Một số đặc điểm của các mô hình nông lâm kết hợp chính ở Thanh Hóa
Tạp chí KHLN 1/2014 (3173 - 3182)
©: Viện KHLNVN - VAFS
ISSN: 1859 - 0373
Đăng tải tại: www.vafs.gov.vn
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP CHÍNH
Ở THANH HÓA
Hoàng Văn Thắng1, Delia C. Catacutan2, Cao Văn Lạng1,
Nguyễn Mai Phƣơng2, Nguyễn Hoàng Tiệp1
1 Viện Nghiên cứu Lâm sinh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
2 ICRAF Việt Nam
TÓM TẮT
Trong giai đoạn 2007 - 2012 ở Thanh Hóa có hai mô hình nông lâm kết hợp
chính là sắn và ngô được trồng xen dưới các rừng trồng Keo tai tượng trong
năm thứ 1 và thứ 2. Đến cuối năm 2012 diện tích mô hình trồng xen sắn và
ngô vào rừng trồng Keo tai tượng ở Thanh Hóa đạt khoảng 3257,5ha; tăng
2079ha so vớ i năm 2007, trong đó diện tích các mô hình này ở 3 huyện điều
tra gồm huyện Hà Trung là 166,7ha; huyện Thạch Thành là 157,6ha và huyện
Như Xuân là 1310,7ha.
Kết quả điều tra cũng đã chỉ ra rằng, trồng xen các loài cây nông nghiệp như
sắn và ngô vào rừng trồng keo đã mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao cho
người trồng rừng. Lợi nhuận ròng trung bình thu được từ mô hình sắn xen
Keo tai tượ ng trên 1ha trong chu kỳ 6 năm với lãi suất vay 7,2%/năm đạt
65.775.917 đồ ng và từ mô hình ngô xen Keo tai tượ ng là 66.949.411 đồ ng.
Từ khóa: Đặc điểm, Mô
hình nông lâm kết hợp
chính, Thanh Hóa
Các mô hình trồng xen sắn và ngô đạt lợi nhuận ròng cao hơn so vớ i mô hình
trồ ng Keo tai tượ ng thuần loài(không trồng xen) từ 22,3 - 24,5%.
Nhìn chung việc tiêu thụ các sản phẩm từ mô hình nông lâm kết hợp ở Thanh
Hóa tương đối thuận lợi vì trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận đang có các
công ty, nhà máy thu mua, chế biến các sản phẩm này. Các sản phẩm từ các
mô hình nông lâm kết hợp (gồm gỗ keo, sắn, ngô) ở 3 huyện điều tra là Hà
Trung, Thạch Thành và Như Xuân hiện đang được bán chủ yếu cho các tư
thương tại địa phương. Tuy nhiên, cũng như các loại sản phẩm nông nghiệp
khác, việc tiêu thụ các sản phẩm từ mô hình nông lâm kết hợp ở Thanh Hóa
vẫn đang trong tình trạng không ổn định và luôn bị tư thương ép giá. Đây là
vấn đề quan trọng nhất có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển các mô
hình nông lâm kết hợp ở Thanh Hóa nói riêng và ở nước ta nói chung.
Some characteristics of main agroforestry models in Thanh Hoa
province
Keywords:
Characteristics, main
Agroforestry models in the period from 2007 - 2012 in Thanh Hoa province
is intercropping agricultural crops in the Acacia mangium plantations, with
2 main models are cassava and maize intercropped in Acacia mangium
plantation. The crops such as cassava and maize are often grown on Acacia
plantations in 1st and 2nd year. By the end of year 2012 the area of
intercropping cassava and maize in Acacia plantation in Thanh Hoa about
agroforestry models,
Thanh Hoa province.
3173
Tạp chí KHLN 2014
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
3257.5ha, increase in 2079ha compared with year 2007, in which area of
this intercropping system in 3 surveyed districts included Ha Trung district
is 166.7ha, Thach Thanh district is 157.6ha and Nhu Xuan district is
1310.7ha.
The survey results also showed that intercropping of agricultural crops such
as cassava and maize on Acacia magium plantations has brought economic
efficiency is relatively high for growers. Average net profit obtained per 1
ha in cycle 6 years with loan interest rate of 7.2% /year from cassava
intercropping model reached 65,775,917VND and maize intercropping
model is 66, 949, 411VND. The intercropping cassava and maize brought
higher net profit compared with the model Acacia monoculture (no
intercrop) from 22.3% to 24.5%.
The consumption of products from main agroforestry models in Thanh Hoa
is relatively favorable because there are companies, plant acquisition,
processing these products in Thanh Hoa province and neighboring
provinces. The products from the agroforestry models (including wood of
Acacia, cassava, maize) is investigated in 3 districts of Ha Trung, Thach
Thanh and Nhu Xuan currently being sold mainly to local traders. Then
traders transported to the factories, processing units in the district, province
or neighboring provinces for consumption. However, as well as other kinds
of agricultural products, the consumption of products from agroforestry
models in Thanh Hoa is still in unstable condition and price pressure has
always been traders. This is the most important problem has a great impact
on the survival and development of agroforestry in Thanh Hoa in particular
and in Vietnam in general.
Trong các loài cây trồng rừng sản xuất ở
Thanh Hóa thì Keo tai tượng là loài đang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo kết quả thống kê hiện trạng sử dụng đất
năm 2012 của tỉnh Thanh Hóa, trong tổng số
diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.113.047ha
thì đất nông nghiệp chiếm 816.578ha
(77,41%), đất phi nông nghiệp là 165.622ha
(14,88%) và đất chưa sử dụng có 85.847ha
(7,71%). So với tổng diện tích đất tự nhiên
của tỉnh thì đất rừng sản xuất của Thanh Hóa
chiếm diện tích nhiều nhất 336.878 ha tương
ứng 30,27% (Cục Thống kê Thanh Hóa,
2013). Với diện tích đất rừng sản xuất tương
đối lớn, kết hợp với điều kiện đất đai và khí
hậu tương đối thuận lợi nên Thanh Hóa có
nhiều tiềm năng để phát triển các hệ thống
Nông Lâm kết hợp (NLKH).
được gây trồng rộng rãi nhất ở các huyện của
tỉnh (theo Quyết định số 844/QĐ-UBND).
Trong giai đoạn đầu khi trồng rừng người
dân thường trồng xen các loài cây nông
nghiệp ngắn ngày vào các rừng trồng sản
xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và
góp phần cải thiện đời sống. Từ quan điểm
đó ở các huyện của tỉnh Thanh Hóa đã hình
thành các hệ thống canh tác Nông Lâm kết
hợp khác nhau, trong đó có những mô hình
hiệu quả đã được người dân gây trồng phổ
biến ở nhiều huyện.
Để có cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp
phát triển các mô hình NLKH chính ở tỉnh
Thanh Hóa thì việc điều tra thu thập các thông
3174
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
Tạp chí KHLN 2014
tin cơ bản cũng như các đặc điểm của các mô
hình Nông Lâm kết hợp chính ở tỉnh Thanh
Hóa là việc làm cần thiết. Bài báo này sẽ cung
cấp một số thông tin cơ bản về một số đặc
điểm của các mô hình NLKH chính ở tỉnh
Thanh Hóa.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Xác định mô hình Nông Lâm kết hợp
chính ở Thanh Hóa
Kết quả điều tra vào cuối tháng 12 năm 2013
cho thấy, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong
khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2012 có 2
hệ thống nông lâm kết hợp phổ biến đó là: (1)
Cây nông nghiệp trồng xen trong các rừng
Keo tai tượng và (2) cây nông nghiệp và cây
dược liệu trồng xen trong rừng Cao su.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu là các mô hình Nông
Lâm kết hợp trồng xen cây nông nghiệp
trong rừng trồng Keo tai tượng ở một số
huyện của tỉnh Thanh Hóa như Hà Trung,
Thạch Thành, Như Xuân.
Trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2012 phần
lớn các huyện (đặc biệt là các huyện miền núi)
đều trồng cây Keo tai tượng và Cao su với
diện tích tương đối lớn. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, diện tích của mô hình
trồng xen cây nông nghiệp trong các rừng
trồng Keo tai tượng ở các huyện đã tăng lên rõ
rệt. Chỉ tính riêng cho 6 huyện Như Xuân,
Như Thanh, Thước Xuân, Cẩm Thủy, Thạch
Thành và Hà Trung, diện tích trồng xen cây
cây nông nghiệp vào rừng trồng Keo tai tượng
trong giai đoạn từ 2007-2012 đã tăng lên
2129ha trong khi đó diện tích trồng xen cây
nông nghiệp vào rừng Cao su trong cùng giai
đoạn lại giảm đi đáng kể, khoảng 180ha. Số
liệu về diện tích trồng xen vào các rừng Keo
tai tượng và rừng Cao su ở 6 huyện nêu trên
được thể hiện như trong bảng 1.
2.2. Phƣơng pháp
Sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu kết hợp
với phỏng vấn các thành phần liên quan và
điều tra tại hiện trường để thu thập thông tin.
Trước hết làm việc với các cơ quan quản lý cấp
tỉnh (Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến
Nông, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm)
để lựa chọn ra các mô hình NLKH phổ biến ở
tỉnh Thanh Hó a. Trên cơ sở đó lựa chọn các
huyện có mô hình NLKH chính và đại diện
cho các khu vực khác nhau của tỉnh để điều tra
thu thập thông tin chi tiết cho từng loại mô
hình. Tại mỗi huyện được lựa chọn tiến hành
thu thập các thông tin liên quan đến các mô
hình NLKH chính để điều tra, đánh giá.
Bảng 1. Diện tích các mô hình NLKH ở một số huyện của tỉnh Thanh Hóa
Diện tích Keo tai tượng trồng xen
cây nông nghiệp (ha)
Diện tích cây Cao su trồng xen cây
nông nghiệp (ha)
TT
Huyện
Năm 2007 Năm 2012
Năm 2007
Năm 2012
1
2
3
4
5
6
Như xuân
16,2
511,5
48,1
1310,7
891,2
177,8
264,1
157,6
166,7
250
0
110
0
Như Thanh
Thường Xuân
Cẩm Thủy
30
0
10
10
20
0
177,6
0,00
Thạch Thành
Hà Trung
50
0
85,6
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 12 năm 2013).
3175
Tạp chí KHLN 2014
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
Kết quả này cho thấy, mô hình cây nông
nghiệp trồng xen trong các rừng Keo tai tượng
là mô hình NLKH chính ở tỉnh Thanh Hóa.
Diện tích mô hình NLKH này chủ yếu được
trồng phổ biến ở 11 huyện miền núi và các
huyện thuộc vùng bán sơn địa của tỉnh. Từ kết
quả này, đã lựa chọn ra 3 huyện đại diện có
mô hình NLKH cây nông nghiệp trồng xen
trong các rừng trồng Keo tai tượng để tiến
hành điều tra, thu thập thông tin tại hiện
trường, đó là (1) Huyện Hà Trung nằm phía
Đông Bắc của tỉnh, đại diện trong vùng bán
sơn địa; (2) Huyện Thạch Thành nằm ở phía
Tây Bắc của tỉnh; (3) Huyện Như Xuân nằm
phía Tây Nam của tỉnh, 2 huyện Thạch Thành
và Như Xuân đại diện cho các huyện miền núi
của tỉnh Thanh Hóa. Cả 3 huyện này đều có
tiềm năng phát triển mạnh về mô hình NLKH
cây nông nghiệp xen trong rừng trồng Keo tai
tượng theo các chương trình trồng rừng (661,
WB3, KFW, dự án khuyến nông, khuyến lâm
của tỉnh và được hỗ trợ để trồng rừng keo theo
Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính). Phần lớn
diện tích các rừng trồng Keo tai tượng tuổi 1
và một phần diện tích rừng trồng Keo tai
tượng tuổi 2 ở các huyện này đều đã và đang
được trồng xen với các loài cây nông nghiệp
như sắn và ngô. Trong đó ước tính trên 80%
diện tích rừng trồng Keo tai tượng tuổi 1 ở 2
huyện Thạch Thành và Như Xuân đều được
trồng xen cây nông nghiệp và khoảng 5-10%
diện tích rừng trồng Keo tai tượng tuổi 2 là
trồng xen cây nông nghiệp. Tại huyện Hà
Trung ước tính khoảng 60% diện tích rừng
trồng Keo tai tượng tuổi 1 được trồng xen các
loài cây nông nghiệp.
Bài báo này sẽ tập trung đánh giá mô hình
NLKH chính là cây nông nghiệp (sắn, ngô)
trồng xen trong các rừng trồng Keo tai
tượng ở 3 huyện đại diện của Thanh Hóa là
Hà Trung, Thạch Thành và Như Xuân. Diễn
biến diện tích của mô hình NLKH cây nông
nghiệp trồng xen trong các rừng trồng Keo
tai tượng ở 3 huyện được trình bày như
trong bảng 2.
thông tư liên tịch số
52/2008/TTLT-BNN-
BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và
Bảng 2. Diện tích mô hình NLKH cây nông nghiệp trồng xen Keo tai tượng ở 3 huyện và toàn tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2007 - 2012
Huyện Hà Trung
Huyện Thạch Thành
Huyện Như Xuân
Toàn tỉnh
Diện tích Diện tích
rừng keo keo xen cây rừng keo keo xen cây rừng keo keo xen cây rừng keo
Diện tích Diện tích
Diện tích Diện tích
Diện tích Diện tích keo
Năm
xen cây
nông nghiệp
(ha)
(ha)
nông
(ha)
nông
(ha)
nông
(ha)
nghiệp (ha)
nghiệp (ha)
nghiệp (ha)
2007
2008
2009
2010
2011
2012
171,3
372,6
552,5
627,3
684,9
1.0923
85,6
142,4
250,4
268,3
83,1
127,7
197,3
0,0
159,5
16,2
712
6.660,2
12.240,4
18.566,8
24.441,4
30.570,3
35.681,3
1178,3
3603,7
5815,3
6897,5
3522,4
3257,5
54,7
1.016,6
1.937,8
2.585,3
3.686,9
5.439,4
475,2
217,8
801,2
327,6
157,6
1237,4
1467
1.215,1
1.377,7
1.563,2
1375,7
1310,7
166,7
(Nguồ n: Số liệu điều tra 12/2013).
Bảng 2 cho thấy, diện tích cây nông nghiệp
trồng xen trong các rừng trồng keo trong giai
đoạn từ năm 2007 đến 2012 của tỉnh Thanh
Hóa tăng lên đáng kể, khoảng 2079ha. Bình
quân mỗi năm diện tích mô hình NLKH này
của tỉnh Thanh Hóa tăng thêm 346,5ha.
3176
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
Tạp chí KHLN 2014
Biểu đồ diễn biến diện tích cây nông nghiệp xen keo tại 3 huyện giai đoạn 2007 - 2012
Kết quả điều tra cũng cho thấy, trong các loài
cây nông nghiệp được trồng xen với Keo tai
tượng thì sắn và ngô là 2 loài cây được sử
dụng trồng xen trên diện tích lớn nhất và ở
quy mô rộng nhất (ở hầu hết các huyện miền
núi và bán sơn địa của tỉnh). Đặc điểm về các
mô hình NLKH chính ở Thanh Hóa như sau:
được trồng xen trong năm đầu khi keo đang
còn nhỏ, đến năm thứ 2 một số hộ tiếp tục
trồng xen sắn và sau năm thứ 2 tất cả các hộ
đều không trồng xen mà để kinh doanh keo
chu kỳ ngắn (5-6 năm). Sau đó khai thác keo
và lại trồng xen keo và sắn chu kỳ mới. Đất
trồng các mô hình này trước đây phần lớn
được chuyển đổi từ rừng nghèo kiệt hoặc sau
khi khai thác từ rừng trồng keo. Mô hình này
đã nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng nguồn
thu nhập cho người dân “lấy ngắn nuôi dài”.
Tuy nhiên, các mô hình này cũng còn tồn tại
một số vấn đề về kỹ thuật xây dựng mô hình
nên đã ảnh hưởng đến năng suất của các loài
cây trong mô hình.
+ Mô hình sắn trồng xen trong rừng Keo tai
tượng: Trong mô hình này cây trồng chính là
Keo tai tượng (Acacia magium), cây trồng xen
là sắn lai (1 vụ/năm). Các khu vực xây dựng
mô hình này thường nằm ở vùng đồi thấp, đồi
trung bình và chủ yếu là do các chủ hộ có đất
trồng rừng thực hiện. Đây là mô hình được
trồng rất phổ biến ở các huyện và chủ yếu là
Ảnh 1. Sắn trồng xen Keo tai tượng năm thứ 2
Ảnh 2. Sắn trồng xen trong rừng Keo tai tượng
ở xã Hà Tiến, Hà Trung
năm thứ 2 ở xã Xuân Lễ, Như Xuân
3177
Tạp chí KHLN 2014
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
+ Mô hình trồng ngô xen trong rừng Keo tai
tượng: Loài cây trồng chính trong mô hình
này cũng là Keo tai tượng và cây trồng xen
là ngô (các giống DK955, C888,...). Ngô
được trồng xen 2 vụ/năm đầu và 1 vụ đầu
trong năm thứ 2. Sau khi khai thác keo vào
tuổi 5 - 6 lại tiếp tục trồng keo chu kỳ mới
và trồng xen ngô trong năm đầu. Mô hình
này được xây dựng trên các vùng đồi thấp,
đồi trung bình và phần lớn đất xây dựng mô
hình được chuyển đổi từ đất trồng rừng theo
dự án 327. Kỹ thuật xây dựng mô hình này
cũng còn một số tồn tại, chưa hợp lý, đặc
biệt là cự ly trồng xen và kỹ thuật chăm sóc
mô hình đã làm ảnh hưởng đến sản lượng,
chất lượng sản phẩm của các loài cây trong
mô hình.
Ảnh 3. Ngô trồng xen trong rừng Keo tai
tượng 1 tuổi ở xã Ngọc Trạo, Thạch Thành
Ảnh 4. Ngô trồng xen Keo tai tượng 1 tuổi
ở Bồng Sơn, xã Hà Tiến, Hà Trung
Nhìn chung các mô hình NLKH trồng xen cây
nông nghiệp trong các rừng trồng keo ở tỉnh
Thanh Hó a chủ yếu đượ c trồ ng trên đất xám ,
đây là loại đất chiếm tỷ trọ ng lớ n nhất trong
tổ ng diện tích đất tự nhiên của tỉnh . Loại đất
này có tầng đất dày là điều kiện rất tố t để phát
triển cây nông nghiệp trồ ng xen trong rừng
trồng keo ở t uổ i 1 và 2, nhằm tăng năng suất
sử dụ ng đất, nâng cao hiệu quả kinh tế.
3.2. Năng suấ t, sản lƣợng cꢀa các loài cây
trong mô hình NLKH chính ở Thanh Hó a
Đối với mô hình sắn trồng xen trong rừng
keo, mỗi năm chỉ thu đượ c 1 vụ sắn vào tháng
11 hoặc tháng 12. Năng suất và sản lượng sắn
trong 3 năm từ 2010 đến 2012 tại các huyện
điều tra như trong bảng sau.
Bảng 3. Năng suất, sản lượng sắn tại các huyện điều tra tại tỉnh Thanh Hó a
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Trung bình
Năng
suất
(tạ/ha)
Năng
suất
(tạ/ha)
Năng
suất
(tạ/ha)
Năng
suất
(tạ/ha)
Sản
lượng
(tấn)
Huyện
Sản lượng
(tấn)
Sản lượng
(tấn)
Sản lượng
(tấn)
Hà Trung
65,0
73,4
611
85,5
80,0
590
86,0
85,0
722
78,8
79,5
641
Thạch Thành
Như Xuân
Toàn tꢀnh
5.175
5.144
6.486
5.602
130,0
112,6
28.457
172.618
163,0
122,7
33.969
203.140
200,0
130,1
47.840
219.021
164,3
121,8
36.755
198.260
(Nguồ n: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2013).
3178
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
Tạp chí KHLN 2014
Bảng 3 cho thấy năng suất sắn trung bình
có sản lượng sắn trung bình trong 3 năm đạt
cao nhất là 36.755 tấn chiếm 18,54% so với
toàn tỉnh, tiếp đến là huyện Thạch Thành đạt
5.602 tấn (2,83%) và huyện Hà Trung đạt thấp
nhất là 641 tấn (0,32%).
của toàn tỉnh Thanh Hóa
trong 3 năm đạt
121,8 tạ/ha. Trong khi đó năng suất sắn tại 2
huyện Hà Trung và Thạch Thạch chỉ đạt là
78,8 tạ/ha/năm và 79,5 tạ/ha/năm. Tại huyện
Như Xuân năng suất sắn đạt 164,3 tạ/ha/năm,
vượ t 34,92% so vớ i năng suất sắn trung bình
của tỉnh. Sản lượng sắn trong 3 năm gần đây
Đối với loại mô hình ngô xen Keo tai tượ ng ,
ngoài sản phẩm gỗ keo thì trong 1 đến 2 năm
đầu các chủ hộ được thu thêm sản phẩm từ
ngô. Năng suất và sản lượng ngô trong 3 năm
từ 2010 đến 2012 của 3 huyện điều tra và của
tỉnh Thanh Hóa được trình bày như trong
bảng 4.
của tỉnh Thanh Hóa ngày càng tăng
, năm
2010 đạt 172.618 tấn đến năm 2012 đạt
219.021 tấn, tăng 26,88% so vớ i năm 2010.
Sản lượng sắn trung bình củ a toàn tỉnh trong 3
năm đạt 198.260 tấn. Như Xuân là huyện
Bảng 4. Năng suất, sản lượng ngô tại các huyện điều tra tại tỉnh Thanh Hó a
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Trung bình
Sản
lượng
(1000 tấn)
Sản
lượng
(1000 tấn)
Sản
lượng
(1000 tấn)
Sản
lượng
(1000 tấn)
Huyện
Năng suất
(tạ/ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Hà Trung
41,0
35,7
29,6
39,7
6,3
12,4
4,2
41,0
38,4
36,9
40,4
5,9
11,7
4,1
39,8
38,1
30,8
40,7
5,4
9,1
40,6
37,4
32,4
40,3
5,9
11,1
3,6
Thạch Thành
Như Xuân
Toàn tꢀnh
2,5
215,9
214,0
199,6
209,8
(Nguồ n: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2013).
Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2012 năng
suất ngô củ a tỉnh luôn tăng , trung bình trong
3 năm đạt 40,3 tạ/ha/năm. Năng suất ngô
trung bình 3 năm củ a huyện Như Xuân đạt
32,4 tạ/ha/năm, huyện Thạch Thành đạt 37,4
làm đất suy thoái nên năng suất ngô giảm dần.
Chính vì vậy, việc trồng xen ngô vào các rừng
trồng keo sẽ góp phần nâng cao năng suất, sản
lượng ngô trong các luân kỳ mới.
3.3. Hiệu quả kinh tế và thị trƣờng tiêu thụ
các sản phẩm tƣ̀ mô hình NLKH ở tỉnh
Thanh Hó a
tạ/ha/năm và huyện Hà Trung đạt
40,6
tạ/ha/năm. Sản lượng ngô trung bình toàn
tỉnh trong 3 năm đạt 209,8 nghìn tấn , giảm
dần từ 215,9 nghìn tấn (năm 2010) xuống
còn 199,6 nghìn tấn (năm 2012). Điều này là
do trồng ngô độc canh trong nhiều chu kỳ
Kết quả điều tra vào tháng12/2013 cho thấy giá
cả một số sản phẩm từ các mô hình NLKH ở tỉnh
Thanh Hóa được tổ ng hợ p như trong bản5g.
Bảng 5. Giá một số loại sản phẩm từ mô hình NLKH hợp tại Thanh Hó a
Giá bán (VNĐ)
Tại đại lý thu mua gần nhất
Loại sản phẩm
Đơn vị tính
Tại chỗ
900.000
1.500.000
1.400
Keo tai tượ ng (gỗ nguyên liệu)
Keo tai tượ ng (gỗ xẻ )
Sắn tươi
m3
m3
kg
kg
1.100.000
1.800.000
1.700
Ngô khô
5.800
6.500
(Nguồ n: Số liệu điều tra tháng 12/2013).
3179
Tạp chí KHLN 2014
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
Hiện nay trong các sản phẩm trên thì sắn và
ngô thườ ng đượ c bán cho các tư thương tại địa
phương, đố i vớ i keo thì thường các chủ hộ bán
cây đứng cho các tư thương, sau đó tư thương
tự tổ chức khai thác và vận chuyển đến nơi tiêu
thụ trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh. Nhìn chung giá
bán các sản phẩm tại địa phương thường thấp
hơn so vớ i giá bán tại các đầu mố i , công ty,
nhà máy, cảng biển khoảng từ 15 - 20%. Tuy
nhiên, cũng nằm trong tình trạng chung với các
loại sản phẩm khác, giá các sản phẩm từ mô
hình NLKH này phụ thuộ c rất nhiều vào năng
suất, sản lượng hàng năm . Năm đượ c mù a thì
giá cả sản phẩm thấp , và ngượ c lại khi mất
mùa thì giá sản phẩm lại tăng cao. Nhìn chung
giá cả các sản phẩm không ổ n định, ngườ i dân
bị ép giá, một số nhà máy chế biến xa nên chi
phí vần chuyển lớn , làm giảm giá trị kinh tế
của các loại sản phẩm. Kết quả điều tra về các
khoản chi phí và thu nhập từ các sản phẩm củ a
một số mô hình NLKH chính ở Tha nh Hóa đã
tính được hiệu quả kinh tế của các mô hình đó
trong chu kỳ kinh doanh 6 năm với lãi xuất vay
là 7,2%/năm như trong bảng 6.
Bảng 6. Tổ ng hợ p hiệu quả kinh tế củ a mộ t số mô hình NLKH ở Thanh Hóa
NPV
(VNĐ)
BCR
(VNĐ)
IRR
(%)
Mô hình
Keo tai tượ ng + sắ n
Keo tai tượ ng + ngô
65.775.917
66.949.411
53.775.750
2,22
2,08
2,53
68
81
40
Keo tai tượ ng thuần loài (đối chứng)
(Nguồ n: Số liệu tính toán từ kết quả điều tra tháng 12/2013).
Bảng 6 cho thấy, trong 3 loại mô hình thì lợ i
nhuận rò ng của mô hình ngô xen Keo tai
tượ ng đạt cao nhất là 66.949.411 đồ ng, mô
Hóa gồm có các loại chính là sắn , ngô và gỗ
keo (gỗ dăm hoặc gỗ xẻ ). Đối với sản phẩm là
sắn sau khi thu hoạch chủ yếu bán củ tươi
mộ t số hộ gia đình băm nhỏ sau đó phơi khô
để làm thức ăn chăn nuôi. Đối với sản phẩm là
ngô các chủ hộ thu bắp mang về nhà tách hạt ,
hạt sau khi phơi khô có thể bán ra thị trường
hoặc dù ng làm thứ c ăn cho chăn nuôi. Vớ i sản
phẩm từ cây keo chủ yếu là lấy gỗ , vớ i mụ c
đích lấy gỗ xẻ thì keo thườ ng phải sau khi
trồng 9 - 10 năm, còn nếu làm nguyên liệu
giấy thì trung bình keo trồng từ 5 - 6 năm.
Ngoài ra các chủ hộ có thể tận dụng những
cành keo để làm củi đun hoặc làm nguyên liệu
băm dăm.
,
hình sắn xen Keo tai tượng đạt
65.775.917
đồ ng, còn mô hình trồng thuần Keo tai tượng
chỉ đạt 53.775.750 đồ ng. Về giá trị đầu tư ,
cùng với chu kỳ là 6 năm thì lãi của mô hình
sắn xen Keo tai tượ ng thu được là 68%, mô
hình ngô trồng xen Keo tai tượng lãi 81%
trong khi đó mô hình trồng Keo tai tượng
thuần loài chỉ lãi 40%. Như vậy so với trồng
Keo tai tượng thuần loài, việc trồng xen sắn
vào các rừng trồng Keo tai tượng đã tăng lãi
cao hơn 70% và nếu trồng xen ngô thì lãi tăng
102,5%. Kết quả này cho thấy việc trồng xen
các loài cây nông nghiệp vào các rừng trồng
keo theo phương thức NLKH đã nâng cao
đáng kể hiệu quả của mô hình.
Về thị trườ ng tiêu thụ : Sản phẩm gỗ keo chủ
yếu đượ c bán cho các tư thương , các nhà máy
chế biến, các chủ rừng thường bán cây đứng ,
sau đó ngườ i mua sẽ có trách nhiệm khai thác
và mang đi tiêu thụ . Đối với gỗ nguyên liệ u
Sản phẩm từ mô hình t rồng xen cây nông
nghiệp trong rừng Keo tai tượng ở tỉnh Thanh
3180
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
Tạp chí KHLN 2014
thườ ng đượ c đưa về các nhà máy trên địa bàn
tỉnh sơ chế, băm dăm trướ c khi mang bán cho
các nhà máy chế biến hoặc mang đến cảng
biển bán cho các công ty thu mua chở đi các
tỉnh khác hoặc xuất khẩu , còn đối với gỗ xꢀ
sau khi khai thác được chuyển đến các xưởng
chế biến trên địa bàn hoặc đến cảng biển để
chở đi nơi khác . Hiện nay, thị trường tiêu thụ
các sản phẩm gỗ keo ở các huyện điều tra chủ
yếu chuyển tớ i mộ t số tỉnh trong nướ c như Hà
Nộ i, Hải Phò ng, Lạng Sơn ... và xuất khẩu
sang nướ c ngoài qua 2 cảng lớn của tỉnh
Thanh Hóa đó là cảng Nghi Sơn thuộ c huyện
Tꢁnh Gia và cảng Lễ Môn thuộc thành phố
Thanh Hó a.
hình. Ngoài ra thị trườ ng tiêu thụ và giá cả
không ổn định, người dân luôn bị ép giá, các kỹ
thuật sơ chế, bảo quản sau thu hoạch cũng đang
là những vấn đề còn nhiều tồn tại với hầu hết
các sản phẩm từ mô hình NLKH.
IV. KẾT LUẬN
- Hệ canh tác NLKH chính ở tỉnh Thanh Hóa
trong giai đoạn từ 2007 đến nay là mô hình
trồng xen cây nông nghiệp (sắn, ngô) trong
các rừng trồng Keo tai tượng trong năm thứ 1
và 2. Đến cuối năm 2012 ước tính diện tích
của hệ thống nà y ở Thanh Hóa đạt khoảng
3257,5ha, tăng 2079ha so vớ i năm 2007.
- Hệ canh tác cây nông nghiệp trồng xen trong
các rừng trồng Keo tai tượng theo phương
thức NLKH củ a tỉnh Thanh Hóa có 2 loại mô
hình chính là sắn và ngô trồng xen trong rừng
Keo tai tượ ng . Hầu hết các rừng trồng mới
Keo tai tượng trên địa bàn 3 huyện được điều
tra là Hà Trung, Thạch Thành và Như Xuân
đều được người dân trồng xen ngô và sắn
trong 1 - 2 năm đầu khi rừng chưa khép tán.
Với sản phẩm là sắn : sau khi thu hoạch sắn
thườ ng đượ c bán cho cá c tư thương tại nhà ,
sau đó tư thương mang đi bán lại cho các
công ty chế biến tại huyện Nho Quan tỉnh
Ninh Bình hoặc nhà máy chế biến tại huyện
Yên Thủ y tỉnh Hò a Bình . Còn với sản phẩm
là ngô thì sau khi thu hoạch , hạt được phơi
khô và thườ ng bán cho các tư thương , đại lý
bán lꢀ trên địa bàn huyện, tỉnh. Các đại lý này
có thể tự chế biến thành sản phẩm hoặc bán
cho các nhà máy chế biến ở tỉnh Ninh Bình và
ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội.
- Các sản phẩm từ mô hình NLKH chính ở
các huyện điều tra ở Thanh Hóa (gồm gỗ keo,
sắn, ngô) hiện đang được bán chủ yếu cho các
tư thương tại địa phương. Sau đó tư thương
vận chuyển đến các nhà máy, cơ sở chế biến
trên địa bàn huyện, tỉnh hoặc các tỉnh lân cận
để tiêu thụ.
Mặc dù các hộ trồng rừng đã có nhiều kinh
nghiệm trong quá trình canh tác theo các mô
hình NLKH nhưng phần lớn người dân ở các
huyện của Thanh Hóa vẫn đang canh tác theo
hình thức quảng canh mà chưa áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật để canh tác. Các biện pháp
kỹ thuật xây dựng mô hình chưa được hệ thống
hóa để tập huấn, tuyên truyền cho người dân.
Do đó năng suất, chất lượng các sản phẩm từ
các mô hình NLKH đạt được chưa cao. Thêm
vào đó cũng chưa có các mô hình trình diễn về
mô hình canh tác NLKH chính ở các huyện để
người dân thăm quan, học tập và nhân rộng mô
- Lợ i nhuận rò ng trung bình từ mô hình sắn
xen Keo tai tượ ng trên 1ha trong chu kỳ
6
năm với lãi suất vay 7,2%/năm đạt 65.775.917
đồ ng và từ mô hình ngô xen Keo tai tượ ng là
66.949.411 đồ ng. Các mô hình trồng xen sắn
và ngô đạt lợi nhuận ròng cao hơn so vớ i mô
hình trồn g Keo tai tượ ng thuần loài (không
trồng xen) từ 22,3 - 24,5%.
- Giá cả và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ
mô hình NLKH chính ở tỉnh Thanh Hóa mặc
3181
Tạp chí KHLN 2014
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)
dù có nguồn tiêu thụ thuận lợi, song đang nằm
trong tình trạng không ổn định và luôn bị tư
thương ép giá. Đây là vấn đề quan trọng nhất
có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển
các mô hình NLKH ở Thanh Hóa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Thống kê tỉnh Thanh Hó a, 2012. Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hó a.
2. Quyết định số 844/QĐ - UBND ngày 28/3/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt giao kế
hoạch vốn đầu tư năm 2012 cho các dự án thuộ c Chương trình bảo vệ và phát triển rừ ng bền vữ ng trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa.
3. Thông tư liên tịch số : 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ,
Bộ Tài chính về việc hướ ng dẫn trợ cấp gạo cho đồ ng bào dân tộ c thiểu số tại chỗ ở miền nú i trồ ng rừ ng
thế nương rẫy.
thay
Ngƣời thẩm định: PGS.TS. Trần Văn Con
3182
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm của các mô hình nông lâm kết hợp chính ở Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_dac_diem_cua_cac_mo_hinh_nong_lam_ket_hop_chinh_o_tha.pdf

