Khảo sát tình hình nhiễm ghép hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp với dịch tả heo tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM GHÉP HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN  
VÀ HÔ HẤP VỚI DỊCH TẢ HEO TẠI CÁC TỈNH BẠC LIÊU VÀ SÓC TRĂNG  
Lý Thị Liên Khai, Võ Thị Cẩm Hằng  
Trường Đại học Cần thơ  
TÓM TẮT  
Đề tài này được thực hiện nhằm khảo sát tình hình dịch tai xanh (PRRS) và hiện tượng  
nhiễm ghép PRRS với dịch tả heo (DTH) tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng từ tháng 6 / 2010  
đến tháng 6 / 2011. Kỹ thuật RT-PCR được sử dụng để kiểm tra sự hiện diện của virut PRRS  
và kỹ thuật ELISA gián tiếp giúp phát hiện kháng nguyên p125 của virut DTH. Kết quả nghiên  
cứu đã phát hiện được virut PRRS trên đàn heo có triệu chứng lâm sàng của PRRS là 84,03%.  
Virut PRRS đang lưu hành là chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc. Có 6/119 mẫu xét nghiệm  
nhiễm virut PRRS dương tính với cả virut DTH chiếm tỷ lệ (5,04%).  
Heo mắc PRRS ghép với DTH có các biểu hiện tai tím xanh, xuất huyết vùng da bụng,  
da chân, co giật, liệt chân sau, phổi xuất huyết nặng, lách nhồi huyết hình răng cưa, thận xuất  
huyết hình đinh ghim, bàng quang xuất huyết. Những heo mắc ghép PRRS với DTH có tỷ lệ  
chết cao hơn những heo chỉ mắc PRRS.  
Từ khóa: Heo, PRRS, Dịch tả heo, rRT-PCR, ELISA gián tiếp, , Tỉinh Sóc Trăng, Bạc Liêu,  
Survey on situation of co-infection between PRRS and Hog Cholera  
in Bac Lieu and Soc Trang provinces  
Ly Thi Lien Khai, Vo Thi Cam Hang  
SUMMARY  
This study was conducted to investigate the PRRS and co-infected PRRS with Hog  
Cholera (HC) at Bac Lieu and Soc Trang provinces from June,2010 to June, 2011. RT-PCR  
technique was used for detection of PRRSV and indirect ELISA technique was used for  
identification of the antigen - p125 of HCV. Results of laboratory diagnosis showed that the  
PRRSV detected from pigs having clinical symptoms of PRRS were 84.03%. The PRRSV  
was identified as North America type China strain. There were 6/119 samples simultaneously  
positive with both PRRSV and HCV, accounting for 5.04%.  
The clinical signs of co-infected PRRS and HC were cyanosis in ears, hemorrhages in  
abdominal and inner thigh surfaces, convulsion, paralytic hindleg, severe hemorrhage in lungs,  
infarct spleen, petechiae kidney, hemorrhage in urinary bladder, mortality rate of co-infected  
PRRS and HC pigs was higher than that of pigs infected only with PRRSV  
Key words: Pig, PRRS, Hog Cholera, rRT-PCR, Indirect ELISA, Soc Trang and Bac Lieu  
provinces.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong ngành chăn nuôi của nước ta, chăn nuôi heo giữ một vai trò khá quan trọng, nguồn  
cung cấp thực phẩm dồi dào và phong phú cho con người. Tuy nhiên, hiện nay các nhà chăn  
nuôi đang phải đối mặt với rất nhiều loại dịch bệnh đe doạ sức khoẻ đàn heo, trong đó hội  
chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome,  
PRRS) là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi heo ở nhiều  
nước trên thế giới và ở Việt Nam.  
Đây là bệnh truyền nhiễm do virut thuộc họ Arterividae gây ra. Bệnh lây lan rất nhanh và  
ảnh hưởng trên heo ở mọi lứa tuổi, gây tồn lưu mầm bệnh trên đàn heo giống và cả heo thịt.  
Sau khi xâm nhập vào cơ thể heo, virut PRRS tấn công và phá hủy đại thực bào, heo bị nhiễm  
bệnh rơi vào trạng thái suy giảm hệ thống miễn dịch và dễ kết hợp với một số bệnh truyền  
nhiễm khác trong đó có DTH làm cho bệnh thêm trầm trọng và diễn biến rất phức tạp, gây khó  
khăn cho công tác chẩn đoán lâm sàng.  
Trong thời gian gần đây, dịch bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo đang bùng phát  
mạnh mẽ và nhanh chóng lan rộng ra hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước, trong đó Bạc Liêu và  
Sóc Trăng là hai trong số các tỉnh nổ ra dịch nặng nề và khá sớm ở Vùng Đồng Bằng Sông Cửu  
23  
Long. Dịch PRRS xảy ra làm cho heo chết hàng loạt, đặc biệt trong một số ổ dịch PRRS nổ ra  
tại hai tỉnh trên lại có sự hiện diện các triệu chứng và bệnh tích của DTH. Do đó, điều mà các  
nhà chuyên môn đang băn khoăn là nguyên nhân gây chết ở heo là do PRRS hay do PRRS  
ghép với DTH và làm thế nào có thể nhận biết một ổ dịch do mắc PRRS hay PRRS ghép với  
DTH. Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nầy tại hai tỉnh Bạc  
Liêu và Sóc Trăng.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
-Bộ kit chiết tách và phát hiện RNA của virut PRRS do công ty Ambion Magmax sản  
xuất.  
-Bộ kit SERELISA HCV Antigen Mono Indirect để phát hiện kháng nguyên p125 của  
virut DTH do công ty Synbiotics, Pháp sản xuất.  
-Mẫu vật thí nghiệm bao gồm mẫu phổi, lách và hạch amiđan của heo nghi ngờ mắc  
PRRS.  
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp chẩn đoán lâm sàng PRRS và PRRS ghép DTH  
Khi phát hiện đàn heo có các biểu hiện nghi ngờ mắc PRRS hoặc PRRS ghép với DTH,  
chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu những thông tin chung như tổng đàn, lứa tuổi, ngày bệnh, số heo  
mắc bệnh, số heo chết, các loại vacxin đã dùng, ngày dùng, các loại thuốc đã điều trị, ngày sử  
dụng. Tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm đem về phòng thí nghiệm để phân tích, xác định bệnh.  
2.2.2 Phương pháp chẩn đoán PRRS bằng kỹ thuật Real time RT-PCR  
Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu  
Khi heo có những biểu hiện triệu chứng lâm sàng nghi mắc PRRS và DTH, chúng tôi  
tiến hành mổ khám ghi nhận triệu chứng, bệnh tích sau đó lấy hạch amiđan, lách và phổi cho  
vào túi nylon sạch trữ lạnh ở nhiệt độ 4oC, và đưa về phòng thí nghiệm trong vòng 24 giờ để xét  
nghiệm. Tại phòng thí nghiệm, nếu mẫu chưa được xét nghiệm ngay sẽ được bảo quản ở - 80oC.  
Mỗi ổ dịch lấy một mẫu và mỗi đàn heo có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích của bệnh, tiến hành  
lấy từ 01 đến 03 con gộp lại thành 01 mẫu xét nghiệm.  
Chuẩn bị mẫu  
Mẫu bệnh phẩm được nghiền nhỏ và cho vào dung dịch bảo quản mẫu, transport  
medium làm thành huyễn dịch 20%. Huyễn dịch 20% được ly tâm ở 3.500 vòng/ phút trong 10  
phút, thu phần dịch nổi ở trên và lưu trữ ở nhiệt độ - 800C sau 24 giờ tiến hành chiết xuất ARN  
bằng Ambion Magmax Kit theo hướng dẫn của nhà sản xuất.  
Bảng 1: Trình tự nucleotide của các cặp mồi sử dụng trong phản ứng realtime RT-PCR  
Chất phát và hấp  
Tên  
virut  
Mồi/  
Đầu dò  
thụ huỳnh quang  
Trình tự các nucleotide (5’- 3’)  
5'  
3'  
TGT GGT GAA TGG CAC TGA TTG  
ACA  
ATG ATG RGC TGG CAT TCT  
Đầu dò  
FAM  
BHQ1  
PRRS-  
(NA)  
Mồi xuôi (F)  
None  
None  
Mồi ngược (R) ACA CGG TCG CCC TAA TTG  
None  
HEX  
None  
None  
BHQ1  
None  
CGCGTAGAACTGTGACAACAACGCTG  
A
Đầu dò  
PRRS-  
China  
Mồi xuôi (F)  
CCCAAGCTGATGACACCTTTG  
Mồi ngược (R) AATCCAGAGGCTCATCCTGGT  
None  
None  
PRRS-NA: Virut PRRS chủng Bắc Mỹ - PRRS-China: Virut PRRS dòng Trung Quốc  
2.2.3 Phương pháp chẩn đoán DTH bằng kỹ thuật Indirect ELISA  
24  
Từ những mẫu bệnh phẩm có kết quả dương tính với virut PRRS, chúng tôi tiến hành  
xét nghiệm để phát hiện kháng nguyên p125 của virut DTH (Hog Cholera Virus, HCV) bằng  
kỹ thuật ELISA gián tiếp.  
Chuẩn bị mẫu  
Mẫu bệnh phẩm được nghiền nhỏ và cho vào dung dịch sample diluent (được cung cấp  
trong bộ kit) làm thành huyễn dịch 50%. Huyễn dịch được lắc đều và ủ ở nhiệt độ phòng 30  
phút, sau đó ly tâm ở 1.500 vòng trong 15 phút, thu phần dịch nổi ở trên và tiến hành xét  
nghiệm để phát hiện kháng nguyên p125 của virut DTH bằng bộ kit (SERELISA HCV Ag  
Mono Indirect do công ty Synbiotics của Pháp sản xuất), quy trình xét nghiệm theo hướng dẫn  
của nhà sản xuất.  
2.2.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu  
Các số liệu thu thập được xử lý thống kê theo phương pháp Chi-square, phân tích  
tương quan hồi qui bằng phần mềm Microsoft Excel 2003 và Minitab 13.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả chẩn đoán lâm sàng PRRS  
Bảng 2: Tần suất xuất hiện triệu chứng ở những heo nghi ngờ mắc PRRS (n=119)  
STT  
Triệu chứng  
Tần suất  
Tỷ lệ (%)  
1
2
3
4
5
6
7
8
Sốt cao > 40oC  
Ủ rũ, bỏ ăn  
Ho, thở khó  
Tai tím xanh  
117  
119  
99  
107  
105  
83  
98,31  
100  
83,19  
89,91  
88,23  
69,75  
45,38  
15,12  
Xuất huyết toàn thân, vùng da bụng, da chân  
Mắt sưng, viêm đỏ  
Chảy dịch mũi  
54  
18  
Co giật, liệt chân sau  
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, những heo nghi ngờ mắc PRRS có các biểu hiện triệu chứng  
phổ biến như ủ rũ, bỏ ăn chiếm tỷ lệ cao nhất (100%), kế đến là sốt cao (>40oC) chiếm  
(98,31%), ho, thở khó (83,19%), tuy nhiên các triệu chứng này không đặc trưng cho PRRS mà  
có thể gặp ở hầu hết các bệnh truyền nhiễm khác. Các triệu chứng đặc trưng bao gồm tai tím  
xanh chiếm tỷ lệ (89,91%), xuất huyết toàn thân hoặc vùng da bụng, da chân (88,23%), mắt  
sưng, viêm đỏ (69,75%), chảy dịch mũi (45,38%). Ngoài ra, trong nghiên cứu chúng tôi còn  
quan sát thấy một số heo có biểu hiện triệu chứng thần kinh như co giật, liệt chân sau chiếm tỷ  
lệ (15,12%). Điều này có thể do heo PRRS bị kế phát một số bệnh truyền nhiễm khác như DTH  
hay bệnh Aujezsky. Triệu chứng này cũng được ghi nhận trong nghiên cứu của Lê Văn Năm  
(2007).  
Bảng 3: Tần suất xuất hiện bệnh tích ở heo bị nghi ngờ mắc PRRS (n=119)  
STT  
Bệnh tích  
Tần suất  
Tỷ lệ (%)  
1
Phổi viêm chắc đặc, mặt cắt ngang lồi và khô  
110  
92,43  
2
Lách sưng, nhồi huyết  
99  
83,19  
3
4
5
6
7
8
Khí quản xuất huyết chứa nhiều dịch có bọt  
Thận xuất huyết hình đinh ghim  
Hạch amiđan, hạch lympho xuất huyết  
Tim sưng, nhão, xuất huyết  
Gan sưng tụ huyết  
97  
72  
69  
27  
13  
10  
81,51  
60,50  
57,98  
22,68  
10,92  
8,40  
Não xuất huyết  
Kết quả bảng 3 cho thấy, những heo nghi ngờ mắc PRRS có các bệnh tích đặc trưng,  
phổ biến như phổi viêm chắc đặc, mặt cắt ngang lồi và khô chiếm tỷ lệ cao nhất (92,43%), kế  
đến là lách sưng, nhồi huyết chiếm (83,19%), khí quản xuất huyết, chứa nhiều dịch có bọt  
25  
(81,51%), thận xuất huyết hình đinh ghim (60,50%), hạch amiđan, hạch lympho xuất huyết  
(57,98%). Ngoài ra, chúng tôi còn quan sát được các bệnh tích như: tim sưng, nhão, xuất huyết  
chiếm tỷ lệ (22,68%), gan sưng, tụ huyết (10,92%), não xuất huyết (8,40%). Qua kết quả  
nghiên cứu trên cho thấy, biểu hiện lâm sàng của những heo nhiễm virut PRRS tại tỉnh Bạc  
Liêu và Sóc Trăng cũng được ghi nhận trong báo cáo của Nguyễn Văn Long và Tô Long  
Thành (2008) như hiện tượng phổi xám, rắn chắc, mô phổi khô, thận xuất huyết hình đinh  
ghim, gan, lách sưng.  
3.2. Kết quả chẩn đoán cận lâm sàng PRRS  
3.2.1. Kết quả kiểm tra virut PRRS bằng phương pháp realtime RT-PCR trên những heo có  
biểu hiện lâm sàng của PRRS  
Bảng 4: Tỷ lệ nhiễm virut PRRS ở tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng  
Số mẫu  
xét nghiệm  
22  
Số mẫu  
dương tính  
13  
Tỷ lệ  
(%)  
STT  
Tỉnh  
1
2
Bạc Liêu  
Sóc Trăng  
59,09a  
89,69b  
97  
87  
Tổng  
119  
100  
84,03  
Những số cùng một cột mang chữ số mũ khác nhau chỉ sự sai khác nhau rất có ý nghĩa thống  
kê (P<0,01)  
Qua bảng 4 cho thấy, trong 119 mẫu có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ mắc PRRS thì chỉ  
có 100 mẫu có kết quả xét nghiệm dương tính với virut PRRS, chiếm tỷ lệ (84,03%). Điều này  
có thể do bên cạnh PRRS còn có một số bệnh truyền nhiễm khác gây bệnh với các biểu hiện  
lâm sàng tương tự với PRRS dễ gây nhầm lẫn trong chẩn đoán lâm sàng. Trong đó, tỷ lệ heo  
dương tính với virut PRRS ở tỉnh Sóc Trăng là (89,69%) cao hơn tỉnh Bạc Liêu (59,09%) với  
(P=0,000), sự khác biệt này có thể do trình độ chuyên môn của các cán bộ thú y cơ sở ở hai  
tỉnh là không đồng đều nhau, điều kiện chăn nuôi, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý dịch bệnh,  
tiêm phòng vacxin cho heo của 2 tỉnh không giống nhau và do sự lưu hành của virut PRRS, khả  
năng đáp ứng miễn dịch thụ động của heo qua các đợt dịch ở mỗi tỉnh khác nhau. Ngoài ra, sự  
khác nhau về tỷ lệ nhiễm PRRS giữa 2 tỉnh có thể do tổng đàn heo ở tỉnh Bạc Liêu thấp, phần  
lớn người dân sống bằng nghề nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi heo theo hình thức hộ gia đình là  
chính. Trong khi đó, tổng đàn heo nuôi ở tỉnh Sóc Trăng lớn hơn, với nhiều trại chăn nuôi tập  
trung, mật độ chăn nuôi cao. Theo Stankevicien et al., (2005), sự lan truyền của virut PRRS  
chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp nên mật độ nuôi càng cao sẽ là yếu tố quan trọng làm tăng tỷ lệ  
nhiễm virut PRRS trên heo. Các trại chăn nuôi tập trung thường mua con giống từ các nơi hoặc  
nhập heo đực giống từ nước ngoài, đây cũng là một trong những yếu tố nguy cơ làm phát sinh  
và lây lan mầm bệnh. Bên cạnh đó, dịch PRRS ở tỉnh Sóc Trăng diễn ra trên phạm vi rộng hơn,  
số lượng heo mắc bệnh nhiều hơn nên xác suất phát hiện virut sẽ cao hơn.  
3.2.2. Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm virut PRRS theo loại heo  
Bảng 5: Tỷ lệ nhiễm PRRS theo loại heo  
Số mẫu  
xét nghiệm  
Số mẫu  
dương tính  
Loại heo  
Tỷ lệ (%)  
Heo con  
Heo thịt  
Heo nái  
Tổng  
41  
69  
9
40  
52  
8
97,56a  
75,36b  
88,89ab  
84,03  
119  
100  
Những số cùng một cột mang chữ số mũ khác nhau chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê  
(P<0,05)  
Qua bảng 5 cho thấy heo con có tỷ lệ nhiễm PRRS cao nhất chiếm (97,56%), kế đến là  
heo nái (88,89%) và thấp nhất là heo thịt chiếm (75,36%). Tỷ lệ nhiễm bệnh ở heo con là  
(97,56%), cao hơn heo thịt là (75,36%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với (P=0,004).  
26  
Điều này có thể do cơ thể heo con phát triển chưa hoàn chỉnh, có sức đề kháng yếu hơn heo thịt  
nên dễ mắc bệnh hơn. Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm PRRS ở heo nái và heo con khá cao và tương  
đương nhau với (P=0,28). Điều này có thể do những heo nái bị nhiễm PRRS có thể truyền bệnh  
cho heo con qua đường sinh sản. Heo nái mang thai bị nhiễm virut PRRS vào giai đoạn đầu và  
giữa thai kỳ thì phôi thai không bị ảnh hưởng vì virut PRRS không thể truyền qua nhau thai ở  
giai đoạn này, nhưng nái bị nhiễm virut từ giai đoạn giữa thai kỳ trở về sau, virut có thể truyền  
qua nhau thai vào khoảng 3 tuần cuối của thai kỳ gây chết thai và sẩy thai, điều này làm tăng tỷ  
lệ chết thai và heo sơ sinh (Christianson et al., 1994).  
3.2.3. Kết quả xác định chủng virut PRRS tại tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng  
Bảng 6: Kết quả xác định chủng virut PRRS tại Bạc Liêu và Sóc Trăng  
Chủng virut PRRS  
Số mẫu  
xét nghiệm  
Số mẫu  
dương tính  
Tỉnh  
Bắc Mỹ dòng Trung Quốc  
Tỷ lệ (%)  
Bạc Liêu  
Sóc Trăng  
Tổng  
22  
97  
17  
89  
17  
89  
100  
100  
100  
119  
106  
106  
NA  
CN  
N
Ghi chú: ( NA): mẫu dương tính chủng Bắc Mỹ; (CN): mẫu dương tính dòng Trung Quốc; (N):  
mẫu âm tính  
Hình 1:Các đường chuẩn thể hiện mẫu nhiễm virut PRRS chủng Bắc Mỹ,dòng Trung Quốc  
Qua bảng 6 và hình 1 cho thấy, trong tổng số 119 mẫu xét nghiệm có 106 mẫu dương  
tính với virut PRRS và có 106/106 mẫu đều dương tính với chủng Bắc Mỹ, dòng Trung Quốc,  
chiếm tỷ lệ (100%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lê Thanh Hòa et al., (2009) cho  
thấy, virut PRRS gây bệnh tại Việt Nam thuộc chủng Bắc Mỹ (VR-2332) dòng Trung Quốc,  
đồng thời virut này có tính biến đổi di truyền cao, có cùng nguồn gốc phát sinh với các chủng  
27  
virut PRRS của Trung Quốc, do dó tác nhân gây bệnh có thể lây truyền từ Trung Quốc vào  
Việt Nam. Bên cạnh đó, kết quả giải trình tự gien của 11 mẫu bệnh phẩm được lấy từ những  
đàn heo mắc PRRS trong năm 2010 ở các tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang, Sóc Trăng và Vĩnh Long  
gửi đi giám định tại phòng thí nghiệm tham chiếu về thú y ở Mỹ cho thấy, tất cả các mẫu bệnh  
phẩm trên đều thuộc nhóm Bắc Mỹ và có độ tương đồng cao khoảng 98,7-99,8% so với virut  
PRRS có độc lực cao ở Trung Quốc (Cục Thú y, 2010).  
3.3. Kết quả chẩn đoán lâm sàng PRRS ghép với DTH  
Qua khảo sát các biểu hiện triệu chứng lâm sàng của những heo mắc PRRS ghép với  
DTH, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 7.  
Bảng 7: Tần suất xuất hiện triệu chứng ở những heo mắc PRRS  
ghép với DTH (n=12)  
STT  
1
2
3
4
5
6
7
Triệu chứng  
Tần suất  
Tỷ lệ (%)  
83,33  
100  
83,33  
50,00  
33,33  
75,00  
66,67  
Sốt cao > 40oC  
10  
12  
10  
6
4
9
Ủ rũ, bỏ ăn, nằm chồng lên nhau  
Ho, thở khó, thở kiểu chó ngồi  
Viêm kết mạc mắt  
Chảy dịch mũi  
Tai tím xanh  
Xuất huyết toàn thân hoặc vùng da bụng,da chân  
8
8
9
Co giật, liệt chân sau  
Tiêu chảy  
7
3
58,33  
25,00  
Kết quả bảng 7 cho thấy những heo nhiễm PRRS ghép DTH có các biểu hiện triệu  
chứng lâm sàng như: ủ rũ bỏ ăn, nằm chồng lên nhau chiếm tỷ lệ cao nhất (100%), kế đến là sốt  
cao (> 40oC), ho, thở khó, thở kiểu chó ngồi chiếm (83,33%), tuy nhiên, các biểu hiện này  
không phải là triệu chứng điển hình của bệnh, nó có thể xuất hiện ở hầu hết các bệnh truyền  
nhiễm xảy ra trên heo, các triệu chứng đặc trưng của bệnh như co giật, liệt chân sau chiếm tỷ lệ  
(58,33%), xuất huyết vùng da bụng, da chân dạng xuất huyết lấm tấm hoặc xuất huyết thành  
mảng ở những trường hợp bệnh nặng chiếm (66,67%), viêm kết mạc mắt chiếm (50%). Ngoài  
ra còn có các biểu hiện chảy dịch mũi (33,33%) và tiêu chảy chiếm tỷ lệ thấp (25%). Heo mắc  
PRRS ghép với DTH thường có các triệu chứng tương tự với heo mắc PRRS. Do đó, chúng ta  
nên thận trọng trong công tác chẩn đoán lâm sàng và cần kết hợp với việc chẩn đoán bằng  
phương pháp mổ khám bệnh tích để có kết luận chính xác về bệnh.  
Qua mổ khám bệnh tích những heo có biểu hiện nghi ngờ mắc PRRS ghép với DTH,  
chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 8.  
Bảng 8: Tần suất xuất hiện bệnh tích ở heo nghi mắc PRRS ghép DTH (n=12)  
STT  
Bệnh tích  
Tần suất  
Tỷ lệ (%)  
1
2
3
4
5
6
7
8
Phổi xuất huyết đỏ thẫm, tụ huyết nặng  
Xuất huyết dạng đầu ghim ở thận  
Nhồi huyết ở lách  
Loét van hồi manh tràng  
Khí quản xuất huyết, chứa nhiều dịch có bọt  
Sụn tiểu thiệt xuất huyết  
7
8
5
2
3
4
10  
3
58,33  
66,67  
41,66  
16,67  
25,00  
33,33  
83,33  
25,00  
Hạch amiđan, hạch lamba xuất huyết  
Bàng quang xuất huyết  
Kết quả bảng 8 cho thấy, những heo nhiễm PRRS ghép với DTH có các bệnh tích đặc  
trưng, phổ biến như: thận xuất huyết hình đinh ghim chiếm tỷ lệ (66,67%), phổi viêm, xuất  
huyết đỏ thẫm, hoặc tụ huyết nặng chiếm (58,33%), lách nhồi huyết hình răng cưa (41,66), sụn  
tiểu thiệt xuất huyết (33,33%), khí quản xuất huyết, chứa nhiều dịch có bọt (25%), bàng quang  
28  
xuất huyết (25%), loét van hồi manh tràng (16,67%). Ngoài ra còn có bệnh tích hạch amiđan,  
hạch lympho xuất huyết chiếm tỷ lệ (83,33%). Điều này cho thấy, khi heo mắc PRRS ghép với  
DTH thì các bệnh tích thường xuất hiện trầm trọng hơn, gây xuất huyết tràn lan ở hầu hết các  
cơ quan nội tạng của heo, đặc biệt là bệnh tích xuất hiện ở phổi. So sánh với những heo chỉ  
mắc PRRS, phổi có biểu hiện chắc đặc, mặt cắt ngang lồi và khô thì ở những heo nhiễm PRRS  
ghép với DTH phổi thường xuất huyết và tụ huyết rất nặng, mặt cắt ngang có thể rỉ máu, đỏ  
sậm. Chính vì thế, những heo khi mắc PRRS ghép với DTH thì khả năng chết sẽ rất cao.  
3.4. Kết quả chẩn đoán phân biệt heo mắc PRRS và PRRS ghép với DTH  
Bảng 9: Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng phân biệt heo mắc PRRS và PRRS ghép với DTH  
Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của bệnh (%)  
PRRS  
(n=100)  
PRRS ghép DTH  
(n=6)  
STT Triệu chứng và bệnh tích  
1
2
Co giật, liệt chân sau  
Phổi chắc đặc, mặt cắt lồi và  
khô  
14  
91  
83,33  
0
P= 0,0001  
3
Phổi xuất huyết đỏ thẫm hoặc  
tụ huyết nặng  
0
83,33  
4
5
6
7
8
Lách nhồi huyết hình răng cưa  
Lách sưng, nhồi huyết  
Sụn tiểu thiệt xuất huyết  
Bàng quang xuất huyết  
Loét van hồi manh tràng  
0
83  
0
0
0
66,67  
0
33,33  
33,33  
16,67  
Qua kết quả ở bảng 9 cho thấy, biểu hiện triệu chứng thần kinh như co giật, liệt chân  
sau xuất hiện ở heo mắc PRRS với tỷ lệ (14%), thấp hơn so với PRRS ghép DTH (83,33%) và  
sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê (P = 0,0001). Điều này cho thấy, những heo mắc  
PRRS ghép với DTH thì triệu chứng thần kinh được phát hiện nhiều hơn những heo chỉ mắc  
PRRS. Bệnh tích đặc trưng ở phổi của những heo mắc PRRS là hiện tượng phổi chắc đặc, mặt  
cắt ngang lồi và khô, trong khi đó ở heo mắc PRRS ghép với DTH thì phổi có hiện tượng viêm,  
xuất huyết đỏ thẫm hoặc tụ huyết rất nặng. Bên cạnh đó, các biểu hiện bệnh tích như lách nhồi  
huyết hình răng cưa, sụn tiểu thiệt xuất huyết, bàng quang xuất huyết, loét van hồi manh tràng  
chỉ xuất hiện ở những heo mắc PRRS ghép với DTH.  
3.5. Kết quả kiểm tra nhiễm ghép PRRS và DTH  
Bảng 10: Tỷ lệ nhiễm PRRS ghép với DTH tại tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng  
Số mẫu  
xét nghiệm  
Số mẫu  
dương tính  
Tỉnh  
Tỷ lệ (%)  
Bạc Liêu  
Sóc Trăng  
Tổng  
22  
97  
4
2
6
18,18a  
2,06b  
5,04  
119  
Qua bảng 10 cho thấy, tỷ lệ nhiễm PRRS ghép với DTH ở tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng  
là (5,04%), kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Cheng et al., (2008) ở Trung Quốc là  
(8,38%), nhưng cao hơn kết quả nghiên cứu của Cơ quan Thú y vùng VI năm 2010 tại tỉnh Bến  
Tre là (4,2%) và tỉnh Tiền Giang là (3,0%). Ở tỉnh Sóc Trăng mặc dù có tỷ lệ nhiễm PRRS là  
(89,69%) cao hơn ở tỉnh Bạc Liêu là (59,09%), nhưng tỷ lệ nhiễm ghép PRRS với DTH ở tỉnh  
này chỉ chiếm (2,06%) thấp hơn tỉnh Bạc Liêu là (18,18%) với (P=0,009). Điều này có thể do  
tỷ lệ tiêm phòng vacxin DTH ở tỉnh Sóc Trăng (60,83%) cao hơn tỉnh Bạc Liêu (22,73%). Ở  
tỉnh Sóc Trăng, phần lớn người dân chăn nuôi heo với hình thức trại chăn nuôi tập trung với  
29  
qui mô lớn, nên họ quan tâm đến việc tiêm phòng các loại vacxin phòng bệnh cho heo, đặc biệt  
là vacxin DTH. Trong khi đó, ở tỉnh Bạc Liêu người dân chăn nuôi heo chủ yếu với hình thức  
hộ gia đình với qui mô nhỏ lẻ, nên họ ít quan tâm đến việc tiêm phòng bệnh DTH cho heo.  
3.6. Kết quả khảo sát sự nhiễm ghép PRRS và DTH theo tình trạng tiêm phòng vacxin  
DTH  
Bảng 11: Tỷ lệ nhiễm PRRS ghép với bệnh DTH theo tình trạng tiêm phòng vacxin DTH  
Số mẫu  
xét nghiệm  
Số mẫu  
dương tính  
Vacxin DTH  
Tỷ lệ (%)  
Có tiêm phòng  
Không tiêm phòng  
Tổng  
64  
55  
1
5
6
1,56a  
9,09a  
5,04  
119  
Kết quả ở bảng 11 cho thấy, những heo có tiêm phòng vacxin phòng DTH thì tỷ lệ  
mhiễm ghép PRRS và DTH ở là (1,56%) thấp hơn những heo không được tiêm phòng vacxin  
DTH (9,09%), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Những heo đã  
được tiêm phòng vacxin DTH nhưng vẫn có khả năng xảy ra bệnh. Điều này có thể do kỹ thuật  
tiêm phòng, chất lượng vacxin không đảm bảo và đặc biệt là thời điểm tiêm phòng vacxin chưa  
thích hợp. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hưng và Đinh Thị Bích Lân (2006), thời điểm  
tiêm phòng vacxin DTH thích hợp cho heo mẹ là trước khi phối giống hoặc khi mang thai 90  
ngày, heo con là từ 28 đến 30 ngày. Bên cạnh đó, qua các nghiên cứu của Suradhat et al.,  
(2006), Thái Quốc Hiếu et al., (2007) về việc ảnh hưởng của PRRS lên khả năng đáp ứng miễn  
dịch của DTH cho thấy, ở những heo mắc PRRS thì virut PRRS sẽ làm giảm khả năng đáp ứng  
miễn dịch đối với việc tiêm phòng vacxin DTH, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm  
cho những heo đã được tiêm vacxin DTH nhưng vẫn mắc bệnh.  
3.7. Kết quả phân tích mối tƣơng quan giữa tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của PRRS và PRRS  
ghép DTH  
Qua phân tích thống kê và phân tích hồi qui, mối quan hệ giữa tỷ lệ biểu hiện triệu  
chứng, bệnh tích lâm sàng của PRRS và PRRS ghép với DTH được thể hiện qua bảng 12.  
Bảng 12: Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của heo mắc PRRS và PRRS ghép với DTH  
Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của bệnh (%)  
STT  
Triệu chứng và bệnh tích  
P
PRRS (n=100) PRRS ghép DTH (n=6)  
1
2
Tai tím xanh  
95  
80  
100  
0,582  
0,812  
Xuất huyết toàn thân hoặc da bụng,  
da chân  
83,33  
Khí quản xuất huyết, chứa nhiều  
dịch có bọt  
Thận xuất huyết hình đinh ghim  
3
4
78  
61  
66,67  
50,00  
0,578  
0,682  
Hạch amiđan, hạch lympho  
xuất huyết  
5
75  
66,67  
0,702  
Qua kết quả so sánh ở bảng 12 chúng tôi nhận thấy, tỷ lệ biểu hiện triệu chứng tai tím  
xanh ở những heo mắc PRRS và PRRS ghép với DTH khác nhau không có ý nghĩa thống kê  
với (P = 0,582). Điều này chứng tỏ, triệu chứng này có thể xuất hiện ở cả những heo mắc  
PRRS lẫn heo mắc PRRS ghép với DTH. Tương tự với triệu chứng tai tím xanh, các biểu hiện  
như xuất huyết toàn thân hoặc da bụng, da chân, khí quản xuất huyết, chứa nhiều dịch có bọt,  
thận xuất huyết hình đinh ghim, hạch amiđan, hạch lamba xuất huyết ở heo mắc PRRS và  
PRRS ghép với DTH cũng khác biệt không có ý nghĩa thống kê với giá trị P lần lượt là P =  
0,812; P = 0,578; P = 0,682 và P = 0,702.  
30  
Cũng từ kết quả ở bảng 12, qua phân tích thống kê ta được phương trình hồi qui thể  
hiện mối liên quan giữa các biểu hiện lâm sàng như tai tím xanh, xuất huyết toàn thân hoặc da  
bụng, da chân, khí quản xuất huyết, chứa nhiều dịch có bọt, thận xuất huyết hình đinh ghim,  
hạch amiđan, hạch lympho xuất huyết ở những heo mắc PRRS và PRRS ghép với DTH khá  
chặt chẽ, được thể hiện qua hệ số xác định (R2 = 92,8%) và được thể hiện qua phương trình hồi  
qui sau:Y = 32,8 + 0,616 X với Y, X là tỷ lệ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích của heo mắc  
PRRS và PRRS ghép với DTH  
Điều này cho thấy, những heo mắc PRRS ghép với DTH sẽ có một số biểu hiện lâm sàng rất  
giống với PRRS nên có thể gây nhầm lẫn trong công tác chẩn đoán lâm sàng giữa hai bệnh nếu  
chúng ta không chú ý đến một số triệu chứng và bệnh tích đặc trưng giúp chẩn đoán phân biệt  
giữa hai bệnh.  
3.8. Kết quả khảo sát mức độ thiệt hại do tình trạng nhiễm ghép PRRS và DTH  
Bảng 13: So sánh mức độ thiệt hại giữa PRRS và PRRS ghép DTH  
Số heo bệnh  
Số heo chết  
Tình trạng heo bệnh  
Tỷ lệ chết (%)  
(con)  
(con)  
PRRS  
PRRS ghép DTH  
Tổng  
12.724  
108  
2.607  
70  
20,49a  
64,81b  
20,86  
12.832  
2.677  
Những số cùng cột mang chữ số mũ khác nhau, sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)  
Kết quả ở bảng 13 cho thấy, trong tổng số 12.724 heo mắc PRRS thì có 2.607 heo chết,  
chiếm tỷ lệ (20,49%) và trong 108 heo mắc PRRS ghép với DTH thì có 70 heo chết, chiếm tỷ  
lệ (64,81%), sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê (P=0,000). Như vậy, những heo có hiện  
tượng nhiễm ghép PRRS với DTH thì tỷ lệ chết sẽ cao hơn những đàn heo chỉ mắc PRRS. Điều  
này có thể do virut PRRS có thể tiêu diệt tới 40% đại thực bào, làm phá huỷ phần lớn hệ thống  
bảo vệ của cơ thể, tạo điều kiện cho virut DTH có cơ hội phát triển và gây bệnh (Nguyễn Tùng,  
2009). Đồng thời, khi heo bị nhiễm cùng một lúc hai loại virut thì sức đề kháng sẽ bị giảm sút  
nghiêm trọng, đặc biệt là khi PRRS nhiễm ghép với DTH thì thường gây xuất huyết tràn lan ở  
hầu hết các cơ quan nội tạng nên khả năng heo bị chết là rất cao . Kết quả này cũng được thể  
hiện trong nghiên cứu của Tô Long Thành et al., (2008) cho thấy, những virut, vi khuẩn kế  
phát hoặc đồng nhiễm đóng vai trò quan trọng trong việc gây tỷ lệ chết cao cho heo trên thực  
địa.  
IV. KẾT LUẬN  
-Tỷ lệ heo dương tính với virut PRRS trên những heo có triệu chứng lâm sàng PRRS tại tỉnh  
Bạc Liêu và Sóc Trăng là 84,03%.  
-Chủng virut PRRS đang lưu hành và gây bệnh trên heo tại tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng thuộc  
chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc.  
-PRRS ghép với DTH tại Bạc Liêu và Sóc Trăng chiếm tỷ lệ 5,04%.  
-Biểu hiện lâm sàng ở heo PRRS ghép với DTH là sốt cao (> 40oC), thở kiểu chó ngồi, co giật,  
liệt chân sau, tai tím xanh, xuất huyết vùng da bụng, da chân, phổi xuất huyết, tụ huyết nặng,  
thận xuất huyết đinh ghim, lách nhồi huyết hình răng cưa. Heo mắc PRRS ghép với DTH có tỷ  
lệ chết cao hơn những heo chỉ mắc PRRS.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cheng D, Jian-Jun Zhao, Na Li, Yuan Sun, Yan-Jun Zhou, Yan Zhu, Zhi-Jun Tian,  
Changchun Tu, Guang-Zhi Tong and Hua-Ji Qiu (2008), Simultaneous detection  
of Classical swine fever virus and North American genotype Porcine reproductive and  
respiratory syndrome virus using a duplex real-time RT-PCR, Journal of virological  
methods, Volume 151, 02, pp. 194-199.  
2. Christianson W.T, H. S Joo (1994), Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus:  
A review. J Swine Health Production, 2(2), pp. 10-28.  
31  
3. Cục Thú Y, Cơ quan Thú y Vùng VI (2010), Báo cáo một số đặc điểm dịch tễ PRRS tại các  
tỉnh thuộc vùng VI.  
4. Lê Văn Năm (2007), “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS), phương pháp phòng và  
trị”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XIV, (6) , tr. 47-48.  
5. Lê Thanh Hòa, Lê Thị Kim Xuyến, Đoàn Thị Thanh Hương,Trần Quang Vui, Phạm Công  
Hoạt và Nguyễn Bá Hiên (2009), “Phân tích gen M mã hóa protein màng của virut gây  
PRRS tại Việt Nam và só sánh với các chủng của Trung Quốc và thế giới”, Tạp chí khoa  
học và phát triển, tập VII, (3), tr. 282-290.  
6. Nguyễn Văn Long và Tô Long Thành (2008), Tổng quan hội chứng rối loạn sinh sản và hô  
hấp ở heo (PRRS) và tình hình dịch bệnh ở Việt Nam, báo cáo Cục Thú y.  
7. Nguyễn Văn Hưng và Đinh Thị Bích Lân (2006), “Nghiên cứu tính chất dịch tễ, sự lưu hành  
virut và xác định thời điểm tiêm phòng thích hợp đối với DTH ở Thừa Thiên Huế”, Tạp chí  
khoa học kỹ thuật thú y, tập XIII (2), tr. 5-11.  
9. Stankevicien M., H. Stankevincius and A. Sederevicius (2005), “Prevalence of porcine  
reproductive and respiratory syndrome in pig farm”, Biotechnol and Biotechnol. Eq., pp.  
160-164.  
9. Suradhat S., Kesdangsakonwut S., Safa W., Buranapraditkun S., Wongsawang S.,  
Thanawongnuwech R., 2006. Negative Impact of porcine reproductive and respiratory  
syndrome virus infection on the efficacy of classical swine fever vaccine. Vaccine 24: pp.  
2634-2642.  
10. Thái Quốc Hiếu, Lê Minh Khánh, Nguyễn Văn Hân, Hồ Huỳnh Mai, Nguyễn Ngọc Tuân,  
Trần Thị Dân, Nguyễn Phước Ninh, Trần Thị Bích Liên (2007), “Ảnh hưởng của hội chứng  
rối loạn sinh sản và hô hấp đến khả năng bảo hộ bệnh DTH trên heo”, Tạp chí khoa học kỹ  
thuật thú y tập XIV (4), tr. 84-87.  
Nhận: 15/5/2012  
Phản biện: 28/5/2012  
32  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 20200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tình hình nhiễm ghép hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp với dịch tả heo tại các tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tinh_hinh_nhiem_ghep_hoi_chung_roi_loan_sinh_san_va.pdf