Một số đặc điểm của các mô hình nông lâm kết hợp chính ở Thanh Hóa

Tạp chí KHLN 1/2014 (3173 - 3182)  
©: Viện KHLNVN - VAFS  
ISSN: 1859 - 0373  
Đăng tải tại: www.vafs.gov.vn  
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP CHÍNH  
Ở THANH HÓA  
Hoàng Văn Thắng1, Delia C. Catacutan2, Cao Văn Lạng1,  
Nguyễn Mai Phƣơng2, Nguyễn Hoàng Tiệp1  
1 Viện Nghiên cứu Lâm sinh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam  
2 ICRAF Việt Nam  
TÓM TẮT  
Trong giai đoạn 2007 - 2012 ở Thanh Hóa có hai mô hình nông lâm kết hợp  
chính là sắn và ngô được trồng xen dưới các rừng trồng Keo tai tượng trong  
năm thứ 1 và thứ 2. Đến cuối năm 2012 diện tích mô hình trồng xen sắn và  
ngô vào rừng trồng Keo tai tượng ở Thanh Hóa đạt khoảng 3257,5ha; tăng  
2079ha so vớ i năm 2007, trong đó diện tích các mô hình này ở 3 huyện điều  
tra gồm huyện Hà Trung là 166,7ha; huyện Thạch Thành là 157,6ha và huyện  
Như Xuân là 1310,7ha.  
Kết quả điều tra cũng đã chỉ ra rằng, trồng xen các loài cây nông nghiệp như  
sắn và ngô vào rừng trồng keo đã mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao cho  
người trồng rừng. Lợi nhuận ròng trung bình thu được từ mô hình sắn xen  
Keo tai tượ ng trên 1ha trong chu kỳ 6 năm với lãi suất vay 7,2%/năm đạt  
65.775.917 đồ ng và từ mô hình ngô xen Keo tai tượ ng là 66.949.411 đồ ng.  
Từ khóa: Đặc điểm, Mô  
hình nông lâm kết hợp  
chính, Thanh Hóa  
Các mô hình trồng xen sắn và ngô đạt lợi nhuận ròng cao hơn so vớ i mô hình  
trồ ng Keo tai tượ ng thuần loài(không trồng xen) từ 22,3 - 24,5%.  
Nhìn chung việc tiêu thụ các sản phẩm từ mô hình nông lâm kết hợp ở Thanh  
Hóa tương đối thuận lợi vì trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận đang có các  
công ty, nhà máy thu mua, chế biến các sản phẩm này. Các sản phẩm từ các  
mô hình nông lâm kết hợp (gồm gỗ keo, sắn, ngô) ở 3 huyện điều tra là Hà  
Trung, Thạch Thành và Như Xuân hiện đang được bán chủ yếu cho các tư  
thương tại địa phương. Tuy nhiên, cũng như các loại sản phẩm nông nghiệp  
khác, việc tiêu thụ các sản phẩm từ mô hình nông lâm kết hợp ở Thanh Hóa  
vẫn đang trong tình trạng không ổn định và luôn bị tư thương ép giá. Đây là  
vấn đề quan trọng nhất có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển các mô  
hình nông lâm kết hợp ở Thanh Hóa nói riêng và ở nước ta nói chung.  
Some characteristics of main agroforestry models in Thanh Hoa  
province  
Keywords:  
Characteristics, main  
Agroforestry models in the period from 2007 - 2012 in Thanh Hoa province  
is intercropping agricultural crops in the Acacia mangium plantations, with  
2 main models are cassava and maize intercropped in Acacia mangium  
plantation. The crops such as cassava and maize are often grown on Acacia  
plantations in 1st and 2nd year. By the end of year 2012 the area of  
intercropping cassava and maize in Acacia plantation in Thanh Hoa about  
agroforestry models,  
Thanh Hoa province.  
3173  
Tạp chí KHLN 2014  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
3257.5ha, increase in 2079ha compared with year 2007, in which area of  
this intercropping system in 3 surveyed districts included Ha Trung district  
is 166.7ha, Thach Thanh district is 157.6ha and Nhu Xuan district is  
1310.7ha.  
The survey results also showed that intercropping of agricultural crops such  
as cassava and maize on Acacia magium plantations has brought economic  
efficiency is relatively high for growers. Average net profit obtained per 1  
ha in cycle 6 years with loan interest rate of 7.2% /year from cassava  
intercropping model reached 65,775,917VND and maize intercropping  
model is 66, 949, 411VND. The intercropping cassava and maize brought  
higher net profit compared with the model Acacia monoculture (no  
intercrop) from 22.3% to 24.5%.  
The consumption of products from main agroforestry models in Thanh Hoa  
is relatively favorable because there are companies, plant acquisition,  
processing these products in Thanh Hoa province and neighboring  
provinces. The products from the agroforestry models (including wood of  
Acacia, cassava, maize) is investigated in 3 districts of Ha Trung, Thach  
Thanh and Nhu Xuan currently being sold mainly to local traders. Then  
traders transported to the factories, processing units in the district, province  
or neighboring provinces for consumption. However, as well as other kinds  
of agricultural products, the consumption of products from agroforestry  
models in Thanh Hoa is still in unstable condition and price pressure has  
always been traders. This is the most important problem has a great impact  
on the survival and development of agroforestry in Thanh Hoa in particular  
and in Vietnam in general.  
Trong các loài cây trồng rừng sản xuất ở  
Thanh Hóa thì Keo tai tượng là loài đang  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Theo kết quả thống kê hiện trạng sử dụng đất  
năm 2012 của tỉnh Thanh Hóa, trong tổng số  
diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.113.047ha  
thì đất nông nghiệp chiếm 816.578ha  
(77,41%), đất phi nông nghiệp là 165.622ha  
(14,88%) và đất chưa sử dụng có 85.847ha  
(7,71%). So với tổng diện tích đất tự nhiên  
của tỉnh thì đất rừng sản xuất của Thanh Hóa  
chiếm diện tích nhiều nhất 336.878 ha tương  
ứng 30,27% (Cục Thống kê Thanh Hóa,  
2013). Với diện tích đất rừng sản xuất tương  
đối lớn, kết hợp với điều kiện đất đai và khí  
hậu tương đối thuận lợi nên Thanh Hóa có  
nhiều tiềm năng để phát triển các hệ thống  
Nông Lâm kết hợp (NLKH).  
được gây trồng rộng rãi nhất ở các huyện của  
tỉnh (theo Quyết định số 844/QĐ-UBND).  
Trong giai đoạn đầu khi trồng rừng người  
dân thường trồng xen các loài cây nông  
nghiệp ngắn ngày vào các rừng trồng sản  
xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và  
góp phần cải thiện đời sống. Từ quan điểm  
đó ở các huyện của tỉnh Thanh Hóa đã hình  
thành các hệ thống canh tác Nông Lâm kết  
hợp khác nhau, trong đó có những mô hình  
hiệu quả đã được người dân gây trồng phổ  
biến ở nhiều huyện.  
Để có cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp  
phát triển các mô hình NLKH chính ở tỉnh  
Thanh Hóa thì việc điều tra thu thập các thông  
3174  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
Tạp chí KHLN 2014  
tin cơ bản cũng như các đặc điểm của các mô  
hình Nông Lâm kết hợp chính ở tỉnh Thanh  
Hóa là việc làm cần thiết. Bài báo này sẽ cung  
cấp một số thông tin cơ bản về một số đặc  
điểm của các mô hình NLKH chính ở tỉnh  
Thanh Hóa.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Xác định mô hình Nông Lâm kết hợp  
chính ở Thanh Hóa  
Kết quả điều tra vào cuối tháng 12 năm 2013  
cho thấy, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong  
khoảng thời gian từ năm 2007 đến 2012 có 2  
hệ thống nông lâm kết hợp phổ biến đó là: (1)  
Cây nông nghiệp trồng xen trong các rừng  
Keo tai tượng và (2) cây nông nghiệp và cây  
dược liệu trồng xen trong rừng Cao su.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Vật liệu nghiên cứu là các mô hình Nông  
Lâm kết hợp trồng xen cây nông nghiệp  
trong rừng trồng Keo tai tượng ở một số  
huyện của tỉnh Thanh Hóa như Hà Trung,  
Thạch Thành, Như Xuân.  
Trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2012 phần  
lớn các huyện (đặc biệt là các huyện miền núi)  
đều trồng cây Keo tai tượng và Cao su với  
diện tích tương đối lớn. Tuy nhiên, trong  
những năm gần đây, diện tích của mô hình  
trồng xen cây nông nghiệp trong các rừng  
trồng Keo tai tượng ở các huyện đã tăng lên rõ  
rệt. Chỉ tính riêng cho 6 huyện Như Xuân,  
Như Thanh, Thước Xuân, Cẩm Thủy, Thạch  
Thành và Hà Trung, diện tích trồng xen cây  
cây nông nghiệp vào rừng trồng Keo tai tượng  
trong giai đoạn từ 2007-2012 đã tăng lên  
2129ha trong khi đó diện tích trồng xen cây  
nông nghiệp vào rừng Cao su trong cùng giai  
đoạn lại giảm đi đáng kể, khoảng 180ha. Số  
liệu về diện tích trồng xen vào các rừng Keo  
tai tượng và rừng Cao su ở 6 huyện nêu trên  
được thể hiện như trong bảng 1.  
2.2. Phƣơng pháp  
Sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu kết hợp  
với phỏng vấn các thành phần liên quan và  
điều tra tại hiện trường để thu thập thông tin.  
Trước hết làm việc với các cơ quan quản lý cấp  
tỉnh (Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến  
Nông, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm)  
để lựa chọn ra các mô hình NLKH phổ biến ở  
tỉnh Thanh Hó a. Trên cơ sở đó lựa chọn các  
huyện có mô hình NLKH chính và đại diện  
cho các khu vực khác nhau của tỉnh để điều tra  
thu thập thông tin chi tiết cho từng loại mô  
hình. Tại mỗi huyện được lựa chọn tiến hành  
thu thập các thông tin liên quan đến các mô  
hình NLKH chính để điều tra, đánh giá.  
Bảng 1. Diện tích các mô hình NLKH ở một số huyện của tỉnh Thanh Hóa  
Diện tích Keo tai tượng trồng xen  
cây nông nghiệp (ha)  
Diện tích cây Cao su trồng xen cây  
nông nghiệp (ha)  
TT  
Huyện  
Năm 2007 Năm 2012  
Năm 2007  
Năm 2012  
1
2
3
4
5
6
Như xuân  
16,2  
511,5  
48,1  
1310,7  
891,2  
177,8  
264,1  
157,6  
166,7  
250  
0
110  
0
Như Thanh  
Thường Xuân  
Cẩm Thủy  
30  
0
10  
10  
20  
0
177,6  
0,00  
Thạch Thành  
Hà Trung  
50  
0
85,6  
(Nguồn: Số liệu điều tra tháng 12 năm 2013).  
3175  
Tạp chí KHLN 2014  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
Kết quả này cho thấy, mô hình cây nông  
nghiệp trồng xen trong các rừng Keo tai tượng  
là mô hình NLKH chính ở tỉnh Thanh Hóa.  
Diện tích mô hình NLKH này chủ yếu được  
trồng phổ biến ở 11 huyện miền núi và các  
huyện thuộc vùng bán sơn địa của tỉnh. Từ kết  
quả này, đã lựa chọn ra 3 huyện đại diện có  
mô hình NLKH cây nông nghiệp trồng xen  
trong các rừng trồng Keo tai tượng để tiến  
hành điều tra, thu thập thông tin tại hiện  
trường, đó là (1) Huyện Hà Trung nằm phía  
Đông Bắc của tỉnh, đại diện trong vùng bán  
sơn địa; (2) Huyện Thạch Thành nằm ở phía  
Tây Bắc của tỉnh; (3) Huyện Như Xuân nằm  
phía Tây Nam của tỉnh, 2 huyện Thạch Thành  
và Như Xuân đại diện cho các huyện miền núi  
của tỉnh Thanh Hóa. Cả 3 huyện này đều có  
tiềm năng phát triển mạnh về mô hình NLKH  
cây nông nghiệp xen trong rừng trồng Keo tai  
tượng theo các chương trình trồng rừng (661,  
WB3, KFW, dự án khuyến nông, khuyến lâm  
của tỉnh và được hỗ trợ để trồng rừng keo theo  
Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính). Phần lớn  
diện tích các rừng trồng Keo tai tượng tuổi 1  
và một phần diện tích rừng trồng Keo tai  
tượng tuổi 2 ở các huyện này đều đã và đang  
được trồng xen với các loài cây nông nghiệp  
như sắn và ngô. Trong đó ước tính trên 80%  
diện tích rừng trồng Keo tai tượng tuổi 1 ở 2  
huyện Thạch Thành và Như Xuân đều được  
trồng xen cây nông nghiệp và khoảng 5-10%  
diện tích rừng trồng Keo tai tượng tuổi 2 là  
trồng xen cây nông nghiệp. Tại huyện Hà  
Trung ước tính khoảng 60% diện tích rừng  
trồng Keo tai tượng tuổi 1 được trồng xen các  
loài cây nông nghiệp.  
Bài báo này sẽ tập trung đánh giá mô hình  
NLKH chính là cây nông nghiệp (sắn, ngô)  
trồng xen trong các rừng trồng Keo tai  
tượng ở 3 huyện đại diện của Thanh Hóa là  
Hà Trung, Thạch Thành và Như Xuân. Diễn  
biến diện tích của mô hình NLKH cây nông  
nghiệp trồng xen trong các rừng trồng Keo  
tai tượng ở 3 huyện được trình bày như  
trong bảng 2.  
thông tư liên tịch số  
52/2008/TTLT-BNN-  
BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và  
Bảng 2. Diện tích mô hình NLKH cây nông nghiệp trồng xen Keo tai tượng ở 3 huyện và toàn tỉnh  
Thanh Hóa giai đoạn 2007 - 2012  
Huyện Hà Trung  
Huyện Thạch Thành  
Huyện Như Xuân  
Toàn tỉnh  
Diện tích Diện tích  
rừng keo keo xen cây rừng keo keo xen cây rừng keo keo xen cây rừng keo  
Diện tích Diện tích  
Diện tích Diện tích  
Diện tích Diện tích keo  
Năm  
xen cây  
nông nghiệp  
(ha)  
(ha)  
nông  
(ha)  
nông  
(ha)  
nông  
(ha)  
nghiệp (ha)  
nghiệp (ha)  
nghiệp (ha)  
2007  
2008  
2009  
2010  
2011  
2012  
171,3  
372,6  
552,5  
627,3  
684,9  
1.0923  
85,6  
142,4  
250,4  
268,3  
83,1  
127,7  
197,3  
0,0  
159,5  
16,2  
712  
6.660,2  
12.240,4  
18.566,8  
24.441,4  
30.570,3  
35.681,3  
1178,3  
3603,7  
5815,3  
6897,5  
3522,4  
3257,5  
54,7  
1.016,6  
1.937,8  
2.585,3  
3.686,9  
5.439,4  
475,2  
217,8  
801,2  
327,6  
157,6  
1237,4  
1467  
1.215,1  
1.377,7  
1.563,2  
1375,7  
1310,7  
166,7  
(Nguồ n: Số liệu điều tra 12/2013).  
Bảng 2 cho thấy, diện tích cây nông nghiệp  
trồng xen trong các rừng trồng keo trong giai  
đoạn từ năm 2007 đến 2012 của tỉnh Thanh  
Hóa tăng lên đáng kể, khoảng 2079ha. Bình  
quân mỗi năm diện tích mô hình NLKH này  
của tỉnh Thanh Hóa tăng thêm 346,5ha.  
3176  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
Tạp chí KHLN 2014  
Biểu đồ diễn biến diện tích cây nông nghiệp xen keo tại 3 huyện giai đoạn 2007 - 2012  
Kết quả điều tra cũng cho thấy, trong các loài  
cây nông nghiệp được trồng xen với Keo tai  
tượng thì sắn và ngô là 2 loài cây được sử  
dụng trồng xen trên diện tích lớn nhất và ở  
quy mô rộng nhất (ở hầu hết các huyện miền  
núi và bán sơn địa của tỉnh). Đặc điểm về các  
mô hình NLKH chính ở Thanh Hóa như sau:  
được trồng xen trong năm đầu khi keo đang  
còn nhỏ, đến năm thứ 2 một số hộ tiếp tục  
trồng xen sắn và sau năm thứ 2 tất cả các hộ  
đều không trồng xen mà để kinh doanh keo  
chu kỳ ngắn (5-6 năm). Sau đó khai thác keo  
và lại trồng xen keo và sắn chu kỳ mới. Đất  
trồng các mô hình này trước đây phần lớn  
được chuyển đổi từ rừng nghèo kiệt hoặc sau  
khi khai thác từ rừng trồng keo. Mô hình này  
đã nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng nguồn  
thu nhập cho người dân “lấy ngắn nuôi dài”.  
Tuy nhiên, các mô hình này cũng còn tồn tại  
một số vấn đề về kỹ thuật xây dựng mô hình  
nên đã ảnh hưởng đến năng suất của các loài  
cây trong mô hình.  
+ Mô hình sắn trồng xen trong rừng Keo tai  
tượng: Trong mô hình này cây trồng chính là  
Keo tai tượng (Acacia magium), cây trồng xen  
là sắn lai (1 vụ/năm). Các khu vực xây dựng  
mô hình này thường nằm ở vùng đồi thấp, đồi  
trung bình và chủ yếu là do các chủ hộ có đất  
trồng rừng thực hiện. Đây là mô hình được  
trồng rất phổ biến ở các huyện và chủ yếu là  
Ảnh 1. Sắn trồng xen Keo tai tượng năm thứ 2  
Ảnh 2. Sắn trồng xen trong rừng Keo tai tượng  
ở xã Hà Tiến, Hà Trung  
năm thứ 2 ở xã Xuân Lễ, Như Xuân  
3177  
Tạp chí KHLN 2014  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
+ Mô hình trồng ngô xen trong rừng Keo tai  
tượng: Loài cây trồng chính trong mô hình  
này cũng là Keo tai tượng và cây trồng xen  
là ngô (các giống DK955, C888,...). Ngô  
được trồng xen 2 vụ/năm đầu và 1 vụ đầu  
trong năm thứ 2. Sau khi khai thác keo vào  
tuổi 5 - 6 lại tiếp tục trồng keo chu kỳ mới  
và trồng xen ngô trong năm đầu. Mô hình  
này được xây dựng trên các vùng đồi thấp,  
đồi trung bình và phần lớn đất xây dựng mô  
hình được chuyển đổi từ đất trồng rừng theo  
dự án 327. Kỹ thuật xây dựng mô hình này  
cũng còn một số tồn tại, chưa hợp lý, đặc  
biệt là cự ly trồng xen và kỹ thuật chăm sóc  
mô hình đã làm ảnh hưởng đến sản lượng,  
chất lượng sản phẩm của các loài cây trong  
mô hình.  
Ảnh 3. Ngô trồng xen trong rừng Keo tai  
tượng 1 tuổi ở xã Ngọc Trạo, Thạch Thành  
Ảnh 4. Ngô trồng xen Keo tai tượng 1 tuổi  
ở Bồng Sơn, xã Hà Tiến, Hà Trung  
Nhìn chung các mô hình NLKH trồng xen cây  
nông nghiệp trong các rừng trồng keo ở tỉnh  
Thanh Hó a chủ yếu đượ c trồ ng trên đất xám ,  
đây là loại đất chiếm tỷ trọ ng lớ n nhất trong  
tổ ng diện tích đất tự nhiên của tỉnh . Loại đất  
này có tầng đất dày là điều kiện rất tố t để phát  
triển cây nông nghiệp trồ ng xen trong rừng  
trồng keo ở t uổ i 1 và 2, nhằm tăng năng suất  
sử dụ ng đất, nâng cao hiệu quả kinh tế.  
3.2. Năng suấ t, sản lƣợng cꢀa các loài cây  
trong mô hình NLKH chính ở Thanh Hó a  
Đối với mô hình sắn trồng xen trong rừng  
keo, mỗi năm chỉ thu đượ c 1 vụ sắn vào tháng  
11 hoặc tháng 12. Năng suất và sản lượng sắn  
trong 3 năm từ 2010 đến 2012 tại các huyện  
điều tra như trong bảng sau.  
Bảng 3. Năng suất, sản lượng sắn tại các huyện điều tra tại tỉnh Thanh Hó a  
Năm 2010  
Năm 2011  
Năm 2012  
Trung bình  
Năng  
suất  
(tạ/ha)  
Năng  
suất  
(tạ/ha)  
Năng  
suất  
(tạ/ha)  
Năng  
suất  
(tạ/ha)  
Sản  
lượng  
(tấn)  
Huyện  
Sản lượng  
(tấn)  
Sản lượng  
(tấn)  
Sản lượng  
(tấn)  
Hà Trung  
65,0  
73,4  
611  
85,5  
80,0  
590  
86,0  
85,0  
722  
78,8  
79,5  
641  
Thạch Thành  
Như Xuân  
Toàn tꢀnh  
5.175  
5.144  
6.486  
5.602  
130,0  
112,6  
28.457  
172.618  
163,0  
122,7  
33.969  
203.140  
200,0  
130,1  
47.840  
219.021  
164,3  
121,8  
36.755  
198.260  
(Nguồ n: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2013).  
3178  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
Tạp chí KHLN 2014  
Bảng 3 cho thấy năng suất sắn trung bình  
có sản lượng sắn trung bình trong 3 năm đạt  
cao nhất là 36.755 tấn chiếm 18,54% so với  
toàn tỉnh, tiếp đến là huyện Thạch Thành đạt  
5.602 tấn (2,83%) và huyện Hà Trung đạt thấp  
nhất là 641 tấn (0,32%).  
của toàn tỉnh Thanh Hóa  
trong 3 năm đạt  
121,8 tạ/ha. Trong khi đó năng suất sắn tại 2  
huyện Hà Trung và Thạch Thạch chỉ đạt là  
78,8 tạ/ha/năm và 79,5 tạ/ha/năm. Tại huyện  
Như Xuân năng suất sắn đạt 164,3 tạ/ha/năm,  
vượ t 34,92% so vớ i năng suất sắn trung bình  
của tỉnh. Sản lượng sắn trong 3 năm gần đây  
Đối với loại mô hình ngô xen Keo tai tượ ng ,  
ngoài sản phẩm gỗ keo thì trong 1 đến 2 năm  
đầu các chủ hộ được thu thêm sản phẩm từ  
ngô. Năng suất và sản lượng ngô trong 3 năm  
từ 2010 đến 2012 của 3 huyện điều tra và của  
tỉnh Thanh Hóa được trình bày như trong  
bảng 4.  
của tỉnh Thanh Hóa ngày càng tăng  
, năm  
2010 đạt 172.618 tấn đến năm 2012 đạt  
219.021 tấn, tăng 26,88% so vớ i năm 2010.  
Sản lượng sắn trung bình củ a toàn tỉnh trong 3  
năm đạt 198.260 tấn. Như Xuân là huyện  
Bảng 4. Năng suất, sản lượng ngô tại các huyện điều tra tại tỉnh Thanh Hó a  
Năm 2010  
Năm 2011  
Năm 2012  
Trung bình  
Sản  
lượng  
(1000 tấn)  
Sản  
lượng  
(1000 tấn)  
Sản  
lượng  
(1000 tấn)  
Sản  
lượng  
(1000 tấn)  
Huyện  
Năng suất  
(tạ/ha)  
Năng suất  
(tạ/ha)  
Năng suất  
(tạ/ha)  
Năng suất  
(tạ/ha)  
Hà Trung  
41,0  
35,7  
29,6  
39,7  
6,3  
12,4  
4,2  
41,0  
38,4  
36,9  
40,4  
5,9  
11,7  
4,1  
39,8  
38,1  
30,8  
40,7  
5,4  
9,1  
40,6  
37,4  
32,4  
40,3  
5,9  
11,1  
3,6  
Thạch Thành  
Như Xuân  
Toàn tꢀnh  
2,5  
215,9  
214,0  
199,6  
209,8  
(Nguồ n: Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2013).  
Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2012 năng  
suất ngô củ a tỉnh luôn tăng , trung bình trong  
3 năm đạt 40,3 tạ/ha/năm. Năng suất ngô  
trung bình 3 năm củ a huyện Như Xuân đạt  
32,4 tạ/ha/năm, huyện Thạch Thành đạt 37,4  
làm đất suy thoái nên năng suất ngô giảm dần.  
Chính vì vậy, việc trồng xen ngô vào các rừng  
trồng keo sẽ góp phần nâng cao năng suất, sản  
lượng ngô trong các luân kỳ mới.  
3.3. Hiệu quả kinh tế và thị trƣờng tiêu thụ  
các sản phẩm tƣ̀ mô hình NLKH ở tỉnh  
Thanh Hó a  
tạ/ha/năm và huyện Hà Trung đạt  
40,6  
tạ/ha/năm. Sản lượng ngô trung bình toàn  
tỉnh trong 3 năm đạt 209,8 nghìn tấn , giảm  
dần từ 215,9 nghìn tấn (năm 2010) xuống  
còn 199,6 nghìn tấn (năm 2012). Điều này là  
do trồng ngô độc canh trong nhiều chu kỳ  
Kết quả điều tra vào tháng12/2013 cho thấy giá  
cả một số sản phẩm từ các mô hình NLKH ở tỉnh  
Thanh Hóa được tổ ng hợ p như trong bản5g.  
Bảng 5. Giá một số loại sản phẩm từ mô hình NLKH hợp tại Thanh Hó a  
Giá bán (VNĐ)  
Tại đại lý thu mua gần nhất  
Loại sản phẩm  
Đơn vị tính  
Tại chỗ  
900.000  
1.500.000  
1.400  
Keo tai tượ ng (gỗ nguyên liệu)  
Keo tai tượ ng (gỗ xẻ )  
Sắn tươi  
m3  
m3  
kg  
kg  
1.100.000  
1.800.000  
1.700  
Ngô khô  
5.800  
6.500  
(Nguồ n: Số liệu điều tra tháng 12/2013).  
3179  
Tạp chí KHLN 2014  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
Hiện nay trong các sản phẩm trên thì sắn và  
ngô thườ ng đượ c bán cho các tư thương tại địa  
phương, đố i vớ i keo thì thường các chủ hộ bán  
cây đứng cho các tư thương, sau đó tư thương  
tự tổ chức khai thác và vận chuyển đến nơi tiêu  
thụ trong tỉnh hoặc ngoài tỉnh. Nhìn chung giá  
bán các sản phẩm tại địa phương thường thấp  
hơn so vớ i giá bán tại các đầu mố i , công ty,  
nhà máy, cảng biển khoảng từ 15 - 20%. Tuy  
nhiên, cũng nằm trong tình trạng chung với các  
loại sản phẩm khác, giá các sản phẩm từ mô  
hình NLKH này phụ thuộ c rất nhiều vào năng  
suất, sản lượng hàng năm . Năm đượ c mù a thì  
giá cả sản phẩm thấp , và ngượ c lại khi mất  
mùa thì giá sản phẩm lại tăng cao. Nhìn chung  
giá cả các sản phẩm không ổ n định, ngườ i dân  
bị ép giá, một số nhà máy chế biến xa nên chi  
phí vần chuyển lớn , làm giảm giá trị kinh tế  
của các loại sản phẩm. Kết quả điều tra về các  
khoản chi phí và thu nhập từ các sản phẩm củ a  
một số mô hình NLKH chính ở Tha nh Hóa đã  
tính được hiệu quả kinh tế của các mô hình đó  
trong chu kỳ kinh doanh 6 năm với lãi xuất vay  
là 7,2%/năm như trong bảng 6.  
Bảng 6. Tổ ng hợ p hiệu quả kinh tế củ a mộ t số mô hình NLKH ở Thanh Hóa  
NPV  
(VNĐ)  
BCR  
(VNĐ)  
IRR  
(%)  
Mô hình  
Keo tai tượ ng + sắ n  
Keo tai tượ ng + ngô  
65.775.917  
66.949.411  
53.775.750  
2,22  
2,08  
2,53  
68  
81  
40  
Keo tai tượ ng thuần loài (đối chứng)  
(Nguồ n: Số liệu tính toán từ kết quả điều tra tháng 12/2013).  
Bảng 6 cho thấy, trong 3 loại mô hình thì lợ i  
nhuận rò ng của mô hình ngô xen Keo tai  
tượ ng đạt cao nhất là 66.949.411 đồ ng, mô  
Hóa gồm có các loại chính là sắn , ngô và gỗ  
keo (gỗ dăm hoặc gỗ xẻ ). Đối với sản phẩm là  
sắn sau khi thu hoạch chủ yếu bán củ tươi  
mộ t số hộ gia đình băm nhỏ sau đó phơi khô  
để làm thức ăn chăn nuôi. Đối với sản phẩm là  
ngô các chủ hộ thu bắp mang về nhà tách hạt ,  
hạt sau khi phơi khô có thể bán ra thị trường  
hoặc dù ng làm thứ c ăn cho chăn nuôi. Vớ i sản  
phẩm từ cây keo chủ yếu là lấy gỗ , vớ i mụ c  
đích lấy gỗ xẻ thì keo thườ ng phải sau khi  
trồng 9 - 10 năm, còn nếu làm nguyên liệu  
giấy thì trung bình keo trồng từ 5 - 6 năm.  
Ngoài ra các chủ hộ có thể tận dụng những  
cành keo để làm củi đun hoặc làm nguyên liệu  
băm dăm.  
,
hình sắn xen Keo tai tượng đạt  
65.775.917  
đồ ng, còn mô hình trồng thuần Keo tai tượng  
chỉ đạt 53.775.750 đồ ng. Về giá trị đầu tư ,  
cùng với chu kỳ là 6 năm thì lãi của mô hình  
sắn xen Keo tai tượ ng thu được là 68%, mô  
hình ngô trồng xen Keo tai tượng lãi 81%  
trong khi đó mô hình trồng Keo tai tượng  
thuần loài chỉ lãi 40%. Như vậy so với trồng  
Keo tai tượng thuần loài, việc trồng xen sắn  
vào các rừng trồng Keo tai tượng đã tăng lãi  
cao hơn 70% và nếu trồng xen ngô thì lãi tăng  
102,5%. Kết quả này cho thấy việc trồng xen  
các loài cây nông nghiệp vào các rừng trồng  
keo theo phương thức NLKH đã nâng cao  
đáng kể hiệu quả của mô hình.  
Về thị trườ ng tiêu thụ : Sản phẩm gỗ keo chủ  
yếu đượ c bán cho các tư thương , các nhà máy  
chế biến, các chủ rừng thường bán cây đứng ,  
sau đó ngườ i mua sẽ có trách nhiệm khai thác  
và mang đi tiêu thụ . Đối với gỗ nguyên liệ u  
Sản phẩm từ mô hình t rồng xen cây nông  
nghiệp trong rừng Keo tai tượng ở tỉnh Thanh  
3180  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
Tạp chí KHLN 2014  
thườ ng đượ c đưa về các nhà máy trên địa bàn  
tỉnh sơ chế, băm dăm trướ c khi mang bán cho  
các nhà máy chế biến hoặc mang đến cảng  
biển bán cho các công ty thu mua chở đi các  
tỉnh khác hoặc xuất khẩu , còn đối với gỗ xꢀ  
sau khi khai thác được chuyển đến các xưởng  
chế biến trên địa bàn hoặc đến cảng biển để  
chở đi nơi khác . Hiện nay, thị trường tiêu thụ  
các sản phẩm gỗ keo ở các huyện điều tra chủ  
yếu chuyển tớ i mộ t số tỉnh trong nướ c như Hà  
Nộ i, Hải Phò ng, Lạng Sơn ... và xuất khẩu  
sang nướ c ngoài qua 2 cảng lớn của tỉnh  
Thanh Hóa đó là cảng Nghi Sơn thuộ c huyện  
Tꢁnh Gia và cảng Lễ Môn thuộc thành phố  
Thanh Hó a.  
hình. Ngoài ra thị trườ ng tiêu thụ và giá cả  
không ổn định, người dân luôn bị ép giá, các kỹ  
thuật sơ chế, bảo quản sau thu hoạch cũng đang  
là những vấn đề còn nhiều tồn tại với hầu hết  
các sản phẩm từ mô hình NLKH.  
IV. KẾT LUẬN  
- Hệ canh tác NLKH chính ở tỉnh Thanh Hóa  
trong giai đoạn từ 2007 đến nay là mô hình  
trồng xen cây nông nghiệp (sắn, ngô) trong  
các rừng trồng Keo tai tượng trong năm thứ 1  
và 2. Đến cuối năm 2012 ước tính diện tích  
của hệ thống nà y ở Thanh Hóa đạt khoảng  
3257,5ha, tăng 2079ha so vớ i năm 2007.  
- Hệ canh tác cây nông nghiệp trồng xen trong  
các rừng trồng Keo tai tượng theo phương  
thức NLKH củ a tỉnh Thanh Hóa có 2 loại mô  
hình chính là sắn và ngô trồng xen trong rừng  
Keo tai tượ ng . Hầu hết các rừng trồng mới  
Keo tai tượng trên địa bàn 3 huyện được điều  
tra là Hà Trung, Thạch Thành và Như Xuân  
đều được người dân trồng xen ngô và sắn  
trong 1 - 2 năm đầu khi rừng chưa khép tán.  
Với sản phẩm là sắn : sau khi thu hoạch sắn  
thườ ng đượ c bán cho cá c tư thương tại nhà ,  
sau đó tư thương mang đi bán lại cho các  
công ty chế biến tại huyện Nho Quan tỉnh  
Ninh Bình hoặc nhà máy chế biến tại huyện  
Yên Thủ y tỉnh Hò a Bình . Còn với sản phẩm  
là ngô thì sau khi thu hoạch , hạt được phơi  
khô và thườ ng bán cho các tư thương , đại lý  
bán lꢀ trên địa bàn huyện, tỉnh. Các đại lý này  
có thể tự chế biến thành sản phẩm hoặc bán  
cho các nhà máy chế biến ở tỉnh Ninh Bình và  
ở huyện Chương Mỹ - Hà Nội.  
- Các sản phẩm từ mô hình NLKH chính ở  
các huyện điều tra ở Thanh Hóa (gồm gỗ keo,  
sắn, ngô) hiện đang được bán chủ yếu cho các  
tư thương tại địa phương. Sau đó tư thương  
vận chuyển đến các nhà máy, cơ sở chế biến  
trên địa bàn huyện, tỉnh hoặc các tỉnh lân cận  
để tiêu thụ.  
Mặc dù các hộ trồng rừng đã có nhiều kinh  
nghiệm trong quá trình canh tác theo các mô  
hình NLKH nhưng phần lớn người dân ở các  
huyện của Thanh Hóa vẫn đang canh tác theo  
hình thức quảng canh mà chưa áp dụng các tiến  
bộ khoa học kỹ thuật để canh tác. Các biện pháp  
kỹ thuật xây dựng mô hình chưa được hệ thống  
hóa để tập huấn, tuyên truyền cho người dân.  
Do đó năng suất, chất lượng các sản phẩm từ  
các mô hình NLKH đạt được chưa cao. Thêm  
vào đó cũng chưa có các mô hình trình diễn về  
mô hình canh tác NLKH chính ở các huyện để  
người dân thăm quan, học tập và nhân rộng mô  
- Lợ i nhuận rò ng trung bình từ mô hình sắn  
xen Keo tai tượ ng trên 1ha trong chu kỳ  
6
năm với lãi suất vay 7,2%/năm đạt 65.775.917  
đồ ng và từ mô hình ngô xen Keo tai tượ ng là  
66.949.411 đồ ng. Các mô hình trồng xen sắn  
và ngô đạt lợi nhuận ròng cao hơn so vớ i mô  
hình trồn g Keo tai tượ ng thuần loài (không  
trồng xen) từ 22,3 - 24,5%.  
- Giá cả và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ  
mô hình NLKH chính ở tỉnh Thanh Hóa mặc  
3181  
Tạp chí KHLN 2014  
Hoàng Văn Thắng et al., 2014(1)  
dù có nguồn tiêu thụ thuận lợi, song đang nằm  
trong tình trạng không ổn định và luôn bị tư  
thương ép giá. Đây là vấn đề quan trọng nhất  
có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển  
các mô hình NLKH ở Thanh Hóa.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cục Thống kê tỉnh Thanh Hó a, 2012. Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hó a.  
2. Quyết định số 844/QĐ - UBND ngày 28/3/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt giao kế  
hoạch vốn đầu tư năm 2012 cho các dự án thuộ c Chương trình bảo vệ và phát triển rừ ng bền vữ ng trên địa bàn  
tỉnh Thanh Hóa.  
3. Thông tư liên tịch số : 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ,  
Bộ Tài chính về việc hướ ng dẫn trợ cấp gạo cho đồ ng bào dân tộ c thiểu số tại chỗ ở miền nú i trồ ng rừ ng  
thế nương rẫy.  
thay  
Ngƣời thẩm định: PGS.TS. Trần Văn Con  
3182  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 16640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm của các mô hình nông lâm kết hợp chính ở Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_cua_cac_mo_hinh_nong_lam_ket_hop_chinh_o_tha.pdf