh  
85  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
toán di động (De Kerviler, 2016). Đối với  
mua sản phẩm hoặc dịch vụ trên các kênh  
khác. Nghiên cứu của Kang (2019) đề cập  
đến tác động của giá trị cảm nhận của hành  
vi showrooming và webrooming đối với ý  
định mua sắm hợp kênh. Có thể giả định rằng  
nếu nhận thức về giá trị của khách hàng đối  
với showrooming và webrooming là tích cực,  
điều đó sẽ làm tăng khả năng họ có ý định áp  
dụng phương thức mua sắm hợp kênh. Do  
đó, nghiên cứu này chấp nhận các phát hiện  
của Kang cũng như đồng ý với các lập luận  
trong nghiên cứu trước đó để đưa ra các giả  
thuyết H9 và H10 như sau:  
trường hợp bán lẻ hợp kênh, Kazancoglu &  
Aydin (2018) thông qua nghiên cứu thực  
nghiệm đã xác nhận rằng khách hàng có  
nhiều khả năng cảm nhận phương thức bán lẻ  
mới này là rủi ro khi cân nhắc đến những rủi  
ro liên quan đến hiệu suất mua sắm (lỗi hệ  
thống) hay liên quan đến rủi ro tài chính (ví  
dụ: giá không nhất quán trên các kênh).  
Trong nghiên cứu của mình, Falk & cộng sự  
(2007) cho rằng rủi ro nhận thức là một yếu  
tố trung gian trong mối quan hệ giữa những  
thuộc tính của kênh hiện tại và quyết định sử  
dụng kênh mới của khách hàng. Tương tự,  
Herhausen & cộng sự (2015) xác nhận tác  
động đáng kể của rủi ro nhận thức là làm  
giảm ý định tìm kiếm và mua hàng. Xem xét  
một cách logic về các nghiên cứu trước đây,  
có thể kỳ vọng rằng khách hàng càng cảm  
nhận được ít rủi ro hơn trong quá trình mua  
sắm hợp kênh, thì càng có nhiều khả năng họ  
dự định sử dụng phương pháp này để trải  
nghiệm những lợi ích của nó. Theo đó, giả  
thuyết H8 được đề xuất như sau:  
H9: Giá trị cảm nhận của hành vi  
showrooming có ảnh hưởng tích cực với ý  
định mua sắm hợp kênh  
H10: Giá trị cảm nhận của hành vi  
webrooming có ảnh hưởng tích cực với ý  
định mua sắm hợp kênh  
Ý định mua sắm hợp kênh và ý định khởi  
tạo nội dung người dùng  
Trong tiến trình mua sắm, việc người tiêu  
dùng chủ động tìm kiếm thông tin để phục vụ  
quá trình ra quyết định khiến họ có cơ hội  
tương tác với những nội dung người dùng  
trên các kênh bán hàng trực tuyến. Theo  
Sopadjieva & cộng sự (2017), những người  
tiêu dùng tham gia vào phương thức bán lẻ  
hợp kênh thường có xu hướng cởi mở với các  
điểm tiếp xúc của nhà bán lẻ, qua đó, có thể  
có thái độ tích cực đối với nội dung người  
dùng thông qua việc tìm kiếm trên các thiết  
bị kết nối mạng. Tương tự, thông qua nghiên  
cứu thực nghiệm, Oum & Han (2011) kết  
luận rằng những khách hàng thích tham gia  
vào các phương thức mua sắm hiện đại có  
thể sử dụng những chia sẻ đánh giá về sản  
phẩm hay trải nghiệm của những khách hàng  
khác để làm cơ sở cho việc ra quyết định  
mua sắm cuối cùng. Đáng chú ý, việc sử  
dụng nội dung người dùng lại có ảnh hưởng  
tích cực đến việc người tiêu dùng khởi tạo  
nội dung người dùng (Daugherty & cộng sự,  
H8: Rủi ro nhận thức có ảnh hưởng tiêu  
cực đến ý định mua sắm hợp kênh  
e) Giá trị cảm nhận của các hành vi  
mua sắm tìm kiếm và ý định mua sắm hợp  
kênh của người tiêu dùng  
Giá trị cảm nhận của khách hàng và ý  
định mua sắm thường được chấp nhận là có  
mối quan hệ tương quan cùng chiều với nhau  
(Song & cộng sự, 2019). Đặc biệt, Kleijnen  
& cộng sự (2007) đã chứng minh rằng giá trị  
cảm nhận là một trong những tiền đề quan  
trọng của ý định hành vi. Tương tự, không  
chỉ xác nhận mối liên kết này, Shapiro &  
cộng sự (2019) còn đề xuất một phần vai trò  
trung gian của giá trị cảm nhận trong việc  
giải thích hành vi của khách hàng. Trong bối  
cảnh hợp kênh, nghiên cứu hành vi mua sắm  
của khách hàng hợp kênh liên quan đến việc  
tìm kiếm thông tin trên một kênh và sau đó  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
2008). Điều này được tìm thấy trong nghiên  
thang đo liên quan đến kỳ vọng của khách  
hàng về trải nghiệm mua sắm hợp kênh như  
tính kết nối, tính tích hợp, tính nhất quán,  
tính linh hoạt và tính cá nhân hóa được kế  
thừa từ Hoehle & Venkatesh (2015). Tất cả  
các biến được đo lường bằng thang đo Likert  
5, đi từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5  
(hoàn toàn đồng ý).  
cứu trước đây của Taylor & Levin (2014),  
rằng, những khách hàng có sự quan tâm đặc  
biệt đối với những kênh bán hàng mới của  
nhà bán lẻ sẽ có nhiều khả năng tham gia vào  
các hoạt động mua hàng trên những kênh này  
và đồng thời có ý định tham gia vào các hoạt  
động chia sẻ thông tin. Đồng ý với quan  
điểm trên, chúng tôi đề xuất giả thuyết H11  
như sau:  
Đối tượng thu thập mẫu là những người  
tiêu dùng trẻ thuộc nhóm tuổi từ 18 đến 38 -  
đây là nhóm tuổi thường được biết đến là thế  
hệ Y và thế hệ Z (Dimock, 2019). Đây là hai  
thế hệ tháo vát nhạy bén về mặt công nghệ và  
có thể tạo cộng đồng ảo với tốc độ cực nhanh  
(S Sladek & cộng sự, 2014). Trong bối cảnh  
nghiên cứu này, mẫu được chọn là những  
người tiêu dùng đã từng hoặc thường mua  
sắm nhiều hơn một kênh tại các nhà bán lẻ  
mặt hàng thời trang và phụ kiện như quần áo,  
giày dép, túi xách, v..v (tức từ hai kênh trở  
lên trong số những kênh như: cửa hàng  
truyền thống, website, ứng dụng di động,  
mạng xã hội, sàn giao dịch thương mại điện  
tử, ...) trong vòng 03 tháng kể từ ngày mua  
hàng đến ngày thu thập mẫu. Bước đầu, một  
cuộc khảo sát thí điểm đã được thực hiện trên  
20 người tiêu dùng với mục đích điều chỉnh  
các chỉ báo cho phù hợp với thói quen mua  
sắm của người Việt Nam. Sau đó, một cuộc  
khảo sát chính thức với 330 người tiêu dùng  
đã được tiến hành theo phương pháp khảo sát  
trực tuyến. Cụ thể, khảo sát được thực hiện  
thông qua công cụ google biểu mẫu và được  
giới thiệu trên các trang mạng xã hội và các  
nhóm/ cộng đồng người sử dụng của các nhà  
bán lẻ thời trang có triển khai bán hàng trên  
nhiều kênh khác nhau (ví dụ: OLV, NEM  
fashion, IVY model, Lalya, v..v). Sau khi  
loại trừ các bản câu hỏi không hợp lệ (những  
bản có cùng một câu trả lời giống nhau cho  
phần lớn các câu hỏi) để làm sạch dữ liệu,  
cuối cùng nghiên cứu này thu được 304 bản  
hợp lệ trong tổng số 330 bản thu được từ  
người trả lời.  
H11: Ý định mua sắm hợp kênh có ảnh  
hưởng tích cực đến ý định khởi tạo nội dung  
người dùng.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp  
định lượng với bảng câu hỏi được xây dựng  
bằng cách sử dụng các thang đo được kế thừa  
từ các nghiên cứu trước đây. Cụ thể, ý định  
khởi tạo nội dung người dùng được điều  
chỉnh từ Chen & cộng sự (2013), Lin (2007)  
để phù hợp với bối cảnh của nghiên cứu này;  
ý định mua sắm hợp kênh được kế thừa từ  
Taylor & Todd (1995); cảm nhận tương thích  
được kế thừa từ Moore & Benbasat (1991);  
rủi ro nhận thức được kế thừa từ Heijden &  
cộng sự (2003). Các thang đo liên quan đến  
giá trị cảm nhận hành vi showrooming và  
webrooming được kế thừa từ Voss & cộng sự  
(2003) và Tojib & Tsarenko (2012). Các  
87  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Để đánh giá chất lượng thang đo và kiểm  
4. Kết quả và thảo luận  
4.1. Kết quả  
định các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp  
phân tích mô hình phương trình cấu trúc  
tuyến tính dựa trên bình phương tối thiểu  
từng phần PLS-SEM thực hiện trên phần  
mềm Smart PLS 3 (phiên bản 3.2.9) được sử  
dụng. Đây là phương pháp đang được sử  
dụng rộng rãi trong giới nghiên cứu hiện nay  
bởi những ưu điểm vượt trội hơn so với  
phương trình cấu trúc tuyến tính dựa trên  
hiệp phương sai (CB-SEM) thường được  
thực hiện trên phần mềm AMOS (Ringle và  
cộng sự, 2012; Hair và cộng sự, 2014; Hair  
và cộng sự, 2016). Đầu tiên, trong khi CB-  
SEM chủ yếu được sử dụng để xác nhận  
hoặc từ chối các lý thuyết, phân tích PLS-  
SEM cho phép phát triển các lý thuyết trong  
nghiên cứu khám phá (Hair và cộng sự,  
2014). Điều này được xem là phù hợp với  
bản chất khám phá của nghiên cứu bởi gần  
như chưa có nghiên cứu nào trước đó xem  
xét một khung nghiên cứu bao gồm các biến  
số như đã đề cập ở trên tại Việt Nam cũng  
như trên thế giới. Thứ hai, bằng việc áp dụng  
cách tiếp cận dựa trên thành phần, phân tích  
PLS cho phép kiểm tra cả cấu trúc phản ánh  
và cấu trúc cấu tạo (Lohmoller, 1988; Gefen  
và cộng sự, 2000; Rai và cộng sự, 2006).  
Trong nghiên cứu này, kỳ vọng của người  
tiêu dùng về trải nghiệm mua sắm hợp kênh  
được đo lường như những cấu trúc cấu tạo  
bậc cao, trong khi đó, những biến số còn lại  
được đo lường như những cấu trúc phản ánh.  
4.1.1. Mô tả mẫu  
Sau khi loại trừ các bản câu hỏi không  
hợp lệ để làm sạch dữ liệu, cuối cùng nghiên  
cứu này thu được 304 bản hợp lệ trong tổng  
số 330 bản thu được từ người trả lời.  
Bảng 1. Đặc điểm mẫu thu thập  
Tần Tỷ lệ  
Thông tin mẫu  
suất  
(%)  
15,1  
84,9  
70,7  
23,4  
6,9  
Nam  
Nữ  
46  
Giới  
tính  
258  
215  
71  
18-24  
Độ  
tuổi  
25-33  
34-40  
18  
Dưới 5 triệu  
196  
55  
64,5  
18,1  
Thu  
nhập  
Từ 5 triệu đến dưới  
10 triệu  
Từ 10 triệu đến dưới  
15 triệu  
35  
18  
11,5  
5,9  
Từ 15 triệu trở lên  
Tổng cộng  
304 100,0  
Phần lớn người được hỏi trong nghiên  
cứu này là nữ giới (chiếm 84,9%), chủ yếu  
nằm trong hai nhóm tuổi: 18-24 (chiếm  
70,7%) và 25-34 (chiếm 23,4%). Liên quan  
đến thu nhập của những người tham gia khảo  
sát, có một sự khác biệt đáng kể giữa nhóm  
thu nhập cao (trên 15 triệu VNĐ) chỉ chiếm  
5,9% và các nhóm còn lại (dưới 5 triệu VNĐ  
và từ 5 đến dưới 15 triệu VNĐ) dao động từ  
11,5% đến 64,5%. Những điều này phản ánh  
tương đối thực trạng mua hàng thời trang của  
người tiêu dùng trẻ tuổi tại TP. Đà Nẵng,  
Việt Nam.  
Ngoài ra, phương pháp tiếp cận phân tích  
hai bước được sử dụng trong nghiên cứu này  
theo như đề xuất của Anderson & Gerbing  
(1988). Cụ thể, đầu tiên các mô hình đo  
lường được phân tích để đảm bảo độ ổn định  
và tính chuẩn xác của các cấu trúc, sau đó  
việc ước tính mô hình cấu trúc được thực  
hiện nhằm đánh giá khả năng giải thích lý  
thuyết của mô hình mức ý nghĩa của các giả  
thuyết nghiên cứu.  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
4.1.2. Kiểm định thang đo  
Giá trị cảm nhận  
hành vi  
webrooming  
(PVW)  
Nghiên cứu này áp dụng những đề xuất  
của Hair & cộng sự (2016) để kiểm tra độ tin  
cậy của các thang đo gồm độ nhất quán nội  
tại, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Kết quả  
kiểm định thang đo cho thấy các thang đo  
đều đạt độ nhất quán nội tại khi hệ số  
Cronbach’s alpha và độ tin cậy tổng hợp  
(CR) đều lớn hơn 0,7. Sau đó, tiến hành loại  
bỏ các mục hỏi có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn  
0,7 như CN1 (0,675), CS3 (0,523) nhằm cải  
thiện độ tin cậy của các thang đo. Kết quả  
phân tích cho thấy các giá trị phương sai  
trích (AVE) đều lớn hơn 0,5 nên các thang  
đo đạt giá trị hội tụ. Ngoài ra, khi kiểm tra  
vùng điều kiện của Fornell- Lackeer, các căn  
bậc hai của AVE trong từng nhân tố đều có  
giá trị cao hơn hệ số tương quan của các  
nhân tố khác trong cùng một cột. Do vậy, các  
thang đo đều đạt giá trị phân biệt. Kết quả  
phân tích kiểm định độ tin cậy của các thang  
đo được trình bày trong Bảng 1.  
0,926  
0,942  
0,730  
Ý định mua sắm  
hợp kênh (OSI)  
0,887  
0,897  
0,930  
0,936  
0,816  
0,829  
Ý định khởi tạo nội  
dung người dùng  
(UGC)  
4.1.3. Kiểm định giả thuyết  
Các tiêu chí đánh giá chất lượng mô hình  
PLS-SEM cũng như các bước kiểm định giả  
thuyết trong nghiên cứu này được dựa theo  
những đề xuất của Hair & cộng sự (2017).  
Đầu tiên, các kết quả về hệ số phóng đại  
phương sai (VIF) đều nhỏ hơn 4, cho phép  
khẳng định hiện tượng đa cộng tuyến giữa  
các biến giải thích không phải là vấn đề  
nghiêm trọng trong mô hình cấu trúc (Hair &  
cộng sự, 2016). Do đó có thể tiếp tục các  
bước tiếp theo của việc đánh giá. Đáng chú  
ý, mười trong số mười một giả thuyết có hệ  
số đường dẫn đạt ý nghĩa thống kê 5%.  
Trong đó, giả thuyết H5 (mối quan hệ giữa  
tính linh hoạt và rủi ro nhận thức) lại không  
được ủng hộ về mặt dữ liệu. Các hệ số đường  
dẫn liên quan đến các mối quan hệ còn lại  
của mô hình đều đạt mức ý nghĩa thống kê  
5% và khác 0 khi thực hiện kiểm định  
Bootstrap với 5000 mẫu lặp. Các kết quả  
phân tích được trình bày ở Hình 2.  
Bảng 2. Kiểm định tính nhất quán nội tại và  
giá trị hội tụ của các thang đo  
Cronbach’s  
CR  
AVE  
alpha  
Tính kết nối (CN)  
Tính tích hợp (IN)  
0,830  
0,834  
0,886  
0,880  
0,889  
0,921  
0,595  
0,668  
0,745  
Tính nhất quán  
(CS)  
Tính linh hoạt (FL)  
0,833  
0,870  
0,888  
0,911  
0,664  
0,720  
Tính cá nhân hoá  
(PL)  
Cảm nhận tương  
0,857  
0,858  
0,913  
0,914  
0,778  
0,780  
thích (PC)  
Rủi ro nhận thức  
(PR)  
Giá trị cảm nhận  
hành vi  
showrooming  
(PVS)  
0,936  
0,949  
0,757  
Hình 2. Kết quả phân tích đường dẫn  
89  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Kết quả kiểm định cho thấy giá trị cảm  
Bảng 3. Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên  
cứu  
nhận của người tiêu dùng về các hành vi mua  
sắm tìm kiếm bao gồm showrooming (β  
=0,380) và webrooming (β =0,343) cũng như  
cảm nhận về tính tương tích (β =0,172) có  
tác động tích cực đến ý định mua sắm hợp  
kênh của họ. Trong khi đó, những rủi ro mà  
khách hành nhận thức được có tác động tiêu  
cực đến ý định tham gia mua sắm hợp kênh  
(β =-0,084). Đồng thời, ý định mua sắm hợp  
kênh của người tiêu dùng được chứng minh  
là tiền đề quan trọng trong việc dự báo ý định  
khởi tạo nội dung người dùng của họ (β  
=0,748). Cuối cùng, đối với các mối quan hệ  
còn lại trong mô hình nghiên cứu, các kết  
quả thực nghiệm cho thấy trong năm đặc  
điểm mà khách hàng kỳ vọng khi trải nghiệm  
về mua sắm hợp kênh, tính tích hợp có ảnh  
hưởng mạnh mẽ nhất lên cảm nhận tính  
tương tích của người tiêu dùng (β =0,378) so  
với hai đặc điểm còn lại là tính kết nối (β  
=0,338) và tính nhất quán (β =0,173). Ngược  
lại, tính nhất quán (β =-0,429) và tính cá  
nhân hóa (β =-0,317) tác động tiêu cực đến  
rủi ro nhận thức của người tiêu dùng.  
Mô hình nghiên cứu  
Hệ số  
Giả  
thuyết  
Kết  
luận  
đường  
dẫn  
p-  
value  
Std.  
VIF  
(β)  
Chấp  
nhận  
H1  
H2  
H3  
H4  
H5  
H6  
H7  
H8  
H9  
0,338 0,070 0,000 1,882  
0,378 0,070 0,000 1,803  
0,173 0,051 0,001 1,074  
-0,429 0,047 0,000 1,022  
Chấp  
nhận  
Chấp  
nhận  
Chấp  
nhận  
0,068 0,077 0,377 1,141 Bác bỏ  
Chấp  
-0,317 0,056 0,000 1,129  
nhận  
Chấp  
0,172 0,070 0,015 1,868  
nhận  
Chấp  
-0,084 0,039 0,030 1,046  
nhận  
Nghiên cứu còn sử dụng giá trị R-square  
để kiểm tra khả năng dự đoán của các cấu  
trúc nội sinh - phản ánh giá trị các mối quan  
hệ trong mô hình. Giá trị của rủi ro nhận thức  
(0,292) được đánh giá là đáng kể. Trong khi  
đó, giá trị của cảm nhận tương thích (0,510),  
ý định mua sắm hợp kênh (0,660) được xem  
là khá mạnh đối với các nghiên cứu liên quan  
đến hành vi người tiêu dùng theo như ý kiến  
của nhiều nhà nghiên cứu như Henseler &  
cộng sự (2009), Hair & cộng sự (2016). Cuối  
cùng, kết quả phân tích cũng cho thấy các  
biến cảm nhận tương thích, rủi ro nhận thức,  
giá trị cảm nhận hành vi showrooming và  
webrooming có thể giải thích được 56% giá  
trị biến thiên của ý định khởi tạo nội dung  
người dùng. Bảng 2 thể hiện các kết quả  
kiểm định giả thuyết nghiên cứu.  
Chấp  
0,380 0,078 0,000 2,298  
nhận  
Chấp  
nhận  
H10 0,343 0,079 0,000 2,656  
H11 0,748 0,033 0,000 1,000  
Chấp  
nhận  
Ngoài ra, nghiên cứu này còn quan tâm và  
xác nhận vai trò trung gian của biến số ý định  
tham gia mua sắm hợp kênh của người tiêu  
dùng trong các mối quan hệ đối ứng của mô  
hình nghiên cứu. Các đề xuất của Peacher &  
Hayes (2008) đã được thực hiện với kết quả  
được trình bày trong Bảng 3. Cụ thể, 0 không  
xuất hiện trong các kết quả của khoảng tin  
cậy Bootstrap và các tác động gián tiếp cụ  
thể đều đạt ý nghĩa thống kê (Zhao & cộng  
sự, 2010).  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
Bảng 4. Kiểm tra các ảnh hưởng trung gian  
theo Percher & Hayer (2008)  
tìm kiếm, giá trị cảm nhận tính tương thích  
và rủi ro nhận thức. Nhìn chung, kết quả thực  
nghiệm được xem là phù hợp với nền tảng lý  
thuyết và các nghiên cứu trước đây trong bối  
cảnh bán lẻ hợp kênh. Cụ thể, việc người tiêu  
dùng có cảm nhận tích cực về các hành vi  
showrooming và webrooming sẽ giúp gia  
tăng khả năng tham gia mua sắm hợp kênh  
của họ. Đây có thể được xem là phù hợp với  
kết quả nghiên cứu của Kang (2019) về bán  
lẻ hợp kênh tại Mỹ. Vai trò quan trọng của  
giá trị cảm nhận trong việc dự báo ý định  
hành vi của người tiêu dùng đã được thừa  
nhận bởi nhiều nhà nghiên cứu (Kleijnen &  
cộng sự, 2007; Jalin & cộng sự, 2016). Theo  
đó, giá trị mà khách hàng cảm nhận được là  
kết quả của việc đánh giá các lợi ích cũng  
như rủi ro khi mua và sử dụng một sản phẩm  
hay dịch vụ. Đối với môi trường bán lẻ hợp  
kênh, các hành vi mua sắm tìm kiếm như  
showrooming và webrooming có thể mang  
lại lợi ích cho người tiêu dùng bằng việc  
cung cấp những thông tin hữu ích hỗ trợ cho  
việc ra quyết định. Người tiêu dùng có mức  
độ tìm kiếm thông tin cao sẽ có nhiều khả  
năng sử dụng nhiều kênh khác nhau trong  
quá trình mua sắm so với những người có  
mức độ tìm kiếm thông tin thấp (Kwon &  
Jin, 2009). Ngoài ra, việc người tiêu dùng  
cảm nhận mức độ tương thích khi chuyển đổi  
giữa các kênh bán hàng ảnh hưởng tích cực  
đến ý định mua sắm của họ trong môi trường  
bán lẻ hợp kênh. Điều này được xem là phù  
hợp với kết quả của Shi & cộng sự (2020).  
Khách hàng có xu hướng phụ thuộc vào các  
trải nghiệm mua sắm trước đây của mình có  
được với một kênh cụ thể để đánh giá xem  
liệu có thể tham gia vào một hình thức mua  
sắm mới hay không (Cook, 2014). Tương tự,  
ý định mua sắm hợp kênh của người tiêu  
dùng bị ảnh hưởng tiêu cực bởi những rủi ro  
mà họ nhận thức được trong quá trình mua  
sắm trên các kênh khác nhau. Kết quả này  
không chỉ tương đồng với kết quả của Shi &  
Ảnh 95% khoảng  
hưởng tin cậy của  
Mối quan hệ  
p-value  
gián  
ảnh hưởng  
gián tiếp  
tiếp  
Cảm nhận rủi  
roÝ định mua  
sắm hợp kênh  
Ý định khởi tạo  
nội dung người  
dùng  
[-0,120;  
-0,005]  
-0,063  
0,129  
0,030  
Cảm nhận tính  
tương thíchÝ  
định mua sắm  
[0,034;  
0,236]  
0,013  
0,000  
hợp kênh  
Ý
định khởi tạo nội  
dung người dùng  
Cảm nhận giá trị  
của  
showrooming  
[0,168;  
0,404]  
Ý định mua sắm 0,285  
hợp kênh  
Ý
định khởi tạo nội  
dung người dùng  
Cảm nhận giá trị  
của  
webroomingÝ  
định mua sắm 0,257  
[0,135;  
0,388]  
0,000  
hợp kênh  
Ý
định khởi tạo nội  
dung người dùng  
5. Thảo luận  
Nghiên cứu này làm sáng tỏ các tiền đề  
thúc đẩy ý định khởi tạo nội dung người  
dùng thông qua vai trò trung gian của ý định  
tham gia mua sắm hợp kênh của người tiêu  
dùng trẻ tuổi. Từ các kết quả thực nghiệm  
được trình bày ở phần trên, có ba điểm đáng  
chú ý cần được bàn luận như sau:  
Đầu tiên, nghiên cứu xác nhận các yếu tố  
ảnh hưởng đến ý định tham gia mua sắm hợp  
kênh của người tiêu dùng trẻ tuổi bao gồm:  
giá trị cảm nhận của các hành vi mua sắm  
91  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
cộng sự (2020) mà còn được giải thích trong  
kênh. Cụ thể, tính kết nối, tính tích hợp, tích  
nhất quán giữa các kênh làm gia tăng cảm  
nhận tương thích của người tiêu dùng khi  
chuyển đổi giữa các kênh khác nhau của nhà  
bán lẻ. Ngược lại tính nhất quán, tính cá nhân  
hóa càng cao có thể giúp người tiêu dùng  
giảm đi những rủi ro nhận thức khi tham gia  
mua sắm hợp kênh. Đặc biệt, trong nghiên  
cứu này, giả thuyết tính linh hoạt tác động  
tiêu cực đến rủi ro nhận thức của người tiêu  
dùng khi mua sắm hợp kênh bị bác bỏ. Kết  
quả này tương đồng với các nghiên cứu của  
Merschmann & Thonemann (2011), Shi &  
cộng sự (2020). Các nhà nghiên cứu này cho  
rằng tính linh hoạt giữa các kênh càng cao dễ  
dẫn đến sự không chắc chắn cao. Điều này  
cũng dễ dàng nhận thấy thông qua quá trình  
mua hàng thực tế khi nhà bán lẻ hợp kênh  
cung cấp nhiều sự linh hoạt hơn để cho phép  
chuyển đổi giữa các kênh, người tiêu dùng có  
thể cảm nhận rằng việc này chứa nhiều rủi ro  
vì những nguyên nhân như lỗi hệ thống, quá  
trình chờ đợi khi chuyển đổi giữa các kênh.  
nhiều nghiên cứu về tâm lý học hành vi.  
Đáng chú ý, Herhausen & cộng sự (2015),  
Xu & Jackson (2019) cho rằng trong môi  
trường bán lẻ hiện đại, các khách hàng có thể  
cảm nhận sự không chắc chắn như những rủi  
ro mà họ phải chịu trong suốt quá trình mua  
sắm liên quan đến sự không minh bạch trong  
thông tin, sự không đồng nhất giữa các kênh  
và việc bảo mật thông tin.  
Thứ hai, kết quả thực nghiệm cho phép  
xác nhận vai trò trung gian của biến số ý định  
tham gia mua sắm hợp kênh của người tiêu  
dùng trong các mối quan hệ đối ứng giữa ý  
định khởi tạo nội dung người dùng và các  
biến số liên quan đến cảm nhận của người  
tiêu dùng trong mô hình nghiên cứu. Đây có  
thể xem là điểm mới của nghiên cứu này, bổ  
sung vào khoảng trống các các nghiên cứu  
trước đó. Có thể nói rằng, nội dung do người  
dùng khởi tạo là một trong những yếu tố  
quan trọng trong chiến lược tiếp thị ngày  
nay, giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh  
tranh thông qua việc tăng tính xác thực và  
củng cố niềm tin cho người tiêu dùng. Trong  
suốt tiến trình mua sắm, người tiêu dùng tích  
cực tìm kiếm thông tin trên các kênh khác  
nhau của nhà bán lẻ để hỗ trợ việc ra quyết  
định và có sự tương tác với những người  
dùng khác thông qua nội dung người dùng  
như đánh giá sản phẩm, phản hồi sử dụng  
trên các nền tảng sử dụng internet. Do đó,  
điều này sẽ khuyến khích người tiêu dùng  
sáng tạo nội dung người dùng xuất phát từ  
những động cơ cá nhân (Daugherty & cộng  
sự, 2008).  
6. Hàm ý nghiên cứu  
Về mặt học thuật, nghiên cứu giúp hệ  
thống hóa lý thuyết về ý định tạo lập nội  
dung người dùng trong môi trường bán lẻ  
hợp kênh và giải thích cơ chế hành vi tham  
gia vào hình thức mua sắm này của người  
tiêu dùng trẻ tuổi. Thông qua kiểm chứng  
thực nghiệm, nghiên cứu góp phần làm  
phong phú thêm tài liệu liên quan đến bán lẻ  
hợp kênh tại Việt Nam, bằng việc làm sáng  
tỏ các tiền đề thúc đẩy ý định tham gia mua  
sắm hợp kênh của người tiêu dùng, qua đó  
giải thích ý định khởi tạo nội dung người  
dùng của họ. Đặc biệt, dựa trên lý thuyết  
khuếch tán đổi mới (IDT) của Rogers (2010)  
và lý thuyết triển vọng của Kahneman &  
Tversky (1979), nghiên cứu này đi sâu kiểm  
chứng vai trò của các kỳ vọng của khách  
hàng về trải nghiệm mua sắm hợp kênh đến  
các nhận thức về tính tương thích, về các giá  
Thứ ba, những kỳ vọng của người tiêu  
dùng về trải nghiệm mua sắm hợp kênh đã  
được xác nhận là có tác động đến sự tương  
thích cũng như các rủi ro mà họ có thể cảm  
nhận trong suốt quá trình mua sắm trên nhiều  
kênh bán lẻ khác nhau, vốn được thừa nhận  
là các tiền đề quan trọng thúc đẩy ý định  
tham gia vào phương thức mua sắm hợp  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
trị của hành vi mua sắm tìm kiếm và về các  
dùng chuyển đổi giữa các kênh bán lẻ khác  
nhau trong cùng một nhà cung cấp mà còn  
hạn chế hiện tượng chuyển đổi kênh giữa các  
nhà bán lẻ khác nhau - thường được biết đến  
dưới tên gọi “hành vi mua sắm tìm kiếm  
cạnh tranh” (Neasar & Sabir, 2016). Thật  
vậy, phương thức bán lẻ hợp kênh làm mờ  
các ranh giới tự nhiên giữa các kênh trực  
tuyến và trực tiếp (Juaneda-Ayensa & cộng  
sự, 2016; Kang, 2018). Do đó người quản lý  
cần phải đảm bảo rằng sự nhất quán luôn  
được đảm bảo trên các kênh thông qua hoạt  
động tích hợp ở các khía cạnh như: giá, sản  
phẩm, cổ động xúc tiến, thông tin giao dịch  
và truy cập, đáp ứng đơn hàng cũng như dịch  
vụ khách hàng theo như đề xuất của Zhang &  
cộng sự (2018). Qua đó, với hành vi mua  
sắm tìm kiếm, người tiêu dùng mà cụ thể ở  
đây là nhóm đối tượng trẻ tuổi có thể vừa  
thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu thông tin về sản  
phẩm, các trải nghiệm mua hàng của những  
khách hàng khác nhưng đồng thời cũng tận  
dụng được những ưu thế của phương thức  
mua sắm hợp kênh để đạt được tính hiệu quả  
trong các quyết định mua hàng cuối cùng.  
Đặt trong bối cảnh cụ thể về lĩnh vực bán lẻ  
mặt hàng thời trang và phụ kiện, là ngành có  
sức cạnh tranh lớn đòi hỏi các nhà cung cấp  
phải đem đến những trải nghiệm tốt nhất cho  
khách hàng trong cả ba giai đoạn trước, trong  
và sau khi mua. Các hành vi mua sắm tìm  
kiếm như showrooming và webrooming là  
hoàn toàn có thể hiểu được để hoàn thiện trải  
nghiệm mua hàng của người tiêu dùng với  
mặt hàng cần có sự đánh giá dựa trên nhiều  
yếu tố thực tiễn. Để có trải nghiệm tốt hơn ở  
giai đoạn sau mua, các nhà bán lẻ có thể áp  
dụng hình thức phân phối chéo kênh như  
hình thức mua hàng trực tuyến, nhận tại cửa  
hàng hay nhận tại nhà với các mặt hàng đặt  
trực tiếp tại cửa hàng, đổi trả các mặt hàng đã  
mua trực tuyến tại các cửa hàng (Nesar &  
Sabir, 2016). Tất cả những điều này có thể  
gia tăng ý định tham gia vào hình thức mua  
rủi ro khi mua sắm trên các kênh bán lẻ khác  
nhau. Nghiên cứu này quan tâm đến những  
người tiêu dùng trẻ thuộc thế hệ Y và Z (nằm  
trong độ tuổi từ 18 đến 38). Đây được xem là  
nhóm đối tượng khó tạo dựng sự trung thành  
với một nhà cung cấp nhất định, có sự cởi  
mở với những trải nghiệm mới và nhu cầu  
tìm kiếm thông tin hỗ trợ ra quyết định mua  
là khá cao (Lachman & Brett, 2013). Có thể  
thấy rằng, việc có một cái nhìn sâu hơn về  
các cơ chế hành vi của nhóm tuổi này mang  
lại một ý nghĩa đặc biệt đối với các nhà  
nghiên cứu vì họ là khách hàng chiếm đa số  
trong xu hướng bán lẻ hiện đại dưới sự hỗ trợ  
của công nghệ.  
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này cho thấy  
vai trò quan trọng của việc hiểu được những  
kỳ vọng của khách hàng về trải nghiệm mua  
sắm hợp kênh để thiết kế những chiến lược  
quản lý kênh bán hàng hiệu quả hơn. Cụ thể,  
các nhà bán lẻ cần chú trọng đến việc giảm  
thiểu rủi ro nhận thức của người tiêu dùng  
bằng cách tăng cường tính nhất quán về nội  
dung, quy trình và dịch vụ giữa các kênh;  
tăng tính cá nhân hoá thông qua việc cung  
cấp cho khách hàng các đề xuất giá trị liên  
quan đến giá, sản phẩm, ưu đãi, thông tin dựa  
trên hồ sơ và lịch sử mua hàng của họ. Đồng  
thời, các nhà quản lý cần nhận thức rõ ràng  
về tầm quan trọng của việc thúc đẩy cảm  
nhận tương thích giữa các kênh trong hệ  
thống để gia tăng ý định tham gia và sử dụng  
các lợi ích của bán lẻ hợp kênh của người  
tiêu dùng. Về khía cạnh này, điều cần thiết là  
tăng cường tính kết nối về nội dung tiếp thị,  
thông tin sản phẩm và thông tin truy cập giữa  
các kênh để đảm bảo tính liền mạch trong  
hành trình trải nghiệm của khách hàng (ví dụ  
như khách hàng có thể truy cập vào kênh trực  
tuyến để kiểm tra thông tin về tồn kho tại cửa  
hàng). Bên cạnh đó, việc gia tăng hoạt động  
tích hợp kênh không chỉ góp phần gia tăng  
nhận thức về sự tương thích khi người tiêu  
93  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
sắm hợp kênh của giới trẻ. Cuối cùng, sẽ là  
tiêu dùng tạo ra các nội dung người dùng  
thông qua việc chia sẻ thông tin, đánh giá sản  
phẩm, mời bạn bè tham gia các hội nhóm  
người sử dụng, v..v sẽ giúp các khách hàng  
khác hiểu rõ hơn về trải nghiệm mua sắm,  
chất lượng sản phẩm và dịch vụ được cung  
ứng của nhà bán lẻ (Li & cộng sự, 2014).  
Điều này góp phần tạo ra sự minh bạch về  
thông tin, nâng cao uy tín của thương hiệu  
cũng như thu hút thêm các khách hàng tiềm  
năng trong tương lai.  
rất quan trọng với các nhà bán lẻ nói chung  
và các nhà bán lẻ mặt hàng thời trang nói  
riêng nếu tận dụng các nội dung người dùng  
như một công cụ marketing hiệu quả để tạo  
ra giá trị ảnh hưởng lên các nhóm khách  
hàng hiện tại cũng như tiềm năng của doanh  
nghiệp. Cụ thể, khi tham gia vào hình thức  
mua sắm hợp kênh, người tiêu dùng có nhiều  
cơ hội để tương tác với những người dùng  
khác. Việc nhà bán lẻ khuyến khích người  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Hair Jr J. F., Sarstedt M., Ringle C. M. & Gudergan S. P. (2017), Advanced issues in partial  
least squares structural equation modelling, Sage Publications.  
Kang J. (2019), What drives omnichannel shopping behaviors, Journal of Fashion Marketing  
and Management: An International Journal, 23(2), 224-238.  
Kang J.Y.M. (2018), Showrooming, webrooming, and user-generated content creation in the  
omnichannel era, Journal of Internet Commerce, 17(2), pp.145-169.  
Shi S., Wang Y., Chen X. & Zhang Q. (2020), Conceptualization of omnichannel customer  
experience and its impact on shopping intention: A mixed-method approach, International  
Journal of Information Management, 50, 325-336.  
Verhoef P. C., Neslin S. A. & Vroomen B. (2007), Multichannel customer management:  
Understanding the research-shopper phenomenon, International journal of research in  
marketing, 24(2), 129-148.  
Zhang M., Ren C., Wang G. A. & He Z. (2018), The impact of channel integration on  
consumer responses in omni-channel retailing: The mediating effect of consumer  
empowerment, Electronic commerce research and applications, 28, 181-193.  
94  
pdf 16 trang baolam 19840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố thúc đẩy ý định khởi tạo nội dung người dùng của giới trẻ trong bán lẻ hợp kênh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_thuc_day_y_dinh_khoi_tao_noi_dung_nguoi_dung_cua.pdf