Giáo trình Phân loại động vật thủy sản (Trình độ cao đẳng)

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỦY SẢN  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN: PHÂN LOẠI ĐỘNG VẬT THỦY SẢN  
NGHỀ: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
(Ban hành theo Quyết định số:  
/QĐ-CĐKTKTTS ngày tháng năm 2020  
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản)  
1
MỤC LỤC  
CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN ....................................................................................................5  
4
CHƯƠNG TRÌNH MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Phân loại động vật thủy sản  
Mã số mô đun: MĐ09  
Thời gian thực hiện mô đun: 45 giờ; (Lý thuyết: 15 giờ; Thực hành, thí  
nghiệm, thảo luận, bài tập: 29 giờ; Kiểm tra: 1 giờ)  
I. Vị trí, tính chất mô đun:  
- Vị trí: Mô đun “Phân loại động vật thủy sản” là mô đun cơ sở ngành bắt  
buộc của chương trình đào tạo cao đẳng nghề Nuôi trồng Thủy sản.  
- Tính chất: Nội dung mô đun cung cấp cho người học kiến thức về hình  
thái cấu tạo, giải phẫu cá, giáp xác, nhuyễn thể, là cơ sở ứng dụng trong nuôi và  
định loại các loài động vật thủy sản nuôi có giá trị kinh tế.  
II. Mục tiêu mô đun:  
- Về kiến thức:  
+ Sinh viên trình bày vị trí hình thái giải phẫu các cơ quan bộ phận của cá.  
+ Sự thích nghi về sinh thái học trong dinh dưỡng, sinh trưởng, sinh sản,  
di cư của cá.  
+ Những đặc điểm sinh học cơ bản của một số loài cá kinh tế ở nước ta.  
- Về kỹ năng:  
+ Sinh viên xác định được vị trí, mô tả đặc điểm cấu tạo của các hệ cơ  
quan trên cơ thể cá.  
+ Xác định được mối quan hệ mật thiết của ba mặt cấu tạo, sinh lý, sinh  
thái  
+ Thực hiện thao tác xác định các dấu hiệu phân loại hình thái, biết cách  
sử dụng khóa tra định loại tiến hành định loại một số loài cá kinh tế.  
+ Mô tả đặc điểm phân loại, sinh học của một số đối tượng nuôi kinh tế.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:  
Có thái độ nghiêm túc, chịu khó trong học tập, liên hệ giữa kiến thức lý  
thuyết với thực tiễn.  
III. Nội dung mô đun:  
1. Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian:  
Tên các bài trong mô đun  
Thời gian  
Số  
5
TT  
Thực  
hành,  
thí  
Tổng  
số  
Lý  
Kiểm  
nghiệm,  
thảo  
thuyết  
tra  
luận,  
bài tập  
1.  
2.  
Bài 1. Hình thái giải phẫu cá  
5
2
3
3
Bài 2. Phân loại một số loài cá nuôi  
có giá trị kinh tế  
10  
6
1
Bài 3. Hình thái cấu tạo tôm – Phân  
loại một số loài tôm nuôi có giá trị  
kinh tế  
3.  
15  
15  
5
5
10  
Bài 4. Phân loại một số loài động vật  
thân mềm nuôi có giá trị kinh tế  
4.  
5.  
10  
Cộng  
45  
15  
29  
1
2. Nội dung chi tiết:  
Bài 1: Hình thái giải phẫu cá  
1. Mục tiêu của bài  
Thời gian: 5 giờ  
- Trình bày được cấu tạo hình thái ngoài, cấu tạo giải phẫu trong của cơ  
thể cá.  
- Xác định vị trí của các cơ quan bộ phận trên cơ thể cá.  
2. Nội dung bài: Hình thái giải phẫu cá  
2.1. Hình dạng và các cơ quan bên ngoài của cơ thể cá  
2.2. Da và sản phẩm của da  
2.3. Hệ xương  
2.4. Hệ cơ  
2.5. Hệ tiêu hoá  
6
2.6. Hệ hô hấp  
2.7. Hệ tuần hoàn  
2.8. Hệ niệu sinh dục  
2.9. Hệ thần kinh  
2.10 Cơ quan cảm giác  
2.11. Cơ quan nội tiết  
Bài 2. Phân loại một số loài cá nuôi có giá trị kinh tế Thời gian 10 giờ  
1. Mục tiêu của bài  
- Trình bày được hệ thống phân loại một loài cấn xác định theo thứ hạng:  
Ngành, lớp, bộ, họ, giống, loài  
- Trình bày các đặc điểm thường dùng trong phân loại cá  
- Nhận biết, phân loại các loài cá nuôi có giá trị kinh tế hiện nay.  
2. Nội dung bài: Phân loại một số loài cá nuôi có giá trị kinh tế  
2.1. Hệ thống phân loại cá  
2.2. Những đặc điểm hình thái dùng trong phân loại cá  
2.3. Phân loại các loài cá nuôi có giá trị kinh tế  
2.3.1. Cá chép  
2.3.2. Cá Mè trắng  
2.3.3. Cá mè hoa  
2.3.4. Cá Trăm cỏ  
2.3.5. Cá Trôi ấn  
2.3.5. Cá Rô phi  
2.3.6. Cá Vược  
2.3.7. Cá Song/Mũ  
2.3.8. Cá Chim vây vàng  
2.3.9. Cá Giò/ bớp  
2.3.10. Cá Hồng mỹ  
Bài 3. Hình thái cấu tạo tôm – Phân loại một số loài tôm nuôi có giá trị  
kinh tế  
Thời gian 15 giờ  
7
1. Mục tiêu của bài  
- Trình bày được đặc điểm cấu tạo ngoài và cấu tạo trong của tôm.  
- Phân biệt sự khác biệt và nhận biết được các loài tôm: tôm sú, tôm thẻ  
chân trắng, tôm càng xanh, tôm hùm.  
2. Nội dung bài: Hình thái cấu tạo tôm – Phân loại một số loài tôm nuôi  
có giá trị kinh tế  
2.1 Màu sắc ở giáp xác  
2.2. Đặc điểm hình thái của tôm  
2.3. Đặc điểm cấu tạo của tôm  
2.4. Phân biệt giới tính của tôm  
2.5. Tôm sú  
2.6. Tôm thẻ chân trắng  
2.7. Tôm hùm  
2.8. Tôm càng xanh  
Bài 4. Phân loại một số loài động vật thân mềm nuôi có giá trị kinh tế  
Thời gian: 15 giờ  
1. Mục tiêu của bài  
- Trình bày được hình thái, cấu tạo giải phẫu của động vật thân mềm hai  
mảnh vỏ (Bivalvia).  
- Nhận biết, phân biệt được các loài hai mảnh vỏ nuôi có giá trị kinh tế  
thuộc bộ Veneroida: Hàu (giống Ostrea), Ngao/ nghêu, Ốc vòi voi/ Tu hài  
- Trình bày hình thái, cấu tạo giải phẫu động vật thân mềm chân bụng.  
Nhận biết ốc hương  
2. Nội dung bài: Phân loại một số loài động vật thân mềm nuôi có giá trị  
kinh tế  
2.1. Hình thái cấu tạo lớp động vật thân mềm hai mảnh vỏ - Bivalvia  
2.1.1. Nhận biết nhóm Ngao/Nghêu  
2.1.2. Nhận biết nhóm Tu hài  
8
2.1.2. Nhận biết nhóm Hàu  
2.2. Hình thái cấu tạo lớp chân bụng Gastropoda  
2.2.1. Nhận biết Ốc hương  
9
BÀI 1. HÌNH THÁI GIẢI PHẪU CÁ  
Mục tiêu:  
- Trình bày được cấu tạo hình thái ngoài, cấu tạo giải phẫu trong của cơ  
thể cá.  
- Phân tích được sự thích nghi trong cấu tạo cơ thể với môi trường sống.  
- Xác định vị trí của các cơ quan bộ phận trên cơ thể cá.  
Cá là động vật có xương sống, sống ở dưới nước, hô hấp bằng mang, tim  
có 2 ngăn và một vòng tuần hoàn... Cần phân biệt theo cách gọi một số loài  
không phải là cá, sống trong nước: Cá mực, cá sấu, cá voi.  
1. Hình dạng và các cơ quan bên ngoài của cơ thể cá  
1.1. Dạng hình của cá  
Mỗi một loài có cấu tạo hình thái khác nhau thích nghi với môi trường và  
tập tính sống của cá. Đó là kết quả hình thành trong quá trình thích nghi, tiến  
hoá của loài. Thân cá chia làm 3 trục cơ thể: trục đầu đuôi, trục lưng bụng, trục  
phải trái. Tuỳ thuộc vào từng loài mà độ dài các trục này có tỉ lệ khác nhau.  
Nhưng nhìn chung cá có các hình dạng chung như sau:  
Dạng hình thoi: Là dạng hình phổ biến nhất của cá, dạng hình này thích  
hợp với việc bơi lội trong nước, thân có hình hơi dẹt. Trục đầu đuôi, trục lưng  
bụng và trục phải trái có tỉ lệ cân đối dạng thuỷ động học. Cá có hình thoi phần  
trước và sau đều nhỏ hơn phần giữa, thân hơi dẹp bên hoặc tròn. Thân hình thoi  
giảm nhẹ sức cản của nước khi tiến về phía trước, triệt tiêu xoáy rối nước ở phía  
sau giúp cá bơi lội nhanh.  
Ví dụ: cá trắm cỏ Ctennopharyngodon idella, cá măng Elopichthys  
bambusa. Cá biển như cá thu Scomber, ngừ Thunnus…  
10  
   
Dạng hình ống  
Là những loài cá hình ống dài, trục lưng bụng, trục phải trái ngắn nhất,  
trục đầu đuôi dài nhất, đầu nhọn, đuôi vót, thân tròn dài bơi lội uốn khúc trong  
nước, chui luồn trong hang hốc, trong bùn. Kiểu bơi lội này châm chạp nhưng  
tốn ít năng lượng, di chuyển bằng cách uốn lượn thân. Chúng ta bắt gặp dạng  
hình này ở cá Chình Anguilla spp., Lươn Monopterus albus, Chạch bùn  
Misgurnus anguillicaudatus  
Dạng hình dẹt bên  
Trục đầu đuôi ngắn lại, trục lưng bụng dài ra, trục phải trái ngắn nhất.  
- Ví dụ: cá vền (Megalobrama skolkovii), cá chim đen (Formio niger) cá  
dìa sọc (Siganus guttatus). Những loài cá có dạng hình trên thường phân bố tầng  
nước giữa hoặc gần đáy, nơi có dòng chảy yếu hoặc yên tĩnh.  
Dạng hình bẹt  
Dạng hình này có trục lưng bụng ngắn nhất, trục đầu đuôi vừa phải, còn  
trục phải trái dài nhất (ví dụ Cá Đuối) phần lớn những loài cá này sống tầng đáy,  
ít bơi lội, di chuyển chậm chạp.  
Dạng hình giải  
- Thân dẹp 2 bên, kéo dài thành dải lụa bơi lội nhờ uốn thân sống ở vùng  
nước tĩnh, nước sâu. Ví dụ: cá Hố Trichius), cá Regalecus.  
- Ngoài các dạng hình trên cá còn một số dạng hình đặc biệt để thích nghi  
với đời sống và tập tính đặc thù riêng của nó. Ví dụ: cá Ngựa Hyppocampus thân  
hình giống như con ngựa, cá Mặt trăng Mola mola thân hình tròn như trái bóng  
sống trôi nổi. Cá nóc gai, nóc hơi khi gặp kẻ thù chúng đớp không khí vào làm  
trương tròn bụng, cá trôi trên mặt nước, các gai vẩy dựng lên để tránh hoặc doạ  
kẻ thù.  
1.2. Kích thước của cá  
Các loài cá khác nhau có kích thước khác nhau: Loại cá có kích thước lớn  
như cá Mập dài 16-17 m, nặng 5-6 tấn. Cá Đuối Mobula manta rộng đĩa thân  
6m, nặng 4 tấn. Cá Tầm Huso huso dài tới 5- 6 m. Cá Bông lau Pangasius sp dài  
tới 3,3 m. Bên cạnh đó có những loài cá có kích thước nhỏ nhất: cá Đòng đong  
Puntius, cá Sóc dài 20mm...  
Trong cùng một loài, cùng một lứa tuổi nhưng nuôi trong môi trường rộng  
hẹp cá cũng có kích thước khác nhau như các loài được nuôi làm cảnh...Kích  
thước của cá phụ thuộc vào môi trường sống,  
1.3. Các cơ quan bên ngoài  
Cơ thể cá bên ngoài chia làm ba phần: Đầu, thân và đuôi. Ranh giới giữa  
đầu và thân là khe mang cuối cùng, ranh giới giữa thân và đuôi là sau gốc vây  
hậu môn  
1.3.1. Đầu cá  
11  
Đầu cá có nhiều dạng khác nhau, đa số có dạng đầu nhọn. Có thể thường  
gặp một số dạng đầu sau:  
Hình 1.1. Cấu tạo ngoài của cá  
- Dạng đầu dẹt theo mặt phẳng nằm ngang: cá quả, cá trê, chiên, nheo.  
- Dạng đầu dẹt hai bên: cá chép, mè, thu chim.  
- Dạng dài và nhọn: cá Kìm, cá Nhái.  
- Trên đầu cá có miệng, râu, mũi mắt, mang.  
Miệng cá:  
Đặc điểm cấu tạo, hình dạng kích thước vị trí của miệng phụ thuộc chủ  
yếu vào tập tính bắt mồi và đặc điểm dinh dưỡng của cá.  
Lớp cá Miệng tròn Cyclostomata không có hàm mà dạng phễu có nhiều  
răng sắc bám, ký sinh vào loài cá khác. Ở lớp cá Sụn Chondrichthyes miệng  
nằm mặt bụng, miệng rộng. Đối với lớp cá Xương căn cứ vào vị trí của miệng  
và xương hàm có chia thành các dạng miệng sau:  
+ Miệng hướng về phía trước hai hàm trên và hàm dưới của chúng gần  
bằng nhau ví dụ như cá chép Cyprinus carpio.  
+ Miệng ở phía dưới có hình khe ngang, môi dưới có viền sừng sắc nhọn  
để gặm rêu cá Trôi Cirrhina molitorella, cá Anh vũ Semilabeo obscurus.  
+ Miệng hướng phía trên hàm trên ngắn hơn hàm dưới cá Thiểu  
Erythroculter.  
+ Những loài cá ăn sinh vật nhỏ hay thức ăn ít di động có miệng vừa và  
nhỏ.  
Râu:  
Râu là cơ quan cảm giác và xúc giác của cá giúp cá tìm kiếm mồi. Tuỳ vị  
trí của râu mà ta gọi.  
12  
+ Có râu mũi như cá bò (Pseudobagrus fulvidraco), cá Chiên (Bagarius  
rutilus). Râu cằm mọc ở dưới hàm dưới về phía bụng như cá phèn hai sọc  
(Upeneus sulphureus).  
+ Râu hàm trên, hàm dưới như cá Chép (Cyprinus carpio).  
+ Râu miệng như cá Chạch (Misgurnus anguillicadutus) có 5 đôi.  
- Có loài có râu, có loài không có râu, số lượng cũng khác nhau. Những  
loài cá sống tầng đáy sâu thường có râu rất phát triển, do ở tầng đáy ít ánh sáng  
mắt không phát huy được tác dụng.  
- Trong phân loại cá có hay không có râu, vị trí số lượng độ dài của râu là  
một chỉ tiêu phân loại giữa các loài, bộ, họ với nhau.  
Mắt:  
Mắt cá nằm đối xứng hai bên đầu, tuy nhiên hình dạng vị trí kích thước  
của mắt phụ thuộc vào vị trí môi trường sống, tập tính sống.  
- Cá sống tầng nước mặt: mắt thường to và nằm ở hai bên nửa trên đầu cá,  
gặp ở cá mè, cá trích.  
- Cá sống ở nước sâu đục mắt tiêu giảm, cá sống ở đáy mắt ở lưng, gặp ở  
lươn, trê.  
- Cá sống vùng triều: sống ở ven bờ mắt nổi hẳn lên. Cá thoi loi  
Priophthalmus, bống kèoĐặc biệt có loài cá có 4 mắt Nabaps mắt lồi lên đỉnh  
đầu, mỗi mắt chia làm hai phần, phần trên có thể nhìn trong không khí, phần  
dưới nhìn được trong nước.  
Mũi:  
- Mũi cá có nhiệm vụ cảm nhận được mùi vị của thức ăn, mùi vị môi  
trường nước.  
- Mũi cá thường nằm phần trên đầu, sau môi, ở trước mắt. Mũi cá thường  
không thông với xoang miệng như các động vật bậc cao khác. Trừ Lớp cá miệng  
tròn, cá phổi lỗ mũi thông với xoang miệng. Ở cá Sụn có rãnh mũi miệng, nước  
từ mũi qua rãnh mũi miệng rồi vào xoang miệng (dạng cấu tạo nguyên thuỷ).  
- Cá Xương mỗi bên có hai lỗ mũi thông với nhau qua một màng ngăn.  
Khoảng cách hai lỗ mũi tuỳ thuộc từng loài.  
Mang và khe mang:  
- Mang và khe mang là cơ quan hô hấp của cá. Số lượng cung mang và  
khe mang tuỳ thuộc từng lớp cá khác nhau.  
- Cá Miệng Tròn có 7 – 14 đôi lỗ mang hình tròn hoặc hình bầu dục,  
không có nắp mang.  
- Cá Sụn có 5- 7 đôi (cá Nhám khe mang nằm hai bên đầu; cá Đuối khe  
mang nằm ở mặt bụng) không có nắp mang.  
13  
- Cá xương có một đôi khe mang nằm hai bên đầu, chứa 4 -5 đôi cung  
mang bên trong có nắp mang che phủ. Riêng Lươn khe mang hai bên ở mặt  
bụng của đầu.  
Lỗ phun nước:  
- Cá Sụn và một vài loài cá xương có một đôi lỗ phun nước nằm hai bên  
sau mắt do khe mang đầu tiên thoái hoá. Cá Sụn lỗ phun nước được coi là cơ  
quan hô hấp.  
1.3.2. Thân và đuôi cá  
- Thân cá là phần chính chứa nội tạng. Bên ngoài có vây ngực, vây bụng  
và vây lưng.  
- Đuôi gồm bắp đuôi tính từ hậu môn đến gốc đuôi và vây đuôi.  
2. Da và sản phẩm của da  
2.1. Da cá  
- Vai trò:  
+ Da cá có tác dụng bảo vệ cơ thể chống sự xâm nhập của vi trùng, tránh  
sự cọ sát của bên ngoài.  
+ Tham gia quá trình hô hấp và bài tiết.  
+ Điều hoà áp suất thẩm thấu.  
+ Tạo ra các sản phẩm của da: cơ quan phát sáng, tuyến độc...  
+ Ngoài ra có khả năng hấp thụ một số chất và có chức năng là cơ quan  
cảm giác.  
- Cấu tạo: Cũng giống như động vật có xương sống bậc cao cấu tạo da cá  
gồm hai lớp  
+ Lớp biểu bì: Trong các tế bào biểu bì có xen lẫn tế bào tuyến đơn bào  
hoặc đa bào tiết chất nhầy. Tuyến tiết dịch quánh hình cốc đổ ra ngoài.  
Tuyến tiết dịch nhầy hình chuỳ, hình cầu đổ vào khe các tế bào biểu  
bì. Các chất này có tác dụng làm trơn da và chống vi khuẩn xâm nhập, hoặc đến  
mùa sinh sản ở con đực tăng tiết tạo nốt sần ở da, xương nắp mang, vây ngực  
(họ cá chép cyprinidae).  
Một số loài cá có tuyến độc nằm ở gốc tia vây lưng, gai vây ngực,  
gai nắp mang, có tác dụng tự vệ và bắt mồi.  
Cơ quan phát sáng: được hình thành bởi các vi sinh vật sống kí sinh  
trên da cá hoặc do tế bào lớp biểu bì biến đổi thành  
+ Lớp bì: Nằm dưới lớp biểu bì phân biệt thành hai tầng: Tầng liên kết  
xốp mỏng có các tế bào sắc tố, các tế bào dạng sợi ngang dọc sắp xếp có trật tự  
nhiều mạch máu làm nhiệm vụ nuôi da, tham gia vào quá trình hô hấp như cá  
14  
 
Chình Anguilla cá Nác Periopthalmus. Tầng liên kết đặc chỉ có tế bào dạng sợi  
chạy ngang dọc và xếp chặt hơn tầng trên.  
- Một số loài cá dưới tầng bì còn có tầng dưới da, tầng này xốp có chứa tế  
bào sắc tố. Trong công nghiệp thuộc da, da cá dùng làm các đồ dùng.  
2.2. Các sản phẩm của da  
2.2.1. Vảy  
- Vảy xương được chia ra 4 phần :  
+ Phần trước (phần gốc) là phần vảy hướng về phía đầu nằm trong túi  
vảy. Phần này không có tế bào sắc tố  
+ Phần sau (ngọn vảy) là phần vảy lồi ra ngoài túi vảy hướng về phía đuôi  
cá.  
+ Phần vảy hai bên trái phải của vảy gọi là mặt bên.  
- Từ tâm vẩy có các đường thẳng chạy ra xung quanh gọi là tia phóng xạ  
giúp cho vẩy thêm mềm mại. Trên vảy có những vòng tuổi làm thành những vân  
sáng, tối trông rất rõ tạo các vòng sinh trưởng, trong Ngư loại học có thể làm cơ  
sở tính tuổi của cá.  
- Có hai loại vảy tròn và vảy lược. Vảy tròn (Csyclod scale) là vảy có  
phần sau lộ ra ngoài trơn tru như bộ cá Chép Cypriniformes bộ cá Trích  
Clupeiformes. Vảy lược là phần vảy lộ ra ngoài có dạng răng lược như bộ cá  
Vược Perciformes  
Thành phần hoá học của vảy cá qua nghiên cứu cho thấy chất hữu cơ  
(dạng keo đản mạch) Chiếm 41- 55%; 38- 46 % là Ca3(PO4)2. Ngoài ra còn có  
CaCO3, Mg3(PO4)2, Na2CO3…Men phôtphattase có tác dụng kết tủa chất can xi.  
Đối với vảy đường bên, mỗi loài cá có số lượng nhất định, trong Ngư loại  
căn cứ vào số lượng vảy đó làm tiêu chuẩn hình thái phân loại và được kí hiệu  
như sau:  
6
LL= 41 42; LL: lateral line  
4
41 – 42: số lượng vảy đường bên dao động.  
6: số hàng vảy trên đường bên  
4: Số hàng vẩy dưới đường bên  
Vảy cá được dùng làm keo dán gỗ, vỏ bút máy, làm phim ảnh, làm hoa,  
phân bón rất tốt.  
2.2.2. Màu sắc của cá  
Màu sắc của cá bao giờ cũng phù hợp với môi trường xung quanh, là kết  
quả của một quá trình thích nghi được hình thành trong quá trình lịch sử. Có một  
số loài cá có màu sắc là kết quả của chọn lọc và lai tạo (cá cảnh). Màu sắc giúp  
15  
cá trốn tránh kẻ thù, ẩn nấp nguỵ trang để bắt mồi, tác dụng kích thích sinh dục.  
Cá có những màu sắc cơ bản sau:  
- Cá sống tầng mặt: lưng thường có màu xanh, đen, ví dụ: cá Trích, cá  
Trỏng, cá Thu.  
- Cá sống tầng đáy: lưng thường có màu xám, xám đen, chấm hoa, ví dụ:  
cá trê.  
- Màu sắc cá sống san hô, rong rêu có mầu sắc rất đẹp sặc sỡ, màu nâu  
nhạt, vàng nhạt ở lưng thường có vết sẫm ngang dọc hông.  
- Màu sắc đàn: giúp cá xác định vị trí lẫn nhau nhất là khi di cư đẻ trứng  
hay tìm mồi. Cá Thè be gai Acanthorhodeus asmussi Dyb giai đoạn cá hương có  
màu sặc sỡ ở lưng, đến giai đoạn trưởng thành thì hết. Cá hồi cái đến mùa sinh  
sản có sọc đen dọc thân để cá đực điều chỉnh thụ tinh dễ dàng.  
- Màu sắc cá không cố định trong quá trình phát triển cá thể. Màu sắc có  
thể thay đổi theo tuổi, theo giới tính , theo bệnh lý.  
- Màu sắc của cá do các tế bào sắc tố phân bố ở tầng liên kết xốp của bì,  
một số tế bào sắc tố phân bố ở màng bụng và xoang bao tim. Tế bào sắc tố có ba  
loại chính:  
+ Tế bào sắc tố đen (melanophore) là sản phẩm phân giải của Protein, có  
cả ở trong nội tạng.  
+ Sắc tố đỏ (erythrophore) là những hạt màu đỏ da cam do thức ăn mang  
vào.  
+ Sắc tố vàng (Xanthrophore) có thể tan trong axit béo.  
+ Ngoài ra còn có chất Guanin không màu sắc, có khả năng phản xạ ánh  
sáng từ trên bề mặt của nó và cho ta màu trắng bạc. Guanin sinh ra do sự phân  
giải nucleoprotein.  
- Màu sắc cá thay đổi do tế bào sắc tố tập trung hay phân tán dưới sự điều  
tiết của hệ thần kinh hoặc kích thích tố. Sự điều tiết thần kinh : do trung khu hoá  
sáng của tuỷ sống nằm khoảng 1/3 cơ thể; trung khu hoá tối nằm ở não trung  
gian. Do kích thích tố của não thuỳ thể tiết vào máu  
- Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến màu sắc: trời lạnh, thiếu sinh tố  
A, thiếu oxy cá bạc màu…Màu sắc cá thay đổi theo môi trường ngoài là do mắt  
cảm thụ được truyền về não bộ, não bộ điều tiết sắc tố bằng đường thần kinh  
hoặc kích thích tố.  
2.3. Cấu tạo và chức năng của vây cá  
- Chức năng của vây là cơ quan vận động và giữ thăng bằng của cá. Vây  
cá thường có 2 dạng: Vây lẻ và vây chẵn. Về mặt tiến hoá và phát triển phôi, vây  
lẻ có trước vây chẵn.  
- Vây chẵn ở cá tương đương với chi trước và chi sau của động vật máu  
nóng.  
16  
- Phần xương nâng đỡ với cơ điều khiển ở phía trong phần vây lộ ra  
ngoài. Giúp cá bơi lội và giữ thăng bằng.  
- Phần vây lộ ra ngoài cấu tạo gồm: các tia vây và màng vây.  
+ Màng vây có tác dụng liên kết các tia vây thành khối linh động khi vận  
động trong nước, thường gặp ở lớp cá xương (lớp cá vây tia). Hoặc phần lộ ra  
ngoài cấu tạo dạng vây thịt (Vây tay) như lớp cá phổi (lớp cá vây tay).  
+ Ngoài ra còn gặp vây có cấu tạo phần thịt, mỡ gọi là vây mỡ thường  
nằm ở lưng như các loài cá Lăng, Chiên... trong bộ cá Nheo (bộ da trơn)  
+ Gai cứng: là loại tia vây hóa xương hoàn toàn, không phân đốt, không  
phân nhánh, có cấu trúc đơn.  
+ Gai mềm: là loại tia vây hóa xương chưa hoàn toàn, không phân đốt,  
không phân nhánh, có cấu trúc đôi.  
+ Tia mềm không phân nhánh (Tia đơn): là loại tia vây có phân đốt,  
không phân nhánh, có cấu trúc đôi.  
+ Tia mềm phân nhánh: là loại tia vây có phân đốt, có phân nhánh, có cấu  
trúc đôi.  
Theo qui ước, dùng chữ số la mã để ký hiệu cho tia vây cứng, còn số  
lượng tia vây mềm ký hiệu bằng chữ số la tinh, số lượng tia vây là chỉ tiêu dùng  
trong phân loại. Ví dụ ở cá Chẽm Lates calcarifer có công thức các vây như  
sau: D VII, I – 11; A III, 8; P 15; V I,5  
Hình 1.2. Vị trí vây cá  
3. Hệ xương  
17  
 
Hình 1.3. Cấu tạo hệ xương của cá  
18  
19  
4. Hệ cơ  
Trong mọi hoạt động sống của cá như bắt mồi, sinh sản, trốn tránh kẻ thù  
đều do sự co rút của cơ. Do vậy mà cơ của cá khá phát triển, cơ của cá chứa  
nhiều protein và nhiều vitamin mà các động vật khác không có được. Do đó thịt  
cá có giá trị kinh tế rất lớn trong đời sống hàng ngày.  
4.1. Cấu tạo và chức năng của các loại tế bào cơ  
- Dựa vào cấu tạo, nguồn gốc, chức năng và sự phân bố của các cơ trong  
cơ thể cá chia ra làm ba loại cơ.  
Cơ trơn  
- Dạng hình thoi, giữa tế bào có nhân hình bầu dục, kích thước khoảng 20  
– 50μ.  
- Cơ trơn có nguồn gốc từ lá phôi giữa, do thần kinh giao cảm và phó giao  
cảm chi phối hoạt động, hoạt động của cơ trơn chậm chạp.  
- Cơ trơn phân bố chủ yếu ở các thành ống dẫn như ống tiêu hoá, thành  
mạch mấu.  
Cơ vân  
- Được gọi là cơ xương vì có mối quan hệ mật thiết với xương giúp cơ thể  
hoạt động.  
- Cơ vân do lá phôi giữa hình thành, tế bào cơ vân hình thoi là loại tế bào  
đa nhân.  
- Cơ vân do thần kinh trung ương chi phối nên hoạt động của cơ vân  
nhanh.  
- Cơ vân phân bố ở các chi, thực quản, hầu, mắt, thân. Nhiều sợi cơ vân  
tập hợp thành bó cơ, nhiều bó cơ hợp lại thành khối cơ.  
Cơ tim:  
- Là hỗn hợp giữa cơ vân và cơ trơn, tế bào cơ tim rộng nhưng ngắn, nó  
phân nhánh với nhau thành khối, cơ tim thể hiện vân ngang.  
- Cơ tim do thần kinh thực vật chi phối.  
Trong ba loại cơ trên thì cơ vân chiếm tỉ lệ nhiều nhất, do đó chúng ta chỉ  
đi sâu vào vai trò của cơ vân trong hệ cơ của cá.  
4.2. Đặc điểm của hệ cơ của cá  
Cơ phần đầu  
- Có hai nhóm cơ lớn, đó là cơ mắt và cơ nắp mang.  
- Cơ mắt có sáu cái cơ giúp mắt chuyển động được: cơ xiên dưới, cơ xiên  
trên, cơ thẳng trên, cơ thẳng dưới, cơ thẳng ngoài, cơ thẳng trong.  
20  
 
- Cơ mang gồm có ba đôi: cơ co, cơ nâng, cơ mở. Ba đôi cơ này làm  
nhiệm vụ vận động cung hàm, lưỡi, mang.  
Cơ phần thân  
- Cơ phần thân của cá tạo thành dạng W doãng, mỗi đốt cơ ứng với một  
đốt xương sống. Các đốt cơ ngăn cách với nhau bằng một màng mô liên kết có  
mầu trắng.  
Cơ đuôi  
- Cơ đuôi có cấu tạo phức tạp nhất vì hoạt động của cơ đuôi phức tạp giúp  
cho cá bơi lội, chuyển hướng trong nước. Bao gồm các sau: cơ uốn lưng dưới  
vây đuôi, cơ uốn lưng trên vây đuôi, cơ co bụng vây đuôi, cơ uốn bụng giữa vây  
đuôi, cơ uốn bụng dưới vây đuôi.  
Cơ vây lưng và vây hậu môn gồm các đôi cơ sau  
- Hai cơ nghiêng, một cơ dựng, một cơ hạ. Các cơ này co rút làm cho vây  
lưng và vây hậu môn nghiêng bên trái, nghiêng bên phải, dựng vây hay hạ vây  
xuống.  
Cơ vây ngực và vây bụng  
- Gồm có cơ co, cơ mở, cơ duỗi. Các cơ này tuỳ theo sự co rút làm cho  
vây ngực và vây bụng chụm vào nhau, duỗi xa nhau hay xuôi theo thân cá nhằm  
giữ thăng bằng hay bơi lội.  
- Ở cá miệng tròn có hệ cơ vân khá phát triển nhưng cơ thân xếp theo đốt  
cơ thể theo vách ngang. Cơ vây chỉ có vây lẻ chứ không có vây chẵn.  
- Cá sụn: có đầy đủ các nhóm cơ thân, vây, đốt mang có cấu tạo khá điển  
hình. Cơ vây còn khá nguyên thuỷ, đặc biệt cá đực vây bung phát triển biến  
thành cơ quan giao cấu chuyên hoá.  
- Cá xương: hệ cơ khá phức tạp, số lượng cơ khá nhiều, những loài cá bơi  
lội giỏi như cá Ngừ giữa cơ trục trên và cơ dưới trục có các sợi cơ dọc màu đỏ  
sẫm.  
5. Hệ tiêu hoá  
- Cá muốn tồn tại và phát triển phải có nguồn thức ăn cung cấp liên tục  
từ môi trường bên ngoài vào.  
- Thức ăn qua hệ tiêu hoá sẽ biến đổi về mặt cơ học và sinh hoá để cung  
cấp nguồn năng lượng và vật chất cho mọi hoạt động sống của cơ thể như bơi  
lội, bắt mồi, sinh trưởng phát triển, sinh sản. Bộ máy tiêu hoá của cá và của  
động vật tiến hoá theo ba hướng sau:  
+ Tăng cường khả năng tiêu hoá cơ học: hoàn thiện bộ răng, tăng cường  
khả năng co bóp, thành ruột dày, cơ co khoẻ.  
+ Tăng cường diện tích hấp thụ: ruột có nhiều nếp nhăn.  
21  
 
+ Tăng cường khả năng tiêu hoá hoá học: hình thành và hoàn thiện các  
tuyến tiêu hoá.  
- Đối với cá con khi mới nở phần bụng là một khối noãn hoàng, bộ máy  
tiêu hoá mới hình thành một ống rất nhỏ, các tuyến tiêu hoá chưa có, khoảng 5-7  
ngày sau noãn hoàng hết, hệ tiêu hoá mới hoạt động.  
- Hệ tiêu hoá của cá bao gồm 2 phần: ống tiêu hoá và tuyến tiêu hoá. Ống  
tiêu hoá và tuyến tiêu hoá có màng treo ruột cuốn vào trong xoang bụng.  
5.1. Cấu tạo ống tiêu hoá  
Ống tiêu hoá bắt đầu từ miệng đến hậu môn. Ống tiêu hoá bao gồm xoang  
miệng hầu, thực quản, dạ dày, ruột, hậu môn.  
5. 1.1. Xoang miệng hầu  
Xoang miệng hầu cá khá rộng gồm có răng, lưỡi, lược mang, hầu.  
Răng:  
- Răng của lớp miệng tròn hình nón, phân bố ở lưỡi và quanh phễu vì  
thường sống kí sinh. Răng có nguồn gốc là tế bào biểu bì.  
- Cá sụn: hình dạng và kích cỡ răng phụ thuộc vào tính ăn của cá  
+ Cá ăn động vật có kích thước nhỏ: răng nhỏ, phân bố xoang miệng.  
+ Cá ăn động vật có kích thước lớn: răng to, lớn chủ yếu phân bố ở hai  
hàm  
- Cá xương: răng được phân bố ở xoang miệng hầu (hai hàm, vòm miệng,  
hầu), hình dạng và kích cỡ răng phụ thuộc vào tính ăn của cá  
+ Cá ăn lọc thường không có răng  
+ Cá ăn động vật kích thước nhỏ: răng nhỏ, mịn  
+ Cá ăn động vật kích thước lớn: răng to, sắc, thường là răng chó  
- Căn cứ vào đặc điểm của răng để phân loại cá. Nhiệm vụ của răng chủ  
yếu là bắt và giữ mồi.  
Lưỡi:  
- Cá miệng tròn: lưỡi cử động được do cơ lưỡi phát triển. Trên lưỡi có  
nhiều răng sắc bén.  
- Cá sụn, cá xương: lưỡi không cử động được  
+ Hình dạng lưỡi của cá xương khác nhau: dạng hình tam giác gặp ở cá  
đục, hình chữ nhật ở cá trích, dạng hình bầu dục.  
+ Nhiệm vụ chủ yếu của lưỡi là vị giác, cảm giác.  
+ Đối diện với lưỡi là “nếp thịt hầu”, ở cá Mè nếp thịt hầu rất phát triển  
tạo thành chín khía thịt mềm, kết hợp với lược mang đẩy thức ăn vào trong hầu.  
Hầu: Hầu nằm ở cuối khoang miệng, gồm có hai thớt:  
22  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 80 trang baolam 25980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Phân loại động vật thủy sản (Trình độ cao đẳng)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phan_loai_dong_vat_thuy_san_trinh_do_cao_dang.pdf