Cộng đồng người Việt ở Khăm Muộn (Lào) - Cầu nối của quan hệ hợp tác hữu nghị quảng Bình - Khăm Muộn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TẠP CHÍ KHOA HỌC
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 74 (02/2021)
SAIGON UNIVERSITY
SCIENTIFIC JOURNAL
OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở KHĂM MUỘN (LÀO) - CẦU NỐI CỦA
QUAN HỆ HỢP TÁC HỮU NGHỊ QUẢNG BÌNH - KHĂM MUỘN
The Vietnamese community in Khammuane (Laos) - a connection to
Quảng Bình - Khammuane peaceful cooperation
ThS. Lại Thị Hương
Trường Đại học Quảng Bình
TÓM TẮT
Cộng đồng người Việt có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, xã hội của tỉnh Khăm Muộn (Lào). Trong
nửa đầu thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân, khá đông người Việt ở Quảng Bình đã sang Khăm Muộn
(Lào) trú ngụ và dần ổn định cuộc sống. Tại đây, họ lập nên các làng bản và tổ chức Hội Việt kiều tỉnh
Khăm Muộn, từ đó có nhiều đóng góp trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác hai tỉnh Quảng Bình và
Khăm Muộn cũng như mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, góp phần vào việc bảo lưu văn hóa truyền
thống, hòa nhập văn hóa của cộng đồng người Việt vào xã hội Lào.
Từ khóa: cộng đồng người Việt, Hội Việt kiều Khăm Muộn, hợp tác, Quảng Bình
ABSTRACT
The Vietnamese community has an important role in the economy and society of Khammuane province.
In the first half of the twentieth century, due to many reasons, a large number of Vietnamese, mainly
Quảng Bình people, moved to Khammuane (Laos) to settle and gradually stabilize their lives. In there,
they established their villages and organized the Overseas Vietnamese Association in Khammuane
province, thereby making a lot of contribution to the promotion of Quảng Bình - Khammuane peaceful
cooperation as well as the special relationship between Vietnam and Laos. This can also contribute to
the preservation of traditional culture and cultural integration of the Vietnamese community into
Laotian society.
Keywords: Vietnamese community, Overseas Vietnamese Association in Khammuane, Quảng Bình
khu vực đồng bằng; trong đó đồi núi chiếm
53,7% (Ủy ban nghiên cứu, biên soạn và
viết lịch sử tỉnh Khăm Muộn, 2015, tr.7).
Khăm Muộn có nhiều đỉnh núi cao, tiêu
biểu là dãy núi Phu Luông (dãy núi Trường
Sơn) với độ cao trung bình là 500 - 700m
so với mực nước biển, chiều dài khoảng
1.100km (dài nhất Lào) được coi là “nóc
nhà”, “xương sống” của bán đảo Đông
Dương, nằm giữa ba quốc gia Việt Nam,
1. Khái quát về tỉnh Khăm Muộn và
sự di cư của người Việt đến Khăm Muộn
Khăm Muộn là tỉnh nằm ở Trung Lào,
có diện tích 16.315km2, tổng dân số năm
2018 là 420.950 người. Toàn tỉnh có 10
huyện, thị xã. Thị xã Thà Khẹt là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng - an
ninh của tỉnh. Địa hình của Khăm Muộn
tương đối phức tạp, được chia thành hai
khu vực riêng biệt: khu vực miền núi và
Email: [email protected]
40
LẠI THỊ HƯƠNG
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Lào, Campuchia với hai vùng chính là Bắc
và Nam Trường Sơn. Mặt khác, tỉnh Khăm
Muộn có Quốc lộ 13 chạy xuyên suốt Bắc -
Nam, có Đường 12 từ thị xã Thà Khẹt đến
biên giới Việt Nam ở phía Đông qua Cửa
khẩu Naphao - Cha Lo. Sông Mê Kông là
biên giới với Thái Lan, là điểm nối vùng
Đông Bắc Thái Lan với Khăm Muộn và
Bắc Trung Bộ Việt Nam. Khăm Muộn là
tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong
phú, như mỏ đá quý ở Xê Băng Phay, mỏ
muối ở Nông Bốc, mỏ thạch cao ở Bua La
Pha, mỏ đá vôi ở Ma Hả Xây, mỏ than đá ở
Thà Khẹt, mỏ sắt ở Hín Bún, v.v.
Với những điều kiện nói trên, Khăm
Muộn có điều kiện thuận lợi để phát triển
đa dạng các ngành kinh tế công thương
nghiệp. Do nằm giữa hai vùng kinh tế lớn
của Lào là Viêng Chăn và Savannakhet,
nên Khăm Muộn có điều kiện để tăng
cường giao thương, thúc đẩy phát triển
kinh tế - văn hóa.
Việc di cư của người Việt tới Lào đã
diễn ra từ lâu trong lịch sử. Theo các tài
liệu có ghi chép, người Việt di cư đến Lào
bắt đầu từ thời phong kiến nhưng lúc bấy
giờ còn mang tính tự phát, diễn ra lẻ tẻ, số
lượng ít.
Đến cuối thế kỷ XIX, khi Pháp đặt ách
thống trị ở Lào, việc di cư của người Việt
Nam sang Lào được tăng cường. Dưới thời
cai trị của Toàn quyền Paul Doumer (1902-
1907), chương trình khai thác thuộc địa lần
thứ nhất đã được triển khai ở Đông Dương.
Trong thời kỳ này, để thực hiện việc xây
dựng bộ máy cai trị và tổ chức hành chính,
chính quyền thực dân Pháp đã tổ chức
những cuộc tuyển mộ binh lính, viên chức
người Việt làm thư ký, thông ngôn, giáo
viên... tại Lào. Vì vậy, số lượng người Việt
làm việc ở Lào tăng lên nhanh chóng. Theo
tài liệu của Tiểu ban Căn cước thời Pháp
thuộc, chỉ riêng từ năm 1921 đến năm
1925, có đến gần 5.000 người Quảng Bình
di cư đến các nơi khác làm ăn, trong đó có
nhiều người qua Lào (Ủy ban nghiên cứu,
biên soạn và viết lịch sử tỉnh Khăm Muộn,
2015, tr.22).
Ngoài nguyên nhân kinh tế (do nghèo
đói, đi làm ăn), người Việt sang Lào còn có
nguyên nhân chính trị (trốn sự truy lùng,
đàn áp của Pháp, phong kiến; hoạt động
cách mạng), và nhiều người trong số họ
còn chọn Lào làm nơi trung chuyển để
sang Thái Lan (Ủy ban nghiên cứu, biên
soạn và viết lịch sử tỉnh Khăm Muộn,
2015, tr.82).
Trong thời gian đầu của kháng chiến
chống Pháp, quá trình di dân của người
Việt tiếp tục diễn ra. Cuối năm 1945, thực
dân Pháp chiếm lại một số vùng ở Trung,
Thượng Lào và các vùng đất ở Nam vĩ
tuyến 16. Đến tháng 3/1946, Pháp đánh
chiếm nhiều tỉnh của Lào, trong đó có Thà
Khẹt. Tại đây, quân Pháp vấp phải sự
chống trả quyết liệt của lực lượng vũ trang
Lào phối hợp với lực lượng vũ trang của
Việt kiều Giải phóng quân. Cuộc chiến
diễn ra ác liệt, nhất là trận chiến phòng thủ
Thà Khẹt diễn ra ngày 21/3/1946. Chỉ
trong vòng một ngày, hơn 3.000 dân
thường cả người Lào và Việt (phần lớn là
Việt kiều) đã bị hy sinh (Thị xã Thà Khẹt
tỉnh Khăm Muộn - Cách mạng mùa thu
năm 1945, 1990, tr.51). Do so sánh lực
lượng bất lợi cho liên quân Lào - Việt,
Tổng Tư lệnh liên quân Lào - Việt là
Hoàng thân Souphanouvong buộc phải ra
lệnh vừa chiến đấu vừa rút lui qua sông Mê
Kông sang Thái Lan. Sau đó, phần lớn Việt
kiều ở lại Thái hoặc tiếp tục sang định cư ở
các nước, một bộ phận quay trở lại Lào (thị
xã Thà Khẹt tỉnh Khăm Muộn - Cách mạng
mùa thu năm 1945, 1990, tr.53-54).
41
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
Trong những năm chống Mỹ, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, số lượng người
Việt di cư sang Lào không đáng kể. Đến
sau năm 1975, khi Lào và Việt Nam được
giải phóng hoàn toàn, xây dựng đất nước
theo con đường xã hội mới, lúc này số
lượng người Việt đến Lào tăng nhanh.
Ngày 18/7/1977, hai nước Việt Nam - Lào
ký kết Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, đánh
dấu bước phát triển mới của mối quan hệ
đặc biệt, toàn diện Việt Nam - Lào. Với
tinh thần giúp bạn là tự giúp mình, Việt
Nam đã cử cán bộ, chuyên gia sang giúp
Lào xây dựng các công trình phát triển
kinh tế - xã hội như đường giao thông, cầu
cống, các công trình thủy điện, v.v. Khi
công trình kết thúc, một bộ phận nhỏ công
nhân đã tìm cách ở lại Lào. Tiếp đó là
những người di cư tự do đến Lào để tìm
kiếm công việc làm ăn theo mùa vụ, những
người này đang ngày một tăng cùng với
quá trình phát triển kinh tế của Lào.
Theo ước tính, hiện nay có hơn
50.000 người Việt đang làm ăn, sinh sống
tại Lào (Báo cáo số 08 - BC/TU, tr.3). Tuy
nhiên, số lượng này thường xuyên thay
đổi vì có những bộ phận chỉ sang Lào làm
ăn theo thời vụ rồi trở về quê. Khăm
Muộn là tỉnh có khá đông người Việt cư
trú, trong đó cư dân Quảng Bình chiếm
hơn 90%, tập trung ở huyện Nông Bốc
(nhiều nhất là ở Xiềng Vang) và thị xã
Thà Khẹt (Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt
Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1939-2007),
2010, tr.272). Tại những khu vực này, có
những gia đình người Việt đã trải qua
nhiều thế hệ sinh sống. Vì lẽ đó, Khăm
Muộn (Lào) đã trở thành quê hương thứ
hai của họ. Trong quá trình cộng cư ở
Lào, những người Việt này đã tạo nên một
cộng đồng người Việt Nam với những
hoạt động đặc trưng của mình.
2. Những hoạt động chính của cộng
đồng người Việt ở Khăm Muộn nhằm
kết nối mối quan hệ hợp tác hữu nghị
Khăm Muộn - Quảng Bình
2.1. Hoạt động kinh tế của cộng đồng
người Việt ở Khăm Muộn
Người Việt tại Khăm Muộn đã thành
lập được tổ chức chung của mình vào cuối
năm 1979, với tên gọi là Hội Việt kiều tỉnh
Khăm Muộn. Hội Việt kiều tại tỉnh Khăm
Muộn hiện có ba chi hội với khoảng 400
gia đình và hơn 2.000 người đang làm ăn
sinh sống (Báo cáo số 08-BC/TU, tr.3).
Người Việt ở Khăm Muộn sống tập trung
tại hai địa điểm chính là thị xã Thà Khẹt và
bản Xiềng Vang - một địa chỉ “đỏ” của
cách mạng Đông Dương. Với đức tính cần
cù, chăm chỉ, sáng tạo trong lao động,
người dân Việt ở Khăm Muộn sống bằng
nhiều nghề khác nhau, tiến hành hoạt động
kinh tế khác nhau và là thành phần đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của
tỉnh Khăm Muộn nói riêng, nước Lào nói
chung.
Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ:
Trong cộng đồng người Việt tại Khăm
Muộn, số đông là kinh doanh, buôn bán và
có cuộc sống tương đối ổn định. Có những
người trở thành những “đại gia” có tiếng ở
Thà Khẹt như ông Phạm Văn Hoàn - người
đứng ra xây dựng chợ Km số 3 tại thị xã
Thà Khẹt (còn được gọi là Chợ Việt kiều).
Chợ Việt kiều tỉnh Khăm Muộn có từ 60
đến 70% người Việt là chủ các sạp hàng.
Hoạt động buôn bán của người Việt tại tỉnh
Khăm Muộn tương đối phong phú, gồm
các cấp độ từ lớn đến nhỏ: 1) những cửa
hàng buôn bán các mặt có vốn đầu tư lớn
với thu nhập hàng tháng thường từ
4.000.000 đến 5.000.000 kíp trở lên (1 kíp
= 2.500VNĐ); 2) loại hình buôn bán có
cửa hàng cửa hiệu, quầy hàng cố định
42
LẠI THỊ HƯƠNG
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
trong các chợ lớn với thu nhập bình quân
hàng tháng dao động từ 3.000.000 đến
4.000.000 kíp/tháng; 3) các cửa hàng buôn
bán nhỏ với thu nhập bình quân hàng tháng
dao động từ 1.000.000 đến 1.500.000
kíp/tháng (Phạm Đức Thành, 2008, tr.19).
Sự ra đời và hoạt động của chợ Km số 3 có
ý nghĩa tích cực trong việc kích thích giao
thương, buôn bán và phát triển kinh tế của
cộng đồng người Việt nói riêng (ở Khăm
Muộn) cũng như nền kinh tế tỉnh Khăm
Muộn nói chung.
điểm dừng chân quen thuộc với những
đoàn khách từ Việt Nam sang. Khách sạn
nằm bên bờ sông Mê Kông, gần với các
điểm tham quan du lịch, có đội ngũ nhân
viên người Lào và người Việt có thể giao
dịch được các ngôn ngữ Lào, Việt, Anh -
một lợi thế giúp cho việc kinh doanh hiệu
quả hơn.
Hiện nay, nhiều Việt kiều ở Khăm
Muộn đã và đang tham gia một số dự án
phát triển du lịch trong khuôn khổ Tiểu vùng
sông Mê Kông với tiêu đề “ba quốc gia, bảy
thành phố” (Việt Nam, Lào, Thái Lan).
Trong lĩnh vực nông - công nghiệp,
người Việt tại Khăm Muộn cũng tiến hành
các hoạt động kinh tế tương đối hiệu quả.
Về nông nghiệp, tại Khăm Muộn chỉ
có bộ phận người Việt ở làng Xiềng Vang
(huyện Noong Bốc) - còn gọi với tên Làng
Việt kiều (khoảng 30% dân số) vẫn duy trì
và phát triển hoạt động kinh tế nông
nghiệp. Trước năm 1993, do luật định của
Chính phủ Lào không cho phép người
nước ngoài cư trú ở Lào được sở hữu ruộng
đất, nên người Việt ở đây phải thuê đất của
người Lào để làm ruộng. Từ sau năm 1993,
với những thay đổi trong chính sách của
Nhà nước Lào về vấn đề dân nhập cư, cộng
đồng người Việt ở làng Xiềng Vang được
nhập quốc tịch Lào, điều này đã khuyến
khích tinh thần hăng hái sản xuất của cộng
đồng cư dân Việt tại đây. Cuộc sống của cư
dân làng Việt kiều ngày một ổn định. Tuy
nhiên, với số hộ gia đình làm nông nghiệp
tương đối ít, nông nghiệp không trở thành
hoạt động kinh tế chủ đạo của cộng đồng
người Việt tại đây.
Bên cạnh đó còn có những người Việt
tham gia vào loại hình dịch vụ vận tải.
Theo lời ông Trần Văn Thọ - nguyên Chủ
tịch Hội người Việt kiều tỉnh Khăm Muộn,
trong quá trình định cư sinh sống tại Lào,
nhiều gia đình người Việt đã phát triển
mạnh hoạt động kinh tế tư nhân. Tính đến
thời điểm năm 2019, điển hình có gia đình
ông Phạm Văn Chính kinh doanh vật liệu
xây dựng, xăng dầu; ông Đoàn Văn Thung
là chủ của một xưởng tiện và cơ sở vận tải
với hơn 20 chiếc xe hơi các loại. Gia đình
ông Trần Văn Thọ (nguyên Chủ tịch Hội)
đã trải qua năm thế hệ sinh ra và lớn lên tại
đất nước Triệu Voi, cũng là những doanh
nhân thành đạt (Tư liệu điền dã của tác giả
tại Khăm Muộn tháng 4/2019).
Cùng với buôn bán, người Việt tại
Khăm Muộn còn tham gia các hoạt động
dịch vụ như mở cửa hàng ăn uống nhỏ,
khách sạn, nhà hàng, v.v. Trong đó, đáng
chú ý là lĩnh vực dịch vụ ẩm thực. Tại
Khăm Muộn, các cửa hàng ăn uống dưới
dạng hàng cơm bình dân của người Việt
chiếm tỉ lệ khá cao. Ngoài ra, kinh doanh
khách sạn cũng là một trong những nghề
phát đạt ở Khăm Muộn. Một số khách sạn
nổi tiếng được khách du lịch, nhất là người
Việt Nam khi đến Thà Khẹt nhắc là khách
sạn Mê Kông. Đây là một trong những
Về thủ công nghiệp, người Việt tại
Khăm Muộn thành thạo nhiều nghề thủ
công khác nhau, phần lớn những nghề
mang tính gia truyền như mộc, rèn, gò hàn,
sửa chữa máy móc, v.v. Những nghề thủ
43
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
công này đưa lại nguồn thu đáng kể cho
các gia đình người Việt tại đây. Đặc biệt,
nghề làm bánh gai và sợi phở của người
Việt ở làng Xiềng Vang khá nổi tiếng.
Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Vân - một
trong những người lớn tuổi ở làng thì nghề
này xuất phát từ cư dân Quảng Bình sang
(Tư liệu điền dã của tác giả tại Khăm
Muộn tháng 4/2019). Nhiều bạn trẻ và
Meksavanh - một học sinh Lào từng tham
gia học tập tại Việt Nam, hiện làm việc tại
nhà lưu niệm Hồ Chí Minh tại Xiềng Vang
nói rằng “Ai sang Khăm Muộn mà không
được ăn bánh gai có nghĩa là chưa đến
Khăm Muộn” (Tư liệu điền dã của tác giả
tại Khăm Muộn tháng 4/2019).
đoạn mới hiện nay.
2.2. Hoạt động văn hóa - xã hội của
cộng đồng người Việt ở Khăm Muộn
Sự ra đời và hoạt động tích cực của
Hội Việt kiều có ý nghĩa to lớn trong việc
thúc đẩy và phát triển các hoạt động văn
hóa - xã hội của cộng đồng người Việt tại
Khăm Muộn cũng như ở Lào nói chung.
Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Hội, các
hội viên được thường xuyên tham gia
những sinh hoạt xã hội mang tính dân tộc
trong cộng đồng. Đặc biệt, Hội còn giúp
cộng đồng Việt kiều nhận thức được nhiệm
vụ quan trọng của từng thành viên trong
việc phát huy tình đoàn kết, giúp đỡ,
thương yêu nhau, bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, nêu
cao tinh thần yêu nước và không ngừng
hướng về quê hương.
Năm 1982, với sự chấp thuận của
chính quyền sở tại, Hội đã lãnh đạo cộng
đồng người Việt tại Khăm Muộn xây dựng
một trường tiểu học, số lượng ban đầu chỉ
gồm 2 lớp có 30 học sinh. Theo lời ông
Trần Văn Thọ, “Hồi đó các gia đình còn
nghèo lắm nhưng khi nói đến việc mở
trường dạy Tiếng Việt thì ai cũng háo hức
và nhiệt tình ủng hộ. Nhà nào khá giả thì
góp tiền vàng, khó khăn thì góp công, góp
gạo…” (Tư liệu điền dã của tác giả tại
Khăm Muộn tháng 4/2019). Dù còn nhiều
khó khăn vất vả, nhưng sự ủng hộ và đóng
góp của những cư dân người Việt xa xứ để
thành lập nên Trường Tiểu học Việt kiều
Thà Khẹt (nay đổi tên là Thống Nhất) là
một nỗ lực rất lớn, chứng minh rằng dù ở
bất cứ đâu, người Việt luôn có ý thức gìn
giữ truyền thống văn hóa, hướng về cội
nguồn. Việc giữ gìn truyền thống văn hóa
của dân tộc được thể hiện trước hết về
ngôn ngữ, tiếng Việt trong cộng đồng
người Việt ở Lào. Sau thời gian dài xây
Có thể thấy, những hoạt động kinh tế
của người Việt tại Khăm Muộn khá phong
phú về ngành nghề. Có được những hoạt
động kinh tế phong phú và đa dạng, người
Việt tại Khăm Muộn gặp nhiều thuận lợi,
đó là sự quan tâm và tạo điều kiện từ Nhà
nước Lào, sự gần gũi trong đời sống văn
hóa vật chất và tinh thần của cộng đồng cư
dân hai dân tộc Việt - Lào giúp người Việt
sớm thích nghi và hội nhập vào đời sống
kinh tế tại vùng đất mới. Đồng thời, những
hoạt động nói trên đã góp phần quan trọng
trong việc đảm bảo đời sống của cộng đồng
cư dân Việt tại Khăm Muộn và làm thay
đổi diện mạo bức tranh kinh tế truyền
thống của Lào. Một số dự án kinh tế của
người Việt trên đất Khăm Muộn đã góp
phần giải quyết công ăn việc làm cho chính
người dân Lào tại đây. Thông qua các hoạt
động kinh tế, sự gần gũi và hiểu biết giữa
nhân dân các địa phương Quảng Bình -
Khăm Muộn được tăng cường. Đây là điều
kiện thuận lợi để chính quyền hai tỉnh
Quảng Bình và Khăm Muộn có thể đưa ra
các chính sách phù hợp, thúc đẩy sự hợp
tác hơn nữa trên lĩnh vực kinh tế trong giai
44
LẠI THỊ HƯƠNG
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
dựng và phát triển, cùng với sự vững mạnh
của Hội Việt kiều Khăm Muộn, tính đến
năm học 2018-2019, số lượng học sinh
theo học tại ngôi trường này lên đến hơn
500 học sinh (Tư liệu điền dã của tác giả
tại Khăm Muộn tháng 4/2019).
giảng dạy ở đây. Toàn trường có trên 1350
học sinh thuộc 4 cấp học, trong đó, tỉ lệ học
sinh người Việt chiếm hơn 50% (Báo cáo
số 08-BC/TU, tr.4).
Trong hợp tác giáo dục giữa hai tỉnh
Quảng Bình và Khăm Muộn, nổi bật lên
vai trò của những người dạy tiếng Việt. Là
tỉnh kết nghĩa với Khăm Muộn, tỉnh Quảng
Bình đã cử giáo viên sang dạy tiếng Việt
theo định kỳ 3 năm tại Trường Hữu nghị
Khăm Muộn - Quảng Bình và Trường Tiểu
học Thống nhất. Trong chuyến thực tế tại
Khăm Muộn vào tháng 4 năm 2019, chúng
tôi đã được gặp gỡ và trò chuyện với
những giáo viên người Việt đang công tác
tại Trường Tiểu học Thống Nhất. Trong số
họ, có những người còn rất trẻ, như cô giáo
Đinh Thị Thơm (25 tuổi), sau khi tốt
nghiệp cử nhân Sư phạm Tiểu học tại
Trường Đại học Quảng Bình, cô đã sang
Khăm Muộn đến nay được hơn 2 năm.
Hoặc có những người đã “bám trụ” lại với
công việc dạy chữ ở đây khá lâu, như thầy
giáo Trương Văn Phương (quê ở Lệ Thủy,
Quảng Bình) sống, giảng dạy đến nay là 10
năm và đã đưa vợ (cũng là giáo viên) sang
dạy học (Tư liệu điền dã của tác giả tại
Khăm Muộn tháng 4/2019). Cuộc sống của
họ khá giản dị và với họ, được dạy tiếng
Việt cho con em Việt kiều là một hạnh
phúc rất lớn, bởi thông qua đó, họ đã góp
phần gìn giữ tiếng nói của quê hương
mình. Mặt khác, một trong những việc làm
quan trọng thúc đẩy hợp tác là Hội hữu
nghị Việt kiều Khăm Muộn kết hợp với
phòng đối ngoại (nay đổi thành Sở Ngoại
vụ) tỉnh Quảng Bình đã mở các lớp dạy
học tiếng Lào cho cán bộ giáo viên của tỉnh
Quảng Bình, nhờ vậy sự hiểu biết và giao
lưu, hợp tác lẫn nhau giữa nhân dân hai
tỉnh ngày càng dễ dàng hơn.
Mặt khác, từ sau ngày tỉnh Quảng
Bình được tái lập (31/7/1989) và việc
Quảng Bình kết nghĩa với Khăm Muộn đã
khiến cho những hoạt động đối ngoại hữu
nghị giữa hai tỉnh được đẩy mạnh. Một
trong những sợi dây gắn kết tình hữu nghị
giữa hai nước Việt - Lào cũng như hai tỉnh
Quảng Bình - Khăm Muộn chính là sự hợp
tác trong lĩnh vực giáo dục, đó là việc giúp
cho tỉnh bạn đào tạo đội ngũ cán bộ có chất
lượng. Cùng với Trường Tiểu học Thống
nhất, ở Khăm Muộn còn có Trường Hữu
nghị Quảng Bình - Khăm Muộn (được khởi
công xây dựng từ năm 2010). Đây là một
trong những cơ sở ghi dấu ấn cho mối quan
hệ hữu nghị hợp tác tác giữa hai tỉnh Quảng
Bình và Khăm Muộn. Ngoài việc cử giáo
viên sang dạy Tiếng Việt tại Trường Tiểu
học Thống Nhất, tỉnh Quảng Bình còn có
các chính sách hỗ trợ và giúp đỡ tỉnh Khăm
Muộn trong việc xây dựng Trường Hữu
nghị Quảng Bình - Khăm Muộn với tổng
kinh phí ban đầu hơn 9 tỷ đồng. Trong năm
2016 và 2017, tỉnh Quảng Bình đã hỗ trợ
tỉnh Khăm Muộn thêm kinh phí hơn 7 tỷ
đồng để xây dựng hệ thống nhà lớp học tại
Trường Hữu nghị Quảng Bình - Khăm
Muộn. Trong quá trình xây dựng và sửa
chữa Trường Hữu nghị Quảng Bình - Khăm
Muộn, cộng đồng cư dân Việt tại tỉnh Khăm
Muộn cũng có những đóng góp tích cực.
Trường Hữu nghị Khăm Muộn - Quảng Bình
là món quà của chính quyền và nhân dân tỉnh
Quảng Bình tặng tỉnh Khăm Muộn. Trường
hiện có 75 giáo viên, trong đó có 2 giáo
viên người Việt Nam tình nguyện sang
Trong các cộng đồng của người Việt
45
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
tại Lào nói chung và tại tỉnh Khăm Muộn
nói riêng, bản Xiềng Vang (huyện Nông
Bốc) là một điển hình. Bản này là nơi Bác
Hồ đã từng sống, hoạt động cách mạng
trong những năm 1928-1929. Tại đây,
Người đã soạn tài liệu tuyên truyền, mở
lớp dạy chữ, đào tạo cán bộ cách mạng cho
các Việt kiều yêu nước và những người
Lào tiến bộ. Để ghi nhớ công ơn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, được sự cho phép của
Chính phủ nước CHDCND Lào, vào năm
2009, Khu Lưu niệm Hồ Chí Minh bắt đầu
được xây dựng ngay tại vùng đất này trên
khuôn viên diện tích gần 2.000m² do 13 gia
đình cư dân Việt kiều Xiềng Vang hiến
tặng. Năm 2012, Khu lưu niệm Hồ Chí
Minh được khánh thành như là biểu tượng
tình cảm gắn kết mối quan hệ hữu nghị
giữa nhân dân hai nước. Nhà lưu niệm Chủ
tịch Hồ Chí Minh còn được coi là mái ấm
cho Hội Việt kiều hướng về quê hương,
cũng là điểm sáng cho tình hữu nghị Việt -
Lào mà mỗi người con Việt Nam khi đến
đất nước Triệu Voi đều ghé thăm.
Trong quá trình hoạt động, Hội Việt
kiều tỉnh Khăm Muộn cũng rất chú trọng
công tác giáo dục cho con em người Việt,
chú ý đến việc gìn giữ tiếng Việt và văn
hóa dân tộc. Năm 2009, trong chuyến thăm
và làm việc của Hội Việt kiều tỉnh Khăm
Muộn tại tỉnh Quảng Bình, Hội đã trao
tặng số tiền 600 USD cho Hội khuyến học
tỉnh Quảng Bình với mong muốn được góp
phần động viên, khuyến khích tinh thần
học tập của con em quê nhà (Báo cáo số
08-BC/ TU, tr.4). Hội cũng đã xây dựng
quỹ và làm công tác nhân đạo đối với quê
hương Quảng Bình như khi bị bão lụt vào
các năm 2013, 2014.
Tổng hội Việt kiều tại Lào tổ chức như các
hoạt động thể thao, văn nghệ chào mừng
các ngày lễ lớn của hai dân tộc, ủng hộ
phong trào đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ đồng
bào bị thiên tai, chăm lo khu lưu niệm Chủ
tịch Hồ Chí Minh tại bản Xiềng Vang, v.v.
Một việc làm rất có ý nghĩa của cộng đồng
người Việt tại tỉnh Khăm Muộn là thường
xuyên tổ chức các Hội diễn văn nghệ quần
chúng trong cộng đồng người Việt tại Lào.
Tuy chưa đạt trình độ nghệ thuật như mong
muốn, nhưng có thể nói đây là một biện
pháp thiết thực có hiệu quả của cộng đồng
người Việt đang làm ăn, sinh sống, công
tác và học tập tại tỉnh Khăm Muộn, nhằm
giáo dục truyền thống và ghi nhớ công ơn
to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với đất
nước cũng như vai trò của Người trong
việc vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt
Nam - Lào.
Có thể nói, việc người Việt tại Khăm
Muộn thông qua vai trò của Hội Việt kiều -
mở trường, lớp dạy tiếng Việt cùng với
những hoạt động cộng đồng được tổ chức
thường xuyên, có tác động rất lớn đến việc
gìn giữ văn hóa ngôn ngữ dân tộc trong thế
hệ trẻ Việt kiều. Những hoạt động trên
cũng động viên toàn thể hội viên là kiều
bào người Việt chấp hành tốt mọi chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước và được tặng thưởng nhiều bằng
khen, giấy khen từ Nhà nước Lào. Đây là
những việc làm có ý nghĩa thúc đẩy sự phát
triển của mối quan hệ hữu nghị giữa hai
tỉnh Quảng Bình và Khăm Muộn trong
tương lai.
3. Kết luận
Hai tỉnh Quảng Bình và Khăm Muộn
với hơn 180km đường biên giới chung, có
sự gần gũi về vị trí địa lý, có mối quan hệ
chặt chẽ nhiều mặt trong quá khứ cũng như
trong hiện tại, có nhiều nét tương đồng về
Cộng đồng Việt kiều tại Lào thông qua
tổ chức Hội của mình cũng đã tích cực
tham gia các hoạt động do Đại sứ quán,
46
LẠI THỊ HƯƠNG
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
điều kiện tự nhiên và văn hóa. Nhân dân
hai tỉnh có truyền thống đoàn kết hữu nghị
lâu đời. Vì lẽ đó, sự giao lưu giữa nhân dân
hai tỉnh Quảng Bình và Khăm Muộn sớm
được hình thành. Trong tiến trình lịch sử,
do nhiều nguyên nhân, một bộ phận người
Việt Nam đã di cư tới các vùng khác nhau
của Lào từng bước hình thành nên cộng
đồng Việt kiều ngày càng đông đảo ở một
số địa phương trên nước bạn, trong đó có
Khăm Muộn. Sự thân thiết, tính cởi mở của
người Lào cũng như sự quan tâm của chính
phủ hai nước Việt Nam, Lào đã tạo điều
kiện cho một bộ phận cư dân người Việt
hội nhập, trở thành một bộ phận của xã hội
Lào. Cùng với người Lào, người Việt đã
đóng góp nhiều mặt cho sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Lào.
Đồng thời, họ cũng đóng vai trò quan
trọng, là cầu nối thúc đẩy mối quan hệ hữu
nghị giữa hai tỉnh Quảng Bình và Khăm
Muộn nói riêng, quan hệ giữa hai nước
Việt Nam và Lào nói chung ngày càng trở
nên tốt đẹp hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương. (2017). Lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1939-2007). Tài liệu tuyên truyền. Hà Nội: NXB
Chính trị Quốc gia - Sự thật.
Nguyễn Thị Tuyết Nhung. (2016). Quá trình di cư và hoạt động chính trị - xã hội của
người Việt ở Lào. Hà Nội: Luận án Tiến sĩ Lịch sử, ĐHSP Hà Nội.
Singapo Sikhotchounamaly, Nguyễn Chánh. (1990). “Thị xã Thà Khẹt tỉnh Khăm Muộn -
Cách mạng mùa thu năm 1945”. Tài liệu lưu tại Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
bản Xiềng Vang, huyện Nong-Bốc.
Phạm Đức Thành. (2008). Vai trò của cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt
Nam - Lào. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.
Trần Văn Thọ. (2012). “Biên bản họp Ban chấp hành Hội người Việt tỉnh Khăm Muộn,
ngày 23 tháng 4 năm 2012”, Hội người Việt tỉnh Khăm Muộn.
Lương Duy Tâm. (1998). Địa lý - Lịch sử Quảng Bình, Bảo tàng Tổng hợp Quảng Bình.
Tỉnh ủy Quảng Bình. (28/10/2010). Báo cáo số 08 - BC/ TU “Đánh giá tình hình và quan
hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Bình với các địa phương nước CHDCND Lào”. Trung
tâm lưu trữ tỉnh ủy Quảng Bình.
Tư liệu điền dã của tác giả tại Khăm Muộn tháng 4/2019.
ຄະ ນະ ກຳ ມະ ກຳນ ຄນ ຄວຳ, ສງ ລວມ ແລະ ຂຽນ ປະ ຫວດ ສຳດ ຂອງ ແຂວງ ຄຳ ມວນ
(2015), "ປະ ຫວດ ຄວຳມ ເປນ ມຳ ຂອງ ແຂວງ ຄຳ ມວນ (ເມອງ ສ ໂຄດ ຕະ ບອງ ວດ
ທະ ນະ ທຳ ແຫງ ຊຳດ ບ ຮຳນ)", ສຳ ນກ ພມ ແຫງ ລດ (Ủy ban nghiên cứu, biên soạn
và viết lịch sử tỉnh Khăm Muộn. (2015). Lịch sử tỉnh Khăm Muộn (Lãnh thổ văn minh
quốc gia Sikhottabong cổ xưa), tr.7, 22, 82. Viêng Chăn: NXB Nhà nước).
Ngày nhận bài: 09/9/2020
Biên tập xong: 15/02/2021
Duyệt đăng: 20/02/2021
47
Bạn đang xem tài liệu "Cộng đồng người Việt ở Khăm Muộn (Lào) - Cầu nối của quan hệ hợp tác hữu nghị quảng Bình - Khăm Muộn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cong_dong_nguoi_viet_o_kham_muon_lao_cau_noi_cua_quan_he_hop.pdf

