Hùng Vương trong tâm thức người Việt
35
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
HÙNG VƯƠNG TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT
TRẦN ĐỨC CƯỜNG*
Truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, thời đại mở đầu cho lịch sử dựng nước
của dân tộc Việt Nam, gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước
Văn Lang trên cơ sở nền Văn hóa Đông Sơn luôn có một vị trí hết sức đặc biệt
trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam. Vì vậy, việc làm sáng tỏ các vấn đề
tồn nghi theo c c c ch tiếp cận h c nhau như văn hóa d n gian, sử h c ha
h o c h c về thời đại Hùng Vương hông chỉ góp phần làm sâu sắc hơn
những giá trị lịch sử, văn hóa Việt Nam mà còn hơi dậy niềm tự hào dân tộc
cho thế hệ trẻ hôm nay.
Từ khóa: thời đại Hùng Vƣơng, Nhà nƣớc Văn Lang, Văn hóa Đông Sơn, tâm thức
ngƣời Việt
Nhận bài ngày: 1/2/2020; đưa vào biên tập: 2/2/2020; ph n biện: 15/2/2020; duyệt
đăng 15/3/2020
Tụ cƣ trên một vùng đất không hoàn dân tộc Việt Nam trong quá trình phát
triển, đã sớm có ý thức cộng đồng,
tiếp đó là ý thức quốc gia dân tộc. Họ
luôn liên kết với nhau và cùng với các
tộc ngƣời khác, tạo thành một sức
mạnh to lớn để chống thiên tai và giặc
ngoại xâm. Ngƣời Việt sớm có triết lý:
Uống nước nhớ nguồn, luôn chú ý đến
nguồn gốc của dân tộc mình, mình từ
đâu đến? có những đặc điểm gì? để
tự hào và lấy đó làm nguồn động viên
các thế hệ nối tiếp trong công cuộc
dựng nƣớc và giữ nƣớc. Điều đó, giải
thích lý do vì sao, các câu chuyện về
nguồn gốc dân tộc, về sự hình thành
toàn thuận lợi về điều kiện tự nhiên,
chủ yếu chịu ảnh hƣởng của khí hậu
nhiệt đới, gió mùa, nắng gắt, mƣa
nhiều, lũ lụt luôn đe dọa; đồng thời
phải đối chọi với các thế lực xâm lƣợc
luôn nhòm ngó, xâm chiếm do nằm ở
trung tâm Đông Nam Á lục địa, lại có
một bờ biển dài nhìn ra Biển Đông, án
ngữ cả đƣờng bộ và đƣờng biển từ
Đông Bắc xuống Đông Nam Á hải đảo,
ngƣời Việt – tộc ngƣời chủ thể của
* Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.
TRẦN ĐỨC CƢỜNG – HÙNG VƢƠNG TRONG TÂM THỨC…
36
dân tộc luôn đƣợc chú ý, xây dựng, Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan,
dù chƣa có đủ cơ sở khoa học. Các Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hƣng, Cửu
câu chuyện về triều Hồng Bàng, về
Lạc Long Quân và Âu Cơ, đƣợc lƣu
truyền từ đời này sang đời khác là kết
quả của mối quan tâm này trong tâm
thức ngƣời Việt. Theo truyền thuyết,
triều đại đầu tiên trên đất nƣớc Việt
Nam – triều Hồng Bàng, gắn với vị
hoàng đế truyền thuyết của Trung
Quốc là Thần Nông (Lê Thành Khôi,
2014: 70).
Đức” (Phan Huy Chú, tập 1, 1992: 24).
Trong việc tìm hiểu về thời kỳ dựng
nƣớc ở nƣớc ta, các nhà nghiên cứu
có nhiều cách tiếp cận khác nhau,
trong đó nổi lên cách tiếp cận văn hóa
dân gian, tiếp cận sử học và tiếp cận
khảo cổ học. Đặc biệt, cách tiếp cận
văn hóa học và văn hóa dân gian
thƣờng thể hiện rõ nhất tâm thức của
ngƣời Việt. Có một tỷ lệ về chuyện cổ
tích liên quan đến lịch sử thời kỳ Hùng
Vƣơng đáng chú ý. Khi nghiên cứu
văn bản học, trong sách Lĩnh Nam
chích quái, một quyển sách chép
chuyện cổ tích biên soạn từ thế kỷ XV,
có 23 chuyện thì 11 chuyện liên quan
đến việc và nhân vật thời kỳ Hùng
Vƣơng. Điều đó phản ánh một thực tế
là trong quá trình dựng nƣớc và giữ
nƣớc, ngƣời Việt luôn phải chống chọi
với mọi khó khăn, thử thách gây nên
từ thiên tai và địch họa nên luôn có ý
thức sâu sắc đến những vấn đề có
liên quan đến vận mệnh dân tộc. Các
nhân vật truyền thuyết về thời kỳ này
nhƣ Tản Viên Sơn Thánh và các bộ
tƣớng của ông hoặc trực tiếp là bộ
tƣớng của Hùng Vƣơng có công giúp
nƣớc, an dân sau khi chết đã biến
thành thần đƣợc thờ cúng ở nhiều nơi,
trƣớc hết ở vùng trung du và đồng
bằng Bắc Bộ, vùng núi và vùng biển
Bắc Trung Bộ. Đó là Thần núi nhƣ
Cao Sơn và Quý Minh; Thần sông
Theo truyền thuyết, cháu năm đời của
vua Thần Nông là Lạc Long Quân lấy
bà Âu Cơ sinh ra cái bọc gồm một
trăm quả trứng, từ đó nở ra một trăm
ngƣời con trai. Một hôm, Lạc Long
Quân nói với Âu Cơ: “Ta là giống rồng,
nàng là giống tiên. Thủy hỏa tƣơng
khắc, khó mà ở với nhau trƣờng cửu.
Bây giờ phải ly biệt. Năm mƣơi ngƣời
con trai theo mẹ về núi, năm mƣơi
ngƣời con trai theo cha định cƣ ở bờ
Biển Đông” (Vũ Quỳnh - Kiều Phú,
1969: 21).
Cũng theo truyền thuyết, chủ yếu đƣợc
truyền tụng trong ký ức dân gian, con
trai cả của Âu Cơ cai trị nƣớc Văn
Lang với danh hiệu Hùng Vƣơng.
Hùng Vƣơng truyền từ đời này sang
đời khác theo chế độ cha truyền con
nối. Hùng Vƣơng vừa là ngƣời chỉ huy
quân sự, đồng thời là ngƣời chủ trì các
nghi lễ tôn giáo. Giúp việc Hùng Vƣơng
có các lạc hầu, lạc tƣớng. Lạc tƣớng
trực tiếp cai quản công việc của các bộ.
Nƣớc Văn Lang có 15 bộ, là các bộ: nƣớc nhƣ Giang Công, Mang Công,
“Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Khê Công; Thần cá, Thần biển nhƣ
Lộc, Việt Thƣờng, Ninh Hải, Dƣơng
Hồng Lân, Cự Lân, Cao Mang, Linh
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020
37
Uyên. Các con trai của Hùng Vƣơng ở Việt Nam nhƣ Đại Việt sử ký của Lê
Văn Hƣu viết năm 1272, An Nam chí
lược của Lê Trắc biên soạn vào thế kỷ
XIV đều không viết gì về thời kỳ Hùng
Vƣơng. Tài liệu thƣ tịch đầu tiên đề
cập đến thời kỳ Hùng Vƣơng là Việt
điện u linh của Lý Tế Xuyên, viết Lời
tựa năm 1329. Trong cuốn sách này,
Lý Tế Xuyên đã dựa vào sách của
một số tác giả Trung Quốc từng sống
ở Việt Nam viết nên, nhƣ Giao Chỉ ký,
Báo Cực truyện, Giao Châu ký. Trong
Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên chép câu
chuyện cầu hôn của Sơn Tinh và
Thủy Tinh thời Hùng Vƣơng trong T n
Viên hựu thánh khuông quốc hiển ứng
vương. Còn sách Lĩnh Nam chích qu i
của Trần Thế Pháp viết vào khoảng
đầu thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh và Kiều
Phú biên soạn lại khoảng năm 1492 -
1493 có ghi chép về truyện Hồng
Bàng thời đại Hùng Vƣơng (nhƣ đã
dẫn).
giúp Tản Viên Sơn Thánh đi đánh giặc
nhƣ Lang Bút, Lang Mao, Lang Lôi;
các vị nữ thần hoặc là vợ Tản Viên
Sơn Thánh hoặc là mẹ và vợ các bộ
tƣớng của ông nhƣ Ngọc Hoa Công
chúa, Nguyệt Cƣ Công chúa, Lứa
Nƣơng, Ả Nƣơng, Mỵ Nƣơng…
Truyền thuyết về Thánh Gióng đánh
giặc Ân cũng đƣợc đặt trong bối cảnh
lịch sử của thời kỳ này. Thánh Gióng
hay Phù Đổng Thiên Vƣơng, cậu bé
mới ba tuổi gặp lúc đất nƣớc có giặc,
sau khi ăn bảy nong cơm, ăn ba nong
cà vƣơn vai thành dũng sĩ, cƣỡi con
ngựa sắt, mặc bộ giáp sát, dùng cây
gậy sắt đánh tan giặc Ân, tƣợng trƣng
cho tinh thần chống giặc ngoại xâm và
sức mạnh của ngƣời Việt. Hay Tản
Viên Sơn Thánh, vị Thần núi Tản Viên
tƣợng trƣng cho ƣớc vọng chinh phục
tự nhiên, chiến thắng thiên tai cùng
với Chử Đồng Tử, còn đƣợc gọi là
Chử Đạo Tổ, tƣợng trƣng cho lòng
hiếu nghĩa, tình yêu, hôn nhân, sự
giàu có, sung túc; là các vị nam thần
đƣợc thờ cúng ở nhiều nơi từ thời
Hùng Vƣơng dựng nƣớc, cùng với
Liễu Hạnh Công chúa, hay Mẫu
Thƣợng Thiên (Mẫu Liễu Hạnh),
tƣợng trƣng cho cuộc sống tinh thần
phong phú, giàu đức hạnh, trí tuệ, sự
thịnh vƣợng, văn thơ là vị nữ thần
đƣợc đƣa vào hệ thống thần thánh từ
Về sách lịch sử, vào thời Trần, có Việt
sử lược (hiện chƣa biết tên tác giả)
viết nhƣ sau về các vua Hùng: “Đến
đời Trang Vƣơng nhà Chu (696 - 682
trƣớc Công nguyên), ở bộ Gia Ninh có
ngƣời lạ, dùng ảo thuật áp phục đƣợc
các bộ lạc, tự xƣng là Hùng Vƣơng,
đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nƣớc
Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất
phác, chính sự dùng lối kết nút.
Truyền đƣợc 18 đời, đều gọi là Hùng
thời Hậu Lê, trở thành “Tứ bất tử” Vƣơng” (dẫn theo Trần Quốc Vƣợng,
trong tín ngƣỡng dân gian của ngƣời 2005: 18).
Việt cho đến tận ngày nay.
Đến năm 1479, Ngô Sĩ Liên với công
trình Đại Việt sử ý toàn thư, thời kỳ
Hùng Vƣơng đƣợc chính thức đƣa
Trên phƣơng diện văn bản học,
những công trình lịch sử xa xƣa nhất
TRẦN ĐỨC CƢỜNG – HÙNG VƢƠNG TRONG TÂM THỨC…
38
vào sử sách, đƣợc coi là thời kỳ mở Dù đã đƣa vào lịch sử, nhƣng về thời
đầu của lịch sử dân tộc. Trong công kỳ của Nhà nƣớc Văn Lang, thời kỳ
trình mang tính chất “quốc sử” này, các vua Hùng vẫn còn tồn nghi nhiều
Ngô Sĩ Liên thêm vào kỷ họ Hồng câu hỏi, nhiều vấn đề mà các tập
Bàng và kỷ nhà Thục ở phần Ngoại kỷ. truyện truyền kỳ dân gian nhƣ Việt
Với lòng tự tôn dân tộc và ý thức độc điện u linh, Lĩnh Nam chích qu i chƣa
lập, tự chủ, Lời tựa của Đại Việt sử ký thể giải đáp, kể cả các công trình sử
toàn thư viết: “Nƣớc Đại Việt ta ở phía học nhƣ Việt sử lược, Đại Việt sử ký
Nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã chia vạch toàn thư, Kh m định Việt sử thông
Bắc - Nam; thủy tổ ta ra tự con cháu gi m cương mục. Chính Ngô Sĩ Liên,
Thần Nông thị, thế là trời đã sinh ra ngƣời khởi đầu và viết chính cuốn Đại
chân chúa. Vì thế mới cùng với Bắc Việt sử ý toàn thư, từng nêu: “Đời
triều đều làm chủ một phƣơng” (Ngô Hùng Vƣơng, đặt chƣ hầu làm phên
Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, tập 1, giậu, chia nƣớc làm 15 bộ, ở 15 bộ ấy
1972: 17).
đều có trƣởng và tá, Các con thứ cứ
theo thứ tự chia nhau để trị. Cái thuyết
nói 50 con theo mẹ về núi, biết đâu
không phải là thế? Vì là mẹ làm quân
trƣởng, các con đều làm chủ một
phƣơng. Cứ xem nhƣ tù trƣởng Man
ngày nay, xƣng là nam phụ đạo, nữ
phụ đạo. Còn nhƣ việc Sơn Tinh,
Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách
chẳng bằng không có sách hãy tạm
thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự
nghi ngờ thôi” (Ngô Sĩ Liên và các sử
thần triều Lê, tập 1, 1972: 63).
Việc làm của Ngô Sĩ Liên và các sử
thần triều Lê đƣợc các tác giả của
nhiều công trình ra đời sau đó tán
thành và đƣa vào công trình của mình,
ví nhƣ: Vũ Quỳnh trong Đại Việt thông
giám, biên soạn năm 1511; Lê Tung
trong Việt giám thông kh o t ng luận,
biên soạn năm 1514; Lê Quý Đôn
trong V n đài loại ngữ; Ngô Thì Sĩ
trong Việt sử tiêu án; Phan Huy Chú
trong Lịch triều hiến chương loại chí;
Đặng Xuân Bảng trong Sử h c bị
kh o…
“Sự nghi ngờ” ấy tồn tại mãi đến vài
trăm năm sau. Vào nửa đầu thế kỷ XX,
nhà sử học Trần Trọng Kim, trong Việt
Nam sử lược viết về đời thƣợng cổ
còn cho rằng: “Chẳng qua nhà làm sử
cũng nhặt nhạnh những chuyện
hoang đƣờng tục truyền lại, làm nên
những truyện ấy toàn là truyện có
thần tiên, quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên
cả” (Trần Trọng Kim, 1999: 27).
Đến thời Nguyễn, vào nửa sau thế kỷ
XIX, cơ quan nghiên cứu của triều
đình là Quốc sử quán đã tổ chức biên
soạn một bộ sử lớn, mang tính chất
“quốc sử” là Kh m định Việt sử thông
gi m cương mục 52 quyển gồm phần
Tiền biên (5 quyển) và Chính biên (47
quyển). Trong phần Tiền biên, các tác
giả Quốc sử quán triều Nguyễn đã
biên chép kỹ hơn các tác phẩm trƣớc
đó về thời kỳ Hùng Vƣơng.
Nhƣ vậy, có thể nói, nếu chỉ dựa vào
các truyền thuyết dân gian và một số
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020
39
sách sử đƣợc biên soạn khoảng đầu vào năm 1934 sau khi đã phát hiện
thế kỷ XX, việc tìm hiểu kỹ về lịch sử
các nhà nƣớc đầu tiên trên đất nƣớc
ta, trong đó có Nhà nƣớc Văn Lang và
thời kỳ các vua Hùng gặp nhiều khó
khăn. Khó khăn ấy chỉ có thể vƣợt
qua khi các nhà nghiên cứu khoa học
xã hội, trƣớc hết là các nhà khảo cổ
học, sử học, văn hóa học, dân tộc học
có cách tiếp cận và phƣơng pháp
nghiên cứu mới hơn, hiện đại hơn,
chủ yếu là phƣơng pháp nghiên cứu
liên ngành, nghiên cứu đa bộ môn vào
việc tìm hiểu về Nhà nƣớc Văn Lang,
về thời kỳ Hùng Vƣơng và thời kỳ Nhà
nƣớc Âu Lạc tiếp đó.
hàng trăm di tích và hàng vạn di vật
thuộc loại hình Đông Sơn. Loại hình
các di tích này rất đa dạng, bao gồm
những khu cƣ trú, khu mộ táng, trong
đó có một huyệt đất, mộ vò hay mộ có
quan tài thân cây khoét rỗng (mộ
thuyền).
Hiện vật thuộc Văn hóa Đông Sơn đặc
trƣng qua những bộ hiện vật đồng đa
dạng và độc đáo, gồm rìu nhiều kiểu
nhƣ rìu lƣỡi xéo, giáo, dao găm có
cán hình ngƣời hay động vật, các đồ
đựng nhƣ thố, bình, thạp và các nhạc
cụ nhƣ chuông, trống. Đặc biệt, trong
một số di chỉ thuộc Văn hóa Đông
Sơn, các nhà nghiên cứu đã phát hiện
Trong các thập niên đầu thế kỷ XX,
quá trình tiếp nhận phƣơng pháp ra trống đồng loại sớm – trống Hêgơ
nghiên cứu khảo cổ học, sử học, việc loại 1 với hoa văn rất đẹp, đã trở
thành hiện vật tiêu biểu cho văn hóa
khảo cổ học nổi tiếng này. Nguyên
liệu chủ yếu đƣợc cƣ dân Đông Sơn
dùng để chế tạo các công cụ lao động
chủ yếu cũng nhƣ các đồ trang sức,
vũ khí và đồ thờ là loại hợp kim đồng -
thiếc - chì. Với nhiều hiện vật đồng tìm
đƣợc cùng các di vật sắt và di tích lò
nấu sắt, các nhà nghiên cứu xếp Văn
hóa Đông Sơn thuộc thời đại đồ sắt
sớm qua nhiều cuộc thảo luận khoa
học. Các nhà khảo cổ học cho rằng
cƣ dân Đông Sơn là cƣ dân nông
nghiệp, chủ yếu trồng lúa. Họ đã chăn
nuôi trâu, bò, lợn, gà, biết làm nhiều
nghề thủ công nhƣ làm mộc, sơn, làm
gốm, đặc biệt là luyện kim và chế tác
đồ kim loại…
phát hiện nhiều di tích thuộc thời đại
đồ đồng và đồ sắt sớm, và đặc biệt là
việc phát hiện các di chỉ thuộc Văn
hóa Đông Sơn đã tạo ra bƣớc chuyển
biến quan trọng trong nghiên cứu về
lịch sử thời kỳ cổ đại ở Việt Nam, giúp
cho các nhà khoa học và ngƣời dân
Việt Nam hiểu rõ hơn về những gì đã
diễn ra trong lịch sử đất nƣớc mình
cách hàng ngàn năm, lúc đó vẫn còn
bị bao phủ nhƣ lớp sƣơng mờ, hƣ hƣ
thực thực bởi các truyền thuyết. Văn
hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ
từng tồn tại ở một số tỉnh Bắc Bộ và
Bắc Trung Bộ Việt Nam. Nền văn hóa
này với những di vật đầu tiên đƣợc
tìm thấy ở làng Đông Sơn, tỉnh Thanh
Hóa ven sông Mã vào năm 1924 và
chính thức đƣợc học giả R. Heine- Văn hóa Đông Sơn đƣợc phát hiện và
bắt đầu nghiên cứu trong vài thập niên
Geldern đặt tên là Văn hóa Đông Sơn
TRẦN ĐỨC CƢỜNG – HÙNG VƢƠNG TRONG TÂM THỨC…
40
đầu của thế kỷ XX, chủ yếu là thập Nam có điều kiện để phát triển, những
niên 20 và 30, trƣớc Thế chiến thứ hai. vấn đề cơ bản về lịch sử đất nƣớc
mới đƣợc thực sự quan tâm. Những
vấn đề về nguồn gốc ngƣời Việt, quá
trình hình thành Nhà nƣớc ở Việt Nam,
các nền văn hóa đã từng tồn tại trên
đất nƣớc ta mới đƣợc chú ý nghiên
cứu, nhất là sau khi Ban Nghiên cứu
Văn - Sử - Địa đƣợc thành lập vào
tháng 12/1953. Điều này đáp ứng yêu
cầu của giới nghiên cứu và các tầng
lớp nhân dân đòi hỏi những hiểu biết
đầy đủ hơn về lịch sử đất nƣớc qua
các chứng cớ khoa học có sức thuyết
phục.
Vào thời kỳ này, một số học giả
phƣơng Tây đã có nhiều đóng góp
trong việc nghiên cứu Văn hóa Đông
Sơn. Các học giả này gồm L. Paijot,
R. Heine-Geldern, V. Goloubew, E.
Karlgren, O. Jansé, H. Maspéro, L.
Aurousseau… Họ đánh giá cao giá trị
văn hóa, lịch sử của các hiện vật tìm
đƣợc trong các di chỉ Văn hóa Đông
Sơn. Họ thừa nhận đã từng có một
vƣơng quốc cổ đại tồn tại ở miền Bắc
Việt Nam trƣớc khi bị những kẻ xâm
lƣợc phƣơng Bắc thôn tính. Nhƣng
nhiều ngƣời trong số họ không công
nhận nƣớc Văn Lang và giải thích
nguồn gốc của chủ nhân Văn hóa
Đông Sơn là cƣ dân từ lƣu vực sông
Dƣơng Tử (Trung Quốc) di cƣ xuống
(quan điểm của L. Aurousseau), hoặc
Văn hóa Đông Sơn là sự vay mƣợn
của nghệ thuật sông Hoài (Trung
Quốc)…
Trong các vấn đề đƣợc giới nghiên
cứu quan tâm, có vấn đề về Văn hóa
Đông Sơn và thời kỳ Hùng Vƣơng,
thời kỳ An Dƣơng Vƣơng, mối quan
hệ giữa Văn hóa Đông Sơn với thời
kỳ Hùng Vƣơng…
Việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vƣơng,
thời kỳ dựng nƣớc đầu tiên của dân
tộc Việt Nam đã đƣợc Nhà nƣớc và
giới nghiên cứu khoa học xã hội đặc
biệt quan tâm dù lúc ấy, đất nƣớc
đang phải trải qua những năm tháng
chiến tranh khốc liệt của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Một kế
hoạch nghiên cứu trong nhiều năm đã
đƣợc thực hiện có sự tham gia của
nhiều cơ quan khoa học và nhiều nhà
nghiên cứu thuộc các ngành sử học,
khảo cổ học, dân tộc học, cổ sinh học,
cổ nhân học, văn hóa học… do Viện
Khảo cổ học là cơ quan chủ trì. Bốn
cuộc Hội nghị khoa học cấp Quốc gia
về Hùng Vương dựng nước đã đƣợc
tổ chức vào các năm 1968, 1969,
Với quan niệm nguồn gốc Văn hóa
Đông Sơn là do du nhập từ bên ngoài
vào Việt Nam theo thuyết “trung tâm”
và “ngoại vi”, nhà nghiên cứu O.
Jansé còn đi xa hơn. ng cho rằng:
Văn hóa Đông Sơn chịu ảnh hƣởng
của văn hóa thời Chiến Quốc ở Trung
Quốc. Mà văn hóa Chiến Quốc lại bắt
nguồn từ văn hóa Hallstatt ở Châu Âu
truyền qua vùng thảo nguyên Âu - Á
(Phan Huy Lê - Trần Quốc Vƣợng -
Hà Văn Tấn - Lƣơng Ninh - tập 1,
1983: 79).
Chỉ từ sau khi nƣớc nhà giành đƣợc
Độc lập năm 1945, nền sử học Việt
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020
41
1970 và 1971 tại Thủ đô Hà Nội thu khác, nền văn hóa trống đồng đã qua
đi, đã tàn lụi dần, nhƣng những sở
đắc văn hóa trống đồng thì vẫn còn lại.
Những sở đắc, những thành tựu văn
hóa đó vẫn đƣợc lƣu giữ nơi tâm thức
ngƣời Việt phƣơng Nam” (Trần Quốc
Vƣợng, 2018: 252).
hút đƣợc sự quan tâm của giới học
thuật cả nƣớc.
Với cách tiếp cận đa bộ môn và
phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành,
cùng với quá trình khai quật nhiều di
chỉ khảo cổ học thuộc các nền văn
hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Phùng
Nguyên và đặc biệt thuộc Văn hóa
Đông Sơn, các nhà nghiên cứu đã có
thể đƣa ra một số kết luận tổng quát:
Văn hóa Đông Sơn có nguồn gốc bản
địa, đã ra đời, phát triển và đạt tới
đỉnh cao trên đất nƣớc Việt Nam, là
sự tiếp nối của các nền văn hóa trƣớc
đó là văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa
Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun, chủ yếu
tồn tại trên địa bàn Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ, gắn với lƣu vực sông Hồng,
sông Mã và sông Cả.
Nếu quan niệm Văn hóa Đông Sơn
kéo dài đến gần hết thiên niên kỷ thứ
nhất trƣớc Công nguyên thì cần ghi
nhận rằng kỹ thuật quân sự của ngƣời
Việt trong thời kỳ này đã rất phát triển.
Sự tồn tại của thành Cổ Loa với các
mũi tên đồng và nỏ đã chứng tỏ sự
xác đáng của nhận định này. Và cuối
cùng là về xã hội: sự tổ chức cộng
đồng hoàn chỉnh theo phƣơng thức xã
thôn tự trị mà đỉnh cao là sự thành lập
Nhà nước Văn Lang đã nói rõ điều ấy.
Từ nhận xét này, các nhà nghiên cứu
đã xây dựng đƣợc mối quan hệ mật
thiết giữa Văn hóa Đông Sơn trong
văn hóa khảo cổ học với thời kỳ Hùng
Vƣơng đƣợc thể hiện nhƣ phần cốt lõi
trong các truyền thuyết lƣu truyền
trong tâm thức dân gian của ngƣời
Việt, và trong những điều đã đƣợc thể
hiện qua một số công trình sử học. Từ
các kết quả nghiên cứu, có thể khẳng
định: Văn hóa Đông Sơn chính là cơ
sở vật chất thời kỳ Nhà nƣớc Văn
Lang của các vua Hùng. Từ niên đại
của Văn hóa Đông Sơn, có đối chiếu
với các nội dung đƣợc hệ thống hóa
qua các công trình nghiên cứu lịch sử
và văn hóa, có thể khẳng định: Nhà
nƣớc Văn Lang với sự hiện diện của
các vua Hùng trong lịch sử dân tộc
từng tồn tại trong khoảng thiên niên kỷ
Bằng các cứ liệu lịch sử và qua nhiều
cuộc thảo luận, các nhà nghiên cứu
đã nói rõ hơn, cụ thể hơn về một số
đặc điểm của Văn hóa Đông Sơn. Đó
là một nền văn hóa lúa nƣớc khá phát
triển. Do đó, thực phẩm tƣơng đối dồi
dào và đã có dự trữ dẫn đến sự phân
tầng xã hội trong nội bộ ngƣời Việt cổ.
Thứ đến, phải thấy rõ là vào thời kỳ
này, kỹ thuật đúc đồng đã rất phát
triển. Các hiện vật bằng đồng thu
đƣợc qua nhiều cuộc khai quật đã nói
rõ điều ấy, trong đó nổi bật là các
trống đồng. Trống đồng là niềm tự hào
về trình độ phát triển của ngƣời Việt.
Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng đã phân
tích sự bền vững trong tâm thức của
ngƣời Việt về niềm tự hào ấy: “Nhƣ
biết bao hiện tƣợng lịch sử - văn hóa
TRẦN ĐỨC CƢỜNG – HÙNG VƢƠNG TRONG TÂM THỨC…
42
thứ I trƣớc Công nguyên, và cụ thể Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh
đƣa ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng Ba
âm lịch hàng năm là ngày lễ chính
thức của dân tộc. Trong ngày này,
viên chức Nhà nƣớc đƣợc nghỉ để
tham gia làm lễ cùng với nhân dân cả
nƣớc.
hơn là vào khoảng thế kỷ thứ VII
trƣớc Công nguyên… Điều này trùng
hợp với niên đại năm 692 - 682 trƣớc
Công nguyên của đoạn văn trong Việt
sử lược đã đề cập ở trên.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống văn
hóa từ lâu đời. Trong các giá trị văn
hóa đƣợc ngƣời Việt truyền lại từ đời
này sang đời khác, có phong tục thờ
cúng tổ tiên. Thông qua việc thờ cúng
tổ tiên, ngƣời Việt muốn thể hiện lòng
biết ơn đối với những ngƣời đã có
công sinh thành, dƣỡng dục mình và
con cháu. Mỗi gia đình, dòng họ đều
coi việc thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ
tiên là việc hệ trọng… Điểm đặc biệt là
trên phạm vi cả nƣớc, là tục thờ cúng
Hùng Vƣơng – đây là ngày Quốc giỗ
thờ cúng ngƣời đứng đầu Nhà nƣớc
đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ngay
từ năm 1917, triều Nguyễn đã giao
cho Bộ Lễ chính thức định ngày Quốc
lễ – giỗ tổ Hùng Vƣơng vào ngày
mùng 10 tháng Ba âm lịch hàng năm.
Quyết định này đƣợc ngƣời dân hoan
nghênh, thể hiện qua câu ca dao:
Vào ngày Giỗ Tổ năm 1946, cụ Huỳnh
Thúc Kháng – Bộ trƣởng Bộ Nội vụ,
thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa làm lễ dâng hƣơng tại Đền
Hùng, Phú Thọ. Cụ đã dâng lên bàn
thờ các vua Hùng tấm bản đồ Việt
Nam và thanh gƣơm là hai vật báu thể
hiện ý chí của Chính phủ và nhân dân
kiên quyết bảo vệ Tổ quốc trƣớc họa
xâm lăng của thực dân Pháp.
Năm 1954, với chiến thắng của quân
và dân Việt Nam trong cuộc tiến công
chiến lƣợc Đông Xuân 1953 - 1954
mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện
Biên Phủ, thực dân Pháp phải ký
Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở
Việt Nam, Lào và Campuchia. Ngày
18/9/1954, nói chuyện với đại biểu
cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 tại Đền
Hùng, trên đƣờng Đại đoàn về tiếp
quản Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: “Các vua Hùng đã có công
dựng nƣớc, Bác cháu ta phải cùng
nhau giữ lấy nƣớc”.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ T mùng 10 tháng Ba”
Trong ngày ấy, ngƣời dân có điều
kiện thì về Đất Tổ - tỉnh Phú Thọ, nơi
có đền thờ Vua Hùng thắp hƣơng,
dâng lễ tỏ lòng tri ân các vua Hùng.
Ngƣời không có điều kiện thì làm lễ
bái vọng với sự thành tâm đối với vị
Quốc tổ của mình.
Cho đến nay, nhiều chỉ thị, nghị định,
nghị quyết, Đảng, Chính phủ đã đƣa
ra quy định về việc xếp ngày 10 tháng
Ba âm lịch hàng năm là ngày Quốc lễ
của cả dân tộc. Đền Hùng, nơi thờ
các vua Hùng trở thành di tích đặc
biệt cấp Quốc gia. Thấy rõ vị trí của
tín ngƣỡng thờ cúng Hùng Vƣơng
Năm 1946, thể theo nguyện vọng của
ngƣời dân, ngay sau khi đất nƣớc
giành đƣợc Độc lập (tháng 9/1945),
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020
43
trong tâm thức của ngƣời Việt, ngày bật mang tính toàn cầu. Quyết định
6/12/2012, UNESCO – Tổ chức văn này đã góp phần khích lệ ý thức
hóa và giáo dục của Liên hiệp quốc đã chung trong việc thúc đẩy tinh thần đại
chính thức ghi danh Tín ngưỡng thờ đoàn kết, tƣởng nhớ, tôn kính tổ tiên
cúng Hùng Vương là di s n vật thể đại của dân tộc Việt Nam.
diện cho nhân loại vì những giá trị n i
CHÚ THÍCH
(1) Việc gắn Hồng Bàng với Thần Nông “chắc chắn là do các nhà viết sử muốn đặt các triều
đại Việt Nam ngang hàng với các triều đại Trung Quốc” (Lê Thành Khôi, 2014: 70).
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Lê Thành Khôi. 2014. Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX. Hà Nội:
Nxb. Thế giới.
2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê. 1972. Đại Việt sử ý toàn thư – tập 1. Hà Nội:
Nxb. Khoa học Xã hội.
3. Phan Huy Chú. 1992. Lịch triều hiến chương loại chí – tập 1. Hà Nội: Nxb. Khoa học
Xã hội.
4. Phan Huy Lê - Trần Quốc Vƣợng - Hà Văn Tấn - Lƣơng Ninh. 1983. Lịch sử Việt
Nam – tập 1. Hà Nội: Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
5. Trần Quốc Vƣợng dịch và chú giải. 2005. Việt sử lược. Huế: Nxb. Thuận Hóa và
Trung tâm Văn hóa Đông Tây.
6. Trần Quốc Vƣợng. 2018. “Mấy ý kiến về trống đồng và tâm thức Việt cổ”. In trong:
Viện Khảo cổ học, Tuyển tập 50 năm h o c h c Việt Nam (1968 - 2018). Hà Nội: Nxb.
Khoa học Xã hội.
7. Trần Trọng Kim. 1999. Việt Nam sử lược. Hà Nội: Nxb. Văn hóa - Thông tin.
8. Vũ Quỳnh - Kiều Phú (Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San dịch). 1969. Lĩnh Nam
chích quái. Hà Nội: Nxb. Văn hóa.
Bạn đang xem tài liệu "Hùng Vương trong tâm thức người Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hung_vuong_trong_tam_thuc_nguoi_viet.pdf

