Kinh nghiệm của Singapore và Thái Lan trong phát triển kinh tế số và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm của Singapore và Thái Lan  
trong phát triển kinh tế số và hàm ý chính sách  
cho Việt Nam  
Bùi Kim Thanh(*)  
Lê Minh Hằng(**)  
Tóm tắt: Thế giới đang bước vào thời đại của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư  
(CMCN 4.0), với bản chất dựa trên cuộc cách mạng kỹ thuật số. Trong bối cảnh đó, kinh  
tế số đang trở thành đặc trưng và xu hướng phát triển quan trọng, được nhiều quốc gia  
nghiên cứu, ứng dụng và phát triển; và Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Bài viết tập trung  
phân tích những nội dung cốt lõi trong phát triển kinh tế s ố c ủa Thái Lan và Singapore, từ đó  
rút ra những hàm ý chính sách/khuyến nghị cho Việt Nam.  
Từ khóa: Kinh tế s ố, Chính sách, Kinh nghiệm quốc tế, Singapore, Thái Lan  
Abstract: The world is entering the era of the Fourth Industrial Revolution (Industry  
4.0) characterised by digital transformation. Against this background, the digital  
economy is becoming a crucial feature and development trend, which has been proved  
by uninterrupted research, application and development in many countries. Vietnam is  
no exception. The paper analyzes the core contents of digital economy development in  
Thailand and Singapore; thereby draws on policy recommendations for Vietnam.  
Keywords: Digital Economy, Policy, International Experience, Singapore, Thailand  
Đặt vấn đề1  
cao và làm thay đổi nhanh mọi mặt của đời  
Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư  
và sự xuất hiện của Internet vạn vật (IoT)  
đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong việc  
sử dụng dữ liệu vào các hoạt động của đời  
sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực sản  
xuất kinh doanh. Kể từ đầu thập niên 2000,  
số hóa và kinh tế số đã phát triển với tốc độ  
sống xã hội. Với Việt Nam, kinh tế số là cơ  
hội lớn để thu hẹp khoảng cách phát triển.  
Nhận thức được tầm quan trọng của  
đổi mới sáng tạo công nghệ theo CMCN  
4.0, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ  
thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 về tăng  
cường năng lực tiếp cận CMCN 4.0; Bộ  
Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52/  
NQ-TW ngày 27/9/2019 về một số chủ  
trương, chính sách chủ động tham gia cuộc  
CMCN 4.0. Bên cạnh quyết tâm chính trị,  
có thể thấy, Việt Nam hiện có nền tảng thể  
(*) TS., Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;  
(**) ThS., Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;  
Kinh nghiệm của Singapore…  
21  
chế và công nghệ ở mức khá tích cực để tưởng đều có cơ hội hình thành và được thử  
có thể hiện thực hóa các chủ trương và nghiệm, kể cả nếu có rủi ro.  
chính sách trên. Với dân số gần 100 triệu  
Công nghệ thông tin được xác định  
người, lượng người dùng Internet và điện là cốt lõi để thực hiện mục tiêu Quốc gia  
thoại thông minh đông đảo, độ bao phủ của thông minh, trong đó tập trung vào 3 ưu  
hạ tầng Internet và viễn thông tương đối tiên: công nghệ hỗ trợ xã hội; di động và  
rộng khắp, Việt Nam có nhiều tiềm năng giao thông thông minh; môi trường dữ liệu  
phát triển nền kinh tế số. Tuy nhiên, thách an toàn. Chính phủ cũng cam kết mỗi năm  
thức trong quá trình phát triển kinh tế số sẽ đầu tư khoảng 1% GDP cho nghiên cứu  
cũng không ít và Việt Nam phải đối mặt với và phát triển. Những quyết sách đó đã đem  
nhiều vấn đề từ hành lang pháp lý, hạ tầng lại thành quả ấn tượng. Công nghệ thông  
công nghệ đến nguồn nhân lực. Bài toán tin đã trở thành một phần của cuộc sống tại  
đặt ra trong lộ trình phát triển là Việt Nam Singapore, theo đó 75% số hộ gia đình có  
phải hóa giải thách thức, tận dụng những cơ ít nhất một máy tính, trên 50% có kết nối  
hội ưu việt mà kinh tế số mang lại  
băng thông rộng để truy cập mạng. Ngành  
Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi công nghiệp công nghệ thông tin đóng góp  
nghiên cứu một số kinh nghiệm phát triển tới 6,5% GDP của cả nước (MTI, 2017).  
kinh tế số của hai quốc gia có mức độ phát  
b) Xây dựng cơ sở hạ tầng số và phát  
triển kinh tế số cao nhất trong ASEAN là triển ngành công nghệ thông tin - truyền  
Singapore và Thái Lan, từ đó rút ra một số thông  
giá trị tham khảo cho Việt Nam.  
1. Kinh nghiệm của Singapore  
a) Sáng kiến/tầm nhìn quốc gia  
Để phát triển kinh tế s ố, Singapore tập  
trung cải thiện cơ sở hạ tầng số hóa, qua đó  
thúc đẩy tăng cường năng lực và mở rộng  
Năm 2014, Thủ tướng Lý Hiển Long ứng dụng số hóa trong các hộ gia đình và  
phát động sáng kiến “Quốc gia thông doanh nghiệp. Đơn cử như sự phát triển của  
minh”, thành lập văn phòng Chương hệ thống cáp quang và mạng 4G, giúp tốc  
trình quốc gia thông minh để điều phối độ truyền tải thông tin được nâng cao. Nhờ  
chung, hướng đến mục tiêu tham vọng đưa đó, tốc độ kết nối Internet trung bình của  
Singapore trở thành quốc gia thông minh Singapore đã tăng từ 5,4 megabit mỗi giây  
đầu tiên trên thế giới.  
(Mbps) năm 2012 lên 20 Mbps năm 2016,  
Nền tảng quốc gia thông minh (Smart ngang với Nhật Bản và Phần Lan (Hoppe,  
Nation Platform - SNP) của Singapore được May and Lin, 2018). Tốc độ Internet nhanh  
thiết lập với nhiều tính năng quan trọng hỗ hơn thúc đẩy các hộ gia đình Singapore  
trợ cá nhân, chính phủ và doanh nghiệp, tập tăng cường ứng dụng kỹ thuật số trong các  
trung vào 3 khía cạnh là kết nối, thu thập và hoạt động của mình.  
thấu hiểu (MTI, 2017). Trong giai đoạn đầu  
Bên cạnh việc xây dựng cơ sở h ạ t ầng  
thực hiện SNP, Singapore xác định 5 lĩnh kỹ thuật, Singapore phát triển ngành công  
vực then chốt mà công nghệ số có thể tham nghệ thông tin - truyền thông (ICM) làm  
gia, gồm giao thông, nhà ở và môi trường, động lực nền tảng cho phát triển nền kinh  
hiệu quả kinh doanh, y tế và các dịch vụ tế số. ICM bao gồm 12 phân ngành sản  
công. Chính phủ cam kết sẽ tạo điều kiện xuất hoặc thúc đẩy sự phát triển hàng hóa  
về hạ tầng, chính sách để mọi sáng kiến, ý và dịch vụ số (bao gồm phần cứng, viễn  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
22  
thông, dịch vụ công nghệ thông tin, phần các hệ thống kết nối cơ sở hạ tầng thanh  
mềm, trò chơi, dịch vụ trực tuyến, in ấn, toán của từng quốc gia.  
bưu điện và chuyển phát nhanh, xuất bản,  
Các yếu tố trong nước cũng tác động  
phát thanh truyền hình, phim ảnh và video, mạnh mẽ đến việc chuyển đổi sang nền  
âm nhạc), qua đó đóng một vai trò quan kinh tế phi tiền mặt ở Singapore. Đó là  
trọng trong việc tạo điều kiện áp dụng số sự ủng hộ của Chính phủ trong phát triển  
hóa giữa các hộ gia đình và các doanh thanh toán điện tử với gói cam kết hỗ trợ  
nghiệp tại Singapore. Từ năm 2011 đến 225 triệu SGD (167 triệu USD) năm 2015  
năm 2015, giá trị gia tăng danh nghĩa của của Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore  
ngành ICM tăng trưởng trung bình 7,2%/ (MAS). Cơ sở hạ tầng cho thanh toán điện  
năm, nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng tử có: SNDGO - Giải pháp cho các doanh  
bình quân 4,2%/năm của toàn nền kinh tế. nghiệp và người tiêu dùng được vận hành  
Tốc độ tăng việc làm trong lĩnh vực ICM chính thức cùng với khoảng 25.000 UPOS  
trong cùng giai đoạn đạt 2,5% mỗi năm, được triển khai vào đầu năm 2019; LTA  
tuy có chậm hơn mức tăng trưởng việc làm - Hệ thống bán vé giao thông dựa trên tài  
chung của nền kinh tế (3,2%/năm). Theo khoản do MasterCard hỗ trợ. MAS cũng  
đó, năng suất của ngành ICM tính bằng giá đã thành lập Hội đồng thanh toán để đẩy  
trị gia tăng danh nghĩa trên một công nhân mạnh kết nối liên thông và ban hành các  
tăng tới hơn 4,6%/năm, cao hơn nhiều so tiêu chuẩn chung cho các nhà cung cấp giải  
với mức tăng năng suất chung của nền pháp thanh toán áp dụng thống nhất..  
kinh tế (0,6%/năm) trong giai đoạn 2011-  
2015 (Ramchandani, 2017).  
Về thanh toán không dùng tiền mặt ở  
Singapore trong tương lai, mô hình thẻ tín  
dụng sẽ tiếp tục tồn tại trong nhiều năm,  
c) Thanh toán không dùng tiền mặt  
Trong các nhân tố ảnh hưởng tích cực song việc phát triển mô hình tiền điện tử  
tới sự phát triển của nền kinh tế không (e-money model) là ưu tiên hàng đầu, nhất  
dùng tiền mặt tại Singapore, trước hết phải là khi các quốc gia phát triển đã coi mô  
kể đến sức ép từ các công ty châu Âu mà hình này như một giải pháp thúc đẩy thanh  
Singapore đang hợp tác kinh doanh. Việc toán điện tử và thanh toán không dùng tiền  
phải thay đổi để thích ứng với các đối tác mặt trong nền kinh tế. Trong bối cảnh của  
châu Âu đã khiến các công ty trong nước Singapore, để nâng cao khả năng ứng dụng  
hội nhập quốc tế sâu rộng và nhanh chóng. phi tiền mặt trong thanh toán di động, cần  
Tiếp đó là việc ứng dụng công nghệ sinh có sự hiện diện của các nhà cung cấp giải  
trắc học (biometrics) trong lĩnh vực thanh pháp thanh toán có khả năng kết nối liên  
toán di động, nhất là việc phải đáp ứng thông, đồng thời có các giải pháp an toàn  
các yêu cầu về xác thực khách hàng thông tích hợp các công nghệ mã hóa thông tin  
qua Quy tắc Dịch vụ Thanh toán (PSD2) thẻ (tokenization), xác thực đa nhân tố, các  
của Liên minh châu Âu. Cùng với đó là biện pháp bảo vệ người tiêu dùng và sử  
sự phát triển của các hệ thống thanh toán dụng nhận diện số hóa (digital identities),  
xuyên biên giới tức thời của khu vực cùng với đó là khả năng kết nối thanh toán  
ASEAN, như PayNet ở Malaysia, ITMX trong nước với các hệ thống thanh toán  
ở Thái Lan, NAPAS ở Việt Nam, NETS trên toàn cầu. Đây chính là những nhân tố  
ở Singapore và Rintis của Indonesia… là thành công chủ đạo của Singapore trong  
Kinh nghiệm của Singapore…  
23  
nỗ lực thúc đẩy thanh toán di động nhằm và tăng thu nhập bình quân đầu người từ  
hướng tới xã hội phi tiền mặt trong tương 5.470 USD năm 2014 lên 15.000 USD vào  
lai (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2019). năm 2032 và tạo ra một xã hội tiến lên mà  
2. Kinh nghiệm của Thái Lan  
a) Tầm nhìn Thái Lan 4.01  
không bỏ lại ai (xã hội hòa nhập) thông qua  
việc nhận ra tiềm năng đầy đủ của tất cả các  
Được Chính phủ Thái Lan công bố thành viên trong xã hội. Mục tiêu là giảm  
năm 2014, Thái Lan 4.0 là một mô hình bất bình đẳng xã hội, từ 0,465 năm 2013  
kinh tế nhằm chuyển đổi Thái Lan từ một xuống 0,36 vào năm 2032, chuyển đổi hoàn  
nước được định hướng bởi công nghiệp toàn sang hệ thống phúc lợi xã hội trong  
(sản xuất công nghiệp chiếm 40% GDP vòng 20 năm và phát triển ít nhất 20.000  
năm 2010) sang một đất nước được định hộ gia đình thành “nông dân thông minh”  
hướng bởi công nghệ cao. Đó là nền kinh (smart farmers) trong vòng 5 năm. Về nâng  
tế dựa vào giá trị, với việc chuyển đổi sản cao giá trị con người, biến người Thái  
xuất từ “hàng hóa” sang “sản phẩm sáng thành người có năng lực trong thế kỷ XXI  
tạo”, chuyển đổi các hoạt động theo định và người Thái 4.0 trong thế giới thứ nhất  
hướng công nghiệp sang những hoạt động (Đại sứ quán Thái Lan tại Washington DC.,  
được thúc đẩy bởi công nghệ, sáng tạo và https://thaiembdc.org/thailand-4-0-2/).  
đổi mới, thay đổi trọng tâm từ sản xuất sản  
phẩm sang cung cấp dịch vụ (Ronan, 2018).  
b) Chính sách Thái Lan số  
Để thực hiện Thái Lan 4.0, Chính sách  
Tầm nhìn Thái Lan 4.0 được đưa ra Thái Lan số được Chính phủ Thái Lan đưa  
đúng thời điểm CMCN 4.0 bùng nổ khắp ra với tham vọng xây dựng một xã hội và  
thế giới. Do đó, Thái Lan 4.0 không chỉ nền kinh tế số, giúp nước này có thể trở  
là sự tiếp nối của những mô hình kinh tế thành một nhà lãnh đạo số và cạnh tranh  
trước đó mà còn thể hiện sự quyết tâm bắt trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (Bukht  
kịp xu thế mới để đạt được những mục tiêu & Heeks, 2018). Trong đó, sẽ t ăng cường  
tăng trưởng. Đó là tăng tốc độ tăng trưởng sử dụng tối đa những công nghệ kỹ thuật số  
kinh tế lên mức 5-6% trong vòng 5 năm trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội như:  
phát triển cơ sở hạ tầng, sáng kiến, dữ liệu,  
1 Thái Lan 1.0 đặt trọng tâm vào phát triển lĩnh vực  
nông nghiệp, giúp Thái Lan dẫn đầu khu vực và thế  
giới về những sản phẩm nông nghiệp; Thái Lan 2.0  
là kế hoạch tập trung vào các ngành công nghiệp  
nhẹ, sử dụng lao động giá rẻ để biến nguyên liệu thô  
thành hàng hóa qua gia công và sản xuất như hàng  
dệt may, kế hoạch này đã giúp đưa Thái Lan từ một  
nước thu nhập thấp sang quốc gia có thu nhập trung  
bình; Thái Lan 3.0 là tình hình hiện tại của nước  
này, công nghiệp nặng với máy móc tiên tiến, như  
sản xuất ô tô và hóa chất, giúp kinh tế Thái Lan tăng  
trưởng mạnh mẽ hơn nhưng vẫn chưa giúp Thái Lan  
vươn lên vị trí các nước có thu nhập cao; Thái Lan  
4.0 ra đời, kỳ vọng giúp Thái Lan giải quyết các vấn  
đề đang phải đối mặt là bẫy thu nhập trung bình,  
bất bình đẳng và phát triển mất cân bằng giữa tăng  
trưởng kinh tế và các vấn đề môi trường, xã hội.  
nguồn lực con người và những nguồn lực  
kỹ thuật số khác để đưa đất nước đến thịnh  
vượng, ổn định và bền vững.  
Chính sách Thái Lan số được chia thành  
4 giai đoạn, kéo dài hơn 20 năm. Trong đó,  
giai đoạn 1 (1,5 năm) là đầu tư và xây dựng  
nền tảng số; giai đoạn 2 (5 năm) là đảm bảo  
mọi cá nhân có thể đạt được những lợi ích  
từ công nghệ số; giai đoạn 3 (10 năm) là  
chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế theo định  
hướng đổi mới và công nghệ số; giai đoạn  
4 (10-20 năm) là trở thành một nước phát  
triển, lãnh đạo và dẫn đầu với sáng kiến và  
công nghệ số.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
24  
Để thực hiện chính sách Thái Lan số, cơ sở hạ tầng kỹ thuật số năng suất cao mở  
Chính phủ Thái Lan đã xây dựng Kế hoạch rộng trên toàn quốc: đảm bảo sự kết nối,  
tổng thể Kinh tế số quốc gia (2016-2020) sự tồn tại và chấp nhận được về giá cả; 2)  
và thành lập Bộ Kinh tế và xã hội kỹ thuật Thúc đẩy kinh tế với công nghệ số: hướng  
số (MDES) thay thế Bộ Công nghệ thông nền kinh tế đến các ngành công nghiệp  
tin và truyền thông (MICT), đồng thời ban chiến lược S-Curve có khả năng thu hút các  
hành 10 dự luật mới, tiêu biểu như Dự luật nhà đầu tư nước ngoài, nâng cao sức cạnh  
Ủy ban số quốc gia về kinh tế và xã hội; Dự tranh, xây dựng các doanh nghiệp mới và  
luật DES, Dự luật Giao dịch điện tử (sửa tạo ra giá trị; 3) Tạo ra một xã hội số được  
đổi), Dự luật Tội phạm máy tính (sửa đổi), định hướng bởi kiến thức: xây dựng sự  
Dự luật An ninh mạng, Dự luật Bảo vệ dữ tham gia, đảm bảo việc sử dụng bình đẳng  
liệu người dùng và Dự luật Quy định viễn và toàn bộ; 4) Chuyển đổi sang chính phủ  
thông và phát thanh (sửa đổi) để tạo hành số: hình thành một chính phủ mở, thuận  
lang pháp lý cho chính sách này.  
tiện cho người dân và các doanh nghiệp hội  
Kế hoạch tổng thể Kinh tế kỹ thuật số nhập thành One Government; 5) Phát triển  
(2016-2020) gồm 5 trụ cột chính1, tập trung lực lượng sản xuất vì kỷ nguyên số: phát  
vào mối quan hệ hợp tác giữa Chính phủ triển lực lượng lao động có kỹ năng, tạo ra  
với khu vực tư và giáo dục để thúc đẩy sự việc làm, xây dựng sức mạnh từ bên trong;  
truy cập ngày càng tăng vào các dịch vụ 6) Xây dựng niềm tin và sự tin cậy trong  
Internet đáng tin cậy. Các trụ cột này được việc sử dụng công nghệ số: áp dụng luật và  
cụ thể hóa trong 6 chiến lược: 1) Xây dựng các quy định, khuyến khích đầu tư và đảm  
bảo an ninh.  
Bên cạnh việc ban hành các chính sách  
1 Trụ cột thứ nhất là cơ sở hạ tầng cứng để cung cấp  
và kế hoạch, chiến lược để hiện thực hóa  
cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phù hợp thúc đẩy  
Thái Lan 4.0 và Thái Lan số, Chính phủ  
Thái Lan cũng đã xây dựng một cấu trúc  
quản trị để hiện thực hóa những chính sách  
và kế hoạch trên (Chaitrong, 2017).  
c) Ưu tiên đầu tư và xây dựng nền tảng  
kỹ thuật số đồng bộ  
Đây là giai đoạn đầu tiên của chính  
sách Thái Lan số và cũng là nền tảng tiên  
quyết và quan trọng hàng đầu cho sự phát  
triển kinh tế số của mỗi quốc gia. Tuy nhiên,  
đối với Thái Lan, giai đoạn này không đơn  
giản chỉ là đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng  
công nghệ thông tin mà còn là quá trình số  
hóa toàn diện trong tất cả các lĩnh vực.  
Về cơ sở hạ tầng, Thái Lan chủ trương  
triển khai băng thông rộng đến mọi làng  
xã, cung cấp 10.000 điểm wi-fi miễn phí,  
bao gồm những trường dạy kỹ năng và các  
kinh tế số. Trụ cột thứ hai là cơ sở hạ tầng mềm tập  
trung vào việc thúc đẩy doanh nghiệp và người tiêu  
dùng hiểu biết và tin tưởng vào các giao dịch trực  
tuyến và an ninh mạng nhằm khuyến khích thương  
mại điện tử. Trụ cột thứ ba là cơ sở hạ tầng dịch vụ  
tạo ra một nền tảng duy nhất cho phép đổi mới dịch  
vụ từ cả khu vực Chính phủ và tư nhân với các tài  
liệu, văn bản điện tử, bao gồm cả tìm kiếm tài liệu  
số hóa và cung cấp thông tin tốt hơn cho các bên  
kinh doanh trực tuyến và giao dịch trực tuyến, từ đó  
loại bỏ dần việc sử dụng các văn bản và tài liệu giấy.  
Trụ cột thứ tư là thúc đẩy kinh tế số thông qua phát  
triển kỹ năng số cho các doanh nghiệp. Một hệ sinh  
thái kinh doanh số và xây dựng năng lực trong lĩnh  
vực kinh doanh số, thương mại điện tử và tiếp thị kỹ  
thuật số được thiết lập nhằm đảm bảo sẵn sàng cho  
kỷ nguyên kỹ thuật số. Trụ cột thứ năm là kiến thức  
và xã hội số với việc cung cấp kết nối phổ quát với  
giá cả phù hợp cho mọi công dân trong khi xây dựng  
một xã hội số để nâng cao chất lượng cuộc sống,  
giảm đói nghèo, học tập suốt đời và phổ cập thông  
tin, truyền thông.  
Kinh nghiệm của Singapore…  
25  
trường dạy ngoại khóa, các trường cảnh sát để hỗ trợ phát triển các thành phố thông  
tuần tra biên giới và các trung tâm cộng minh, cung cấp một môi trường hiệu quả,  
đồng kỹ thuật số trên khắp đất nước, cũng khép kín để thúc đẩy sản xuất và đổi mới.  
như tăng gấp đôi băng thông quốc tế để Hai thành phố thông minh trong khu vực  
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng các hoạt động được phát triển bởi Amata - nhà phát triển  
kinh tế.  
bất động sản công nghiệp Thái Lan, đã tạo  
Đặc biệt, Thái Lan cho xây dựng ra hơn 10% GDP của đất nước (Forbes  
trung tâm dữ liệu EECD tốc độ cao phục Media LLC., 2018). Năm 2018 Thái Lan  
vụ nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy có 7 thành phố thông minh, bao gồm:  
các ngành công nghiệp mới “S-curve”, Bangkok, Chiang Mai, Khon Kaen, Phuket,  
bao gồm hệ thống vệ tinh, trung tâm xử Chon Buri, Rayong và Chachoengsao  
lý dữ liệu, Viện Internet kết nối vạn vật (Pornwasin, 2018).  
để đưa Thái Lan trở thành trung tâm IoT  
Với những nỗ lực trên, nền kinh tế kỹ  
của châu Á trong 5 năm tới (A.B., 2019). thuật số của Thái Lan đã tăng trưởng mạnh  
Riêng năm 2015, chi tiêu cho công nghệ từ 6 tỷ USD vào năm 2015 lên đến 16 tỷ  
thông tin đã chiếm 7% GDP của Thái Lan USD năm 2019. Trong đó, du lịch trực  
(Tan & Tang, 2016). Hiện nay, kết nối tuyến là lĩnh vực lớn nhất của nước này,  
băng thông rộng di động ở nước này đã đạt trị giá 7 tỷ USD, tiếp đến là thương mại  
100%. Về số lượng người sử dụng Internet, điện tử với trị giá 5 tỷ USD, phương tiện  
Thái Lan cũng chỉ đứng sau Singapore truyền thông trực tuyến và ứng dụng gọi xe  
trong số các nước ASEAN đã thiết lập nền (Business Desk, 2019). Đáng chú ý, lĩnh  
kinh tế số (Souche, Rueangkul, Sachdev vực thương mại điện tử đã tăng 54% tốc độ  
and Moore, 2015). Thậm chí, Ngân hàng tăng trưởng kép hằng năm trong 4 năm qua  
Trung ương Thái Lan còn đang sử dụng và dự kiến sẽ tăng trưởng tới 13 tỷ USD về  
công nghệ “Big Data” để phân tích dữ mặt giá trị vào năm 2025, so với con số 3 tỷ  
liệu và hoạch định chính sách, qua đó dần USD năm 2018 (Ngọc Quang, 2019).  
ứng dụng nhiều hơn công nghệ cho quản  
Về xã hội, Thái Lan đang phát triển  
lý kinh tế (A.B., 2019). Chính phủ Thái một hệ thống ghi nhận sức khỏe cá nhân  
Lan cam kết cung cấp một môi trường an (Hồ sơ Sức khỏe cá nhân - PHR) để kết nối  
toàn với mức độ bảo mật mạng cao để sử với các cơ sở y tế gọi là “Bệnh viện truyền  
dụng “Big Data” cho các hoạt động tương thông sức khoẻ” (Tambon health promotion  
tự trong các cơ quan thuộc Chính phủ mà hospitals) trên khắp cả nước, mang đến  
không để bị rò rỉ dữ liệu ra ngoài (Basu lợi ích cho ít nhất 1triệu người. Hiện nay,  
and Bhattacharya, 2018).  
Chính phủ đã tích lũy một bộ sưu tập dữ  
Đầu tư xây dựng các thành phố thông liệu khổng lồ về 3 năm đầu đời của một  
minh cũng là một trọng tâm quan trọng trẻ sơ sinh và môi trường trẻ lớn lên như  
của Thái Lan để thúc đẩy nông nghiệp và mức độ vệ sinh, môi trường sống và sự phát  
công nghiệp du lịch, từ đó góp phần thu triển của não, cũng như hành vi và sinh kế  
hẹp khoảng cách thu nhập và thúc đẩy tăng của cha mẹ trẻ để có những dự đoán về sức  
trưởng toàn bộ nền kinh tế của đất nước. khỏe và sự phát triển của trẻ. Điều này giúp  
Chính phủ đã dành 45 tỷ USD để xây dựng Thái Lan có những chính sách phù hợp để  
cơ sở hạ tầng sử dụng các công nghệ số xây dựng một thế hệ trẻ khỏe mạnh và chất  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
26  
lượng, giảm các chi phí y tế không cần thiết  
(Basu and Bhattacharya, 2018).  
gồm G-News, dịch vụ ภ ภ ภ ไป), và qua  
Ki-ốt chính phủ thông minh ở tất cả các  
tỉnh. Chính phủ hợp tác với hãng Intel để  
cung cấp một lớp kết nối doanh nghiệp  
với thông tin về việc sử dụng các công  
cụ kỹ thuật số để khởi động kinh doanh  
và DTAC Wireless đã phát triển các ứng  
dụng kỹ thuật số cho nông dân để theo  
dõi thời tiết, vấn đề đất đai và điều kiện  
thị trường cho hàng nông sản. Nhờ những  
nỗ l ực không ngừng nghỉ, chỉ số sáng tạo  
công nghệ của Thái Lan (GII) năm 2018  
đã tăng từ bậc 51 lên 44, vượt qua Việt  
Nam (từ 47 lên 45) (A.B., 2019).  
Để chuẩn bị nguồn nhân lực cho chính  
sách Thái Lan số, đã có 8.000 người thuộc  
nhóm thiệt thòi được đào tạo các kỹ năng  
kỹ thuật số cho nghề nghiệp, 700.000 sinh  
viên ở các trường đào tạo nghề và 400.000  
người được cung cấp nội dung nghề nghiệp  
trực tuyến toàn thời gian, và ít nhất 600.000  
người được đào tạo kiến thức kỹ thuật số.  
Thái Lan cũng đã cung cấp các khóa trực  
tuyến đại chúng mở (Massive Open Online  
Courses - MOOCs) vì cộng đồng, bao gồm  
cả các thiết chế giáo dục và phi giáo dục;  
xây dựng ứng dụng điện thoại học tiếng  
Anh cho công dân; triển khai tiên phong  
một gói kỹ thuật số về điện, Internet và học  
tập trực tuyến ở 20 trường học có điều kiện  
thiệt thòi nhất để thu hẹp khoảng cách kỹ  
thuật số. Chính phủ Thái Lan cũng công bố  
kế hoạch ngân sách 1 tỷ USD để đào tạo  
12.290 tiến sĩ công nghệ và khoa học phục  
vụ quá trình phát triển của đất nước và phục  
vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong  
20 năm tới (Jones, 2017).  
Đối với Chính phủ, Thái Lan đã xây  
dựng Luật Chính phủ điện tử với các kế  
hoạch/chiến lược của Chính phủ số, tiêu  
chuẩn dịch vụ của Chính phủ, bảo vệ dữ  
liệu, bảo mật dữ liệu, giám sát kế hoạch  
làm việc,…; thiết lập, nâng cấp cơ sở hạ  
tầng, trung tâm dữ liệu dùng chung của  
Chính phủ, công nghệ đám mây Chính  
phủ (G-Cloud) và hệ thống thư của Chính  
phủ (MailGoThai); xây dựng các dịch vụ  
thông minh; triển khai chương trình nhận  
dạng số quốc gia (e-ID), v.v... Đặc biệt,  
Thái Lan đã khởi động cổng thông tin  
một cửa của Chính phủ (GovChannl) qua  
trang web (govchannel.co.th, egov.go.th,  
data.go.th, info.go.th), qua các ứng dụng  
di động trên các thiết bị thông minh (bao  
3. Phát triển kinh tế số ở Việt Nam và một  
số hàm ý chính sách từ kinh nghiệm của  
Singapore và Thái Lan  
a) Tổng quan về phát triển kinh tế s ố ở  
Việt Nam  
Với dân số gần 100 triệu người, Việt  
Nam được đánh giá là một trong những  
quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số ở  
mức khá trong khu vực ASEAN. Chính phủ  
Việt Nam cũng thể hiện rõ quyết tâm, định  
hướng và nỗ lực hành động mạnh mẽ trong  
việc thúc đẩy phát triển kinh tế số ở Việt  
Nam. Từ năm 2009, Quốc hội Việt Nam đã  
ban hành Luật Công nghệ cao; năm 2010,  
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban  
hành Quyết định phê duyệt Chương trình  
quốc gia Phát triển công nghệ cao đến năm  
2020 với 3 chương trình thành phần, gồm  
Chương trình phát triển nông nghiệp ứng  
dụng công nghệ cao, Chương trình phát  
triển một số ngành công nghiệp công nghệ  
cao và Chương trình nghiên cứu, đào tạo  
và xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ  
cao với mục tiêu thúc đẩy nghiên cứu, làm  
chủ và tạo ra công nghệ cao; ứng dụng hiệu  
quả công nghệ cao trong các lĩnh vực kinh  
tế - xã hội; sản xuất sản phẩm, hình thành  
doanh nghiệp và phát triển một số ngành  
Kinh nghiệm của Singapore…  
27  
công nghiệp công nghệ cao; xây dựng hạ  
Với những nỗ lực của Chính phủ, Việt  
tầng kỹ thuật và phát triển nguồn nhân Nam đang có những điều kiện tốt cho nền  
lực công nghệ cao (Bộ Khoa học và Công kinh tế số phát triển mạnh. Trong thời gian  
nghệ, 2010).  
qua, kinh tế số Việt Nam phát triển không  
Trong tầm nhìn chiến lược dài hạn, ngừng về cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường  
Báo cáo “Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh kinh doanh. Internet đã trở thành một phần  
vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ” thiết yếu của các ngành thương mại dịch vụ  
đề ra nhiệm vụ tận dụng CMCN 4.0 và như ngân hàng, giao thông, y tế…, ước tính  
kinh tế số để đạt mục tiêu thoát “bẫy thu mức độ đóng góp của Internet là khoảng  
nhập trung bình”, phát triển bền vững, 2-3% GDP của Việt Nam và dự báo sẽ tăng  
đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế đến 40-50% GDP trong tương lai. Nếu năm  
lớn nhất thế giới. Nghị quyết số 01/NQ- 2007, số người sử dụng Internet ở Việt  
CP, ngày 01/01/2019 của Chính phủ Việt Nam là 17,7 triệu người thì đến năm 2017  
Nam về Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực con số này đã tăng lên mức 64 triệu, xấp xỉ  
hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 67% dân số. Dựa trên số liệu của tập đoàn  
và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, Miniwatts Marketing, Việt Nam xếp thứ 13  
đã đề ra các nhiệm vụ thúc đẩy kinh tế số, trong top 20 quốc gia có số dân sử dụng  
như xây dựng giải pháp phát triển nhân mạng Internet đông nhất thế giới (Trọng  
lực quốc gia đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0; Đạt, 2019).  
thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo  
quốc gia; xây dựng Chiến lược quốc gia hướng số hóa ở nhiều lĩnh vực, ngành kinh  
về CMCN 4.0, v.v… tế, từ thương mại, thanh toán cho đến giao  
Việt Nam đã ghi nhận sự xuất hiện xu  
Hiện nay, Việt Nam đang thúc đẩy thông, giáo dục, y tế… Trong hệ sinh thái  
mạnh mẽ việc xây dựng Chính phủ điện tử, số ở Việt Nam, có ba thị trường nổi bật là  
Chính phủ số, cải cách mạnh mẽ nền hành viễn thông, công nghệ thông tin và thương  
chính theo hướng số hóa và nâng cao chất mại điện tử. Các doanh nghiệp viễn thông,  
lượng nguồn nhân lực. Chính phủ đặt mục Internet ở Việt Nam đã phát triển vượt bậc  
tiêu phát triển Việt Nam thành một trung và đạt mức doanh thu 6,1 tỷ USD, góp phần  
tâm phần mềm quốc tế và thúc đẩy tinh tạo ra hơn 851.000 việc làm cho xã hội.  
thần kinh doanh cũng như phát triển các Thương mại điện tử cũng tăng trưởng vượt  
thành phố thông minh, tăng cường các cơ bậc về doanh thu và quy mô thị trường, ở  
chế chính sách và đối thoại với cộng đồng mức 5,2 tỷ USD. Việt Nam cũng đang đặt  
doanh nghiệp. Việc áp dụng các công nghệ mục tiêu giảm tỷ lệ sử dụng tiền mặt xuống  
kỹ thuật số trong các ngành công nghiệp, dưới 10% trong giao dịch hằng ngày và  
nông nghiệp, y tế, an ninh, quốc phòng… thúc đẩy các nền tảng thanh toán di động  
đang được tạo động lực từ Chương trình ở khu vực nông thôn. Công ty cổ phần  
quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm Thanh toán quốc gia Việt Nam (NPCV) đã  
2020. Một khía cạnh quan trọng khác của vận hành và quản lý một hệ thống kết nối  
Chương trình này là thúc đẩy các cơ sở ươm liên ngân hàng với 43 ngân hàng thương  
tạo khởi nghiệp, đầu tư mạo hiểm và nhiều mại trong nước và nước ngoài, đồng thời  
công nhân được đào tạo và có kỹ năng công cung cấp dịch vụ thương mại điện tử đến  
nghệ thông tin (UNDP, 2018).  
hơn 200 doanh nghiệp để giúp khắc phục  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
28  
khả năng tương tác hạn chế của các nhà  
Một là về nhận thức và phân bổ nguồn  
cung cấp thanh toán nước ngoài (UNDP, lực cho kinh tế số. Có thể thấy rõ, Chính  
2018). Nghiên cứu của Google và Temasek phủ Việt Nam đã thừa nhận tầm quan trọng  
(Singapore) cho biết, kinh tế số của Việt của chuyển đổi kỹ thuật số đối với năng lực  
Nam đạt khoảng 3 tỷ USD năm 2015, tăng cạnh tranh quốc gia và để theo kịp sự phát  
lên 9 tỷ USD năm 2018 và dự báo đạt 30 tỷ triển của công nghệ toàn cầu. Song bài học  
USD vào năm 2025 (Theo: Bùi Thị Phương kinh nghiệm từ Singapore và Thái Lan cho  
Chi, Nguyễn Cẩm Vân, 2019).  
thấy, để thành công, cần xác định kinh tế  
Tuy nhiên, sự bùng nổ của kinh tế số số không đơn thuần là thúc đẩy phát triển  
cũng đặt Việt Nam trước nhiều thách thức công nghệ thông tin mà là quá trình số hóa  
trong đó có vấn đề về mặt pháp lý, an ninh toàn diện mọi lĩnh vực đời sống, chuyển  
mạng và việc đảm bảo quyền riêng tư của trọng tâm từ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ  
người dùng. Trong khi đó, nhận thức, thói thuật số sang ứng dụng các công nghệ kỹ  
quen và chất lượng nguồn nhân lực của Việt thuật số để nâng cao giá trị và chất lượng,  
Nam chưa “thực sự s ẵn sàng” cho nền kinh phát triển kinh tế xã hội. Chính sách kinh  
tế số. Báo cáo Kinh tế Việt Nam thường tế số thực chất là chính sách kinh tế - xã  
niên do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính hội số bao trùm mọi khía cạnh phát triển  
sách (VEPR, 2019) thuộc Trường Đại học của đất nước. Do đó, cần có sự thống nhất  
Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận thức về vị trí, vai trò và nội hàm của  
bố cuối tháng 5/2019 cho thấy có tới 85% kinh tế số trong xây dựng và hoạch định  
doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam vẫn chính sách ở Việt Nam, nhất là trong các cơ  
nằm ngoài nền kinh tế số, và chỉ có 13% ở quan thuộc Chính phủ. Từ đó, có sự định vị  
cấp độ mới bắt đầu; Việt Nam đang thiếu và định hướng chính xác, đúng tầm chương  
hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất trình nghị sự về kinh tế số, cũng như phân  
là nhân lực công nghệ thông tin và truyền bổ nguồn lực hợp lý và hiệu quả để triển  
thông. Rõ ràng, nhận thức về kinh tế số, khai nó trong thực tế.  
nhu cầu và hành động theo xu thế kinh tế  
Hai là mức độ phát triển của chính  
số còn chậm chạp, chưa đồng đều, thống sách và cấu trúc quản trị kinh tế số là rất  
nhất từ trên xuống dưới, từ chính quyền khác nhau giữa các nước. Tuy nhiên, nếu  
đến doanh nghiệp và người dân là một hạn ở các quốc gia đã có được một số thành  
chế góp phần làm chậm xu hướng số hóa tựu phát triển đáng kể như Singapore và  
nền kinh tế Việt Nam.  
b) Hàm ý chính sách cho Việt Nam từ có các chiến lược toàn diện và các cơ quan  
kinh nghiệm Thái Lan và Singapore chuyên trách nền kinh tế số là rõ ràng, ví  
Thái Lan thì tầm quan trọng của việc phải  
Sự phát triển mạnh mẽ của Internet và như việc thành lập MDES ở Thái Lan và  
công nghệ được kỳ vọng sẽ tạo ra những các bộ phận chuyên trách trong Văn phòng  
nền tảng hỗ trợ cho nền kinh tế số phát triển Thủ tướng Singapore, thì ở Việt Nam mới  
nhanh và đóng góp ngày càng lớn cho nền chỉ có những chiến lược và sáng kiến cấp  
kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Tuy quốc gia với nội dung về kỹ thuật số, được  
nhiên, để nền kinh tế số phát triển một cách thúc đẩy bởi các bộ khác nhau, gồm Bộ  
bền vững thì cần phải có các giải pháp hỗ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và  
trợ đồng bộ và sự nỗ lực từ nhiều phía.  
Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông và  
Kinh nghiệm của Singapore…  
29  
Bộ Tài chính (UNDP, 2018). Điều này đặt chuyển đổi số. Vì vậy, dù đã đạt được  
ra những giới hạn trong hoạch định chính những tiến bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật số,  
sách liên ngành, đòi hỏi Việt Nam cần sớm nhưng để có những phát triển đột phá, Việt  
xây dựng một chiến lược toàn diện mới về Nam cần tiếp tục chú trọng đầu tư nâng  
kinh tế số theo nhận thức mới và có một cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật số quốc gia một  
cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quá cách bài bản và đồng bộ, làm cơ sở cho sự  
trình hiện thực hóa nó với sự quan tâm, phát triển kinh tế số của đất nước. Trong  
chỉ đạo sát sao từ người đứng đầu Chính đó, cần khẩn trương triển khai hiệu quả các  
phủ. Cơ quan này sẽ không chỉ có chức mạng lưới băng thông rộng quốc gia tốc độ  
năng xây dựng kế hoạch, xúc tiến, phát cao, các trung tâm dữ liệu và cơ sở dữ liệu  
triển và thực hiện các hoạt động liên quan cho các dịch vụ điện toán đám mây… tạo  
đến nền kinh tế số, mà quan trọng là xóa cơ sở hạ tầng tốt cho việc kết nối theo xu  
bỏ các ranh giới của các chức năng hành hướng IoT, sử dụng công nghệ số cho phát  
chính công truyền thống trong một lĩnh triển kinh tế, xã hội. Kinh nghiệm của Thái  
vực chính sách cụ thể.  
Lan cũng cho thấy, trong quá trình đầu tư  
Ba là cần có cách tiếp cận đa bên trong xây dựng nền tảng số nói chung, cơ sở hạ  
thúc đẩy kinh tế số ở Việt Nam. Bài học rút ra tầng kỹ thuật số nói riêng cần đặc biệt lưu  
từ việc phân tích các chuyển động hiệu quả ý đến những đặc thù của khu vực thành thị  
của nền kinh tế số Singapore và Thái Lan và nông thôn để có kế hoạch phát triển cơ  
cho thấy, sự thành công của một nền kinh tế sở hạ tầng kỹ thuật số ở hai khu vực này  
kỹ thuật số không chỉ phụ thuộc vào sự phối một cách cân bằng và hài hòa, góp phần rút  
hợp giữa các bên liên quan trong khu vực ngắn khoảng cách và chênh lệch phát triển  
công mà còn là sự tham gia và trách nhiệm giữa thành thị và nông thôn.  
của khu vực tư trong việc xây dựng chương  
Năm là chú trọng đào tạo, phát triển  
trình nghị sự về kinh tế số, cũng như quá nguồn nhân lực công nghệ thông tin.  
trình triển khai và thực hiện chương trình, Chương trình đào tạo nhân lực công nghệ  
sáng kiến này trên thực tế. Thành công sẽ thông tin cần hướng đến đẩy nhanh xã hội  
đòi hỏi sự hợp tác giữa khu vực công và tư hóa giáo dục công nghệ thông tin, đặc biệt  
nhân, cũng như các nguồn đầu tư trong và là cập nhật giáo trình đào tạo công nghệ  
ngoài nước. Trong đó, Chính phủ phải có tư thông tin gắn với các xu thế công nghệ mới  
duy quản lý thông thoáng, cam kết mạnh mẽ như IoT, trí tuệ nhân tạo, công nghệ robot,  
trong “cởi trói” cho các doanh nghiệp, đặc v.v..., đồng thời tạo điều kiện cho học sinh,  
biệt là hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ sinh viên tiếp cận lĩnh vực này càng sớm  
thúc đẩy đổi mới sáng tạo.  
càng tốt, đẩy mạnh liên kết đào tạo và thực  
Bốn là về xây dựng nền tảng số. Dù hành giữa các trường và khu vực doanh  
Singapore và Thái Lan đều nhấn mạnh và nghiệp trong ứng dụng công nghệ thông  
chủ trương chuyển đổi số toàn diện các tin; nâng cao nhận thức của người dân về  
lĩnh vực của đời sống, nhưng trong đó cơ nhu cầu và giá trị của nghề nghiệp này  
sở hạ tầng kỹ thuật số luôn được xem là trong xã hội. Chính sách thúc đẩy nguồn  
yếu tố nền tảng đầu tiên và tiên quyết để nhân lực công nghệ thông tin vừa phải có  
đảm bảo sự sẵn sàng về công nghệ trong những ưu tiên rõ rệt, vừa phải tính toán đến  
giải quyết các thách thức của quá trình các nhóm yếu thế trong xã hội như người  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
30  
khuyết tật, nông dân, phụ nữ… để thúc đẩy lường và đánh giá xác đáng về thực trạng  
sự phát triển bình đẳng. Trong đó, phải xây kinh tế số quốc gia, cũng như có đủ n ăng  
dựng được một lực lượng lao động số nòng lực ban hành và triển khai các quyết định,  
cốt, đủ về số lượng và đáp ứng được về chất quy định nhanh chóng, linh hoạt và hiệu  
lượng để phục vụ yêu cầu số hóa mọi lĩnh quả, đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết  
vực của đời sống xã hội từ nông nghiệp đến của kinh tế số.  
công nghiệp và dịch vụ.  
Rõ ràng, xuất phát từ những đặc thù  
Sáu là về hành lang pháp lý để thúc riêng về thể chế, thực trạng nền kinh tế, mức  
đẩy kinh tế số. Kinh nghiệm của Singapore độ tự do hóa nền kinh tế, sự tham gia của nhà  
và Thái Lan cho thấy, cần “luật hóa” nước, trình độ và nhận thức của người dân  
những nội dung về kinh tế số để đảm bảo cùng nhiều yếu tố khác, mỗi quốc gia sẽ có  
một hành lang, cơ sở pháp lý vững chắc những cách tiếp cận khác nhau để phát triển  
và thống nhất cho triển khai và thực hiện nền kinh tế số của mình. Tại Việt Nam, Nhà  
chương trình nghị sự về kinh tế số. Đặc biệt nước có vai trò quản lý và kiểm soát nền  
là do trong một số trường hợp, những sáng kinh tế cùng với một khu vực tư nhân năng  
kiến số có thể dẫn đến những tranh cãi và động sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho Việt  
lo ngại về vấn đề an ninh mạng, bảo mật dữ Nam khi có lợi thế người đi sau trong định  
liệu người dùng, thông tin cá nhân… như hướng một chương trình nghị sự về kinh tế  
hệ thống e-ID của Thái Lan, nên việc xây số. Để khai thác được cơ hội nay, cần có sự  
dựng và ban hành một hệ thống pháp luật quyết tâm, thống nhất trong nhận thức và  
đồng bộ vừa tạo điều kiện cho quá trình số hành động và sự vào cuộc của cả h ệ thống  
hóa trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, vừa (Chính phủ, người dân và doanh nghiệp) về  
bảo vệ được quyền lợi và lợi ích hợp pháp kinh tế số; xác định rõ các lợi ích và thách  
của người dân, doanh nghiệp và Chính phủ thức đi kèm, với các nội dung cụ thể theo  
là hết sức cần thiết. Do đó, điều quan trọng từng ngành, lĩnh vực  
là Việt Nam cần có một hệ thống pháp luật  
đảm bảo được một mạng Internet đáng tin Tài liệu tham khảo  
cậy, an toàn và được quản lý chặt chẽ thì 1. A.B. (2019), Thái Lan vượt qua Việt  
mới tạo được niềm tin trong xã hội, đạt  
được tiềm năng sáng tạo và thúc đẩy mạnh  
mẽ quá trình sử dụng các dịch vụ mới dựa  
trên công nghệ số.  
Cuối cùng, trong bối cảnh tốc độ đổi  
mới và thay đổi công nghệ diễn ra nhanh  
chóng, để thực hiện các khuyến nghị chính  
sách trên, cần thường xuyên nâng cao năng  
Nam trong bảng xếp hạng công nghệ,  
quyết tâm trở thành trung tâm sáng tạo  
tiếp theo ở Châu Á, https://genk.vn/thai-  
lan-vuot-qua-viet-nam-trong-bang-xep  
-hang-cong-nghe-quyet-tam-tro-thanh  
-trung-tam-sang-tao-tiep-theo-o-chau  
-a-20190509153233515.chn, truy cập  
ngày 22/6/2019.  
lực cho các cơ quan Chính phủ. Chính phủ 2. Basu, Medha & Bhattacharya, Apala  
cần có đủ năng lực để hiểu những thay đổi  
trong bối cảnh chính sách và công nghệ  
quốc tế, cũng như những tác động của  
chúng đối với các chương trình nghị sự  
quốc gia về kinh tế số, từ đó, có những đo  
(2018), Exclusive Interview: Minister  
of Digital Economy, Thailand, https://  
govinsider.asia/digital-gov/exclusive-  
interview-minister-digital-economy-  
thailand/, truy cập ngày 20/6/2018.  
Kinh nghiệm của Singapore…  
31  
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2010),  
ngày 31/10/2019.  
Chương trình quốc gia phát triển công 11. Hoppe, Florian, May, Tony and Lin, Jes-  
nghệ cao đến năm 2020, http://vpctqg.  
gov.vn/chuong-trinh-khcn-4, truy cập  
ngày 03/01/2020.  
sie (2018), Advancing towards ASEAN  
digital integration, https://www.bain.  
com/contentassets/37a730c1f0494b7b-  
8dac3002fde0a900/report_advancing_  
towards_asean_digital_integration.pdf,  
truy cập ngày 10/01/2020.  
4. Bukht, Rumana & Heeks, Richard  
(2018), Digital Economy Policy: The  
Case Example of Thailand, Centre for  
Development Informatics, University of 12. Jones, Charlie (2017), Innovative ideas:  
gate.net/publication/327872248_Dig-  
ital_Economy_Policy_The_Case_Ex-  
ample_of_Thailand, truy cập ngày  
06/02/2020.  
Thailand 4.0 and the Fourth Industrial  
net/publication/321337414_Innovative  
_ideas_Thailand_40_and_the_fourth_  
industrial_revolution, truy cập ngày  
26/01/2020.  
5. Business Desk (2019), International  
Finance, https://internationalfinance. 13. MTI (2017), ‘The Digital Economy  
com/thailands-digital-economy-grows-  
16-bn-2019-report/, truy cập ngày  
01/11/2019.  
in Singapore’, Ministry of Trade and  
Industry, Singapore, https://www.mti.  
gov.sg/ResearchRoom/SiteAssets/Pages  
/Economic-Surveyof-Singapore-Third-  
Quarter-2017/BA_3Q17.pdf, truy cập  
ngày 20/12/2019.  
6. Chaitrong, Wicht (2017), Digital econ-  
thailand.com/Economy/30334794, truy  
cập ngày 25/12/2017.  
7. Bùi Thị Phương Chi, Nguyễn Cẩm  
Vân (2019), Kinh tế số: Chiến lược  
chuyển đổi số quốc gia?, http://vitv.vn/  
tin-video/01-09-2019/kinh-te-so-chien-  
14. Pornwasin, Asina (2018), “Thai  
agency to lead transition to digital  
economy”, The Weekend Nation, https://  
54496, truy cập ngày 16/11/2019.  
luoc-chuyen-doi-so-quoc-gia/219489, 15. Ngọc Quang (Thông tấn xã Việt Nam  
truy cập ngày 01/9/2019.  
tại Bangkok, 2019), Thái Lan và tham  
vọng trở thành trung tâm giao nhận của  
tham-vong-tro-thanh-trung-tam-giao-  
nhan-cua-khu-vuc/138094.html, truy  
cập ngày 24/10/2019.  
8. Đại sứ quán Thái Lan tại Washington  
DC,Thailand4.0,https://thaiembdc.org/  
thailand-4-0-2/, truy cập ngày 17/3/2020.  
9. Trọng Đạt (2019), Chuyển đổi số và  
hiện trạng phát triển kinh tế số ở Việt  
tin-truyen-thong/kinh-te-so-va-hien  
-trang-phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam-  
512935.html, truy cập ngày 12/3/2020.  
10. Forbes Media LLC. (2018), Thailand:  
A Vision For The Future, https://www.  
forbes.com/custom/2018/10/30/thai  
land-a-vision-for-the-future/, truy cập  
sector grew at CAGR of 7.2% between  
com.sg/government-economy/icm-sector  
-grew-at-cagr-of-72-between-2011-2015,  
truy cập ngày 11/12/2019.  
(xem tiếp trang 19)  
pdf 12 trang baolam 24820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kinh nghiệm của Singapore và Thái Lan trong phát triển kinh tế số và hàm ý chính sách cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkinh_nghiem_cua_singapore_va_thai_lan_trong_phat_trien_kinh.pdf