Đường hướng nghiên cứu cảm xúc trong diễn ngôn văn học - áp dụng phân tích cảm xúc trong tiểu thuyết Kẻ xa lạ và Dịch hạch của nhà văn Albert Camus

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
56  
ĐƯỜNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẢM XÚC TRONG DIỄN NGÔN  
VĂN HỌC – ÁPDỤNG PHÂN TÍCH CẢM XÚC  
TRONG TIỂU THUYẾT KẺ XALẠ VÀ DỊCH HẠCH  
CỦANHÀ VĂNALBERT CAMUS  
Lê Thị Phương Lan*  
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 12 tháng 10 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 30 tháng 10 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 18 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Bài báo này chỉ ra nghiên cứu cảm xúc trong tác phẩm văn học là sự giao thoa của  
nghiên cứu diễn ngôn trong văn học và trong ngôn ngữ học. Chúng tôi dựa trên đặc trưng của thể loại,  
phong cách của nhà văn, triết lý của tác phẩm để hiểu cảm xúc được thể hiện bởi người kể và nhân vật.  
Từ đó xác định các phương tiện biểu đạt cảm xúc được sử dụng trong tác phẩm. Trong phần lý thuyết,  
chúng tôi trình bày các hướng nghiên cứu cảm xúc trong diễn ngôn, đặc trưng của diễn ngôn tiểu thuyết,  
đồng thời làm rõ nội hàm hai khái niệm: ethos và pathos. Từ lý thuyết đó, chúng tôi tìm hiểu các cảm  
xúc cấu thành nên tình cảm phi lý trong Người xa lạ và tình cảm phản kháng trong Dịch hạch cũng như  
xác định các phương tiện biểu đạt hai loại tình cảm nêu trên. Việc đối chiếu các phương tiện biểu đạt  
cảm xúc trong hai tác phẩm cho phép chúng tôi hiểu hơn về thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn  
Albert Camus trong hai thời kì sáng tác mà ông gọi là “Thời kỳ phi lý” và “Thời kỳ nổi loạn”.  
Từ khóa: phương tiện biểu đạt tình cảm và cảm xúc, tình cảm phi lý, tình cảm phản kháng, Kẻ  
xa lạ, Dịch hạch, Albert Camus  
1. Đặt vấn đề*  
Có thể nói văn học và cảm xúc là hai  
trò của cảm xúc trong tác phẩm của Camus,  
Valensi, nhà văn, nhà phê bình văn học, đã  
chỉ ra rằng chính bằng con đường cảm xúc  
mà Camus khắc họa hình ảnh của thế giới  
này trong các tác phẩm của mình và truyền  
tải tới người đọc (2006, tr. XIV). Từ đó thấy  
được, cảm xúc là đề tài màu mỡ, là con  
đường giúp chúng ta hiểu hơn về nhà văn và  
hệ thống các tác phẩm của ông. Việc tìm hiểu  
các phương tiện biểu đạt cảm xúc trong tác  
phẩm Kẻ xa lạ và Dịch hạch giúp chúng ta  
tiến gần hơn đến giá trị của tác phẩm và hiểu  
hơn thế giới quan của nhà văn ở hai giai đoạn  
sáng tác mà ông gọi là “Thời kì phi lý” và  
phạm trù không thể tách rời. Cảm xúc là con  
đường gần nhất để đưa tác phẩm đến với  
người đọc. Điều này càng được khẳng định  
rõ hơn khi nhà văn Camus, trong buổi trao  
giải thưởng Nobel cho tác phẩm Kẻ xa lạ của  
ông năm 1957 đã nói: Với ông, nghệ thuật  
không phải là niềm hạnh phúc cho riêng  
mình mà là con đường để chạm vào trái tim  
của hàng triệu con người. Camus vừa là một  
nhà văn vừa là một nhà triết học dù bản thân  
ông luôn đề cao phần nghệ sĩ hơn là phần  
triết lý trong con người ông. Khi đánh giá vai  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
57  
“Thời kì nổi loạn”. Người ta thường nghĩ  
rằng, chỉ trong những tác phẩm tâm lý tình  
cảm, việc nghiên cứu cảm xúc mới là quan  
trọng. Nghiên cứu này sẽ chỉ ra cảm xúc cần  
được nghiên cứu cả trong những tác phẩm  
mang tính triết lý, hứa hẹn những điều mới,  
cần tìm tòi khám phá. Trong phạm vi nghiên  
cứu của đề tài này, chúng tôi nhận thấy cần  
quan tâm đến các đặc trưng của diễn ngôn  
văn học (discours littéraire) để có thể xác  
định được những cảm xúc chủ đạo thể hiện  
trong tác phẩm. Từ đó, chúng tôi đi sâu  
nghiên cứu những phương tiện biểu đạt cảm  
xúc của nhân vật chính trong mối liên hệ với  
các nhân vật khác trong tiểu thuyết Kẻ xa lạ  
và Dịch hạch của nhà văn Albert Camus.  
phân biệt các thể “gốc”, thể lời nói đơn giản  
trong sinh hoạt thường nhật với các thể “phái  
sinh”, “phức tạp” của lời tư tưởng hệ. Thể lời  
nói tư tưởng hệ “phức tạp nhất” là tiểu  
thuyết. Combe (2002) đã đánh giá lý thuyết  
của Bakhtin như chiếc cầu nối giữa phong  
cách học ngôn ngữ của Bally và phong cách  
học lịch sử, nghiên cứu phong cách riêng của  
từng nhà văn của Spitzer khi ông phân biệt  
các thể “gốc” với các thể “phái sinh” và chỉ  
ra mối liên hệ không thể tách rời của chúng.  
Trong cuốn Dẫn luận phân tích phong cách  
học, Fromilhague và Sancier (1991) đã hệ  
thống hóa các phương tiện biểu đạt, giúp  
từng bước tìm hiểu, tiến tới nghiên cứu  
chuyên sâu ý nghĩa của tác phẩm và phong  
cách nghệ thuật của mỗi nhà văn. Nghiên  
cứu các phương tiện biểu đạt tình cảm và  
cảm xúc, các nhà ngôn ngữ học có những  
cách phân chia, xếp loại các phương tiện  
biểu đạt khác nhau tùy vào đường hướng và  
mục đích nghiên cứu riêng. Tuy nhiên, cách  
phân loại phổ biến nhất, theo Plantin (2011),  
Eggs (2008) và Amossy (2000), là chia các  
phương tiện biểu đạt cảm xúc thành hai loại:  
cảm xúc được gọi tên trực tiếp thông qua từ  
vựng chỉ cảm xúc (danh từ, tính từ, động từ,  
trạng từ) và cảm xúc được thể hiện một cách  
gián tiếp thông qua các loại dấu hiệu khác  
nhau, dấu hiệu ngôn ngữ và phong cách  
(indices linguistiques et stylistiques), dấu  
hiệu về biểu đạt cơ thể (indices physiques  
corporels), hay dấu hiệu về hành vi ứng xử  
(indices comportementaux). Vào những thập  
niên cuối của thế kỷ XX, các nghiên cứu về  
tình cảm và cảm xúc đã có những bước ngoặt  
mới khi các nhà ngôn ngữ học không còn quá  
chú trọng vào việc nghiên cứu các phương  
tiện biểu đạt cảm xúc một cách tự thân hay  
xuất phát từ một chủ thể mà mở rộng nghiên  
cứu phạm trù cảm xúc trong giao tiếp. Nói  
cách khác, tình cảm và cảm xúc được nghiên  
cứu trong sự tác động qua lại giữa nhiều chủ  
thể có mối liên hệ với nhau (Cosnier, 1994).  
Traverso (2000) trong bài viết “Cảm xúc  
trong lời tâm sự” đã đề xuất nghiên cứu cảm  
xúc ở ba cấp độ, liên quan đến bối cảnh sản  
2. Tổng quan nghiên cứu về cảm xúc trong  
ngôn ngữ học và trong văn học  
Aristote, một nhà triết học vĩ đại của  
thời Hy Lạp cổ đại đã đề cập đến phạm trù  
cảm xúc (pathos) trong mối liên hệ với uy tín  
(ethos) và dẫn chứng (logos) khi ông giảng  
dạy về tam giác hùng biện (rhétorique)  
(1991). Cho tới nay, trong nền ngôn ngữ học  
hiện đại, đã có không ít các nghiên cứu về đề  
tài này. Trong đó chúng ta phải kể đến các  
công trình của Bally (1909) về phong cách  
học, ông đã đi tiên phong trong việc nghiên  
cứu “ngôn ngữ biểu cảm”, coi ngôn ngữ là  
phương tiện để biểu đạt đời sống tình cảm  
của con người. Đường hướng nghiên cứu  
này của ông đã được kế thừa và phát triển  
trong thập niên 50 của thế kỷ XX và được  
chia làm hai nhánh: phong cách học ngôn  
ngữ và phong cách học lời nói hay phong  
cách học cá nhân, loại thứ hai được áp dụng  
chủ yếu cho việc phân tích các tác phẩm văn  
học. Bakhtine (1984) là một trong những nhà  
triết học, mĩ học, văn hóa học và nghiên cứu  
văn học lỗi lạc nhất của thế kỉ XX. Trong di  
sản lí luận văn học phong phú, đa dạng của  
Bakhtin, nội dung độc đáo nhất, chắc chắn,  
thuộc về lí thuyết thể loại văn học của ông.  
Trong các công trình nghiên cứu nổi tiếng,  
Bakhtin luôn nhấn mạnh sự phong phú, đa  
dạng của các thể loại lời nói. Đồng thời, ông  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
58  
sinh ra nó, sự tương tác và những người tham  
gia. Nghiên cứu tình cảm và cảm xúc theo  
hướng giao tiếp đồng nghĩa với việc nghiên  
cứu phạm trù này ở cả cấp độ ngôn ngữ và  
phi ngôn ngữ. Nghiên cứu của chúng tôi sẽ  
đi theo hướng này khi cảm xúc được nghiên  
cứu trong tác phẩm là cảm xúc của các nhân  
vật, đặc biệt là nhân vật chính trong mối liên  
hệ với các nhân vật khác ở những bối cảnh  
khác nhau trong tác phẩm.  
còn là những gợi dẫn thú vị cho những người  
quan tâm đến ngôn ngữ và văn chương. Trên  
tạp chí Ngôn ngữ thuộc Viện ngôn ngữ học  
Việt Nam, trong số các lĩnh vực nghiên cứu,  
lĩnh vực phong cách học cũng được các tác  
giả là các nhà ngôn ngữ học hết sức quan  
tâm. Trong bài “Những vấn đề ngôn ngữ  
học” trên tạp chí Ngôn ngữ năm 2010 của Vũ  
Thị Sao Chi và năm 2011 của Nguyễn Đức  
Tồn, hai tác giả đã thống kê những bài viết  
theo các chuyên ngành nghiên cứu khác  
nhau của ngôn ngữ học. Theo tác giả bài viết,  
lĩnh vực Phong cách học vẫn tiếp tục thu hút  
được nhiều bài viết.  
Cảm xúc trong diễn ngôn là đề tài  
được rất nhiều các nhà ngôn ngữ học đương  
đại quan tâm. Rinn (2008) đã nhấn mạnh tầm  
quan trọng của việc nghiên cứu cảm xúc  
trong diễn ngôn, thông qua tuyển tập các bài  
viết của nhiều tác giả mà ông là chủ biên có  
tiêu đề Cảm xúc và diễn ngôn. Theo Rinn,  
những nghiên cứu này đều xuất phát từ việc  
khai thác khái niệm “cảm xúc” (pathos) đã  
được bàn đến từ thời Hy Lạp cổ đại. Trong  
đó, cảm xúc ở đây được tìm hiểu trong mối  
liên hệ chặt chẽ với khái niệm ethos, được  
hiểu là hình ảnh của chủ thể giao tiếp. Đây  
là cơ sở để nghiên cứu cảm xúc trong diễn  
ngôn nói chung và trong diễn ngôn văn học  
nói riêng. Theo Trần Đình Sử (2013), cần  
phân biệt khái niệm diễn ngôn trong nghiên  
cứu ngữ học và văn học. Đối với nhà ngữ  
học, diễn ngôn là khái niệm chỉ cấu trúc, liên  
kết của đơn vị ngôn ngữ trên câu, cần phân  
tích mạch lạc, liên kết và ngữ cảnh để hiểu  
được ý nghĩa, lí do của nó. Còn trong nghiên  
cứu văn học, diễn ngôn là chỉ chiến lược phát  
ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên  
tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn  
ngữ để thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra  
được tiếng nói mới, thể hiện tư tưởng mới  
trong chỉnh thể sáng tác.  
Trong bài nghiên cứu “Étude des  
émotions et des sentiments dans le roman  
d’Albert Camus – Le cas de L’Étranger et de  
La Peste” đăng trên tạp chí Nghiên cứu nước  
ngoài số 29, chúng tôi đã nghiên cứu các  
biểu đạt cảm xúc thể hiện trong hai tác  
phẩm Kẻ xa lạ và Dịch hạch theo đường  
hướng phân tích diễn ngôn. Tuy nhiên,  
nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phát hiện  
các cảm xúc chủ đạo thể hiện trong hai tác  
phẩm. Dựa trên kết quả nghiên cứu đã đạt  
được, trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp  
tục đi sâu tìm hiểu các loại phương tiện biểu  
đạt cảm xúc trong hai tác phẩm nêu trên.  
3. Cách tiếp cận của nghiên cứu  
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu miêu  
tả theo đường hướng phân tích diễn ngôn  
thông qua dữ liệu văn học. Để làm được điều  
đó, nghiên cứu sẽ đi từ đặc trưng của diễn  
ngôn văn học, đặc biệt là diễn ngôn tiểu  
thuyết. Bakhtine đã nhấn mạnh rằng vấn đề  
mấu chốt của tiểu thuyết, tạo nên tính độc  
đáo trong tác phẩm, không gì khác chính là  
“người kể và ngôn ngữ dùng để kể”. Trong  
tác phẩm Kẻ xa lạ, truyện được kể ở ngôi thứ  
nhất, người kể chuyện đồng thời là nhân vật  
chính trong truyện. Tuy nhiên, trong Dịch  
hạch, truyện lại được kể ở ngôi thứ ba, người  
kể chỉ tiết lộ thân phận của mình ở những  
trang cuối của truyện. Việc xác định đối  
tượng nghiên cứu của diễn ngôn tiểu thuyết  
Tháng 4 năm 2011, Nhà xuất bản  
giáo dục Việt Nam đã phát hành cuốn Phong  
cách học tiếng Việt hiện đại của Nguyễn  
Hữu Đạt. Với 435 trang, cuốn sách không  
chỉ cung cấp những kiến thức phong phú về  
từng loại phong cách chức năng mà còn thể  
hiện tư duy khoa học qua những phân tích  
sắc sảo, miêu tả phong phú về các hiện tượng  
giao tiếp ngôn ngữ… Đồng thời cuốn sách  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
59  
nêu trên cho phép chúng tôi tiến hành nghiên  
cứu tính chủ thể trong diễn ngôn, cụ thể hơn  
là tính chủ thể trong thể hiện cảm xúc của  
người kể - nhân vật trong truyện.  
bản văn học (Amossy đã áp dụng khung  
đánh giá tình huống của Plantin để phân tích  
việc khơi gợi sự cảm thương trong tác phẩm  
của Le Clézio). Từ đó thấy được rằng, để  
khám phá cảm xúc ẩn sâu trong lớp ngôn từ  
mà mỗi nhà văn sử dụng, cụ thể để nhận diện  
loại cảm xúc và tìm hiểu quá trình phát triển  
cảm xúc của các nhân vật trong truyện, việc  
nắm vững các phương tiện biểu cảm nêu trên  
là vô cùng cần thiết. Vì vậy, để thuận tiện  
cho quá trình phân tích cảm xúc của các nhân  
vật, chúng tôi thiết nghĩ việc sử dụng cách  
phân loại của Plantin chia các phương tiện  
biểu đạt thành hai loại chính là biểu đạt trực  
tiếp và biểu đạt gián tiếp sẽ thuận lợi hơn cả.  
Trong loại biểu đạt gián tiếp, chúng tôi tổng  
hợp các loại dấu hiệu được trình bày trong  
nghiên cứu của ba tác giả. Với mỗi loại,  
chúng tôi nhấn mạnh vào những điểm cần  
lưu ý khi sử dụng để phân tích dữ liệu:  
Nghiên cứu cảm xúc trong diễn  
ngôn, hai khái niệm cần được làm sáng tỏ là  
ethos (hình ảnh của người nói) và pathos  
(cảm xúc mà người nói tạo ra ở người nghe).  
Hai khái niệm này đã được ra đời từ thời Hy  
lạp cổ đại, trong thuyết hùng biện của  
Aristotle và được các nhà ngôn ngữ học  
đương đại (Barthes, Ducrot, Amossy,  
Maingueneau) tiếp tục nghiên cứu và phát  
triển rộng rãi, đặc biệt trong mảng đề tài  
“cảm xúc trong diễn ngôn”. Theo các tác giả,  
hình ảnh của người nói (ethos) được xây  
dựng và thể hiện thông qua hệ thống ngôn từ  
(những gì mà anh ta nói hay những gì người  
khác nói về anh ta). Hình ảnh của người nói  
tác động trực tiếp tới cảm xúc của người  
nghe. Vì vậy, để tạo cảm xúc ở người nghe,  
người nói phải quan tâm đến những yếu tố  
cấu thành nên phát ngôn của mình (về mặt  
ngữ nghĩa, cú pháp, dụng học) (Jouve,  
2010). Vì vậy, nghiên cứu cảm xúc trong  
diễn ngôn, chúng ta cần phải quan tâm đến  
những yếu tố ngôn từ cấu thành nên hình ảnh  
của người nói và tác động của nó đến cảm  
xúc ở người nghe và ngược lại.  
Biểu đạt trực tiếp cảm xúc bằng từ vựng  
biểu cảm  
Cả ba tác giả đều đề cập đến loại  
phương tiện này trong việc xác định cảm xúc  
của chủ thể và đối tượng trong giao tiếp.  
Plantin (1998) và Micheli (2013) đã đưa ra  
cách tạo lập phát ngôn nói ra cảm xúc một  
cách trực tiếp thông qua việc xác định một  
bên là đối tượng của cảm xúc (mà các ông  
gọi bằng những cái tên khác nhau là đối  
tượng tâm lý (lieu psychologique) (Plantin)  
hay đối tượng con người (entité humain) và  
đối tượng được nhân cách hóa (entité  
humanisable) (Micheli), với một bên là từ  
vựng biểu cảm (terme d’émotion). Việc xác  
định loại từ vựng biểu cảm dựa vào các  
nghiên cứu trước đó của các nhà ngôn ngữ  
và tâm lý học.  
Dựa vào cách phân loại các phương  
tiện biểu đạt tình cảm và cảm xúc của các tác  
giả Plantin (1998, 2011), Eggs (2008),  
Micheli (2013) và một số các nhà ngôn ngữ  
học khác, trong nghiên cứu có tiêu đề  
“Phương tiện biểu đạt cảm xúc trong diễn  
ngôn văn học” (Lê, 2016), chúng tôi đã phân  
tích, tổng hợp những phương tiện biểu đạt  
chính (biểu đạt trực tiếp và biểu đạt gián  
tiếp) cho phép tìm hiểu và khám phá cảm xúc  
trong diễn ngôn nói chung và diễn ngôn văn  
học nói riêng. Chúng tôi nhận thấy trong các  
nghiên cứu nêu trên, hầu hết các tác giả đều  
sử dụng dữ liệu là tác phẩm văn học để minh  
họa cho hệ thống các phương tiện biểu đạt  
cảm xúc mà họ phát triển (Eggs, Micheli)  
hoặc các phương tiện đó đã được các tác giả  
khác sử dụng để phân tích trên dữ liệu văn  
Biểu đạt gián tiếp cảm xúc  
Liên quan đến tình huống  
Trong ba cách phân loại nêu trên,  
Plantin, Eggs và Micheli đều đề cập đến yếu  
tố tình huống. Tuy nhiên, để hiểu rõ cơ chế  
biểu đạt cũng như khơi gợi cảm xúc trong  
tình huống, ta cần xác định vai trò của tình  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
Liên quan đến nhân vật  
60  
huống trong việc sản sinh và hiểu ý nghĩa  
của các phát ngôn biểu cảm. Theo Bally  
(1909, tr. 76), cần phân biệt một tình huống  
mà người mẹ thể hiện sự đau đớn trước cái  
chết của con mình với một tình huống mà  
đứa con bị buộc tội đã gây ra cái chết của  
mẹ mình. Trong tình huống thứ nhất, ông  
nhấn mạnh vào mối quan hệ nhân quả giữa  
tình huống và cảm xúc: tình huống “cái chết  
của đứa con” là nguyên nhân gây nên “sự  
đau đớn” ở người mẹ; trong khi đó, tình  
huống mà người nói chỉ tay vào giường của  
người mẹ đã mất và nói: “Anh chính là thủ  
phạm” lại có tính mục đích: tình huống biểu  
cảm được sử dụng nhằm đạt được mục đích  
nhất định của người nói. Dựa vào sự phân  
biệt nêu trên, chúng tôi xem xét mối quan  
hệ giữa tình huống và cảm xúc trên hai  
phương diện: tình huống biểu đạt cảm xúc -  
mối quan hệ về nhân quả, tình huống khơi  
gợi cảm xúc - mối quan hệ về mục đích.  
Plantin và Eggs đã bàn đến dấu hiệu về bối  
cảnh (situations) trong việc xác định cảm  
xúc khi các ông lấy ví dụ về “sự xấu hổ” của  
bà mẹ khi bà nói không dám nhìn mặt con  
mình hay “sự sợ hãi” khi ai đó tưởng tượng  
ra những điều tồi tệ đang đến gần với họ.  
Mối quan hệ giữa tình huống và cảm xúc  
trong hai ví dụ nêu trên là mối quan hệ  
nhân quả. Ta có thể gọi đây là tình huống  
biểu đạt cảm xúc mà chúng ta cần phân biệt  
chúng với loại tình huống mà người nói sử  
dụng để khơi gợi cảm xúc ở người nghe.  
Mặc dù sử dụng thuật ngữ không giống  
nhau để chỉ những yếu tố tạo cảm xúc trong  
tình huống hay hoàn cảnh giao tiếp nhất  
Thông qua các dấu hiệu quan sát được (cử  
chỉ, nét mặt, tư thế, hành động)  
Cả ba tác giả đều thống nhất ở hai  
cách tiếp cận cảm xúc, đó là cách tiếp cận từ  
trên xuống dưới – tức là từ việc đánh giá tình  
huống tạo cảm xúc để nhận biết cảm xúc và  
hướng ngược lại, từ dưới lên trên – tức là từ  
những dấu hiệu biểu thị hệ quả của cảm xúc  
tới việc nhận biết cảm xúc. Loại dấu hiệu có  
thể quan sát được thuộc nhóm thứ hai. Để  
diễn giải ý nghĩa biểu đạt cảm xúc từ dấu  
hiệu quan sát được, chúng ta cần lưu ý tới  
yếu tố văn hóa bởi chúng có thể được thể hiện  
khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau.  
Thông qua dấu hiệu ngôn ngữ (indices  
linguistiques)  
Một số các dấu hiệu ngôn ngữ  
thường thấy trong việc biểu đạt cảm xúc là  
việc sử dụng thán từ, phát ngôn cảm thán hay  
các biện pháp tu từ trong phát ngôn. Việc  
thống kê trong từng loại là vô cùng khó  
khăn; vì vậy, Micheli cũng đã nói đến việc  
không thể đi sâu vào từng loại mà chỉ lưu ý  
tới việc phối hợp của các dấu hiệu ngôn ngữ  
trong việc xác định cảm xúc và phát hiện ý  
nghĩa của các dấu hiệu đó trong bối cảnh,  
tình huống nhất định. Trong nghiên cứu tiên  
phong về ngôn ngữ biểu cảm của Bally  
(1909) cũng như những nghiên cứu sau này  
của Amossy (2008) về cảm xúc và lập luận,  
các tác giả đều đề cập và nhấn mạnh vào giá  
trị của các biện pháp tu từ (figuralité) trong  
việc biểu đạt cảm xúc.  
Thông qua dấu hiệu “hình ảnh”  
định (Eggs  
–
“topos”, Plantin  
–
“pathèmes”, Micheli – “parametres”), cả  
ba tác giả đều nhấn mạnh vào tính lập luận  
của các yếu tố trên trong việc tạo lập cảm  
xúc. Đặc biệt, Plantin và Micheli đều đưa  
ra khung tiêu chí các yếu tố đánh giá tình  
huống mà người nói, người viết cần tính  
đến trong việc khai thác hay tạo lập tình  
huống, hoàn cảnh nhằm kích thích, khơi  
gợi cảm xúc ở người đọc, người nghe.  
Đây là điểm đặc biệt trong nghiên  
cứu của Eggs khi ông nhấn mạnh đến vai trò  
của “hình ảnh” cá nhân (éthos spécifique) và  
chuẩn mực đạo đức xã hội (éthos générique)  
trong việc xác định, đánh giá hay thể hiện  
cảm xúc. Bằng việc đối chiếu “hình ảnh” –  
được hiểu là tính cách, đạo đức, lối sống của  
chủ thể hay đối tượng giao tiếp với các giá trị  
và chuẩn mực của xã hội, ta hoàn toàn có cơ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
sở để đánh giá cảm xúc của nhân vật trong tình  
61  
Trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm  
huống có phù hợp hay không với các giá trị và  
chuẩn mực đã quy định hoặc thể hiện cảm xúc  
trước những việc vi phạm giá trị và quy tắc  
trong xã hội đó. Yếu tố này vô cùng quan trọng  
trong việc tìm hiểu cảm xúc của các nhân vật  
bởi mỗi tác phẩm là một lăng kính phản ánh  
các mặt khác nhau của xã hội, chịu sự chi phối  
của các giá trị và chuẩn mực trong xã hội đó.  
2018, chúng tôi đã tập hợp và đề xuất sơ đồ  
các loại phương tiện biểu đạt cảm xúc trong  
diễn ngôn văn học (Lê, 2018, tr. 79). Dựa  
trên sơ đồ các phương tiện biểu đạt này,  
chúng tôi tìm hiểu các phương tiện biểu đạt  
cảm xúc chủ đạo được sử dụng trong tác  
phẩm văn học.  
4. Tác giả và tác phẩm  
tư tưởng này mà Camus được đánh giá là nhà  
triết học hiện sinh đậm chất nhân văn Địa  
Trung Hải: “Chủ nghĩa nhân văn của Camus  
là chủ nghĩa nhân văn kiểu Địa Trung Hải –  
nó muốn vượt qua mâu thuẫn giữa trí tuệ và  
tự nhiên một cách nhịp nhàng. Camus có một  
thái độ vừa khước từ, vừa chấp nhận, một  
nghệ thuật vừa khẳng định, vừa phủ định”  
(Đỗ, 1978, tr. 119). Tác phẩm của Camus là  
sự hòa trộn giữa nghệ thuật, chính trị và triết  
học. Các tác phẩm xoay quanh một số chủ đề  
nổi bật như cái chết, mặt trời, Địa Trung Hải,  
sự cô độc, bệnh tật và nghèo đói, ranh giới  
giữa hạnh phúc và tuyệt vọng. Về cách phân  
phối tác phẩm của mình, Camus (1957) đã  
giải thích: “Trước hết, tôi muốn diễn tả sự  
phủ định dưới ba hình thức: tiểu thuyết  
(romanesque) với Kẻ xa lạ, bi kịch  
4.1. Albert Camus – sơ lược về cuộc đời và  
sự nghiệp sáng tác  
Camus (1913-1960) mang trong  
mình hai dòng máu Pháp và Tây Ban Nha,  
sinh ra và trưởng thành trong một gia đình  
nghèo tại Algérie. Chính mối quan hệ giữa  
Camus – một người Algérie gốc Pháp với  
những người Hồi giáo bản địa đã có ảnh  
hưởng sâu sắc đến việc nhà văn xây dựng  
hình tượng người xa lạ và cái phi lý trong tác  
phẩm của ông. Camus luôn mong muốn  
chấm dứt tình trạng xâm chiếm của thực dân  
Pháp ở Algérie, cũng như khát khao có thể  
làm được điều gì đó xóa nhòa sự ngăn cách  
giữa hai chủng tộc người nơi đây. Có lẽ bởi  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
62  
(dramatique) với Caligula và Ngộ nhận, và  
tư tưởng (idéologique) với Huyền thoại  
Sisyphe. Tôi tiên liệu khía cạnh tích cực,  
cũng dưới ba hình thức: tiểu thuyết với Dịch  
hạch, bi kịch với Tình trạng giới nghiêm  
(L'état de siège) và Những kẻ chính trực (Les  
justes) và tư tưởng với Người nổi loạn  
(L'homme révolté)”.  
quan. Dịch hạch là cuốn tiểu thuyết nhưng  
mang dáng dấp ký sự. Bản thân ý nghĩa của  
khái niệm "dịch hạch" cũng cho thấy tính  
chất biểu tượng của nó. Tác phẩm ra đời  
ngay sau đại chiến thế giới thứ hai, nên thảm  
họa miêu tả trong đó có thể khiến người ta  
liên tưởng đến chủ nghĩa phát xít, nhưng  
cũng có thể nó ám chỉ bất cứ hình thức bạo  
lực nào đang đe dọa cuộc sống loài người và  
có thể còn đè nặng lên nhân loại trong tương  
lai. Dù có những con người cố gắng nhập  
cuộc với tất cả sức lực, con tim và trí óc  
nhưng cũng không đi đến đâu vì dịch bệnh  
tự đến và tự lui chưa biết bao giờ lại xuất  
hiện, điều đó phần nào toát lên tư tưởng bi  
quan của tác giả. Tuy vậy, tác phẩm đã thể  
hiện ý chí quật cường của đội ngũ tiên phong  
chống dịch. Dù đôi lúc mệt mỏi, thất vọng,  
họ vẫn cùng nhau tiến lên chống lại dịch  
bệnh, chống lại cái xấu, cái ác trà đạp lên  
hạnh phúc của con người, thể hiện tư tưởng  
nổi loạn dám đứng lên chống lại cái “phi lý”.  
4.2. Triết lý “phi lý” trong tác phẩm của ông  
Với tư cách là một khái niệm triết  
học, quan điểm về cái phi lý (l’absurde) đã  
có một quá trình phát triển lâu dài từ thời Hy  
Lạp cổ đại với Aristote rồi trải dài xuyên suốt  
đến thế kỉ XX. Vì vậy, tư tưởng về cái phi lý  
tuy không phải là thành quả sáng tạo của  
Camus nhưng phải nói rằng đến Camus nó  
mới trở thành một khái niệm trung tâm nổi  
bật cho một trào lưu văn học và kịch nghệ  
phát triển mạnh mẽ ở Pháp những năm nửa  
cuối thế kỉ XX, trào lưu Văn - Kịch phi lý.  
Quan niệm về cái phi lý của Camus  
khác với những quan niệm đi trước. Camus  
(1985) từng nói: “Sống tức là làm cho cái phi  
lý sống. Làm cho nó sống tức là trước hết  
nhìn thẳng vào nó. Phi lý nghĩa là lấy lý trí  
sáng suốt để nhận ra hạn chế của bản thân  
mình”. Con người và thế giới tự chúng đều  
không phi lý, bởi ông quan niệm “phi lý  
chính là sự ly khai hay trật khớp khi đặt sự  
hiện hữu của mỗi cá nhân trong sự đối sánh  
với thế giới khi một bên là những khao khát,  
ước mơ tốt đẹp, mong muốn thấu hiểu của  
con người, nhưng một bên lại là sự đáp trả  
hết sức lạnh lùng, dửng dưng, vô tình của thế  
giới […]” (Nguyễn, 2002, tr. 239).  
4.3. Tác phẩm Kẻ xa lạ và Dịch hạch  
Kẻ xa lạ (1947) được chia thành hai  
phần với mười một chương, kể về cuộc đời  
của nhân vật chính là Meursault, một nhân  
viên thư ký văn phòng. Meursault sống bình  
lặng, chỉ thực sự gây chú ý với mọi người  
khi anh có những biểu lộ và hành vi hết sức  
xa lạ trong đám tang của mẹ mình. Meursault  
bị cả xã hội lên án vì anh ta không hề khóc  
trong đám tang của mẹ mình, đi chơi vui vẻ  
với bạn gái ngay sau ngày đưa tang lễ và  
ngẫu nhiên dùng súng bắn chết một người Ả  
Rập, bị quan tòa xử án tử hình vì đã “chôn  
mẹ bằng một trái tim của kẻ sát nhân”. Kẻ xa  
lạ được kể bằng ngôi thứ nhất je gắn với  
điểm nhìn bên trong của nhân vật “tôi”. Với  
việc lựa chọn điểm nhìn như vậy, tác giả  
nhằm phát huy hiệu quả tối đa trong việc lựa  
chọn và giới hạn thông tin trần thuật. Tác  
phẩm trở thành câu chuyện mang tính tự  
thuật và những sự kiện được trần thuật lại từ  
“điểm nhìn cố định” của người kể chuyện.  
Như vậy, trong truyện, cái “tôi” một mặt là  
cái “tôi” khách quan, hướng ra thế giới của  
Những trải nghiệm của sự phi lý  
được thể hiện trong mỗi tác phẩm không hoàn  
toàn giống nhau. Kévorkian (2000, tr. 48) đã  
giải thích rằng để đảm bảo tính thống nhất,  
mỗi tác phẩm chỉ đề cập đến một hay một vài  
khía cạnh của sự phi lý. Trong tác phẩm Kẻ  
xa lạ, nhà văn đã phát triển bốn biểu hiện của  
sự phi lý: sự khước từ những giá trị đạo đức  
và xã hội; sự thờ ơ, lãnh đạm với chính mình  
và với những người xung quanh; con người  
mất năng lượng; sự phát triển của các giác  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
63  
các nhân vật, các sự kiện để trần thuật, mặt  
khác cũng là cái tôi chủ quan, cái tôi nội tâm,  
cái tôi tâm lý hướng vào thế giới nội tâm của  
mình để bộc lộ suy nghĩ, tình cảm bản thân.  
Chính vì điều đó chúng tôi chọn phân tích  
tính cách, phẩm chất đạo đức của Meursault  
dựa vào những gì mà các nhân vật khác nói  
về anh ta và những gì mà chính nhân vật  
Meursault tự bộc lộ.  
5. Phân tích cảm xúc và các phương tiện  
biểu đạt cảm xúc trong tiểu thuyết Kẻ xa  
lạ và Dịch hạch của nhà văn Albert  
Camus  
5.1. Tình cảm phi lý (sentiment de  
l’absurde) – Meursault cô độc, thờ ơ, xa lạ  
với các quy tắc xã hội, bị soi xét phê phán  
Theo Rey, nếu như trong tiểu luận  
triết học Huyền thoại Sisyphe (1942), Camus  
đã đưa ra “khái niệm về sự phi lý” thì trong  
tiểu thuyết Kẻ xa lạ (1942), tác giả lại phát  
triển “tình cảm phi lý” bởi nhân vật trong  
truyện là những con người của đời thực, có  
tình cảm và cảm xúc (1981, tr. 102). Pingaud  
nhận định tác phẩm Kẻ xa lạ là “câu chuyện  
về một vụ án”. Thế nhưng, càng về cuối của  
phiên xét xử, người đọc dễ dàng nhận thấy  
quan tòa gần như không mấy quan tâm tới  
hành vi giết người của Meursault mà chỉ chú  
trọng phán xét con người anh ta (1992, tr. 31).  
Một câu hỏi đặt ra là điều gì ở con người  
Meursault đã làm quan tòa chú ý đến vậy.  
Theo Rey, chính tính cách lạ lùng, xa lạ mà  
Meursault thể hiện đã bị xã hội chỉ trích:  
Meursault tỏ ra xa lạ với những quy tắc,  
chuẩn mực xã hội, anh ta còn xa lạ với chính  
bản thân mình (1981, tr. 35) .Về mối quan hệ  
giữa tính cách, phẩm chất đạo đức của chủ  
thể giao tiếp và ảnh hưởng của nó tới cảm  
xúc của những chủ thể giao tiếp khác,  
Declercq đã chỉ ra rằng hai yếu tố trên có mối  
quan hệ mật thiết với nhau thể hiện ở chỗ  
cảm xúc của những người tham gia giao tiếp  
bị tác động mạnh mẽ bởi yếu tố đạo đức  
(vertus morales) của người mà họ tiếp xúc  
(1992, tr. 51). Vì vậy, nếu Meursault gây ra  
những cảm xúc tiêu cực cho những người  
xung quanh, đặc biệt là người của tòa án là  
bởi vì anh ta đã thể hiện hàng loạt những  
hành vi, thái độ xa lạ, thờ ơ với mẹ mình.  
Ngoài ra, còn phải kể đến thái độ khước từ  
của nhân vật này với những giá trị vốn được  
coi là nền tảng của xã hội như gia đình, hôn  
nhân, danh dự.  
Trong tác phẩm Dịch hạch, câu  
chuyện diễn ra tại thành phố Oran của  
Algérie trong những năm 40 của thế kỉ XX.  
Người kể - nhân vật chính, bác sĩ Rieux cùng  
các cộng sự từng ngày đối mặt với cái chết,  
sự đau đớn đến tận cùng do dịch bệnh gây ra,  
rồi cùng nhau vượt qua những tháng ngày  
kinh hoàng đó. Sợ hãi, đau thương, thất  
vọng, buông xuôi, tất cả các cung bậc cảm  
xúc mà người dân Oran đã cùng nhau trải  
qua trong suốt gần một năm dịch bệnh hoành  
hành. Đội tiên phong trong cuộc chiến, dẫn  
đầu là bác sĩ Rieux và các đồng nghiệp, đã  
đoàn kết, kiên cường, vượt qua sự đau  
thương, cứu chữa cho người bệnh. Dịch bệnh  
dần lùi đi, thuốc điều trị bệnh đã cho dấu  
hiệu khả quan. Khi thành phố được mở cửa  
trở lại, niềm hạnh phúc và nỗi đau hoà quyện  
vào nhau trong lòng mỗi người dân của  
thành phố này. Tác phẩm được kể ở ngôi thứ  
ba tuy thi thoảng lóe lên những nội dung cho  
biết người kể chuyện hoàn toàn không phải  
đứng ngoài cuộc vì chắc chắn cũng là dân  
của thành phố Oran. Gần cuối tác phẩm  
Bernard Rieux mới thú nhận chính ông là  
người kể chuyện. Với cách giấu danh tính  
của người kể đến tận cuối câu chuyện, ông  
cũng muốn biện bạch cho sự can thiệp của  
mình và để cho mọi người hiểu rằng ông cố  
ý lấy giọng của một người chứng kiến khách  
quan. Người kể ở ngôi thứ nhất trong Kẻ xa  
lạ và ở ngôi thứ ba trong Dịch hạch đã tạo  
sự khác biệt rõ nét trong cách biểu đạt cảm  
xúc trong hai tác phẩm mà chúng tôi khai  
thác và phát triển trong nghiên cứu này.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
64  
Hình ảnh “xa lạ” của Meursault thông  
qua lời kể của các nhân vật khác  
Claudes và Reuter (1998), và Jouve (2010),  
tính cách và suy nghĩ của nhân vật được bộc  
lộ qua hành động ngôn từ của anh ta. Để cụ  
thể hóa điều này, Jouve đã đề xuất nghiên  
cứu các thành phần cấu tạo nên diễn ngôn  
của nhân vật với tư cách là chủ thể giao tiếp  
dưới nhiều góc độ: về mặt ngữ nghĩa (chủ  
điểm, biện pháp tu từ, cách đánh giá), về mặt  
cú pháp (cách sắp xếp phát ngôn), về mặt  
ngữ dụng (việc lựa chọn đối tượng giao tiếp,  
dự định, chiến lược) (2010, tr. 107).  
Kévorkian (2000, tr. 27) đã đề xuất  
nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm thông  
qua lời kể của các nhân vật khác. Có thể nói  
hình ảnh đầu tiên mà Meursault để lại cho  
các nhân vật khác là hình ảnh của một con  
người vô cảm, thờ ơ với mọi chuyện.  
Bàn về hình ảnh mà Meursault để lại  
cho các nhân vật khác, ta có thể thấy anh  
hiện lên là con người “không cầu tiến” trong  
mắt ông chủ, “kì cục” trong mắt người tình,  
còn ông giám đốc hết sức ngạc nhiên về sự  
“lạnh lùng” mà anh thể hiện trong đám tang.  
Đỉnh điểm là những lời chỉ trích, lên án của  
công tố viên về sự vô cảm, phi đạo đức của  
đứa con sau ngày mẹ mất sẵn sàng lao vào  
những cuộc vui và những trò trác táng. Bàn  
về phương tiện biểu đạt cảm xúc của các  
nhân vật, ta thấy cảm xúc của họ được thể  
hiện bằng nhiều cách khác nhau: sự không  
hài lòng của ông chủ, nỗi buồn của Marie, sự  
ngạc nhiên của ông giám đốc cũng như nỗi  
ghê sợ của công tố viên hay sự tức giận của  
ông luật sư được nói ra một cách trực tiếp  
thông qua từ vựng chỉ cảm xúc (“không hài  
lòng”, “buồn”, “bất ngờ”, “kinh hãi”, “tức  
giận”). Bên cạnh đó, có những phương tiện  
biểu đạt gián tiếp thông qua những yếu tố  
quan sát được: hành động ngắt lời của ông  
luật sư và yêu cầu Meursault hứa không bao  
giờ nhắc lại những lời nói vô cảm về mẹ  
trong phiên toà; không khí của khán phòng,  
lúc thì ồ lên, lúc lại im bặt; cử chỉ, hành  
động, giọng nói của công tố viên: tay chỉ  
thẳng vào Meursault, giọng nói run run kèm  
theo cách sử dụng một loạt những từ và cụm  
từ mang ý nghĩa tiêu cực như “trò trác táng”,  
“đáng hổ thẹn nhất”, “hủy hoại đạo đức một  
cách tệ hại”.  
Xét các phương diện cấu thành diễn  
ngôn thể hiện bản chất xa lạ, không thích ứng  
với các quy tắc xã hội của nhân vật  
Meursault, ta thấy:  
Về nội dung các phát ngôn,  
Meursault bận tâm rất nhiều đến những bất  
ổn về thể chất (sự mệt mỏi, khó chịu) hay  
những nhu cầu sinh hoạt cá nhân (ăn, uống,  
ngủ) hơn là biểu đạt nỗi đau mẹ mất. Những  
suy nghĩ, lời nói và hành động không phù  
hợp trong ngày tang của mẹ lại được anh  
nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, càng khiến anh  
trở nên xa lạ hơn với xã hội mà anh đang  
sống. Anh khước từ, phủ nhận những giá trị  
nền tảng của xã hội như tình yêu, hôn nhân,  
danh dự. Điều mà xã hội không thể chấp  
nhận ở anh.  
Về cấu trúc phát ngôn, những câu trả  
lời của anh thường rất cộc, chủ yếu là những  
câu trả lời bằng một hay vài từ. Mô hình: S  
(Chủ ngữ) + V (Động từ), bổ ngữ bị lược bỏ  
và không dùng liên từ rất điển hình. Chính  
anh đã thú nhận rằng có những lúc anh chỉ  
trả lời cho xong để mà khỏi phải nói nữa,  
thậm chí anh yên lặng hay không nghe người  
khác đang nói gì. Việc lặp đi lặp lại những  
cấu trúc câu “không” “tôi không biết” cho  
thấy sự thu mình của nhân vật trong cái xứ  
sở của riêng anh, không muốn cởi mở, không  
muốn giao tiếp. Điều đó vô hình chung đã  
đẩy Meursault ra bên lề của xã hội.  
Hình ảnh “xa lạ” của Meursault thông  
qua biểu đạt của chính nhân vật này  
Cùng với cấu trúc câu thu gọn là  
giọng điệu thành thật, khách quan vô âm sắc  
trong các phát ngôn của anh. Nếu ta bắt gặp  
đâu đó trong truyện giọng điệu bi thương thì  
Ngoài cách tiếp cận nhân vật từ  
những gì mà các nhân vật khác nói và nghĩ  
về anh ta thì theo Maingueneau (1993),  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
65  
cảm xúc đó lại không xuất phát từ Meursault  
mà từ những nhân vật khác: những người  
bạn già đến khóc thương mẹ anh; Marie cảm  
thấy cảnh người tình bị Raymond đánh đập  
thật kinh khủng; hay Céleste thấy đáng  
thương cho lão Salamano suốt ngày hành hạ  
con chó của lão. Còn Meursault thì không  
cảm thấy như vậy, anh lạnh lùng không nói  
gì trước những cảnh tượng đó. Qua những  
phân tích trên đây, bản chất “xa lạ” với xã  
hội của Meursault đã phần nào được khắc  
họa thông qua việc thuật lại lời của các nhân  
vật khác và thông qua bộc lộ của chính anh  
(hội thoại, độc thoại nội tâm). Có thể nói,  
Meursault không hòa nhập vào xã hội thì xã  
hội đó cũng không coi anh là một thành viên,  
đồng thời ra sức chỉ trích việc anh không  
tuân thủ các quy tắc, lề lối đã được thiết lập.  
Những quy tắc đó theo Eggs (2008, tr. 294)  
là vô cùng cần thiết để đảm bảo sự vận hành  
trôi chảy của các giao tiếp trong xã hội.  
vác và ủng hộ ông trong cuộc chiến chống lại  
dịch bệnh cho thấy họ cùng thuộc về một thế  
giới, cùng có nhu cầu tranh đấu chống lại sự tàn  
ác, mang lại hạnh phúc chung cho mọi người.  
Là sứ giả quy tụ tình đoàn kết, sự  
đồng lòng, các phát ngôn của Rieux đều  
xoay quanh trường từ về sự đoàn kết. Các từ  
vựng được lặp đi lặp lại “chúng ta” (nous),  
“cùng nhau” (ensemble), “tập hợp” (réunir)  
đã thể hiện tinh thần đó. Bằng lời nói, hành  
động, ông đã xây dựng tình đoàn kết của các  
đồng nghiệp. Rambert, bị kẹt trong thành  
phố khi dịch bệnh bùng phát, đã tìm mọi  
cách để thoát khỏi vùng dịch, quyết định góp  
sức vào cuộc chiến với dịch bệnh đe doạ tính  
mạng của tất cả người dân nơi đây. Rambert  
chủ động đề nghị với bác sĩ Rieux được làm  
việc cùng ông trong nhóm tiên phong chống  
dịch: “Ông có đồng ý để tôi làm việc cùng  
các ông cho đến khi nào tôi tìm được cách  
thoát khỏi thành phố không?” (tr. 181) Từ  
việc chỉ mong muốn gắn bó tạm thời,  
Rambert đã từ bỏ ý định rời thành phố để gắn  
bó lâu dài với bác sĩ Rieux và các cộng sự.  
Anh nhà báo đã lựa chọn đặt lợi ích tập thể  
lên trên hạnh phúc của cá nhân: “Bác sĩ,  
Rambert nói, tôi không đi nữa, tôi sẽ ở lại với  
các ông. […] Tôi đã luôn nghĩ rằng tôi không  
thuộc về thành phố này và không có gì níu  
kéo tôi ở lại với các ông. Nhưng giờ, khi tôi  
đã tận mắt nhìn thấy những gì các ông đang  
làm trong cuộc chiến này, tôi biết rằng tôi  
thuộc về nơi đây, dù cho tôi có muốn hay  
không. Thế sự này liên quan đến tất cả chúng  
ta.” (tr. 228) Có thể nói con người của bác sĩ  
Rieux, đạo đức, nhân cách, lời nói, hành  
động của ông - người hùng trong cuộc chiến  
chống dịch đã có sức hút to lớn với các  
“chiến binh” khác, dẫn dắt họ cùng hành  
động trong cuộc chiến. Chính sự tận tụy, bền  
bỉ, kiên định trong chiến đấu, nhạy cảm và  
thấu hiểu tâm tư của các cộng sự, Rieux đã  
lấy được thiện cảm của Panneloux, Tarrou,  
Rambert, Grand và những người khác. Ông  
đã kết nối họ bởi sợi dây của “tình đoàn kết”,  
“sự đồng lòng” của những người cùng chung  
chí hướng, quyết tâm chống lại cái xấu, cái ác.  
5.2. Tình cảm phản kháng (sentiment de la  
révolte) – Rieux quả quyết, tập hợp các  
cộng sự, đoàn kết trong cuộc chiến chống  
lại dịch bệnh  
Ngược lại với sự “ác cảm”  
(antipathie) là sự “thân thiện” (sympathie) –  
hiểu và cảm thông, theo cách định nghĩa của  
Amossy (2008). Nếu như Meursault, con  
người biểu trưng của sự phi lý, luôn cảm thấy  
cô độc, đứng ngoài cuộc trong các sự kiện;  
Rieux, con người biểu trưng của sự nổi loạn,  
đã tập hợp quanh ông những con người đồng  
lòng, quyết chiến chống lại dịch bệnh.  
Theo Amossy, những khái niệm  
“tình cảm cộng đồng” (sentiment  
d’appartenance) hay “sự đồng thuận”  
(communauté de sentiment), mặc dù nghĩa  
của chúng còn khá mơ hồ nhưng vẫn rất cần  
thiết để hiểu khái niệm “ethos” – hình ảnh  
của chủ thể giao tiếp. Để huy động sự đồng  
lòng, ngoài vấn đề về phẩm chất đạo đức  
(vertus morales), mục đích hành động,  
những người đồng hành phải có chung cách  
nhìn và cách suy nghĩ. Cách mà tất cả những  
người cộng sự tình nguyện chung tay gánh  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
66  
Phải đến những trang cuối của  
truyện, danh tính của người kể mới được tiết  
lộ. Từ góc nhìn khách quan của một nhà sử  
học, người kể luôn sử dụng ngôi thứ ba số ít  
“on” - đại từ không xác định để chỉ người  
dân Oran, đại từ “nous” (chúng ta), tính từ  
sở hữu ở ngôi thứ nhất số nhiều “nos”  
“notre” đi cùng danh từ “concitoyens”  
(người đồng bào, người anh em) để kể lại  
diễn biến của dịch. Tinh thần cộng đồng đã  
được thể hiện rõ nét khi Rambert, người đã  
tìm mọi cách để thoát khỏi thành phố, đã  
quyết định ở lại và tuyên bố: “Dịch bệnh liên  
quan đến tất cả chúng ta” (tr. 75). Từ “tất cả”  
được lặp lại nhiều lần trong các cụm từ  
“nhân danh tất cả mọi người” (tr. 76-77), “tất  
cả dân chúng” “tất cả những người bị cầm  
tù” “tất cả những người bị cô lập” (tr. 81),  
“tất cả thành phố” (tr. 83). Cảm xúc được thể  
hiện không còn là của một cá nhân ai cả mà  
là cảm xúc chung cả cộng đồng người dân  
thành phố Oran. Suy nghĩ, tâm trạng, cảm  
xúc của người dân Oran đã được ghi lại qua  
một loạt từ vựng chỉ cảm xúc, từ “ngạc  
nhiên”, “lo lắng” trước khi thành phố bị đóng  
cửa, đến “sợ hãi”, “đau đớn” khi lệnh đóng  
cửa được ban hành và trong cả một năm dài  
bị cách ly với thế giới bên ngoài, rồi “niềm  
vui”, “hạnh phúc” khi dịch bệnh dần lùi xa.  
Trường từ vựng về “sự chia ly”, “nỗi đau”,  
“chết chóc” giữ vị trí chủ đạo trong tác  
phẩm. Những cảm xúc trên không chỉ được  
thể hiện qua hệ thống từ vựng phong phú,  
tăng cấp độ, mà còn qua các biểu đạt cơ thể,  
âm thanh đa dạng – tiếng hú còi của xe cứu  
thương, tiếng kêu gào, la hét khi người nhà  
bị đưa đi cách ly hay gia đình có người thân  
bị chết (tr. 96-97). Nếu biện pháp tu từ lặp  
lại được sử dụng phổ biến trong Kẻ xa lạ thì  
trong Dịch hạch, các biện pháp tu từ tương  
phản, đối lập (đối từ hay đối ý) xuất hiện rất  
nhiều, phản ánh không khí căng thẳng, ngột  
ngạt, những suy nghĩ trái chiều đan xen trong  
bối cảnh hỗn loạn của dịch bệnh: “sự tin  
tưởng ngu xuẩn” (tr. 78), “kì nghỉ không thể  
chịu nổi” (tr. 81), thậm chí trong lúc sợ hãi,  
hoang mang đến tột cùng thì tình yêu và  
những đam mê cũng chỉ vỏn vẹn trong  
những dòng chữ cộc lốc, ngắn ngủn gửi tới  
người thân ngoài vùng dịch.  
Người kể sử dụng chủ yếu loại câu  
phức dài để miêu tả chi tiết sự căng thẳng,  
ngột ngạt, không khí u ám trong thành phố  
khi số người chết mỗi ngày một tăng lên  
nhanh chóng. Trái với giọng điệu vô âm sắc  
trong các phát ngôn của Meurault trong Kẻ  
xa lạ, là giọng điệu hãi hùng, bi thương phổ  
biến trong tác phẩm khi miêu tả cảnh bệnh  
tật, tang tóc, đan xen với giọng điệu quả  
quyết, tự tin vào con đường chiến đấu với  
dịch bệnh của Rieux và các cộng sự từ khi có  
những dấu hiệu ban đầu đến khi dịch bùng  
phát. Cùng với đó là giọng điệu châm biếm  
trước những việc làm mang tính hình thức  
của chính quyền, báo chí, quân đội hay thậm  
chí có khi là giọng điệu phản bác trước thái  
độ coi nhẹ, lảng tránh của giới cầm quyền  
trước tình hình dịch bệnh ngày càng trở nên  
nghiêm trọng và gay gắt hơn là giọng điệu  
kiên quyết chống lại cái ác, cái xấu, chà đạp  
lên những con người, những đứa trẻ vô tội.  
6. Kết luận  
Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm  
hiểu các cảm xúc chủ đạo được thể hiện  
trong tiểu thuyết Kẻ xa lạ và Dịch hạch, hai  
tác phẩm tiêu biểu trong hai giai đoạn sáng  
tác mà nhà văn Albert Camus gọi là “Thời kì  
phi lý” (Cycle de l’absurde) và “Thời kì nổi  
loạn” (Cycle de la révolte). Dựa trên hai khái  
niệm “ethos”, hình ảnh của người nói và  
“pathos”, cảm xúc mà người nói tạo ra ở  
người nghe, nghiên cứu đã chỉ ra hai luồng  
cảm xúc đối lập nhau trong hai tác phẩm: Kẻ  
xa lạ thể hiện nỗi cô đơn của nhân vật  
Meursault cũng như những ác cảm của xã  
hội đối với nhân vật này; ngược lại, Dịch  
hạch làm nổi bật sự sẻ chia, thấu cảm, sức  
mạnh của sự đoàn kết qua hình ảnh bác sĩ  
Rieux và những người cộng sự trong cuộc  
chiến chống lại dịch bệnh. Trong bài viết,  
chúng tôi phân biệt hai nhóm phương tiện  
biểu đạt xúc: một là, thông qua từ vựng chỉ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
67  
cảm xúc, được gọi là phương tiện biểu đạt  
trực tiếp; hai là, thông qua các dấu hiệu về  
Catherine, F., & Anne, S. (1991). Introduction à  
l’analyse Stylistique. Bordas.  
ngôn ngữ và phong cách, biểu đạt cơ thể,  
cách hành xử. Bằng cách sử dụng kết hợp các  
kỹ thuật của phân tích diễn ngôn và phân tích  
phong cách học, chúng tôi tìm hiểu cảm xúc  
và các phương tiện biểu đạt cảm xúc trong  
tác phẩm. Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt  
rõ nét trong cách sử dụng các phương tiện  
biểu đạt cảm xúc chủ đạo trong hai tác phẩm  
nêu trên. Thể hiện mối tương quan của hai  
tác phẩm, Lévi-Valensi đã kết luận: “Dưới  
góc độ nào đó, Camus dường như muốn đối  
lập Dịch hạch với Kẻ xa lạ; trái với câu  
chuyện của một cá nhân, được kể ngắn gọn  
và không hề có lời bình luận là những trang  
miêu tả dày đặc, chi tiết về một cuộc chiến  
với dịch bệnh mà tác phẩm không ngớt nhấn  
mạnh phương diện tập thể.” (2006) Có thể  
nói, việc chuyển đổi từ hình ảnh một con  
người đậm nét cá nhân trong Kẻ xa lạ sang  
hình ảnh một con người cống hiến vì tập thể  
trong Dịch hạch đã tạo sự biến đổi rõ nét về  
cách biểu đạt cảm xúc chủ đạo trong hai tác  
phẩm. Sự cô đơn, xa lạ với các quy tắc xã hội  
đã lùi chỗ cho tinh thần đoàn kết, đồng lòng,  
hi sinh vì công cuộc chung chống lại dịch  
bệnh, chống lại cái xấu, cái ác chà đạp lên  
con người.  
Combe, D. (2002). La stylistique des genres. Langue  
française, 135(1), 33-49.  
Cosnier, J. (1994). Psychologie des émotions et des  
sentiments. Retz-Nathan.  
Declercq, G. (1992). L’art d’argumenter: Structures  
rhétoriques  
et  
littéraires.  
Éditions  
Universitaires.  
Đỗ, Đ. H. (1978). Phê phán văn học hiện sinh chủ  
nghĩa. Nxb Tổng hợp.  
Eggs, E. (2008). Le pathos dans le discours –  
exclamation, reproche, ironie. In M. Rinn  
(Ed.), Émotions et discours, l’usage des  
passions dans la langue (pp. 291-320).  
Presse universitaire de Rennes.  
Glaudes, P., & Reuter Y. (1998). Personnage et  
didactique du récit. Centre d’Analyse  
Syntaxique de l’Université de Metz.  
Jouve, V. (2010). Poétique du roman. Armand Colin.  
Kévorkianx, S. (2000). Étude sur Albert Camus  
L’Étranger. Ellipse.  
Lévi-Valensi, J. (Ed.). (2006). Pléiade Albert Camus  
(Vols. I-II). Gallimard.  
Lê, T. P. L. (2013). Étude des émotions et des  
sentiments dans le roman d’Albert Camus –  
Le cas de L’Etranger et de La Peste. VNU  
Journal of Foreign Studies, 29(1S), 50-60.  
Lê, T. P. L. (2016). Phương tiện biểu đạt cảm xúc  
trong diễn ngôn văn học. Tạp chí Khoa học  
Ngoại ngữ Quân sự, 3, 50-58.  
Tài liệu tham khảo  
Lê. T. P. L. (2018). Procédés d’expression des  
émotions dans L’Etranger et La Peste.  
[Unpublished doctoral dissertation]. VNU  
University of Languages and International  
Studies, Vietnam National University,  
Hanoi.  
Amossy, R. (2000). L’argumentation dans le  
discours. Discours politique, littérature  
d’idées, fiction. Nathan.  
Amossy, R. (2008). Dimension rationnelle et  
dimension affective de l’ethos. In M. Rinn  
(Ed.), Émotions et discours, l’usage des  
passions dans la langue (pp. 113-126).  
Presse universitaire de Rennes.  
Maingueneau, D. (1993). Le contexte de l’oeuvre  
littéraire. Dunod.  
Micheli, R. (2013). Esquisse d'une typologie des  
différents modes de sémiotisation verbale de  
Aristote (1991). Rhétorique (C. Ruelle, M. Meyer, B.  
Timmermans, Eds.). Le Livre de Poche.  
l'émotion.  
Semen.  
Bakhtine, M. (1984). Esthétique de la création  
verbale. Gallimard.  
Nguyễn, H. Đ. (2001). Phong cách học tiếng Việt hiện  
đại. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Camus, A. (1942). L’Étranger. Gallimard.  
Camus, A. (1947). La Peste. Gallimard.  
Pingaud, B. (1992). L’étranger d’Albert Camus.  
Gallimard.  
Camus, A. (1957). Le discours de Stockholm.  
Plantin, C. (2011). Les bonnes raisons des émotions.  
Principes et méthodes pour l’étude du  
discours émotionné. Peter Lang.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
68  
Rey, P-L. (1981). L’Étranger Camus. Hatier.  
interactions  
universitaire de Lyon.  
Trần, Đ. S. (2013). Khái niệm diễn ngôn trong nghiên  
cứu văn học hôm nay.  
(pp.  
205-221).  
Presse  
Rinn, M. (Ed.). (2008). Émotions et discours, l’usage  
des passions dans la langue. Presse  
universitaire de Rennes.  
04/khai-niem-dien-ngon/  
Traverso, V. (2000). Les émotions dans la  
confidence. In C. Plantin, M. Doury & V.  
Traverso (Eds.), Les émotions dans les  
STUDYING EMOTIONS IN LITERARY DISCOURSE:  
APPLICATION TO EMOTIONALANALYSIS IN THE STRANGER  
AND THE PLAGUE BYALBERT CAMUS  
Le Thi Phuong Lan  
Faculty of French Language and Culture, VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: This article aims to point out that the study of emotions in literary works is an  
intersection of discursive research in literature and in linguistics. We rely on characteristics of the genre,  
the writer's style, the philosophy of the work to understand the emotions expressed by the narrator and  
the character. Basing on that, the study identifies the means of expressing emotions used in the work. In  
the theoretical part, we present directions to study emotions in discourse, characteristic of fictional  
discourse, and clarify the connotation of two concepts: ethos and pathos. From that theory, we  
investigate the emotions that make up the irrational sentiment in The Stranger and the rebellious  
sentiment in The Plague as well as identify the means of expressing the two emotions above. The  
comparison of the means of expressing emotions in the two works allows us to understand the worldview  
and perspective of the writer Albert Camus in the two writing periods that he calls "Absurd period" and  
"Rebellion period".  
Keywords: means of emotional and sentimental expression, absurd sentiment, rebellious  
sentiment, The Stranger, The Plague, Albert Camus  
pdf 13 trang baolam 22820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đường hướng nghiên cứu cảm xúc trong diễn ngôn văn học - áp dụng phân tích cảm xúc trong tiểu thuyết Kẻ xa lạ và Dịch hạch của nhà văn Albert Camus", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfduong_huong_nghien_cuu_cam_xuc_trong_dien_ngon_van_hoc_ap_du.pdf