Công nghiệp hoá ở Việt Nam thời kỳ đổi mới từ nhận thức đến thực tiễn

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
CÔNG NGHIỆP HOÁ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI  
TỪ NHẬN THỨC ĐẾN THỰC TIỄN  
Phạm Thị Xuân1*  
1 Trường Đại học Giao thông Vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội  
* Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Tóm tắt: Quá trình đổi mꢀi tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hoá  
là quá trình chuyển đổi từ mô hình CNH “khép kín”, kế hoạch hoá tập trung sang  
chiến lược CNH gắn vꢀi việc phát triển kinh tế thị trường định hưꢀng XHCN, dựa trên  
kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Nhìn nhận lại sự phát triển nhận thức của Đảng từ  
khi tiến hành cách mạng XHCN ở miền bắc cho đến thực hiện công cuộc Đổi mꢀi, có  
thể góp thêm những kinh nghiệm có giá trị cho tiến trình CNH, HĐH đất nưꢀc hiện  
nay.  
Từ khoá: CNH, HĐH, thời kỳ đổi mꢀi, nhận thức, thực tiễn  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Sau 34 năm đổi mꢀi, nền kinh tế nưꢀc ta đã chuyển sang một giai đoạn phát triển  
mꢀi về chất. Những cơ sở xác định bưꢀc chuyển đó là hiển nhiên, thể hiện ở nhiều chỉ  
số khác nhau của 3 phương diện: tiềm lực, cơ cấu và thế phát triển của nền kinh tế.  
Trên mỗi phương diện, bưꢀc tiến của các chỉ số so vꢀi trưꢀc Đổi mꢀi đều là kỳ tích.  
Có được thành tựu trên nhờ đường lối CNH đꢁng đắn của Đảng.  
2. NỘI DUNG  
2.1 Nhận thức về công nghiệp hoá của Đảng trong thời kỳ Đổi mới.  
Năm 1960, Đại hội III của Đảng đã khẳng định: CNH là nhiệm vụ trung tâm của  
cả thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Tuy nhiên, nhận thức về CNH lꢁc đó chủ yếu dựa vào  
kinh nghiệm của Liên Xô và các nưꢀc XHCN. Mô hình CNH được triển khai ở Việt  
Nam thời điểm đó được gọi là “mô hình CNH Xô Viết”. Mô hình này chꢁ trọng phát  
triển công nghiệp nặng, xây dựng nền kinh tế “khép kín”, vꢀi cơ cấu mang nặng tính  
hiện vật và phủ nhận các quan hệ thị trường. Trong mô hình đó, yêu cầu hiện đại hoá,  
mở cửa và hội nhập kinh tế hầu như chưa được tính đến. Lĩnh vực dịch vụ chưa được  
xem xét như một nội dung quan trọng của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Năm  
1976, Đại hội IV đã có sự bổ sung, cụ thể hoá về tư duy lý luận: Ưu tiên phát triển  
công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp  
nhꢂ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp thành một cơ cấu kinh tế công –  
nông nghiệp. Trong đường lối này, tính nguyên tắc trong ưu tiên được xác lập. Tuy  
-510-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
nhiên, cách đặt vấn đề đꢁng đắn này cơ bản chỉ dừng lại ở nêu vấn đề một cách định  
tính, chưa được cụ thể hoá ở mức cần thiết. Đại hội V (1982) đã có một số bưꢀc tiến  
trong việc cụ thể hoá nội dung chiến lược CNH: coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu,  
đưa nông nghiệp lên sản xuất lꢀn XHCN, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và  
tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công  
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công – nông nghiệp  
hợp lý. Mặc dù nhận thức về CNH đã có bưꢀc tiến nhưng do hậu quả nặng nề của chiến  
tranh, nên nền kinh tế Việt Nam vẫn lạc hậu. Nền kinh tế ngày càng bị mất cân đối và lâm  
vào khủng hoảng. Cơ cấu kinh tế ngành trong suốt nhiều năm hầu như không dịch  
chuyển. Quá trình cải tạo kỹ thuật nền kinh tế, chuyển từ trình độ thủ công sang trình độ  
cơ khí chỉ đạt được những kết quả khiêm tốn. Tựu chung, đặc trưng của công nghiệp  
hoá trưꢀc đổi mꢀi là công nghiệp hóa theo mô hình kinh tế khép kín, hưꢀng nội,  
thiên về phát triển công nghiệp nặng. CNH chủ yếu dựa vào các lợi thế về lao động, tài  
nguyên, đất đai, sự viện trợ của các nưꢀc XHCN. Chủ lực thực hiện CNH là Nhà nưꢀc và  
các doanh nghiệp Nhà nưꢀc. Việc phân bố nguồn lực để CNH được thực hiện thông qua  
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, không tôn trọng các quy luật của thị  
trường. Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh ham làm lꢀn, không quan  
tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội.  
Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đổi mꢀi toàn diện, đồng bộ. Trên phương  
diện CNH, nhận thức của Đảng có sự thay đổi căn bản. Nghị quyết Đại hội VI nêu rõ:  
“Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát những năm còn lại của chặng đường đầu tiên  
là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết  
cho việc đẩy mạnh công nghiệp XHCN trong những chặng đường tiếp theo” (1). Thực  
chất của đổi mꢀi tư duy kinh tế của Đại hội VI là xóa bỏ cơ chế tập trung quan lieu bao  
cấp, thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Vꢀi sự thay đổi nhận thức về  
cơ chế và phương thức vận hành nền kinh tế như vậy, nhận thức về CNH cũng có  
những thay đổi mạnh mẽ. Thứ nhất, chấp nhận thị trường là cơ chế mꢀi tham gia phân  
bổ nguồn lực để tiến hành CNH. Trưꢀc đây, vai trò này duy nhất thuộc về nhà nưꢀc,  
thông qua các kế hoạch tập trung cao độ, nhà nưꢀc bao cấp các doanh nghiệp toàn  
diện. Thứ hai, coi “mở cửa” là một phương thức, một nguyên tắc quan trọng để thực  
hiện CNH, thay cho phương thức “tự lực cánh sinh” vốn là cách đặt vấn đề thích hợp  
vꢀi hoàn cảnh chiến tranh, nền kinh tế khép kín và bị bao vây cấm vận. Thứ ba, kinh tế  
nhà nưꢀc không còn là lực lượng duy nhất, độc tôn tiến hành CNH. Kinh tế tư nhân  
trong nưꢀc và khu vực đầu tư nưꢀc ngoài – những chủ thể mꢀi của nền kinh tế nhiều  
thành phần – được thừa nhận là những lực lượng quan trọng thực hiện CNH. Như vậy,  
đến Đại hội VI của Đảng đã có sự thay đổi cơ bản về nội dung, bưꢀc đi và cơ chế thực  
hiện CNH. CNH phải được tiến hành từng bưꢀc, trải qua nhiều chặng đường. Trong  
chặng đường đầu tiên, vai trò của nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và xuất  
khẩu là rất quan trọng để ổn định kinh tế - xã hội, xây dựng tiền đề đẩy mạnh CNH  
chặng đường tiếp theo. Tư duy CNH hưꢀng vào xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập  
khẩu bưꢀc đầu được hình thành.  
HNTƯ 7 khoá VII của Đảng (7-1994) đưa ra chủ trương phát triển công nghiệp,  
công nghệ đến năm 2000 theo hưꢀng CNH, HĐH ... Nhận thức CNH, HĐH được nêu  
-511-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
ra thay cho cách đặt vấn đề CNH trưꢀc đây (không có mệnh đề HĐH). Hội nghị làm rõ  
khái niệm CNH, HĐH là “ quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản  
xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội , từ sử dụng lao động thủ công là  
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng vꢀi công nghệ, phương tiện  
và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ  
khoa học – công nghê, tạo ra năng suất lao động cao.” (2). Từ HNTƯ 7, khái niệm  
CNH, HĐH được dùng phổ biến thay cho khái niệm CNH XHCN. Đây không chỉ là sự  
thay đổi khái niệm đơn thuần mà là mở đầu cho tư duy về con đường CNH rút ngắn ở  
nưꢀc ta, khắc phục tình trạng tụt hậu xa hơn so vꢀi các nưꢀc trong khu vực và thế giꢀi.  
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6-1996) đã đưa ra nhận định quan trọng: “nưꢀc ta  
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội…nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của  
TKQĐ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển  
sang thời kỳ mꢀi đẩy mạnh CNH, HĐH đất nưꢀc” (3). Đại hội đã thông qua 6 quan  
điểm CNH, HĐH: (1) độc lập tự chủ đi đôi vꢀi hợp tác quốc tế; (2) CNH, HĐH là sự  
nghiệp của toàn dân; (3) nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và  
bền vững; (4) khoa học và công nghệ là động lực của CNH, HĐH; (5) lấy hiệu quả  
kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn phát triển; (6) kết hợp kinh tế vꢀi quốc phòng – an  
ninh.  
Kế thừa tư duy của các đại hội, hội nghị trưꢀc, Đại hội lần thứ IX của Đảng (6-  
2001) nêu rõ “Con đường CNH, HĐH ở nưꢀc ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa  
có những bưꢀc tuần tự, vừa có những bưꢀc nhảy vọt” (4). Đây là tư duy về mô hình  
CNH rút ngắn theo hưꢀng hiện đại, nhằm xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ.  
Một sự bổ sung mang tính sáng tạo vào nhận thức lý luận về CNH trong điều kiện hiện  
đại.  
Đại hội X tiếp tục có những phát triển mꢀi trong nhận thức về CNH trong thời  
hiện đại, thể hiện ở ba điểm chính. Một là, rút ngắn quá trình CNH, HĐH trên cơ sở  
“tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra”. Luận điểm này thể hiện một tư  
tưởng phát triển mꢀi: tư tưởng CNH, HĐH dựa vào hội nhập. Hai là, rút ngắn quá  
trình CNH, HĐH trên cơ sở “tiềm năng và lợi thế so sánh của đất nưꢀc”. Luận điểm  
này báo hiệu sự chính thức bắt đầu từ bỏ quan điểm xây dựng một nền kinh tế tự bảo  
đảm sản xuất tất cả những gì mình cần chứ không phải sản xuất những gì mình có thể  
làm tốt nhất trong hệ thống phân công lao động quốc tế. Ba là, chính thức khẳng định  
“kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH”.  
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mꢀi, Đại hội lần thứ  
XI (1-20011) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nưꢀc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa  
xã hội nêu quan điểm cơ bản và định hưꢀng lꢀn về CNH: Đó là “CNH, HĐH gắn vꢀi phát  
triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý,  
hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.  
Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và  
các ngành công nghiệp có lợi thế, phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ  
công nghệ cao, chất lượng cao gắn vꢀi công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mꢀi.  
Bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền; thꢁc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh  
-512-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn. Xây dựng  
nền kinh tế độc lập, tự chủ, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. (4)  
Tại Đại hội XII của Đảng, quan điểm về CNH, HĐH tiếp tục có sự bổ sung, phát  
triển cho phù hợp vꢀi tình hình mꢀi của đất nưꢀc và xu thế hội nhập quốc tế, trong đó  
nổi bật là các khía cạnh sau: Một là, mục tiêu của CNH, HĐH được điều chỉnh cho sát  
vꢀi thực tiễn. Đại hội VIII của Đảng năm 1996, Đảng ta đề ra mục tiêu đến năm 2020  
nưꢀc ta sẽ trở thành “Một nưꢀc công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại”. Tại  
Đại hội IX của Đảng (năm 2001), mục tiêu này được diễn đạt mềm dẻo hơn là: “Đến năm  
2020, nưꢀc ta cơ bản trở thành nưꢀc công nghiệp theo hưꢀng hiện đại”. Đại hội X của  
Đảng (năm 2006), một lần nữa xác định: “Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri  
thức tạo nền tảng để đưa nưꢀc ta cơ bản trở thành nưꢀc công nghiệp theo hưꢀng hiện đại  
vào năm 2020”. Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “… tạo nền tảng để đến năm 2020 nưꢀc  
ta cơ bản trở thành nưꢀc công nghiệp theo hưꢀng hiện đại” (5). Tuy nhiên, Văn kiện Đại  
hội XII của Đảng đã đánh giá: “Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chưa đạt kế hoạch, nhiều  
chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nưꢀc ta cơ bản trở thành nưꢀc  
công nghiệp theo hưꢀng hiện đại không đạt được (6). Để khắc phục tình hình đó trong 5  
năm 2016-2020 phương hưꢀng được xác định linh hoạt hơn: “Đẩy mạnh CNH, HĐH  
phấn đấu sꢀm đưa nưꢀc ta cơ bản trở thành nưꢀc công nghiệp theo hưꢀng hiện đại”. Hai  
là, định hưꢀng xác định hệ tiêu chí nưꢀc công nghiệp theo hưꢀng hiện đại: tiêu chí phản  
ánh trình độ phát triển của nền kinh tế, tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội,  
tiêu chí phản ánh về môi trường … Ba là, xác định các giai đoạn của quá trình CNH,  
HĐH. Theo đó, “CHN, HĐH đất nưꢀc ta tiến hành theo 3 bưꢀc: tạo tiền đề, điều kiện để  
CNH, HĐH, đẩy mạnh CNH, HĐH; và nâng cao chất lượng CNH, HĐH và nâng cao chất  
lượng. Bốn là, Xác định phương hưꢀng, nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH giai đoạn 2016-  
2020. Đẩy mạnh thực hiện mô hình CNH, HĐH trong điều kiện phát triển KTTT định  
hưꢀng XHCN và hội nhập quốc tế, gắn vꢀi phát triển kinh tế tri thức.  
Tóm lại, nhận thức về CNH, HĐH của Đảng đã có chuyển biến quan trọng trong  
thời kỳ đổi mꢀi: thứ nhất, từ CNH gắn vꢀi quan niệm xây dựng quan hệ sản xuất  
XHCN đi trưꢀc mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, chuyển sang ưu  
tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp. Thứ hai, từ CNHXHCN vꢀi  
cách làm nóng vội, bỏ qua các bưꢀc đi trung gian cần thiết, đã chuyển sang thực hiện  
CNH vừa có bưꢀc đi tuần tự, giai đoạn trưꢀc tạo tiền đề cho sự phát triển của giai đoạn  
sau, vừa cho phép phát triển rút ngắn trên cơ sở đi tắt đón đầu các thành tựu phát triển  
nhảy vọt về khoa học và công nghệ của thế giꢀi. Thứ ba, từ quan niệm CNH cổ điển  
chuyển sang quan niệm CNH, HĐH gắn vꢀi phát triển kinh tế tri thức. Thứ tư, từ chủ  
trương xác lập nóng vội cơ cấu kinh tế công nông nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu  
kinh tế theo hưꢀng CNH, HĐH. Thứ năm, từ CNH theo mô hình kinh tế khép kín,  
hưꢀng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng chuyển sang thực hiện mô hình  
CNH, HĐH vꢀi một nền kinh tế mở, đa dạng hoá, đa phương hoá theo thông lệ quốc  
tế, hưꢀng mạnh về xuất khẩu kết hợp vꢀi thay thế nhập khẩu. Thứ sáu, từ quan niệm  
CNHXHCN là trách nhiệm của thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể chuyển sang  
CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế. Thứ bảy, từ CNH  
thực hiện trong khuôn khổ thể chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, chuyển  
-513-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
sang tuân theo thị trường, gắn thị trường trong nưꢀc vꢀi thị trường quốc tế thành một  
chỉnh thể hữu cơ, có sự quản lý của nhà nưꢀc theo định hưꢀng XHCN.  
2.2. Công nghiệp hóa trong thực tiễn hơn 30 năm Đổi mới  
Những kết quả đạt được:  
Sau hơn 30 năm đổi mꢀi, CNH ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng.  
Đưa nưꢀc ta từ một trong các quốc gia nghèo nhất thế giꢀi trở thành quốc gia có thu  
nhập trung bình thấp và ngày càng hội nhập sâu rộng vꢀi khu vực và thế giꢀi, đời sống  
của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế và uy tín của đất nưꢀc ta trên trường  
quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những  
quốc gia có nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu (CIP) ở mức khá cao vꢀi  
vị trí 44 trên thế giꢀi vào năm 2018: “ Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao  
nhất trong các ngành kinh tế quốc dân vꢀi đóng góp xấp xỉ 30% GDP và trở thành  
ngành xuất khẩu chủ lực của đất nưꢀc, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 22 quốc gia xuất  
khẩu lꢀn nhất thế giꢀi vào năm 2018. Công nghệ sản xuất công nghiệp đã có bưꢀc  
thay đổi về trình độ theo hưꢀng hiện đại. Tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến trong  
giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 49,82% năm 2011 lên 54,57% năm 2019, tỷ trọng  
công nghiệp khai thác giảm dần từ 36,47% năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019, cơ  
cấu xuất khẩu chuyển dịch phù hợp vꢀi tiến trình CNH, HĐH” (7). Công nghiệp hoá  
nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến, nông nghiệp phát triển toàn diện hơn theo  
hưꢀng khai thác những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đꢀi, ứng dụng khoa học –  
công nghệ và mức độ cơ giꢀi hoá được nâng lên; xây dựng nông thôn mꢀi có nhiều  
tiến bộ. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực, quá trình đô thị hoá diễn ra khá  
nhanh. Cơ cấu kinh tế theo ngành dần chuyển dịch theo hưꢀng giảm tỷ trọng ngành  
nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng.  
Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp gắn vꢀi đổi mꢀi mô hình tăng  
trưởng, nâng cao năng suất lao động đã đi vào thực chất hơn, ngày càng hưꢀng vào lõi  
công nghiệp hoá. Theo đó, công nghiệp tiếp tục duy trì là ngành có năng suất lao động  
cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân vꢀi tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm  
2011 lên 27,81% năm 2015 và 28,55% năm 2019.  
Một số hạn chế:  
Bên cạnh những thành tựu đạt được, CNH, HĐH trong thực tiễn còn tồn tại  
những hạn chế: kết quả chưa tương xứng vꢀi tiềm năng, chưa đạt được mục tiêu đã  
hoạch định. Thực hiện CNH, HĐH còn chậm, chưa gắn vꢀi phát triển kinh tế tri thức.  
Quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp hỗ trợ chưa có  
định hưꢀng chiến lược rõ ràng, hiệu quả thấp. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội  
còn nhiều hạn chế, yếu kém, lạc hậu và thiếu tính kết nối. Phát triển đô thị thiếu đồng  
bộ, chất lượng thấp. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn vꢀi xây dựng nông thôn  
mꢀi còn chậm. Quy mô kinh tế nhỏ, phát triển chưa bền vững. Cơ cấu kinh tế chuyển  
dịch chậm. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém.  
Một số giải pháp:  
-514-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Để thực hiện thành công các Nghị quyết Đại hội Đảng về CNH, HĐH, sẵn sàng  
thích ứng vꢀi tác động của bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần tiến hành  
các giải pháp như sau:  
+ Một là, thể chế hoá, hiện thực hoá chủ trương “khoa học – công nghệ là nền  
tảng, động lực của CNH, HĐH; đẩy mạnh CNH, HĐH gắn vꢀi phát triển kinh tế tri  
thức và chủ động tích cực hội nhập quốc tế”. Thực hiện mô hình CNH, HĐH rꢁt ngắn  
hiện đại, dựa vào tri thức công nghệ, lấy “bám đuổi” tri thức, bám đuổi công nghệ cao  
làm cốt lõi. Xây dựng nền kinh tế dựa trên nền tảng sáng tạo. Đây là cách thức có hiệu  
quả nhất để tận dụng lợi thế phát triển chủ yếu của thời đại dành cho các nưꢀc đi sau.  
+ Hai là, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, gắn vꢀi đẩy mạnh hợp  
tác quốc tế nhằm tạo nguồn vốn cho quá trình CNH, HĐH đất nưꢀc. Một trong những  
lợi thế của Việt Nam là nền nông nghiệp nhiệt đꢀi và nguồn lao động dồi dào có trí  
tuệ, giàu sức sáng tạo. Ngoài ra, các thành tựu khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức  
và các mối quan hệ hợp tác quốc tế, cùng những hiệp định thương mại vꢀi các đối tác,  
trong đó nhiều nưꢀc có nguồn công nghệ hàng đầu thế giꢀi, chính là những ngoại lực  
quan trọng mà Việt Nam có thể khai thác. Nắm bắt và đẩy mạnh việc ứng dụng những  
thành tựu của cuộc cách mạng công nghiêp lần thứ 4.  
+ Ba là, đổi mꢀi giáo dục – đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đặc biệt  
là nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học –  
công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mꢀi, công nghệ thông  
tin… phục vụ CNH, HĐH đất nưꢀc.  
+ Bốn là, đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ và cải cách thuế, phí, thủ tục  
hành chính nhằm thu hꢁt đầu tư, giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao tỷ  
lệ lấp đầy các khu công nghiệp trên cả nưꢀc nhất là ở khu vực nông thôn.  
+ Năm là, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để ứng phó vꢀi những tác động tiêu  
cực của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong đó cần thực hiện các nhiệm vụ:  
xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật về công nghệ thông tin và truyền thông, chuẩn  
bị nền tảng kinh tế số. Thực hiện chuyển đổi số nền kinh tế và quản trị xã hội.  
3. KẾT LUẬN  
Quá trình đổi mꢀi tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH là quá trình  
chuyển đổi từ mô hình CNH “khép kín”, kế hoạch hoá tập trung sang chiến lược CNH  
gắn vꢀi việc phát triển kinh tế thị trường định hưꢀng XHCN, dựa trên kinh tế tri thức  
và hội nhập quốc tế. Sự chuyển đổi đó làm cho nền kinh tế Việt Nam vận hành theo  
qui luật thị trường, chịu sự định hưꢀng bởi các nguyên tắc và bản chất của chế độ  
XHCN; khai thác được mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế tham gia vào quá trình  
CNH, thích ứng vꢀi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đưa nền kinh tế tham gia  
vào phân công lao động quốc tế, tiếp cận được khoa học – công nghiệp hiện đại, kinh  
nghiệm quản lý tiên tiến của thế giꢀi, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài…kết hợp sức  
mạnh trong nưꢀc và quốc tế, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nưꢀc vì mục tiêu dân  
giàu, nưꢀc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  
-515-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
TÀI LIỆU THAM KHẢO.  
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2006, tr354  
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hôi nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung  
ương khoá VII, Nxb CTQG, H. 1994, tr65.  
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hôi nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung  
ương khoá VIII, Nxb CTQG, H, 1996, tr67-68.  
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb  
CTQG, H, 2001, tr91.  
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb  
CTQG, H, 2011, tr33.  
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb  
CTQG, H, 2016, tr60.  
[7] Ban chỉ đạo 35 Bộ Công thương, Những thành tựu nổi bật trong công nghiệp góp  
phần quan trọng thꢁc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nưꢀc, Báo Công thương, Hà Nội  
tháng 9 năm 2020.  
-516-  
pdf 7 trang baolam 24980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công nghiệp hoá ở Việt Nam thời kỳ đổi mới từ nhận thức đến thực tiễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_nghiep_hoa_o_viet_nam_thoi_ky_doi_moi_tu_nhan_thuc_den.pdf