Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1986 đến 2015

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0016  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 1, pp. 136-146  
CHUYỂN BIẾN TRONG HOẠT ĐỘNG TRỒNG TRỌT CỦA KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH  
NGƯỜI CƠ HO SRÊ Ở LÂM ĐỒNG TỪ 1986 ĐẾN 2015  
Phan Văn Bông  
Khoa Tự nhiên và Xã hội, Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt  
Tóm tắt. Lâm Đồng là tỉnh thuộc khu vực Nam Tây Nguyên với nhiều đồng bào dân tộc  
thiểu số sinh sống, trong đó có nhóm người Cơ ho Srê. Hoạt động trồng trọt, đóng vai trò  
quan trọng trong kinh tế các hộ gia đình Cơ ho Srê. Nhìn chung từ 1986-2015, hoạt động  
trồng trọt của họ đã có những chuyển biến tích cực so với trước, giúp đời sống các hộ gia  
đình được nâng lên. Tuy vậy sự phát triển trong trồng trọt vẫn chậm, bấp bênh, tình trạng  
lệ thuộc vào cây lúa, cây cà phê cao, đời sống so với người Kinh trong tỉnh vẫn còn  
khoảng cách chênh lệch. Bài viết chỉ ra những thành tựu và cả khó khăn trong hoạt động  
trồng trọt của hộ gia đình Cơ ho Srê trong tỉnh, từ đó nêu ra một số giải pháp nhằm nâng  
cao hiệu quả hoạt động trồng trọt của họ, góp phần phát triển bền vững kinh tế hộ gia  
đình người Cơ ho Srê.  
Từ khóa: Hoạt động trồng trọt, người Cơ ho Srê, kinh tế hộ gia đình, Lâm Đồng.  
1. Mở đầu  
Tỉnh Lâm Đồng có 43 dân tộc sinh sống, trong đó người Cơ ho đứng thứ hai dân số toàn  
tỉnh (sau người Kinh), đông nhất trong các tộc người gốc Tây Nguyên tại đây. Người Cơ ho bao  
gồm nhiều nhóm địa phương: Cơ ho Srê, Cơ ho Nộp, Cơ ho Chil, Cơ ho Lạch, Cơ ho T’ring, Cơ  
ho Cờ dòn. Đến năm 2015, số người Cơ ho tại Lâm Đồng là 166.391 người [2], trong đó, nhóm  
Cơ ho Srê chiếm số lượng đông nhất 94.945 người (số liệu của Phòng Cảnh sát Quản lí hành  
chính về trật tự xã hội – PC64, Công An tỉnh Lâm Đồng), tập trung chủ yếu tại Di Linh, Đức  
Trọng, Lâm Hà,...  
Trong hoạt động kinh tế của hộ gia đình người Cơ ho Srê, trồng trọt đóng vai trò quan  
trọng nhất. Từ 1986 - 2015, hoạt động trồng trọt của người Cơ ho Srê có nhiều chuyển biến tích  
cực, góp phần làm cho kinh tế hộ gia đình có bước phát triển, bên cạnh đó vẫn còn những khó  
khăn, thách thức cần phải có giải pháp để giúp phát triển bền vững hơn. Chúng tôi đã tiến hành  
tìm hiểu, khảo sát hoạt động trồng trọt của 400 hộ gia đình người Cơ ho Srê ở hai địa phương  
chính là Di Linh và Đức Trọng để đưa ra thực trạng và từ đó tìm kiếm những giải pháp nhằm  
góp phần phát triển bền vững kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê nói riêng và các dân tộc thiểu  
số (DTTS) Lâm Đồng nói chung.  
2. Nội dung nghiên cứu  
Người Cơ ho Srê sống tập trung chủ yếu tại các buôn làng (ƀòn) tại tỉnh Lâm Đồng, hoạt  
động kinh tế chủ đạo của người dân là trồng trọt và chăn nuôi. Trong hoạt động kinh tế, trồng  
Ngày nhận bài: 12/1/2021. Ngày sửa bài: 22/1/2021. Ngày nhận đăng: 12/2/2021.  
Tác giả liên hệ: Phan Văn Bông. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
136  
Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê…  
trọt chiếm tỉ lệ lớn đối với kinh tế hộ người Cơ ho Srê. Từ năm 1986 đến năm 2015, trồng trọt  
đã có nhiều chuyển biến góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo giá trị thu nhập tốt hơn so  
với trước đây. Chính vì vậy việc nghiên cứu “Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh  
tế hộ gia đình người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1986 đến 2015” có ý nghĩa lớn trong việc  
nghiên cứu về sự phát triển của lịch sử kinh tế địa phương và kinh tế vùng đặc biệt khó khăn ở  
Lâm Đồng.  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:  
2.1. Phương pháp quan sát  
Nhằm thu thập những thông tin cơ bản và biểu hiện trong kinh tế và những chuyển biến  
trong kinh tế từ 1986-2015 của người Cơ ho Srê. Chúng tôi đã tiến hành quan sát trực tiếp và  
quan sát gián tiếp hoạt động trồng trọt của người Cơ ho Srê ở hai huyện Di Linh và Đức  
Trọng, Lâm Đồng.  
2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát  
Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu khảo sát đối với các hộ  
người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng nhằm thu thập một số thông tin mang tính khách quan với  
những câu hỏi mở về vấn đề nghiên cứu. Tác giả điều tra tập trung về sự chuyển biến trong  
hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1986 đến 2015.  
Quá trình thực hiện, tác giả xây dựng và phát phiếu điều tra với 400 mẫu khảo sát, trong  
đó 200 mẫu tại xã Bảo Thuận, 150 mẫu tại thị trấn Di Linh (huyện Di Linh) và 50 mẫu tại xã  
Nthol Hạ (huyện Đức Trọng).  
2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu  
Với mục đích thu nhập thông tin, bổ sung và làm rõ hơn những số liệu đã thu được từ  
việc tìm hiểu và nghiên cứu trên địa bàn. Chúng tôi đã phỏng vấn trực tiếp già làng, những  
người có uy tín người Cơ ho Srê, phỏng vấn lãnh đạo các cấp về hưu và đương chức trên địa  
bàn tỉnh Lâm Đồng, phỏng vấn chuyên gia về lĩnh vực lịch sử địa phương, kinh tế địa phương  
về sự chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê ở Lâm  
Đồng từ 1986 đến 2015.  
2.4. Phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học  
Dựa vào phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để phân tích kết quả điều tra nhằm đưa ra kết quả  
khách quan khoa học cho vấn đề nghiên cứu.  
2.5. Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu  
Đối với nghiên cứu này, để có sự hiểu biết về người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng không thể thiếu  
việc tham khảo tài liệu. Các loại tài liệu được chúng tôi sử dụng cho nghiên cứu gồm sách, số liệu  
thống kê. Để tiếp nhận thông tin từ tài liệu, chúng tôi sử dụng kĩ thuật phân tích và tổng hợp.  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
2.2.1. Vài nét về hoạt động trồng trọt truyền thống của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho  
Srê ở Lâm Đồng  
Trước năm 1986, nguồn cung cấp lương thực chính cho người Cơ ho Srê là từ trồng trọt lúa  
nước (kòi sre) và lúa rẫy (kòi mìr).  
Trồng lúa nước (kòi sre) là hoạt động lâu đời và thuần thục của người Cơ ho Srê. So với  
các cư dân Cơ ho Chil, Cơ ho Nộp... hay người Mạ ở Lâm Đồng, hoạt động trồng lúa nước  
chính là hoạt động giúp đời sống người Cơ ho Srê đỡ túng thiếu hơn. Trước năm 1975, cũng  
như một số DTTS tại chỗ khác ở Lâm Đồng, đồng bào Cơ ho Srê gần như chỉ làm ruộng nước  
một vụ với một số giống lúa truyền thống của mình: lúa tẻ như kòi me (màu gạo đỏ tím), kòi jà  
ak (gạo màu trắng), kòi me kọ (trắng đục),...; lúa nếp như mpa sur, mpa khoah, mpa àp, mpa  
137  
Phan Văn Bông  
jù..., đôi khi họ làm thêm một vụ ngắn ngày vào vụ Đông Xuân (sre tà nòi) với giống kòi pàng  
(ngắn ngày – khoảng hơn 3 tháng). Sau năm 1975, người Cơ ho Srê tiếp nhận thêm các giống  
lúa của người Kinh như các giống lúa tẻ thơm, lúa Chiêm, nếp thơm... Để thích nghi với tính  
chất và thời gian sử dụng của từng loại đất, được sự hướng dẫn của cán bộ người Kinh, đồng  
bào đã biết lựa chọn nhiều giống lúa khác nhau, trên cánh đồng một số nơi như N’thôl Hạ (Đức  
Trọng), Đinh Trang Hòa, Gung ré (Di Linh)... làm hai vụ mỗi năm ở các chân ruộng đủ nước.  
Ruộng của người Cơ ho Srê có 2 loại: ruộng ở những nơi cao (sre gơl) là ruộng dễ bị thiếu  
nước, khô hạn; ruộng dưới thấp (sre pó) là loại ruộng trũng, thường tiện nguồn nước. Trong lựa  
chọn giống, đồng bào Cơ ho Srê thường xem xét địa hình, tính chất đất, mùa vụ, thời gian canh  
tác... để chọn giống lúa cho phù hợp. Vụ mùa chính từ khoảng tháng 6, 7 cho đến tháng 11, 12.  
Sau 1975, đồng bào Cơ ho Srê cũng như các DTTS khác đã biết lựa chọn giống lúa mới ngắn  
ngày hơn, có năng suất cao hơn, loại bỏ 80 – 90% giống lúa cũ [9;132]. Giống như các tộc  
người trồng lúa nước, việc chọn giống là công việc hết sức quan trọng. Thông thường, việc chọn  
giống do những người cao tuổi, người vợ trong gia đình đảm nhiệm. Lúa giống được chọn để  
vào các gùi treo trên nhà dành cho gieo sạ mùa sau.  
Kĩ thuật làm đất ruộng của người Cơ ho Srê khá thuần thục. Trong canh tác truyền thống,  
đối với ruộng sre pó trũng lầy, đồng bào cho đàn trâu xuống quần [8;18], dùng xà bách lớn (gần  
giống cuốc người Kinh nhưng lưỡi xéo) sửa đất tương đối bằng phẳng, sau đó dùng một khúc  
cây khá nặng, dài khoảng 3m (cơr) kéo qua để lấy mặt bằng sau đó mới sạ (síh kòi). Khi sạ,  
người ta để giống ở gùi trước ngực đi theo “vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ từ giữa ra rìa  
ruộng” [3;73] rải đều ra mặt ruộng. Đối với ruộng sre gơl, người Cơ ho Srê sử dụng kĩ thuật làm  
ải đất rất tốt. Theo kết quả phỏng vấn của chúng tôi, người Cơ ho Srê làm đất qua 4, thậm chí 5  
công đoạn: Cày lần 1 (lơ or), cày lần 2 (lát), hai lần này cách nhau gần một tháng. Sau đó,  
người nông dân bắt đầu bừa làm phẳng ruộng và sục bùn, bừa lần 1 (sơkam jroăh), bừa lần 2  
(sơkam klềt), dùng cây cơr có người đứng trên do trâu kéo, tiếp đến dùng xà bách sửa chữa lại  
mặt ruộng lần nữa rồi mới sạ. Khác với một số tộc người, người Cơ ho Srê sử dụng trâu đôi  
trong cày, bừa (không sử dụng bò). Khoảng mùa vụ đầu những năm 80 (thế kỉ XX), đồng bào  
được sự hướng dẫn của cán bộ người Kinh có tiến hành cấy, tuy nhiên sau đó bỏ, do không phù  
hợp với thói quen của người Cơ ho Srê.  
Khi lúa lên, người ta tháo nước vào ruộng (yọ dà sre) xâm xấp, người Cơ ho Srê sạ khá  
dày, cho nên họ không có thói quen làm cỏ và cũng không dặm lại lúa ở những chỗ thưa giống  
như người Kinh. Đặc biệt, họ rất coi trọng Thần lúa (Yàng kòi) nên không sử dụng phân bón. Về  
cơ bản, từ lúc sạ cho đến khi thu hoạch, việc chăm sóc của đồng bào là rất ít (trừ việc tháo nước,  
hoặc tát nước lên ruộng khi ruộng thiếu nước). Đến những năm 80 (thế kỉ XX), việc chăm sóc  
lúa được thực hiện nhiều hơn, đồng bào bắt đầu biết làm cỏ, dặm lúa và sử dụng phân bón. Nếu  
như trước năm 1975, sản lượng của một ha lúa khoảng 30 – 40 gùi (dụng cụ đựng của người Cơ  
ho), mỗi gùi nặng khoảng 30 – 40kg, tính ra khoảng 1,3 – 1,5 tấn/1 ha thì từ những năm 1978 –  
1979, “ruộng lúa nước cho năng suất cao, trung bình 20 tạ/ha” [9;214]. Đến năm 1984, năng  
suất lúa bình quân tăng “đạt 23,6 tạ/ha gieo trồng” [1;119].  
Bên cạnh trồng lúa nước, hoạt động nương rẫy cũng đóng một phần quan trọng trong đời  
sống người Cơ ho Srê. Sau khi đốt rẫy, người Cơ ho Srê chỉ canh tác 2 – 3 năm thì chuyển sang  
rẫy mới, vòng quay của đất rẫy là 10 - 15 năm. Sau năm 1975, do sức ép của chính sách di dân  
và Nhà nước tổ chức khai hoang ở nhiều nơi làm cho diện tích rẫy của người DTTS giảm nên  
họ canh tác 4 - 5 năm và thậm chí lâu hơn, vòng quay chỉ còn 5 - 7 năm; nhất là trong những  
năm 1981 – 1982 trở đi, chính sách định canh, định cư của Nhà nước đối với DTTS, đồng thời  
quỹ đất hạn chế đã giảm hẳn việc đốt rừng làm rẫy mới.  
Trên rẫy truyền thống của mình, người Cơ ho Srê trồng lúa (kòi mir), trồng bắp, đậu, sắn,  
các loại bầu, bí, dưa... Lúa và bắp là 2 loại lương thực được trồng nhiều nhất trên rẫy. Canh tác  
138  
Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê…  
rẫy của người Cơ ho Srê là xen canh, người ta trộn chung các hạt giống với nhau; trong đó lúa là  
chủ đạo. Phương thức gieo truyền thống của đồng bào là chọc lỗ tra hạt, trong một lỗ có nhiều  
loại hạt sẽ mọc lên. Sở dĩ người Cơ ho Srê trồng nhiều loại cây cùng một chỗ vì vòng đời của nó  
và sự thuận tiện trong công việc. Lúa rẫy khoảng 5 – 5,5 tháng mới thu hoạch; trong khi đó,  
bắp, đậu khoảng 3 tháng, các loại rau thì sớm hơn.  
Hoạt động làm ruộng nước và nương rẫy thường đòi hỏi nhiều lao động nên người Cơ ho  
Srê có truyền thống vần công, đổi công để giúp đỡ nhau, nhất là trong làm đất ruộng, phát rẫy,  
thu hoạch... sau năm 1975, Nhà nước đã cho thành lập các tổ vần, đổi công nam thanh niên, nữ  
thanh niên, tổ trung niên...  
Ngoài làm ruộng nước và rẫy, trồng trọt vườn cũng đóng vai trò khá quan trọng trong đời  
sống cư dân Cơ ho Srê. Trên đất vườn, người nông dân chủ yếu trồng màu, rau... mảnh vườn đa  
canh tự cấp, tự túc cạnh nhà rất quan trọng trong đời sống của đồng bào khi điều kiện chợ búa  
và lưu thông hàng hoá chưa phát triển.  
2.2.2. Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của các hộ gia đình Cơ ho Srê từ 1986 - 2015  
2.2.2.1. Những thành tựu đạt được  
Sau năm 1986, tỉnh Lâm Đồng thực hiện đổi mới cơ chế quản lí, tổ chức sản xuất nông  
nghiệp, phát triển nông thôn, bắt đầu từ việc triển khai thực hiện Khoán 10, tiến tới giao quyền  
sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân (1993), phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,  
đặc biệt phát huy vai trò của kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp. Trong phát triển  
nông thôn, tập trung ổn định vùng DTTS, thực hiện công tác định canh, định cư, xóa đói,  
giảm nghèo. Phát triển kinh tế hộ gia đình trong đồng bào DTTS (kinh tế vườn rừng, cây công  
nghiệp ...) là ưu tiên hàng đầu, chuyển nền kinh tế từ tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa.  
Kết quả, nền nông nghiệp tỉnh phát triển mạnh, nhiều vùng chuyên canh được hình thành, cơ  
cấu giống cây trồng được thay đổi cho phù hợp, vấn đề lương thực được giải quyết. “Sản lượng  
lương thực liên tục tăng, năm 1990, đạt 127.126 tấn và năm 2000, đạt 156.060 tấn (tăng 22,7 %  
so với năm 1990). Diện tích các cây trồng chủ lực đều tăng mạnh, đến năm 2000 toàn tỉnh có  
32.662 ha lúa (gieo trồng); 12.385 ha ngô; 18.879 ha rau; 1120 ha hoa; có 21.606 ha chè;  
124.359 ha cà phê; 3.664 ha dâu tằm; 8.149 ha điều; 6.067 ha cây ăn quả” [7;9]. Trong sự  
chuyển biến chung của hoạt động trồng trọt của tỉnh Lâm Đồng, sản xuất trồng trọt của người  
Cơ ho Srê cũng thay đổi nhanh chóng.  
Nghề trồng lúa nước (kòi sre) có điều kiện phát triển, vùng chuyên canh lúa nước được  
mở rộng.  
Theo kết quả khảo sát trên 400 mẫu, 100% các hộ có đều đất canh tác trồng trọt; trong đó,  
96,5% có đất trồng lúa.  
Bảng 1. Diện tích cho trồng lúa  
1975-1986  
1986-2015  
Diện tích cho trồng lúa  
Tần số  
Tỉ lệ (%)  
80.6  
Tần số  
Tỉ lệ (%)  
95.6  
Dưới 10.000 m2  
Từ 10.000 m2-20.000 m2  
Trên 20.000 m2  
N
299  
67  
369  
17  
18.1  
4.4  
5
1.3  
0
0.0  
371  
100.0  
386  
100.0  
Nguồn: Số liệu khảo sát  
Về diện tích, nếu như trước năm 1986, nhiều ruộng đất trồng lúa nước của đồng bào Cơ ho  
Srê bị hoang hóa do đất đai đưa vào hợp tác xã, bà con không có động lực lao động sản xuất,  
hoặc do thiếu nước, thiếu phân, giống... Từ 1986 trở đi, do có cơ chế đổi mới, đồng bào Cơ ho  
139  
Phan Văn Bông  
Srê ở Lâm Đồng đã phục hóa những cánh đồng bị bỏ hoang như làng Bơjờ, Bơ Kào (Tân Châu,  
Di Linh), Hàng Piơr, K’Rọt dờng (Bảo Thuận, Di Linh)..., đồng thời tiếp tục khai phá thêm các  
chân ruộng mới nhờ vào nguồn nước tưới từ các công trình thủy lợi mang lại. Trong các năm từ  
2001 - 2010, tỉnh Lâm Đồng đã đầu tư 17 công trình thủy lợi nhỏ vùng đồng bào DTTS với tổng  
mức đầu tư 198,46 tỉ đồng, đã bố trí kế hoạch vốn 57,864 tỉ đồng, gồm: 271 hồ chứa, 283 đập  
dâng, 76 công trình cống với 500 km kênh mương [6]. “Diện tích ruộng nước ở các huyện có  
người Cơ ho cư trú vào thời điểm năm 2000 tăng lên đáng kể: Lạc Dương 1.277 ha, Di Linh  
2.414 ha, Đức Trọng 5.107 ha, Lâm Hà 2.784 ha...” [3;95]; Năm 2015: Di Linh 3.275 ha, Đức  
Trọng 4.337 ha, Lâm Hà 2.463 ha ... [2;213].  
Về cơ sở vật chất kĩ thuật, từ 1986 - 2015, người Cơ ho Srê với nghề trồng lúa nước lâu  
đời, kĩ thuật canh tác khá thuần thục đã tích cực thâm canh, nâng cao năng suất lúa. Việc sử  
dụng trâu làm sức kéo trong khâu làm đất dần thay thế bởi máy móc, nhất là giai đoạn 2000 -  
2015, hầu hết các gia đình Cơ ho Srê làm ruộng đều sử dụng máy cày, việc sử dụng trâu trong  
khâu làm đất từng bước loại bỏ. Ở những nơi có đủ nguồn nước, người dân trồng được 2 vụ lúa  
(Hè - Thu và Xuân - Hè); những nơi dựa vào nước tự nhiên chỉ trồng được 01 vụ (Hè - Thu).  
Giai đoạn 1975 – 1986, vụ lúa chính (Hè - Thu) kéo dài đến tháng 12 (dương lịch); sau 1986, để  
phù hợp với thời gian thu hoạch cà phê vào khoảng tháng 12 và tháng 01 dương lịch, bà con bắt  
đầu sạ từ khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8 đến khoảng giữa tháng 10, đầu tháng 11 (dương  
lịch) thu hoạch. Cá biệt, do thói quen vẫn còn có nơi vụ mùa này kéo dài đến tháng 12, như:  
thôn Hàng Làng, Klong Trao... (Gung Ré, Di Linh). Từ năm 1986, bên cạnh những nông cụ  
truyền thống, bà con trang bị thêm máy tuốt lúa thủ công (trước năm 1995), máy cày, bừa, gặt, gặt  
đập kết hợp, bơm nước, bình phun thuốc... Việc sử dụng các kĩ thuật khác như bón phân, phun  
thuốc sâu, thuốc cỏ, dặm lúa, làm cỏ... được thường xuyên sử dụng trong quy trình làm lúa.  
Bảng 2. Công cụ sản xuất, máy móc của hộ  
1986-2015  
Công cụ sản xuất, máy móc của hộ gia đình  
Tần số  
246  
384  
371  
348  
96  
Tỉ lệ (%)  
61.5%  
96.0%  
92.8%  
87.0%  
24.0%  
16.2%  
57.2%  
2.8%  
Cày  
Cuốc  
Xẻng  
Liềm, hái, dao  
Dụng cụ tẻ ngô  
Máy tuốt lúa thủ công  
Máy cày, bừa  
Máy gặt  
65  
229  
11  
Máy bơm nước  
Máy xay, sát lúa gạo  
207  
4
51.8%  
1.0%  
N
400  
Nguồn: Số liệu khảo sát  
Trước đây, đồng bào Cơ ho Srê, sau mỗi mùa vụ đều trữ giống lúa cho vụ mùa sau, nhưng  
khi kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, hệ thống dịch vụ ngày càng tốt, các giống lúa cũ cho năng  
suất không cao nên bà con chủ yếu mua giống lúa lai thương phẩm (giống người Kinh dưới  
xuôi) từ các cửa hàng, đại lí nông nghiệp. Riêng giống lúa nếp đen địa phương (mbar jù) vẫn  
140  
Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê…  
được bà con nhiều nơi duy trì, đây là giống lúa nếp được ưa chuộng không chỉ ở đồng bào Cơ  
ho Srê mà cả người Kinh và các DTTS khác.  
Về sản lượng đối với lúa nước, giai đoạn 1986 về trước, theo điều tra của chúng tôi sản  
lượng lúa khoảng 2,3 – 2,6 tấn/ha; từ sau 1986, sản lượng lúa không ngừng tăng; đến năm 2015,  
sản lượng lúa khoảng từ 4,5 – 6 tấn/ha. Sự phát triển của trồng lúa nước góp phần quan trọng  
trong xóa đói, giảm nghèo ở đồng bào Cơ ho Srê. Từ những năm 1995 trở đi, sản xuất lúa nước  
ở nhiều hộ gia đình không chỉ đủ ăn mà còn bán ra bên ngoài (một điều chưa có trước đó).  
Trồng trọt vườn và nương rẫy có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong mục đích sử dụng đất và  
chuyển dịch cơ cấu cây trồng.  
Về diện tích canh tác, giai đoạn 1975 - 1986, đất vườn, rẫy trồng xen canh sắn, ngô, đậu,  
lúa,... chỉ một ít trồng cà phê, năng suất thấp, nhiều rẫy bị bỏ hóa (24/400 hộ được hỏi có đất bỏ  
hoang). Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 (thế kỉ XX), cây công nghiệp dài ngày được chú  
trọng, từ đây diện tích cây công nghiệp không ngừng tăng lên. Đối với cây cà phê, năm 1976,  
toàn tỉnh có 1.544 ha, đến năm 1986 có 11.085 ha [6;11], đến năm 2015 diện tích cây cà phê  
toàn tỉnh 158.944 ha, trong đó tập trung chủ yếu ở Di Linh (41.687 ha), Lâm Hà (40.459), Bảo  
Lâm (30.359 ha)... [2;254]. Cùng với thay đổi của tỉnh, đất vườn, rẫy của các hộ người Cơ ho  
Srê tăng lên do chính sách cấp đất của nhà nước (Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg ngày  
8/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc  
thiểu số), do khai hoang, phục hóa... Có nhiều gia đình ở Tân Châu, Gung Ré, Bảo Thuận, Đinh  
Lạc, Đinh Trang Hòa... (Di Linh), Chi Rông 1,2 (Phú Hội, Đức Trọng)... có tổng diện tích đất  
canh tác từ 2 ha trở lên, cá biệt có hộ trên 10 ha.  
Bảng 3. Tổng diện tích đất canh tác  
1986 – 2015  
Tổng diện tích đất canh tác  
Tần số  
122  
193  
66  
Tỉ lệ (%)  
Dưới 10.000 m2  
Từ 10.000 m2-20.000 m2  
Từ 20.100m2-30.000 m2  
Trên 30.000 m2  
N
30.5  
48.3  
16.5  
19  
4.8  
400  
100.0  
Nguồn: Số liệu khảo sát  
Về kĩ thuật canh tác, phần lớn diện tích đất vườn, rẫy của người Cơ ho Srê đã từng bước  
chuyển từ tập quán xen canh, đa canh nhiều loại cây sang trồng các loại cây công nghiệp lâu  
năm, chủ yếu là cà phê, một ít trồng chè. Với đặc điểm cần cù, chịu khó của cư dân trồng lúa  
nước, người Cơ ho Srê mày mò “học việc” từ các “chuyên gia” người Nùng, người Kinh,... từ  
sách, báo các chương trình khuyến nông... Kĩ thuật canh tác thay đổi, cào bồn, làm cỏ bón phân,  
tưới nước, cắt tỉa cành, ghép cây... thay thế cho chọc lỗ, tra hạt, không dùng phân bón và dựa  
vào nước trời... Kĩ thuật thu hoạch cũng dần thay đổi, ban đầu số lượng cà phê ít và cây còn  
thấp, người Cơ ho Srê hái tuốt hạt bỏ vào gùi giống như thu hoạch lúa rẫy trước kia; nhưng sau  
đó, họ học tập người Kinh dùng tấm bạt trải dưới gốc cà phê để hái, nhờ vậy năng suất cao hơn.  
Giống các cư dân trồng cà phê khác ở Lâm Đồng, công cụ sản xuất có sự cơ giới hóa nhanh  
chóng, từ khâu làm đất, cho đến khâu thu hoạch, xay xát, vận chuyển; gậy chọc lỗ, xà bách, rựa,  
rìu, gùi,... được thay thế bằng máy cày, máy phay đất, máy bơm nước, máy cắt cỏ, máy bóc vỏ  
cà phê, xe công nông...  
141  
Phan Văn Bông  
Việc chọn giống, giữ giống cũng thay đổi. Ban đầu, họ nhặt (mót) những cây con do hạt rơi  
xuống từ các vườn cà phê, sau này một số hộ được hỗ trợ giống cà phê từ chính quyền, còn đa  
phần tự mua cây giống, hoặc tự ươm giống.  
Năm 1987, ở Bảo Lộc, Di Linh và Đức Trọng, cơ bản mỗi hộ gia đình đồng bào DTTS đều  
có cà phê vườn với khoảng 200 cây (khoảng 3 sào), nhiều hộ ở huyện Di Linh đã thu hoạch bình  
quân từ 3 đến 4 tạ cà phê nhân/năm, ở Bảo Lộc nhiều hộ thu hoạch từ 1,5 đến 2,5 tạ/năm  
[9;189]. Đến năm 2015, theo khảo sát của chúng tôi, nhiều gia đình Cơ ho Srê ở Di Linh, Đức  
Trọng có từ 2 ha cà phê trở lên, trong đó cà phê vườn chỉ chiếm số lượng nhỏ, chủ yếu là cà phê  
rẫy, có nhiều gia đình thu từ 5 tấn cà phê/năm trở lên. Trong các vườn, rẫy, cà phê dù không  
nhiều, nhưng bà con vẫn giữ thói quen xen canh, không để đất trống (ha ù), trồng thêm sầu  
riêng, bơ, các loại rau, bầu, bí... để cải thiện bữa ăn gia đình hoặc bán ra thị trường.  
Năng suất cà phê không ngừng tăng lên, cụ thể: năm 1976, năng suất cà phê của tỉnh 4,8  
tạ/ha; năm 1986, 7,48 tạ/ha [5;11]; đến năm 2015, đạt 27,9 tạ/ha [2;256]. Năng suất cà phê của  
người Cơ ho Srê dao động khoảng 25 - 30tạ/ha tương đương với bình quân của tỉnh nhưng  
không cao bằng người Kinh (30 - 35 tạ/ha).  
Nếu như ở huyện Di Linh, Lâm Hà, người Cơ ho Srê trồng 2 loại cây chủ đạo là lúa và cà  
phê, thì ở huyện Đức Trọng, do đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng không thật phù hợp nên diện tích  
trồng cà phê không nhiều. Trong 50 hộ mà chúng tôi điều tra tại N’thol Hạ, không có hộ nào có  
diện tích cà phê quá 01 ha, chủ yếu từ 3-5 sào; hay ở xã Hiệp An, Đức Trọng, diện tích cà phê  
không đáng kể. Ở các khu vực này, đồng bào Cơ ho Srê chuyển đất ruộng và đất rẫy sang trồng  
hoa, rau màu ... Nhiều hộ đã phát triển trồng trọt theo hướng công nghệ cao, đầu tư nhà kính, hệ  
thống bơm, tưới, thu hoạch... tự động như hộ ông K’Ku (với 6 sào vườn được đầu tư theo hướng  
công nghệ cao).  
Bảng 4. Những loại cây trồng của hộ gia đình  
1986-2015  
Loại cây trồng của hộ gia đình  
Tần số  
376  
1
Tỉ lệ (%)  
Lúa nước  
Lúa rẫy  
Màu (ngô, đậu..)  
Hoa, cây cảnh  
Rau  
94.0  
0.2  
63  
6
15.8  
1.5  
74  
12  
4
18.5  
Cây ăn quả  
Cỏ  
3.0  
1.0  
Cà phê  
361  
4
90.2  
Chè  
1.0  
Khác  
0
0.0  
225.2  
N
400  
Nguồn: Số liệu khảo sát  
Các tổ vần đổi công giúp nhau làm đất, gieo sạ, thu hoạch... không còn. Nhưng trong dòng  
họ, thôn, người Cơ ho Srê vẫn tiếp tục giúp nhau theo kiểu đổi công... Tuy nhiên, với cây cà  
phê, vào mùa thu hoạch, làm cỏ, cắt cành, tưới nước, bón phân..., các hộ đồng bào Cơ ho Srê có  
ruộng vườn nhiều buộc phải thuê, khoán công. Có nhiều hộ gia đình ở Tân Châu, Liên Đầm...  
(Di Linh), vào mùa thu hoạch cà phê phải nuôi 20 – 30 lao động ngoài rẫy.  
142  
Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê…  
Nhìn chung, từ 1986 – 2015, trồng trọt của đồng bào Cơ ho Srê đã có những thay đổi sâu  
sắc, trình độ thâm canh cây lúa của đồng bào ngày càng cao, nguồn lương thực từ cây lúa giúp  
các hộ gia đình thoát khỏi tình trạng thiếu ăn, đảm bảo vấn đề an ninh lương thực. Cây cà phê,  
cây chè đã từng bước phủ kín các nương rẫy trước đây, diện tích đất hoang gần như không có.  
Nếu cây lúa đưa bà con thoát đói thì cây công nghiệp nhất là cây cà phê đã đưa họ thoát khỏi  
nghèo khó, những rẫy cây công nghiệp đã thay đổi đời sống bà con. Khác với các nhóm Cơ ho  
khác, người Cơ ho Srê trong những năm giá cà phê bấp bênh, đời sống của họ cũng không quá  
khó khăn vì còn cây lúa... đảm bảo “an ninh lương thực”. Bên cạnh cây lúa, cây công nghiệp,  
nhiều nơi bà con chuyển đổi đất ruộng lúa, đất rẫy thâm canh rau, màu, hoa... cho hiệu quả kinh  
tế cao trong điều kiện đất trồng trọt ngày càng thu hẹp, đây là hướng đi mới cần quan tâm.  
2.2.2.2. Những vấn đề tồn tại  
Dù đạt được những bước tiến dài nhưng trong lĩnh vực trồng trọt của người Cơ ho Srê vẫn  
còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Tư duy kinh tế tiểu nông, tự cấp tự túc vẫn sâu đậm, tầm nhìn  
còn ngắn hạn, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn chậm, tính đột phá chưa cao. Đây cũng là  
vấn đề không chỉ ở người Cơ ho Srê, mà cả các DTTS khác tại Lâm Đồng như nhận định của  
tác giả Bùi Minh Đạo trong tác phẩm Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát  
triển bền vững: “Ở vùng chuyên canh cây cà phê, dù cây công nghiệp đã có mặt trong sản xuất  
và giữ vai trò quan trọng trong đời sống và thu nhập, nhưng tư duy kinh tế nương rẫy, du canh,  
tiểu nông, tự cấp tự túc còn tồn tại đậm nét và nặng nề, thể hiện ở chỗ, người dân chỉ biết sản  
xuất nông sản với kĩ thuật và năng suất thấp kém, lệ thuộc tự nhiên, các khâu sơ chế, tiêu thụ,  
thị trường, giá cả vật tư, phân bón đều do người Kinh đảm nhiệm” [4;215,216]. Chính tư duy  
tiểu nông với tính chất nhỏ lẻ, manh mún là một trong những rào cản khiến kinh tế của người  
Cơ ho Srê chưa phát triển theo kịp người Kinh trong tỉnh.  
Tình trạng độc canh cây lúa, cây cà phê ở một số vùng trong điều kiện đất sản xuất ngày  
càng giảm, giá cả nông sản bấp bênh. Các hộ gia đình Cơ ho Srê chủ yếu đầu tư công sức, khai  
thác tài nguyên vốn có, chưa đầu tư kĩ thuật và tri thức nhiều nên sản lượng nông sản còn hạn  
chế. Khả năng cung ứng và đáp ứng những thay đổi của thị trường còn chậm. Tính tự cấp tự túc,  
tiểu nông còn thấy rõ, trong các vườn, rẫy của mình bà con xen canh thêm một số cây ăn trái,  
rau, củ, quả... điều này đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm an toàn cho gia đình nhưng lại  
thiếu tính đột phá trong phát triển giá trị thương phẩm cho thị trường, cũng như tăng cường thu  
nhập cho gia đình.  
Theo khảo sát của chúng tôi, có đến 303/400 hộ thu nhập chính là dựa vào cây cà phê;  
trong khi đó, giá cà phê thường bấp bênh, không ổn định.  
Giá trị của của các giống lúa gạo, nếp, bầu, bí, dưa... địa phương chưa được phát huy hiệu  
quả, giá trị thương phẩm chưa được khuếch trương.  
Tác động của quá trình di dân tự do, nhất là giai đoạn 1986 - 2015 đã làm cho dân số Lâm  
Đồng tăng nhanh, tình trạng khai thác nguồn đất đai, việc luân canh các cây trồng ở các ruộng  
lúa nước chưa hiệu quả. Tình trạng thiếu đất sản xuất trong đồng bào người Cơ ho Srê vẫn còn  
khá phổ biến. Trong 400 mẫu khảo sát của chúng tôi, vẫn còn 46 hộ (11,5%) thiếu đất sản xuất, do  
nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do nhiều hộ gia đình bán hoặc sang nhượng đất sản xuất.  
2.2.3. Những giải pháp để hoạt động trồng trọt trong kinh tế hộ gia đình Cơ ho Srê phát  
triển bền vững  
Thứ nhất, tập trung nguồn lực giải quyết hợp lí vấn đề đất sản xuất. Theo khảo sát 281/400  
hộ có nhu cầu cần giúp đỡ để phát triển kinh tế, trong đó 168/281 hộ có nhu cầu về đất sản xuất  
(59,8%), đây là một con số khá lớn. Chính vì thế, nhà nước cần có sự can thiệp chính sách vào  
đất đai để bố trí và sử dụng đất hợp lí, như: cấp quyền sử dụng đất; thu hồi diện tích đất đã giao  
cho các tổ chức, cá nhân... nhưng chưa sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả để giao lại cho các  
hộ thiếu đất; kịp thời chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với đất hoang hóa, đất không có cây  
143  
Phan Văn Bông  
rừng ven sông, suối, đất rừng nghèo kiệt... phù hợp với quy hoạch địa phương để đồng bào yên  
tâm sản xuất.  
Tăng cường quản lí quỹ đất hiện có của đồng bào, kiểm tra, rà soát lại việc mua bán trái  
phép đất đai trong vùng đồng bào DTTS nói chung và Cơ ho Srê nói riêng trong địa bàn tỉnh  
Lâm Đồng để có biện pháp xử lí thích hợp. Nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất trái  
phép, kiên quyết xử lí sai phạm, phát huy vai trò của chính quyền, Mặt trận, đoàn thể... cũng  
như các thiết chế khác ở cơ sở, một mặt chế tài, một mặt tăng cường tuyên truyền, vận động,  
giúp họ ý thức được việc giữ đất làm sinh kế lâu dài cho gia đình.  
Thứ hai, chú trọng đến vấn đề hỗ trợ vốn và cơ sở vật chất, hạ tầng cho phát triển kinh tế  
vùng đồng bào Cơ ho Srê. Theo khảo sát của chúng tôi có 206/281 hộ có nhu cầu hỗ trợ về vốn  
(73,3%). Điều này cho thấy nhu cầu vốn rất cấp thiết. Vì thế, cần tăng cường nguồn vốn vay từ  
ngân sách, mở rộng hạn ngạch vốn vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại, phát huy tính  
tương trợ trong dòng họ để huy động nguồn vốn giữa các hộ gia đình với nhau; tránh tình trạng  
rơi vào bẫy tín dụng đen; hoặc bán, cầm cố sản phẩm, bán non sản phẩm chưa đến thu hoạch  
cho thương lái. Nguồn vốn đầu tư đến hộ gia đình phải đúng đối tượng, tránh tình trạng cào  
bằng, hoặc bên trọng bên khinh, cục bộ dòng họ, quen biết... làm mất lòng tin của dân.  
Trong quá trình đầu tư, phát triển ở địa phương cần có trọng điểm, tránh dàn trải, chú ý đầu  
tư các công trình phục vụ cho kinh tế vừa và nhỏ như đầu tư các công trình thủy lợi phục vụ cho  
trồng lúa, tưới cà phê, hệ thống cầu cống, đường giao thông nông thôn thuận lợi cho việc vận  
chuyển phục vụ sản xuất.  
Thứ ba, cần đa dạng hóa cây trồng, phát huy các thế mạnh đặc thù trong trồng trọt ở cộng  
đồng người Cơ ho Srê. Khi đưa ra chính sách, nhà nước cần chú ý đến từng tộc người, nhóm tộc  
người cụ thể. Người Cơ ho Srê có truyền thống trồng trọt lúa nước lâu đời, vì thế cần phát huy  
thế mạnh này, phát triển hệ thống thủy lợi, đảm bảo tưới tiêu để thâm canh 2 vụ một năm.  
Những khu vực nguồn nước hạn chế, chỉ làm được 1 vụ lúa cần có chính sách chuyển đổi giống  
cây trồng hoặc luân canh trồng các loại cây khác phù hợp trong thời gian thiếu nước. Việc  
chuyển đổi ruộng lúa sang trồng hoa, màu... ở K’Long (Hiệp An, Đức Trọng) là một ví dụ. Đối  
với cây cà phê, dù có kinh nghiệm canh tác gần 40 năm nhưng đa phần cà phê được trồng từ  
những năm 80, 90 (thế kỉ XX). Vì thế, cần phải đầu tư lại các rẫy cà phê phù hợp, trồng mới  
hoặc ghép cây để đảm bảo chất lượng, năng suất. Tiếp tục thực hiện chương trình tái canh,  
chuyển đổi giống mới thay cho cây cà phê già cỗi (Kế hoạch tái canh, cải tạo giống cà phê được  
UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 872/QĐ-UBND ngày 09/5/2013). Những nơi cà phê  
không hiệu quả, có thể trồng xen canh các loại cây ăn trái thương phẩm như sầu riêng, bơ...  
(Liên Đầm, Đinh Trang Hòa, Gia Hiệp... Di Linh) hoặc chuyển đổi đất trồng cà phê sang trồng  
hoa, rau, màu... hoặc đầu tư theo hướng nông nghiệp công nghệ cao.  
Trong quá trình quan sát, chúng tôi nhận thấy, đồng bào Cơ ho Srê trung bình có khoảng 5  
đến 6 sào ruộng lúa, gần 1 ha rẫy cà phê, số diện tích đất không phải ít, nhưng việc phát huy giá  
trị thương phẩm trên đất đai chưa hiệu quả. Vì thế, việc chuyển đổi đa dạng hóa cây trồng là vấn  
đề quan trọng, góp phần tăng giá trị thương phẩm trên diện tích đất.  
Thứ tư, cần tạo dựng các thương hiệu mang tính “đặc sản” và nâng cao năng lực tiếp  
cận thị trường cho đồng bào Cơ ho Srê. Những giống lúa truyền thống như gạo đỏ (kòi me),  
nếp đen (mbar jù)...; những giống rau, quả như dưa gang (rơpung kho), bầu hồ lô (n’hồng)...  
là những sản vật rất ngon của người Cơ ho Srê. Để tạo nên “thương hiệu” với những chuỗi giá  
trị riêng về nông sản trong vùng đồng bào Cơ ho Srê, chính quyền các cấp cần phối hợp với  
các doanh nghiệp hỗ trợ tận tình cho người dân, nhất là trong việc nâng cao chất lượng sản  
phẩm và năng lực tiếp cận thị trường, điều mà đồng bào Cơ ho Srê còn hạn chế. Từ trước đến  
nay, đồng bào chủ yếu bán sản phẩm cho các thương lái tại vườn hoặc chở ra đại lí, ngoài ra  
có bán lẻ ra thị trường và thường xảy ra tình trạng bị thương lái ép giá, bán thấp hơn giá thị  
144  
Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê…  
trường. Mặc dù đa phần các hộ gia đình hiện nay đều có smarphone nhưng việc tìm hiểu kĩ  
thuật canh tác và giá cả thị trường còn hạn chế. Một thực tế cũng cho thấy, người Cơ ho Srê  
có quan hệ xã hội không rộng, chủ yếu trong cộng đồng tộc người trong ƀòn mà chưa có sự  
kết giao rộng rãi với đồng bào khác, nhất là đối với những hộ người Kinh có kinh tế khá giả  
để nắm bắt kĩ thuật, thông tin thị trường, hoặc nếu có quan hệ thì có vẻ quan hệ đó “không  
bình đẳng”. Việc nắm vững thông tin thị trường không chỉ giúp bà con bán hàng đúng giá, mà  
còn tránh bị lôi kéo vào những đợt thay đổi cây trồng, vật nuôi kiểu “phong trào”, biết tỉnh táo  
lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với gia đình, địa phương mình. Để làm được điều này,  
cần phải hướng dẫn cho các gia đình, nhất là người trẻ cách thức tiếp cận và khai thác thông  
tin thị trường một cách hợp lí.  
3. Kết luận  
Hoạt động trồng trọt đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình của người Cơ ho Srê  
tại Lâm Đồng. Từ 1986-2015, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta từ trung  
ương đến địa phương, đã dành rất nhiều quan tâm, ưu đãi cho công cuộc phát triển kinh tế đồng  
bào các DTTS nói chung và người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng nói riêng. Đồng thời, sự tác động của  
di dân, khoa học kĩ thuật, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và khu vực đã làm cho kinh tế hộ  
gia đình người Cơ ho Srê có nhiều chuyển biến trong đó thể hiện cụ thể ở hoạt động trồng trọt.  
Việc áp dụng KHKT vào thâm canh cây lúa đã giúp các hộ gia đình người Cơ ho Srê thoát  
khỏi tình trạng đói kém trước đây. Trong khi đó, việc phát huy giá trị thị trường từ cây công  
nghiệp, nhất là cây cà phê giúp đồng bào từng bước thoát nghèo, điều kiện kinh tế gia đình  
nhiều hộ khá giả. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn đó những khó khăn, thách thức, đất sản  
xuất, vốn vẫn còn thiếu, chuyển dịch cơ cấu cây trồng đến nay còn rất chậm, kết cấu hạ tầng tuy  
đã được cải thiện nhưng còn nghèo nàn, kéo theo thu nhập hộ gia đình chưa cao…  
Về lâu dài, để giải quyết vấn đề này cần phải có các giải pháp đồng bộ ở tầm vĩ mô của địa  
phương Lâm Đồng, đồng thời bản thân các hộ gia đình người Cơ ho Srê phải có ý thức vươn lên  
làm giàu, tránh tâm lí tự vừa lòng hoặc dựa vào chính sách của Nhà nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1975 – 2005). Nxb  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Cục thống kê Lâm Đồng, 2015. Niên giám thống kê Lâm Đồng, Đà Lạt.  
[3] Bùi Minh Đạo (chủ biên), Vũ Thị Hồng, 2003. Người Cơ ho ở Việt Nam. Nxb Khoa học  
Xã hội, Hà Nội.  
[4] Bùi Minh Đạo, 2012, Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát triển bền  
vững. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[5] Nguyễn Xuân Kiền, 1994. Chương trình phát triển cây công nghiệp dài ngày - ngắn ngày  
tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 1994-1995 và đến năm 2000, đề tài nghiên cứu khoa học cấp  
tỉnh, Kho lưu trữ, số 1845, Lâm Đồng.  
[6] Tỉnh ủy Lâm Đồng, 2010. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của  
Bộ Chính trị về phát triển kinh tế- xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây  
Nguyên thời kỳ 2001-2010 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.  
[7] Tỉnh ủy Lâm Đồng, 14/3/2014. Báo cáo số 223-BC/TU về tổng kết lí luận thực tiễn 30  
năm đổi mới ngành nông nghiệp, nông thôn tỉnh Lâm Đồng.  
145  
Phan Văn Bông  
[8] Cao Thế Trình (chủ nhiệm đề tài), 1996. Văn hóa truyền thống Cơ ho – Mạ (đề tài khoa  
học cấp tỉnh), Lâm Đồng.  
[9] Ủy Ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, 1989. Những kết quả nghiên cứu kinh tế – xã hội Lâm  
Đồng, Xí nghiệp in Lâm Đồng.  
ABSTRACT  
Changes in the cultivation activities of the ethnic minority household economy  
of Coho Sre in Lam Dong from 1986 to 2015  
Phan Van Bong  
Department of Social and Science, Pedagogical College of Dalat  
Lam Dong is a province in the South Central Highlands and also home of many ethnic  
minorities including the Co ho Sre group. Farming activities plays a vital role in the economy of  
Co ho Sre households. In general, from 1986-2015, their farming activities have experienced  
some positive changes compared to the past, which improves the living standard of households.  
However, the development in cultivation is still slow and precarious. Relying on rice and coffee  
is still popular, and there is a gap in term of income between the Kinh people in the province.  
The article points out the achievements and difficulties in this conventional farming activities of  
Co ho Sre households in the province so as to come up with some solutions to improve the  
efficiency of their farming activities, contribute to the development and economic sustainability  
of Co ho Sre households as well.  
Keywords: cultivation activities, Co ho Sre, household economy, Lam Dong.  
146  
pdf 11 trang baolam 20540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển biến trong hoạt động trồng trọt của kinh tế hộ gia đình người Cơ ho Srê ở Lâm Đồng từ 1986 đến 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuyen_bien_trong_hoat_dong_trong_trot_cua_kinh_te_ho_gia_di.pdf