Đời sống hôn nhân và gia đình của công nhân ở khu công nghiệp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương)
Đời sống hôn nhân và gia đình của công nhân
ở khu công nghiệp hiện nay
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Sóng Thần,
tỉnh Bình Dương)1
Đặng Thị Hoa(*),
Bùi Thị Hương Trầm(**),
(***)
Vũ Thị Cúc
Tóm tắt: Gia đình Việt Nam trong bối cảnh phát triển và hội nhập đang gặp nhiều thách
thức. Trong đó, gia đình công nhân mang nhiều đặc trưng riêng và bị tác động mạnh mẽ
của bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các chính sách về hôn nhân và gia đình
chưa chú ý nhiều đến công nhân di cư đến các khu công nghiệp (KCN) hiện nay. Trên
thực tế, hôn nhân và gia đình của công nhân ở KCN đang đặt ra nhiều vấn đề về quản lý
xã hội và phát triển gia đình theo hướng bền vững. Bài viết tìm hiểu thực trạng đời sống
hôn nhân và gia đình của công nhân ở KCN, làm rõ những trở ngại và thách thức về hôn
nhân và gia đình của công nhân di cư từ các vùng nông thôn đến KCN.
Từ khóa: Hôn nhân, Gia đình, Công nhân, Khu công nghiệp, Tỉnh Bình Dương
Abstract: Vietnamese families are facing many challenges in the context of development
and integration. In particular, families of workers have many unique characteristics and
are strongly affected by the national industrialization and modernization. Marriage and
family policies have not completely covered workers migrating to industrial zones. In fact,
their marriage and family life in industrial zones is posing several problems related to
social management and sustainable family development. The article explores the current
state of affairs, clarifies the relevant obstacles and challenges of workers migrating from
rural areas to industrial zones.
Keywords: Marriage, Family, Workers, Industrial Zones, Binh Duong Province
1
Bài viết là một phần kết quả của Đề tài cấp Bộ “Lựa chọn hôn nhân và các hình thức chung sống của công
nhân tại khu công nghiệp tỉnh Bình Dương” do PGS.TS. Đặng Thị Hoa và TS. Bùi Thị Hương Trầm đồng
chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới chủ trì, thực hiện năm 2019-2020.
(*) PGS.TS., Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
Email: danghoa.ifgs69@gmail.com
(**) TS., Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
(***) ThS., Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020
14
Mở đầu
việc làm cho hàng trăm công nhân đến
từ nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước
(Nguyễn Văn Nam, 2010). Theo số liệu của
Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương, số
công nhân từ các tỉnh khác nhập cư đến các
KCN của tỉnh Bình Dương chiếm hơn 70%
tổng số công nhân trong các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh, tập trung chủ yếu ở các
khu công nghiệp thuộc các huyện Thuận
An, Dĩ An, Tân Uyên, Bến Cát và thị xã
Thủ Dầu Một (Nguyễn Văn Nam, 2010: 23,
24). Vấn đề nhà ở và nhiều vấn đề xã hội
khác đã và đang đặt ra khá bức xúc đối với
tỉnh Bình Dương trong công tác quản lý và
ổn định đời sống của công nhân, đặc biệt
là việc ổn định đời sống và an sinh xã hội
đối với công nhân và gia đình công nhân
(UBND tỉnh Bình Dương, 2019).
Bài viết tập trung phân tích hai vấn đề
nổi bật trong đời sống hôn nhân và gia đình
của công nhân tại KCN Sóng Thần, tỉnh
Bình Dương đó là: (i) Lựa chọn bạn đời và
đời sống hôn nhân; (ii) Đời sống gia đình.
Các số liệu phân tích sử dụng trong bài viết
là kết quả khảo sát thực địa với 312 phiếu
điều tra đối với công nhân ở một số doanh
nghiệp tại KCN Sóng Thần về hôn nhân và
gia đình. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu
còn thực hiện các cuộc tọa đàm, thảo luận
nhóm, phỏng vấn sâu (PVS) công nhân,
chủ nhà trọ và cán bộ công đoàn ở các
doanh nghiệp.
Gia đình là một thiết chế quan trọng
trong xã hội, là môi trường hình thành, nuôi
dưỡng, giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa, đồng thời cũng là
một đơn vị kinh tế tạo ra sự ổn định bền
vững cho xã hội và đất nước. Trong quá
trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, một
bộ phận đáng kể người di cư từ các làng
quê thuần nông đến làm công nhân ở các
KCN đang đặt ra nhiều vấn đề, không chỉ
đối với lực lượng công nhân lao động ở các
KCN, mà còn là những vấn đề quan trọng
trong chiến lược xây dựng và phát triển gia
đình công nhân theo hướng tiến bộ, no ấm
và hạnh phúc.
Công nhân di cư từ nông thôn đến các
KCN là những người luôn phải gánh chịu
nhiều áp lực trong cuộc sống. Đời sống hôn
nhân và gia đình của công nhân ở KCN còn
gặp nhiều khó khăn do họ phải chịu nhiều
áp lực về thời gian làm việc, thu nhập thấp
và sự thiếu thốn về điều kiện sống như tiện
nghi sinh hoạt và nơi ở. Việc thắt chặt chi
tiêu dẫn tới các nhu cầu trong đời sống gia
đình bị hạn chế tối đa (Bùi Thị Phương Chi,
2016). Các mối quan hệ trong gia đình cũng
bị ảnh hưởng bởi nhịp sống công nghiệp,
đặc biệt là mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái, việc giáo dục con cái (Hoa Hữu Vân và
cộng sự, 2017). Do đó, sự gắn kết của các
thành viên trong gia đình công nhân cũng
đang gặp nhiều trở ngại. Bên cạnh những
khó khăn về thu nhập, chi tiêu, các nhu
cầu về đời sống văn hóa tinh thần của công
nhân dường như chưa được đáp ứng.
1. Lựa chọn bạn đời và đời sống hôn nhân
Theo kết quả khảo sát của Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam, có 20,1% công
nhân (trong mẫu nghiên cứu) chưa kết hôn
với các lý do như: chưa có nhà ở (23,3%),
việc làm và thu nhập không ổn định (17,7%)
và chưa muốn kết hôn (23,4%) (Dẫn theo:
Bùi Phương Chi, 2016).
Khu công nghiệp Sóng Thần (tỉnh Bình
Dương) được thành lập năm 1995, thu hút
khoảng 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu
tư vào nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, với hơn 1.000 doanh nghiệp nằm
trong và ngoài KCN, thu hút và giải quyết
Một trong những lý do dẫn tới tình
trạng công nhân không muốn kết hôn là
Đời sống hôn nhân…
15
môi trường làm quen, kết bạn ở khu công chọn ưu tiên trước hết, trong đó tiêu chí biết
nghiệp còn hạn chế. Bên cạnh áp lực về cách cư xử, đạo đức tốt được đánh giá cao
thời gian làm ca, các mối quan hệ quen biết, nhất với tỷ lệ 71,5%, tiếp theo là có nghề
bạn bè chỉ trong KCN cũng một phần hạn nghiệp ổn định (45,5%), chăm chỉ, chịu khó
chế cơ hội kết hôn của công nhân. Ngoài (29,5%), có khả năng đảm bảo cuộc sống
ra, điều kiện khó khăn về nơi ở, tiện nghi gia đình tương lai, có chí tiến thủ (29,2%),
sinh hoạt, thu nhập thấp cũng làm thay đổi phù hợp về quan điểm sống (25,6%), khỏe
nhiều quan niệm của công nhân khi lựa mạnh (24,7%) (Xem biểu đồ 1).
chọn bạn đời.
Môi trường làm quen, kết bạn để tiến tới
Kết quả phân tích số liệu của Đề tài cho hôn nhân của công nhân cũng khá đa dạng.
thấy, theo quan niệm của công nhân, các tiêu Hầu hết các cặp đôi quen biết nhau trong
chí lựa chọn bạn đời chủ yếu liên quan đến môi trường làm việc tại các doanh nghiệp,
các vấn đề về kinh tế và phẩm chất đạo đức KCN. Một bộ phận quen biết khi đi chơi,
được ưu tiên hơn cả, bên cạnh đó yếu tố sức tham quan du lịch, qua môi giới và mạng
khỏe cũng được quan tâm. 6/17 tiêu chí chỉ xã hội. Các trường hợp do cha mẹ giới thiệu
báo lựa chọn bạn đời được công nhân lựa và áp đặt hôn nhân không còn nhiều, chỉ có
Biểu đồ 1. Tiêu chí lựa chọn bạn đời của công nhân (n= 312; đơn vị: %)
3KꢀKӧSꢀYӅꢀTXDQꢀÿLӇPꢀVӕQJ
25,6
29,5
+ӧSꢀWXәL
&KăPꢀFKӍꢁꢀFKӏXꢀNKy
4,5
3,5
&yꢀOêꢀOӏFKꢀWURQJꢀVҥFK
*LDꢀÿuQKꢀYӧꢂFKӗQJꢀӣꢀJҫQꢀNKXꢀF{QJꢀQJKLӋS
*LDꢀÿuQKꢀQӅꢀQӃS
0,3
7,7
1JRDQꢁꢀKLӅQꢀOjQK
%LӃWꢀFiFKꢀOjPꢀăQ
&yꢀNKҧꢀQăQJꢀÿҧPꢀEҧRꢀFXӝFꢀVӕQJꢀJLDꢀÿuQKꢀWѭѫQJꢀODLꢁꢀFyꢀFKtꢀWLӃQꢀWKӫ
&RQꢀQKjꢀNKiꢀJLҧ
13,8
19,9
29,2
0,6
1,9
3,8
&QJꢀF{QJꢀW\ꢂNKXꢀF{QJꢀQJKLӋS
ĈӗQJꢀKѭѫQJ
%LӃWꢀFiFKꢀFѭꢀ[ӱꢁꢀÿҥRꢀÿӭFꢀWӕW
&yꢀQJKӅꢀQJKLӋSꢀәQꢀÿӏQK
&yꢀWUuQKꢀÿӝꢀKӑFꢀYҩQ
71,5
45,5
9,9
.KӓHꢀPҥQK
+uQKꢀWKӭFꢀNKi
24,7
30
5,4
10
0
20
40
50
60
70
80
Nguồn: Kết quả khảo sát của Đề tài, 2019.
Biểu đồ 2: Tình huống gặp gỡ (n=312; đơn vị: %)
40
30
20
10
0
33,3
25
11,2
9,6
9,9
5,8
3,2
ĈLꢀWKăP
ĈLꢀOjPꢀӣꢀNKXꢀ
ĈLꢀKӑF
QJKӅ
ĈLꢀFKѫL
4XDꢀP{LꢀJLӟLꢁꢀ
JLӟLꢀWKLӋX
%ӕꢀPҽ
OӵDꢀFKӑQ
4XHQꢀTXDꢀ
PҥQJꢀ[mꢀKӝL
QJѭӡLꢀWKkQ F{QJꢀQJKLӋS
Nguồn: Kết quả khảo sát của Đề tài, 2019.
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020
16
3,2% trong tổng số công nhân tham gia trả hôn, có đăng ký và tổ chức đám cưới chiếm
lời cuộc khảo sát (Xem biểu đồ 2). tỷ lệ khá cao (91,3%). Tuy nhiên, rất khó có
Trên thực tế, việc lựa chọn bạn đời của thể khẳng định thời điểm sau khi đăng ký
công nhân khá hạn chế do môi trường làm kết hôn và tổ chức đám cưới là thời gian bắt
việc ít nam nhiều nữ, hơn nữa đời sống văn đầu chung sống của cặp đôi. Theo kết quả
hóa tinh thần nghèo nàn, mức sống thấp PVS và tọa đàm với nhóm cán bộ quản lý
nên công nhân không có nhiều sự lựa chọn doanh nghiệp, tình trạng sống chung trước
cho cuộc hôn nhân của mình. Chính vì vậy, hôn nhân của công nhân diễn ra khá phổ
cơ hội kết hôn đối với công nhân nữ khó biến. Thực trạng đời sống hôn nhân của
khăn hơn so với công nhân nam: …đối với công nhân ở khu công nghiệp là đáng lo
đời sống hôn nhân và gia đình của người ngại, nhiều cặp đôi chung sống tự nhiên,
lao động trong khu công nghiệp thì công không có đăng ký kết hôn và chỉ tự nguyện
nhân tìm người yêu đã khó rồi mà khó khăn sống cùng nhau, vì thế mà tình trạng sống
nhất là đối với các bạn nữ, công nhân nam thử trong một thời gian và không dẫn tới
thì dễ hơn vì đa số trong các doanh nghiệp hôn nhân cũng xảy ra khá nhiều. Hậu quả
ở khu công nghiệp này nữ đông hơn với tỷ nặng nề cho những trường hợp này là đối
số chênh lệch hiện nay là 7:3… (Ý kiến của với công nhân nữ, nhiều trường hợp mẹ
một cán bộ công đoàn tại Tọa đàm cán bộ đơn thân, công nhân nữ có thai rồi đi phá
công đoàn cấp tỉnh).
thai khá phổ biến, là gánh nặng kép đối với
Thời gian làm việc của mỗi công nhân công nhân nữ hiện nay (Tọa đàm nhóm cán
trung bình là 9 giờ/ngày, cá biệt có những bộ công đoàn).
doanh nghiệp làm tăng ca, tăng giờ lên đến
Trong nhiều trường hợp, do mức thu
11-12 giờ/ngày. Do vậy, sau giờ làm, hầu nhập thấp nên phần lớn công nhân thường
hết công nhân dành thời gian cho việc nghỉ lựa chọn hình thức sống ghép, thuê chung
ngơi, lấy lại sức để làm việc. Thêm vào đó, một phòng trọ và sống cùng với những
do ít điểm vui chơi công cộng cũng như công nhân khác để giảm chi phí. Theo kết
thiếu vắng các hoạt động vui chơi giải trí quả khảo sát của Đề tài, số công nhân từ
tập thể cho công nhân nên cơ hội gặp gỡ, các tỉnh khác di cư đến làm việc tại KCN
hẹn hò của công nhân là rất ít. Em làm ở Sóng Thần là 74,1%. Hầu hết họ đến từ
công ty chế biến gỗ, thời gian làm việc là các tỉnh thuộc vùng Tây Nam bộ như Tiền
10 giờ/ngày, có khi tăng ca lên 12 giờ/ngày. Giang, An Giang, Cần Thơ, Cà Mau. Một
Em đi làm về chỉ biết ngủ thôi, chẳng có số di cư từ các tỉnh Bắc Trung bộ như Nghệ
thời gian đi chơi, mà có lúc được nghỉ ca An, Quảng Bình. Khi mới di cư đến Bình
muốn đi chơi cũng không biết đi đâu. Đi Dương, những công nhân này thường tập
công viên hoặc lên thành phố thì xa quá, trung theo nhóm, sống trong các khu nhà
ở gần thì không có chỗ chơi và không có trọ để tìm việc làm và thường chấp nhận
sự kiện nào để tham gia, vì thế chả quen ở chung, ở ghép với nhau. Thậm chí có
biết ai cả, chỉ biết đi làm về rồi ngủ để lấy phòng trọ lên tới 5-6 người/10m2, trong
lại sức khỏe thôi (PVS, nam, 24 tuổi, công phòng không có đồ đạc gì đáng giá.
nhân, quê Cà Mau).
Từ các mối quan hệ trong khu nhà
Kết quả khảo sát của Đề tài cũng cho trọ, các cặp đôi nam nữ làm quen rồi thuê
thấy, các cặp vợ chồng công nhân đã kết chung phòng trọ ở cùng nhau theo mô
Đời sống hôn nhân…
17
hình sống tạm, sống ghép. Các phòng trọ nhiều thách thức. Trước hết là về thu nhập,
ở đây lúc nào cũng kín người ở thuê. Ban bình quân thu nhập của công nhân trên
đầu là những người ở cùng quê lên thuê địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay là 5,2
chung phòng, sau quen dần thì các cặp triệu đồng/người/tháng (UBND tỉnh Bình
đôi tách ra thuê phòng riêng. Họ cứ ở với Dương, 2019). Để có được mức thu nhập
nhau như vậy, giống như vợ chồng, không này, công nhân phải làm thêm giờ. Đặc
có đăng ký kết hôn hay đám cưới gì cả, biệt với công nhân làm việc ở các doanh
có đôi chỉ ở được vài tháng, có đôi thì ở nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thời gian
vài năm rồi lại bỏ nhau, họ cứ sống tạm, làm tăng ca, làm thêm giờ lên đến 10-12
sống ghép vậy thôi (PVS, nữ, 65 tuổi, chủ giờ/ngày. Với nhóm công nhân trong mẫu
nhà trọ). Có thể nói, đời sống hôn nhân khảo sát, mức thu nhập bình quân/người/
của một bộ phận công nhân ở các KCN tháng đạt 9,5 triệu đồng, tuy nhiên lại có
Sóng Thần đang có những vấn đề nổi cộm. sự khác biệt đáng kể giữa nhóm công nhân
Những bất ổn trong cuộc sống của công làm công việc văn phòng (có mức thu nhập
nhân đã có những ảnh hưởng đáng kể đến bình quân là 12 triệu đồng/người/tháng) và
đời sống tinh thần và hiệu quả lao động nhóm công nhân làm việc tại xưởng sản
của họ.
xuất (bình quân thu nhập là 7,8 triệu đồng/
người/tháng).
2. Đời sống gia đình
Mô hình gia đình của công nhân khá đa
Về nhà ở, có sự khác biệt rõ nét giữa
dạng, một tỷ lệ đáng kể đang sống chung với nhóm công nhân đã có nhà ở ổn định
cha mẹ (24%), bao gồm cả trường hợp có (51,6%) với nhóm công nhân chưa có nhà
nhà ở và đang phải thuê trọ, 62,5% sống ở, phải thuê trọ (48,4%). Chẳng hạn, nhóm
cùng với vợ/chồng và đã có chỗ ở riêng, công nhân có nhà ở riêng kiên cố khá ít
5,1% sống xa vợ/chồng, 5,1% trường hợp (9,3%), phần nhiều đang ở nhà bán kiên
đơn thân và 3,1% sống chung với người cố (39,4%). Với mức thu nhập bình quân
khác giới nhưng chưa kết hôn (Xem bảng 1). không quá thấp, nhóm công nhân đã có
nhà ở có thể mua sắm được các tiện nghi
sinh hoạt cơ bản cho gia đình. Trong khi
Bảng 1: Mô hình sống của gia đình công nhân
tại khu công nghiệp
đó, chỉ có một tỷ lệ rất ít trong số các gia
đình công nhân chưa có nhà ở, đang phải
Số lượng Tỷ lệ %
Sống chung chưa kết hôn
10
3,1
thuê trọ có các tiện nghi sinh hoạt hiện đại
như máy vi tính (15,9%), bình nóng lạnh
(2,6%) và máy điều hòa nhiệt độ (10,6%)
(Xem bảng 2).
Về chi phí sinh hoạt, với một bộ phận
công nhân nghèo đang phải làm việc tại các
xưởng sản xuất, mức tiền thuê phòng trọ
của họ trung bình là 1,5 triệu đồng/phòng/
tháng chưa bao gồm các chi phí về điện,
nước sinh hoạt và các phí dịch vụ khác. Do
Đã kết hôn, sống chung có
chỗ ở riêng
195
62,5
Đơn thân
16
16
5,1
5,1
Hai vợ chồng sống xa nhau
Sống chung với cha mẹ
Tổng cộng
75
24,0
100,0
312
Nguồn: Kết quả khảo sát của Đề tài, 2019.
Trong điều kiện làm việc tại các KCN, vậy, để giảm chi phí thuê nhà, nhiều công
đời sống gia đình của công nhân gặp khá nhân đã chấp nhận ở chung với những
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020
18
Bảng 2: Loại hình nhà ở và tiện nghi sinh hoạt
trong gia đình
năm (34%), 25,5% một năm
về thăm nhà một lần, 14,4%
năm vừa qua không về thăm
Loại nhà
Tiện nghi
Máy Điện thoại Bính Điều
vi smart nóng hòa***
Số
%
Ti
vi ***
nhà, 11,8% về vài lần một
tháng. Mức độ gửi tiền về
quê: 31,1% không gửi, 28,9%
gửi hằng tháng, 28,1% vài
tháng gửi một lần. Thu nhập
của công nhân thuộc mức
trung bình, có đến 90,3% số
công nhân hiện có thu nhập
đủ sống, 8,3% có tích lũy, chỉ
có 1,4% không đủ sống. Mặc
dù còn gặp nhiều khó khăn
trong cuộc sống gia đình,
nhưng những người công
nhân vẫn có cách nhìn nhận
lượng
(%) tính*** phone** lạnh*** (%)
(%)
(%)
(%)
Nhà riêng
29
9,3 89,6 86,0
96,4
71,4 82,1
kiên cố
Nhà riêng
bán kiên
cố
123 39,4 90,2 60,2
95,1
52,8 69,1
Nhà riêng
9
2,9 55,6 44,4
66,7
96,0
55,6 55,6
đơn sơ
Nhà trọ
151 48,4 38,7 15,9
2,6
10,6
Mức ý nghĩa thống kê: ***<0,01; **<0,05
Nguồn: Kết quả khảo sát của Đề tài, 2019.
người cùng quê, cùng công ty. Có trường
hợp đã đến Bình Dương làm việc lâu năm,
cặp vợ chồng đã có 2 con sống chung với
mẹ chồng hoặc với các em (em chồng hoặc
em vợ) để giảm chi phí tiền nhà và để nhờ
người trông con. Điều đáng nói là, trong
điều kiện khó khăn đó, cùng với đời sống
tinh thần thiếu thốn, tình trạng sống chung
với người khác giới, sống chung như vợ
chồng cũng đã diễn ra ở nhiều khu nhà trọ,
đặc biệt trên địa bàn các phường, xã gần
KCN (UBND tỉnh Bình Dương, 2019).
Thực tế khảo sát tại KCN Sóng Thần cho
thấy, câu chuyện cơm áo gạo tiền vẫn luôn
là gánh nặng trong đời sống gia đình của
công nhân. Khó khăn của công nhân hiện
nay là vấn đề lo cho bữa ăn hàng ngày,
rồi tiền cho con học, tiền gửi về quê, tiền
tiết kiệm, rồi đau ốm... rất nhiều khoản chi
tiêu mà công nhân phải sống rất tiết kiệm
thì mới đủ trang trải cho cuộc sống hàng
ngày (Tọa đàm cấp tỉnh).
khá tích cực khi di cư đến làm việc ở các
KCN tỉnh Bình Dương. Theo đánh giá của
công nhân, dù thu nhập thấp, cuộc sống gia
đình có nhiều khó khăn nhưng vẫn tốt hơn
nhiều so với ở quê họ, thậm chí khi làm
công nhân, các thành viên trong gia đình
còn có việc làm, có thu nhập hằng tháng:
Cuộc sống trên này thì đỡ hơn ở dưới quê
bởi vì ở trên này thì có việc làm, có thu
nhập, chứ còn dưới quê thì chúng nó (các
con) không có công việc, có khi mần cả
tháng không có tiền và không có ai mướn…
Dưới quê thì nhà lá lụp xụp, ra khỏi nhà thì
sình bùn, cuộc sống trên này thoải mái hơn,
sạch sẽ hơn, phòng ở tuy chật chội một chút
nhưng nó không có dột nát, không dơ dáy,
mình đi vô đi ra thoải mái sạch sẽ, bữa ăn
hàng ngày còn có thức ăn, hơn ở quê nhiều
(PVS, nam, 57 tuổi, công nhân, phường
Bình Chuẩn, di cư từ Cà Mau).
Một trong những vấn đề đang đặt ra đối
với đời sống gia đình của công nhân tại địa
bàn khảo sát hiện nay là, các trường hợp mẹ
đơn thân, sống chung không kết hôn đang
có xu hướng tăng lên. Thực trạng gia đình
Khảo sát về mối liên hệ giữa công nhân
với người thân đang sống ở quê nhà cho
thấy, tần suất về thăm nhà của họ không
nhiều, chủ yếu ở mức vài lần trong một
Đời sống hôn nhân…
19
công nhân rất đáng lo ngại, hiện tượng ly công nhân cho rằng xu hướng quan hệ
hôn ra tòa thì không nhiều, nhưng trên thực tình dục trước hôn nhân tăng; 38,5% cho
tế lại khá phổ biến. Một bộ phận công nhân rằng tình trạng nạo phá thai trước hôn nhân
sống thử trước hôn nhân, không muốn tăng; 24,6% cho rằng có tình trạng cưới rồi
đăng ký kết hôn vì sợ bị ràng buộc. Nhiều không dám sinh con vì kinh tế khó khăn;
cặp đôi thuận tình ở với nhau một thời gian 19,3% cho rằng tình trạng sống độc thân
rồi chia tay nhau, hậu quả là người phụ ngày càng nhiều; 20,2% cho rằng có tình
nữ phải gánh chịu, nhất là những trường trạng lao động nữ sinh con và nuôi con một
hợp mang thai rồi sinh con, nuôi con một mình; 11,7% cho rằng có con nhưng không
mình. Nhiều trường hợp tự đi nạo phá thai đăng ký kết hôn.
ở các phòng khám tư nhân. Xu thế hiện nay 3. Một vài bàn luận và kết luận
là không coi trọng giấy kết hôn, không tìm
Có thể thấy, hiện nay đang có khá nhiều
hiểu kỹ đối tượng nên tình trạng bà mẹ đơn thách thức đối với gia đình công nhân ở các
thân ngày càng nhiều (Tọa đàm nhóm cán khu công nghiệp, đặc biệt là nhóm công
bộ công đoàn).
nhân di cư từ các tỉnh khác đến tỉnh Bình
Theo Nguyễn Hoàng Bảo Trân (2020), Dương. Mặc dù có việc làm, có thu nhập
trường hợp mẹ đơn thân ở KCN Sóng Thần và có cuộc sống tốt hơn so với ở quê cũ,
có tuổi đời khá trẻ, hầu hết dưới 35 tuổi. nhưng vấn đề “an cư, gia đình ổn định” đối
Số con phổ biến là 1 con (65%), 86,7% với công nhân di cư vẫn còn nhiều thách
nữ công nhân đơn thân có con dưới 6 tuổi, thức. Đa phần công nhân là người di cư,
47,3% có con ngoài hôn nhân, 30,7% ly vốn đã chịu nhiều áp lực, thiệt thòi trong
thân và ly hôn; 75% nữ công nhân đơn thân cuộc sống, họ còn thiếu cả những cơ hội
có nguồn gốc di cư từ các địa phương khác kết hôn, tìm kiếm những người bạn đời
đến tỉnh Bình Dương, số lượng công nhân theo mong muốn. Đời sống gia đình công
đơn thân có xu hướng tăng lên trong những nhân khó khăn, đặc biệt là nhóm công nhân
năm gần đây.
nghèo đang phải thuê nhà sống tạm bợ, dẫn
Kết quả PVS của Đề tài cũng làm rõ tới những thiệt thòi đáng kể, nhất là đối
hơn vấn đề này. Các trường hợp công nhân với công nhân di cư là nữ (Nguyễn Mạnh
nữ trẻ tuổi đi nạo phá thai, mang bầu rồi đẻ Thắng, 2016).
con, bỏ con ở phường này khá nhiều. Hôm
Cuộc sống hôn nhân và gia đình gặp
rồi cô đi đổ rác, lại thấy mấy cô công nhân nhiều trở ngại cả về vật chất và tinh thần
thu gom rác kể là vừa nhặt được bọc nilon, dẫn đến tâm lý của công nhân ngày càng
trong đó có đứa trẻ sinh non đã chết bị ném không tin tưởng vào tình yêu, hôn nhân và
vào thùng rác. Chuyện đó xảy ra ở đây gia đình. Thực tế đó khiến nhiều trường hợp
thường xuyên, mà những trường hợp này công nhân lựa chọn sống chung không kết
chủ yếu là các cô công nhân trẻ tuổi, đến từ hôn, sống thử, sống tạm để dựa vào nhau
các tỉnh xa không có người nương tựa, giúp với mục đích duy trì sinh hoạt hằng ngày.
đỡ, bị lừa có thai mà không biết bấu víu vào Với nhóm công nhân sống chung không kết
đâu nên đành phải bỏ con vậy (PVS, nữ, 67 hôn, nhiều vấn đề đã và đang xảy ra như nữ
tuổi, chủ nhà trọ, phường Bình Chuẩn).
công nhân mang thai, nạo hút thai hay nuôi
Theo số liệu khảo sát của Liên đoàn con đơn thân có xu hướng tăng lên trong
Lao động tỉnh Bình Dương (2019), 49% những năm gần đây.
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020
20
Đời sống hôn nhân và gia đình công hỗ trợ đảm bảo cho công nhân có cơ hội
nhân có sự khác biệt rõ nét giữa nhóm công được ổn định cuộc sống, tiếp cận được
nhân đã mua nhà ổn định chỗ ở với nhóm các chính sách bảo trợ của Nhà nước
công nhân phải thuê trọ. Nhóm công nhân
đã có nhà ở riêng thường có đủ trang thiết Tài liệu tham khảo
bị, tiện nghi sinh hoạt hơn, trong khi đó, 1. Bùi Phương Chi (2016), Các giải pháp
nhóm công nhân phải thuê nhà trọ lại rất
thiếu thốn. Trong số công nhân đang phải
thuê nhà ở trọ, hầu hết là những người di
cư từ các tỉnh khác đến tỉnh Bình Dương.
Những thiệt thòi mà công nhân di cư đang
nâng cao chất lượng đời sống hôn nhân,
gia đình của công nhân tại các khu công
nghiệp hiện nay, Đề tài nghiên cứu cấp
Tổng Liên đoàn Lao động, mã số XH/
TLĐ.2015.04.
phải gánh chịu, đặc biệt là công nhân nữ, 2. Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương
đã trở thành những rào cản khá lớn đối với
sự phát triển và quyền được sống, được làm
(2019), Báo cáo tình hình công đoàn ở
các khu công nghiệp năm 2019.
việc của công nhân ở các khu công nghiệp. 3. Nguyễn Văn Nam (2010), Xây dựng và
Trong khi đó, các chính sách và quy định
xử phạt đối với những trường hợp sống
chung không kết hôn, dẫn đến hậu quả phá
thai khi tuổi thai đã lớn, bỏ con sau khi
phát triển đội ngũ công nhân tỉnh Bình
Dương - Thực trạng và giải pháp, Báo
cáo Đề tài nghiên cứu do Liên đoàn Lao
động tỉnh Bình Dương chủ trì.
sinh, bạo lực giới,… vẫn chưa được xây 4. Nguyễn Mạnh Thắng (2016), Những
dựng và thực hiện đầy đủ. Bên cạnh đó,
các chính sách hỗ trợ cho công nhân di cư,
công nhân đang phải thuê nhà trọ về chăm
sóc sức khỏe, chăm sóc con cái và các nhu
cầu sinh hoạt tinh thần hầu như chưa có.
vấn đề bức xúc, cấp bách của công nhân
lao động trong các khu công nghiệp,
khu chế xuất - thực trạng và giải pháp,
Đề tài nghiên cứu cấp Tổng Liên đoàn
Lao động, mã số XH/TLĐ.2015.03.
Thực tế đó đang trở thành gánh nặng đối 5. Nguyễn Hoàng Bảo Trân (2020), Cuộc
với công nhân di cư ở các KCN của tỉnh
Bình Dương nói riêng và ở các KCN khác
trong cả nước nói chung.
Từ thực trạng hôn nhân và gia đình
công nhân ở KCN Sóng Thần tỉnh Bình
Dương có thể thấy, trong chiến lược phát
sống của những bà mẹ công nhân đơn
thân ở các khu công nghiệp nhìn từ
góc độ chính sách xã hội (Nghiên cứu
trường hợp khu công nghiệp Sóng Thần
tỉnh Bình Dương), Luận án tiến sĩ Xã
hội học, Học viện Khoa học xã hội.
triển gia đình Việt Nam, việc quan tâm 6. UBND tỉnh Bình Dương (2019), Báo
xây dựng chính sách hỗ trợ gia đình công
nhân là hết sức cần thiết. Đặc biệt đối với
cáo tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội
năm 2019.
các KCN, khu chế xuất, bên cạnh việc 7. Hoa Hữu Vân và cộng sự (2017), Giáo
quan tâm đến việc làm và thu nhập của
công nhân, các chính sách an sinh liên
quan đến hôn nhân và gia đình của công
nhân cũng cần được chú trọng đúng mức,
dục gia đình đối với trẻ em ở khu công
nghiệp hiện nay, Báo cáo khoa học đề
tài cấp Bộ, Bộ Văn hóa - Thể Thao và
Du lịch.
Bạn đang xem tài liệu "Đời sống hôn nhân và gia đình của công nhân ở khu công nghiệp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
doi_song_hon_nhan_va_gia_dinh_cua_cong_nhan_o_khu_cong_nghie.pdf

