Luận văn Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ sau sinh tại xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Na

LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá  
nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Các  
số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và  
đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.  
Tác giả  
Nguyễn Thị Lan Anh  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc  
nhất đến PGS. TS. Trịnh Văn Tùng, người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt  
quá trình thực hiện luận văn.  
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo, cán bộ công tác tại xã  
Nhân Bình đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi, đặc biệt xin cảm ơn các  
thầy cô trong Khoa công tác xã hội, trường Đại học Lao động Xã hội đã cung  
cấp cho tôi nền tảng kiến thức quý báu và sự giúp đỡ tận tình để tôi có thể  
hoàn thành luận văn của mình.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các cô/chị là PNSS tại xã Nhân Bình  
đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu phục vụ luận văn.  
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp  
cùng bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học  
cũng như thực hiện luận văn.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2017  
Học viên  
Nguyễn Thị Lan Anh  
I
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .........................................................................III  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU.............................................................................IV  
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1  
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................1  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài...........................................................3  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu...................................................11  
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu..........................................................................12  
5. Đối tượng, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu .....................................13  
6. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu........................................................14  
7. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................15  
8. Kết cấu của luận văn ...........................................................................................21  
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾT NỐI NGUỒN LỰC DỰA VÀO  
CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ CHO PHỤ  
NỮ SAU SINH .........................................................................................................22  
1.1. Khái niệm công cụ...........................................................................................22  
1.1.1. Chăm sóc sức khoẻ cho PNSS.........................................................................22  
1.1.2. Hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ sau sinh..................................................................26  
1.1.3. Dựa vào cộng đồng .........................................................................................26  
1.1.4. Nguồn lực hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho PNSS ..............................................30  
1.1.5. Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho  
PNSS nông thôn.........................................................................................................32  
1.2. Lý thuyết ứng dụng cho nghiên cứu..............................................................36  
1.2.1. Lý thuyết nhu cầu.............................................................................................36  
1.2.2. Lý thuyết hệ thống ...........................................................................................39  
1.3. Mô hình phát triển cộng đồng từ tiếp cận nhóm chức năng ........................41  
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KẾT NỐI NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG  
ĐỒNG TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ CHO PHỤ NỮ  
SAU SINH XÃ NHÂN BÌNH ..................................................................................46  
2.1. Thực trạng chăm sóc sức khoẻ và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của phụ nữ  
sau sinh ở xã Nhân Bình..........................................................................................46  
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và đặc điểm của phụ nữ sau sinh ở xã Nhân  
Bình...........................................................................................................................46  
II  
2.1.2. Thực trạng nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ của PNSS ở xã Nhân Bình..............65  
2.2. Nguồn lực của cộng đồng xã Nhân Bình trong việc chăm sóc sức khoẻ cho  
phụ nữ sau sinh........................................................................................................69  
2.3. Cách thức thực hiện kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong việc hỗ trợ  
chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ sau sinh ở xã Nhân Bình.......................................88  
2.3.1. Thực trạng các biện pháp hỗ trợ của nguồn lực trong việc hỗ trợ chăm sóc sức  
khỏe cho phụ nữ sau sinh ở xã Nhân Bình .................................................................88  
2.3.2. Huy động nguồn lực của cộng đồng trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho  
phụ nữ sau sinh ở xã Nhân Bình.................................................................................96  
CHƯƠNG 3 : ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ HƯỚNG TỚI ỨNG DỤNG  
MÔ HÌNH KẾT NỐI NGUỒN LỰC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TIẾP CẬN  
NHÓM CHỨC NĂNG TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ  
CHO PHỤ NỮ SAU SINH Ở XÃ NHÂN BÌNH...................................................106  
3.1. Đề xuất các giải pháp kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong việc hỗ  
trợ chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ sau sinh ở xã Nhân Bình...............................106  
3.1.1. Tập huấn về công tác xã hội cho những người phụ trách trong lĩnh vực chăm  
sóc sức khỏe cho phụ nữ sau sinh.............................................................................106  
3.1.2. Phát triển vai trò của cộng tác viên cộng đồng cấp xã trong hỗ trợ chăm sóc  
sức khỏe cho phụ nữ sau sinh...................................................................................108  
3.1.3. Phát triển vai trò của nhân viên công tác xã hội vào việc kết nối nguồn lực  
dựa vào cộng đồng trong hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ sau sinh .................109  
3.2. Hướng tới ứng dụng mô hình kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng tiếp cận  
nhóm chức năng trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ sau sinh ở xã  
Nhân Bình ..............................................................................................................110  
KẾT LUẬN ............................................................................................................121  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................125  
PHỤ LỤC...............................................................................................................130  
III  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
TỪ VIẾT TẮT  
NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ  
Phụ nữ sau sinh  
PNSS  
LHPN  
CSSK  
Liên hiệp phụ nữ  
Chăm sóc sức khoẻ  
UBND  
Uỷ ban nhân dân  
CTXH  
Công tác xã hội  
KHHGĐ  
DS-KHHGĐ  
Kế hoạch hoá gia đình  
Dân số-Kế hoạch hóa gia đình  
DS/SKSS/KHHGĐ Dân số/Sức khoẻ sinh sản/Kế hoạch hoá gia đình  
CNH-HĐH  
Công nghiệp hoá-hiện đại hoá  
MDGs  
NGOs  
Millennium Development Goals  
Non-governmental organizations  
IV  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
TRANG  
Bảng 1.1: Sự khác biệt trong nhận thức cũ về chăm sóc sức khỏe và nhận  
thức mới về chăm sóc sức khỏe  
48  
Bảng 2.1: Số lượng PNSS ở các xóm ở địa phuơng  
Bảng 2.2: Số lần sinh con của PNSS ở địa phương  
49  
49  
58  
Bảng 2.3: Sự hiểu biết về thông tin kiến thức chăm sóc sức khoẻ của  
PNSS tham gia nghiên cứu  
Bảng 2.4: Số lượng PNSS tham gia nghiên cứu bị trầm cảm  
63  
64  
Bảng 2.5: Tương quan giừa tần suất đi khám sức khoẻ sau sinh với độ tuổi  
của PNSS ở xã Nhân Bình (%)  
Bảng 2.6: Mức độ cần thiết được hỗ trợ những nhu cầu về chăm sóc sức  
khoẻ sau sinh của phụ nữ tham gia nghiên cứu  
67  
76  
Bảng 2.7: Các tổ chức hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho PNSS xã Nhân Bình  
(%)  
Bảng 2.8: Các tổ chức hỗ trợ khi PNSS gặp phải khó khăn sau sinh (%)  
77  
78  
Bảng 2.9: Vai trò của các tổ chức trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho  
PNSS ở xã Nhân Bình  
Bảng 2.10: Mức độ cần thiết kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong  
việc hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cho PNSS (%)  
88  
98  
99  
Bảng 2.11: Mức độ sẵn sàng tham gia của các tiểu hệ thống trong việc hỗ  
trợ chăm sóc sức khỏe cho PNSS qua phỏng vấn sâu  
Bảng 2.12: Sự tham gia vào mô hình chăm sóc sức khoẻ của PNSS xã Nhân  
Bình (%)  
Bảng 3.1: Kế hoạch thực hiện mô hình kết nối nguồn lực dựa vào cộng  
đồng tiếp cận nhóm chức năng trong việc hỗ trợ chăm sóc sức  
khoẻ cho PNSS ở xã Nhân Bình  
112  
114  
Bảng 3.2: Kế hoạch đơn vị tham gia thực hiện mô hình kết nối nguồn lực  
dựa vào cộng đồng tiếp cận nhóm chức năng trong việc hỗ trợ  
chăm sóc sức khoẻ cho PNSS  
Bảng 3.3: Thời gian tập huấn mô hình tại xã Nhân Bình  
115  
V
Biểu đồ 2.1:  
Biểu đồ 2.2:  
Biểu đồ 2.3:  
Biểu đồ 2.4:  
Biểu đồ 2.5:  
Biểu đồ 2.6:  
Biểu đồ 2.7:  
Biểu đồ 2.8:  
Độ tuổi của PNSS tham gia nghiên cứu  
49  
50  
Trình độ học vấn của PNSS tham gia nghiên cứu  
Tình trạng sống chung của PNSS tham gia nghiên cứu  
Nghề nghiệp của PNSS tham gia nghiên cứu  
51  
52  
Đặc điểm về thu nhập của PNSS tham gia nghiên cứu  
Những thay đổi về sinh lý sau sinh của PNSS tham gia nghiên cứu  
Những thay đổi về tâm lý của PNSS tham gia nghiên cứu  
53  
54  
557  
Sức khoẻ của PNSS tham gia nghiên cứu khi độ tuổi của con nhỏ hơn 24 59  
tháng tuổi  
Biểu đồ 2.9:  
Vấn đề sức khoẻ sau sinh của PNSS tham gia nghiên cứu  
62  
64  
66  
70  
73  
Biểu đồ 2.10: Tần suất đi khám sức khoẻ sau sinh của PNSS tham gia nghiên cứu  
Biểu đồ 2.11: Nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ sau sinh của phụ nữ tham gia nghiên cứu  
Biểu đồ 2.12: Hoạt động chăm sóc sức khoẻ của PNSS xã Nhân Bình  
Biểu đồ 2.13: Các thành viên gia đình chăm sóc PNSS tham gia nghiên cứu  
Biểu đồ 2.14: Nguồn cung cấp thông tin về chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho phụ nữ tham 74  
gia nghiên cứu  
Biểu đồ 2.15: Mức độ sẵn sàng chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho phụ nữ của các thành 79  
viên trong gia đình  
Biểu đồ 2.16: Mức độ sẵn sàng chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho phụ nữ của cán bộ phụ 80  
nữ thôn  
Biểu đồ 2.17: Đánh giá của PNSS tham gia nghiên cứu về mức độ tham gia của các 82  
nguồn lực hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ sau sinh vào các hoạt động chăm sóc  
sức khoẻ sau sinh được tổ chức tại địa phương  
Biểu đồ 2.18: Sự đánh giá về nguồn lực vật chất ở địa phương của PNSS  
Biểu đồ 2.19: Số lượng y cụ trong gia đình của PNSS  
84  
85  
86  
87  
87  
37  
Biểu đồ 2.20: Sự sẵn sàng chia sẻ y cụ cho cộng đồng của PNSS  
Biểu đồ 2.21: Sự sẵn sàng chia sẻ giấy vệ sinh cho cộng đồng của PNSS  
Biểu đồ 2.22: Nguồn cung cấp giấy vệ sinh  
Hình 1.1:  
Tháp nhu cầu của Maslow  
Sơ đồ 3.1:  
Mô hình kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong việc hỗ trợ chăm sóc 118  
sức khoẻ cho PNSS xã Nhân Bình  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Mang thai và sinh đẻ là một quá trình sinh lý bình thường nhưng lại tiềm ẩn  
nhiều nguy cơ đối với sức khỏe, sự sống còn của cả mẹ và thai nhi, và có thể ảnh  
hưởng đến hạnh phúc gia đình. Chăm sóc sau sinh là các yếu tố quan trọng nhằm  
đảm bảo cho sức khoẻ bà mẹ. [25, tr.24]  
Theo Tổ chức y tế thế giới, có khoảng 60% tử vong bà mẹ xảy ra vào ngày  
thứ nhất sau sinh. Khoảng 13% và 4% tỷ lệ tử vong mẹ xảy ra vào tuần thứ nhất và  
tuần thứ hai sau sinh [32]. Ở Việt Nam theo số liệu của Bộ y tế năm 2009, tỷ lệ tử  
vong bà mẹ (MMR) là 69/100.000 trẻ đẻ sống. Hai tuần đầu sau sinh là khoảng thời  
gian mà tần suất xuất hiện của các biến chứng sau sinh phổ biến nhất. Các biến  
chứng sau sinh có thể xảy ra đối với sản phụ bao gồm: chảy máu, bế sản dịch,  
nhiễm khuẩn sinh dục và tiết niệu, rối loạn tâm thần sau khi sinh…Nếu giai đoạn  
ngay sau sinh, các sản phụ và trẻ sơ sinh được chăm sóc một cách khoa học sẽ tạo  
tiền đề tốt cho sức khoẻ của mẹ-con, góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong và bệnh tật,  
đảm bảo sự an toàn, phòng tránh hoặc phát hiện sớm những biến chứng sau sinh,  
giúp bà mẹ phục hồi sức khoẻ. Tuy nhiên hầu hết các hoạt động chăm sóc sức khoẻ  
sau sinh hiện nay mới chỉ được chú trọng trong thời gian các bà mẹ nằm viện (24-  
48 giờ đầu tiên). Các thăm khám sau sinh kể từ khi xuất viện cho đến hết thời kỳ  
hậu sản (42 ngày) hiện chưa được quan tâm. Công tác chăm sóc sau sinh bị xem nhẹ  
làm giảm cơ hội nâng cao sức khoẻ bà mẹ cũng như làm chậm quá trình phát hiện  
sớm và điều trị bệnh tật cho họ. Kiến thức và thực hành về chăm sóc sau sinh của bà  
mẹ hiện còn mang tính kinh nghiệm và tự phát [3].  
Trong khuôn khổ của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs), sức  
khoẻ bà mẹ là một quan tâm quan trọng của Bộ Y tế và Chính phủ Việt Nam. Đảng  
và nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giới,  
nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong xã hội. Một trong những nỗ lực quan trọng  
đó là giúp phụ nữ được thụ hưởng và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn  
2
diện, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong đó có chăm sóc sức khoẻ sau  
sinh, chấm dứt các hình thức suy dinh dưỡng, giải quyết nhu cầu dinh dưỡng của  
phụ nữ mang thai và đang cho con bú. Nhưng phụ nữ nông thôn nhất là những phụ  
nữ nông thôn ở những hộ nghèo thường không có đủ chất dinh dưỡng mà họ cần,  
khiến cho việc đáp ứng những đòi hỏi của cơ thể trong quá trình mang thai và cho  
con bú trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa phân biệt đối xử trên cơ sở giới làm hạn chế  
khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, giáo dục cũng như các nguồn thu nhập,vì  
vậy càng khiến phụ nữ thiếu thốn về mặt dinh dưỡng [51].  
Theo điều tra của Bộ y tế có tới 90% phụ nữ nông thôn không biết chăm sóc  
sức khoẻ y tế. Hiện nay, tỷ lệ bác sỹ tuyến xã chiếm khoảng 6,5 bác sỹ/vạn dân  
nhưng trên thực tế có những tỉnh tỷ lệ này chỉ đạt 1,1 bác sỹ/vạn dân. Trong khi đó  
có 70% dân số làm nông nghiệp, điều này cho thấy việc chăm sóc sức khoẻ nói  
chung và chăm sóc sức khoẻ sinh sản nhất là chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho phụ  
nữ tại các vùng nông thôn còn nhiều bất cập [3]. Một trong những lý do mà phụ nữ  
ở nhiều vùng nông thôn chưa tiếp cận được các dịch vụ y tế hay chăm sóc sức khoẻ  
sau sinh là do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả. Mặt khác, họ không có khả năng  
về kinh tế, tài chính để tiếp cận và hưởng thụ thành quả của các dịch vụ y tế và  
chăm sóc sức khoẻ sau sinh. Theo Trung ương Hội LHPN Việt Nam, có đến gần  
50% phụ nữ nông thôn phải trở lại làm việc, lao động, sản xuất khá sớm sau khi  
sinh, điều này dẫn đến sự hạn chế về điều kiện nghỉ dưỡng, chăm sóc sau sinh và  
nuôi con bằng sữa mẹ [42].  
Bên cạnh đó, sau khi sinh thì phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói  
riêng gặp phải những vấn đề sau sinh như trầm cảm sau sinh, mất ngủ sau sinh, bị  
khủng hoảng tâm lý sau sinh…Thống kê của bệnh viện Từ Dũ cho thấy có hơn 40%  
phụ nữ trầm cảm sau sinh có ý định tự tử [10]. Theo một nghiên cứu được công bố  
từ năm 2015, khảo sát trên 600 PNSS có chồng tại thành phố Đà Nẵng cho thấy tỷ  
lệ phụ nữ bị trầm cảm sau sinh là 19,3% [29, tr.34-42]. Theo tác giả Lương Bạch  
Lan (2009), tỷ lệ mắc trầm cảm ở PNSS là 11,6%, các yếu tố liên quan làm gia tăng  
tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày, không khoẻ khi mang  
3
thai, tử vong sơ sinh,…Tuy nhiên, nhiều PNSS bị trầm cảm nhưng không được  
chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời. Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng  
đến sức khỏe bà mẹ, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ.  
Một trong những hậu quả trầm trọng của trầm cảm sau sinh là bà mẹ có thể xuất  
hiện những ý nghĩ, hành vi tự sát, tự hủy hoại bản thân và có thể giết chết đứa trẻ  
vừa mới sinh [22, tr.104-108].  
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và đòi hỏi của thực tiễn, rất cần sự chung  
tay góp sức từ cả phía gia đình và cộng đồng chăm sóc sức khoẻ cho PNSS để góp  
phần phòng ngừa và giảm thiểu những hậu quả do trầm cảm sau sinh mang lại, tôi  
lựa chọn nghiên cứu: “Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong chăm sóc sức  
khỏe cho phụ nữ sau sinh tại xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” làm đề  
tài luận văn thạc sỹ.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe sau sinh của phụ nữ nói chung đã ở tất cả  
các quốc gia trên thế giới.  
Trong phần lịch sử nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin chia các tài liệu nghiên  
cứu theo các vấn đề cụ thể như sau:  
Các nghiên cứu về phụ nữ nông thôn  
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có khá nhiều công trình, bài viết  
về phụ nữ nông thôn trong chăm sóc sức khỏe sinh sản được công bố. Vấn đề về  
phụ nữ nông thôn, sức khoẻ sinh sản của họ được đề cập khá sâu sắc với nhiều góc  
độ, cấp độ khác nhau. Sau đây chúng ta sẽ bàn đến cụ thể hơn các công trình nghiên  
cứu tiêu biểu liên quan đến phụ nữ nông thôn với chăm sóc sức khoẻ sinh sản.  
Công trình nghiên cứu “Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương  
thức làm chương trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt  
Nam” của Christian Salazar Volkmann (2004) đề cập đến vấn đề quyền của phụ nữ.  
Qua nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ những cơ hội và thách thức cơ bản liên quan  
đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trên cơ sở  
tiếp cận từ quyền con người. Tác giả công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng  
4
thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ mang lại động lực cần thiết để họ tham gia  
có hiệu quả vào các hoạt động xã hội [8].  
Nghiên cứu của Hoàng Bá Thịnh: “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong công  
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia,  
Hà Nội. Qua nghiên cứu này tác giả nhấn mạnh vai trò của phụ nữ nông thôn trong  
sản xuất nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ thể chất và tinh thần  
của phụ nữ nông thôn. Trong đó tác giả đã phân tích những đóng góp quan trọng  
của phụ nữ nông thôn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn. Qua đó kiến  
nghị một số giải pháp chủ yếu về phát triển chuyên môn - kỹ thuật và nâng cao sức  
khỏe cho phụ nữ nông thôn [36].  
Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000) “Điều tra cơ bản về  
gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa”. Đề tài này chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia  
đình như quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình  
đẳng giới trong gia đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt. Nếu trước  
đây người mang lại thu nhập chính cho gia đình đồng thời cũng là người có uy  
quyền tối cao khi đưa ra các quyết định lớn trong gia đình là người đàn ông trong  
gia đình, thì ngày nay vị thế của người phụ nữ được khẳng định hơn đối với các vấn  
đề này [43].  
Bài viết “Ứng xử của gia đình nông thôn trong phòng và chữa bệnh” trong  
cuốn “Những nghiên cứu chọn lọc về Xã hội học nông thôn (2004), tác giả Trịnh  
Hòa Bình đã nêu khá rõ tình hình chăm sóc sức khỏe của các gia đình nông thôn:  
Cách xử lý và lựa chọn loại hình dịch vụ y tế của gia đình nông thôn trong những  
lúc ốm đau không chỉ phản ánh khả năng thực tế của gia đình trong việc chăm sóc  
sức khỏe mà còn thể hiện trình độ văn hóa y tế. Trong điều kiện văn hóa y tế thấp  
thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe của gia đình cũng thấp và cách ứng xử của họ cũng  
rất đơn giản. Ngược lại, nếu văn hóa y tế cao thì nhu cầu được chăm sóc sức khỏe  
của họ cũng cao và cách thức lựa chọn hình thức y tế của họ cũng hợp lý và hiệu  
quả hơn [4].  
5
Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, (2000) với tên gọi  
“Phụ nữ, giới và phát triển” cho rằng phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất trên mọi  
lĩnh vực ngay cả việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Phụ nữ hiếm khi trao đổi với  
chồng về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Trên thực tế họ dành sự chăm sóc  
cho chồng và cho con, còn bản thân họ thì ít nhận được sự chăm sóc của người  
khác, mặc dù trong thời gian sau sinh cũng đã nhận được sự chăm sóc nhưng cách  
chăm sóc còn mang đậm nét tập quán, truyền thống. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra  
nhận định mức độ bình đẳng giới trong kinh tế, xã hội không tỷ lệ thuận với mức độ  
bình đẳng trong chăm sóc sức khoẻ sau sinh [1].  
Các nghiên cứu về kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng  
Luận văn thạc sĩ của Lưu Thu Hiền năm 2015 với đề tài: “Nhu cầu hỗ trợ  
chăm sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ nông thôn từ góc độ công tác xã hội  
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội)” đã  
ứng dụng hoạt động công tác xã hội nhóm để giải quyết nhu cầu hỗ trợ chăm sóc  
sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ nông thôn [17].  
Luận văn thạc sĩ “Liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người  
dân giảm nghèo (Nghiên cứu trường hợp tại Xã An Phú – Huyện Mỹ Đức – Thành  
phố Hà Nội)” của Nguyễn Thị Phúc năm 2015, trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ ra đối tượng nghiên cứu (người nghèo tại  
xã An Phú) cần được đáp ứng những nhu cầu hỗ trợ giải quyết vấn đề; trong cộng  
đồng có rất nhiều các hệ thống nguồn lực có thể tham gia vào quá trình hỗ trợ đối  
tượng (người dân giảm nghèo) như chính quyền địa phương, hàng xóm láng giềng,  
Nhân viên Công tác xã hội, Hội nông dân, Hội LHPN, Đoàn thanh niên, Nhà  
chùa……; sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng để xây dựng hoạt động  
liên kết các hệ thống nguồn lực nhằm trợ giúp đối tượng (người dân giảm nghèo tại  
Xã An Phú) [27].  
Nghiên cứu về đánh giá tính khả thi trong việc sử dụng cách tiếp cận giải  
quyết vấn đề với cán bộ quản lý y tế tại địa phương trong tăng cường việc áp dụng  
hướng dẫn quốc gia trong chăm sóc trẻ sơ sinh ở khu vực miền núi Việt Nam do  
6
nhóm nghiên cứu trong bộ môn Y tế công cộng quốc tế, trường đại học y học nhiệt  
đới Liverpool, Anh phối hợp với đại học Bắc Kinh-Trung Quốc và trường đại học Y  
tế công cộng-Việt Nam tiến hành là một nghiên cứu năm 2012 đã chỉ ra đã có sự  
huy động tham gia của nguồn lực ở cộng đồng, cán bộ quản lý tại địa phương ủng  
hộ cách tiếp cận giải quyết vấn đề có sự tham gia của cộng đồng. Ngoài ra huy động  
sự tham gia của cô đỡ thôn bản và y tế thôn bản có thể giúp xây dựng cầu nối với  
người dân tại địa phương trong việc chăm sóc bà mẹ và chăm sóc trẻ sơ sinh.  
Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập số liệu: 28 cuộc  
phỏng vấn sâu với các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý y tế địa phương,  
nhân viên y tế và đại diện cộng đồng; 4 cuộc thảo luận nhóm đối với những bà mẹ  
có con dưới 1 tuổi và người thân trong gia đình; phân tích tài liệu và số liệu thứ cấp.  
Nghiên cứu cho biết hiện tỉnh Đăk Nông có dự án chăm sóc bà mẹ và trẻ em dựa  
vào cộng đồng. Đây là điểm thuận lợi giúp cho các dự án tương tự trong tương lai  
sử dụng các tiếp cận huy động sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên nghiên cứu  
này được tiến hành trong thời gian ngắn để cung cấp thông tin cho việc triển khai  
toàn diện nên mang tính khả thi không cao và nghiên cứu mới chỉ thực hiện ở nhóm  
dân tộc thiểu số [12].  
Các nghiên cứu về phụ nữ sau sinh về mặt y sinh học – chăm sóc sau  
sinh về mặt y tế  
Trong Luận án nghiên cứu Tiến Sĩ của tác giả Phạm Phương Lan – Bộ  
giáo dục đào tạo và Bộ y tế công bố năm 2014, đã nghiên cứu về “Thực trạng  
chăm sóc sau sinh của bà mẹ ở hai bệnh viện trên địa bàn Hà Nội và đánh giá mô  
hình chăm sóc sau sinh tại nhà”. Trong nghiên cứu này đã đưa ra xem xét chi tiết,  
sâu sắc về các nội dung chăm sóc sau sinh cho bà mẹ và trẻ em về mặt y tế. Về kết  
quả nghiên cứu tác giả đã mô tả thực trạng kiến thức thực hành việc chăm sóc sau  
sinh đối với chị em phụ nữ và nhu cầu chăm sóc sau sinh của họ như thế nào;  
Nghiên cứu cũng xem xét thực trạng chăm sóc sau sinh tại nhà cho bà mẹ trẻ em.  
Ngoài ra tác giả cũng đưa ra nội dung chăm sóc sau sinh theo hướng dẫn quốc  
gia: “Từ ngày thứ hai đến 6 tuần nếu bà mẹ xuất viện các cán bộ y tế thực hiện  
7
chăm sóc cần thực hiện quy trình:  
Về phía người mẹ:  
+ Vệ sinh hàng ngày  
+ Chăm sóc vú  
+ Tư vấn: Giải quyết vấn đề tâm lý (nếu có)…  
Luận án đi sâu vào nghiên cứu về những nhu cầu của PNSS là chăm  
sóc về y tế như vết mổ; chế độ dinh dưỡng, cách cho con bú ….Luận án cũng  
đưa ra các mô hình chăm sóc sau sinh tại một số nước trên thế giới và để xem  
xét một cách toàn diện về thực trang ở Việt Nam. Luận án đã đánh giá nhu  
cầu hiện tại của PNSS và mức độ đáp ứng với nhu cầu trên thực tế của họ.  
Luận án của tác giả đã thành công trong nghiên cứu về Thực trạng  
chăm sóc bà mẹ sau sinh ở hai bệnh viện lớn và đánh giá mô hình chăm sóc  
sau sinh tại nhà. Trong khuôn khổ của đề tài tác giả Phạm Phương Lan tập  
trung quan tâm về việc chăm sóc sau sinh cho bà mẹ và bé về mặt y sinh học  
một cách khoa học và sâu sắc. Trong giới hạn của đề tài tác giả chưa đi  
nghiên cứu sâu về vấn đề nguồn lực hỗ trợ, chia sẻ về mặt tinh thần cũng như chưa  
đi sâu vào vấn đề nguồn lực xem xét những khó khăn và hỗ trợ về tâm lý của  
PNSS [23].  
Trong nghiên cứu “Thực trạng quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản  
bà mẹ trẻ em tại Việt Nam”. Nghiên cứu này do Trường Đại học y tế công cộng tiến  
hành năm 2011 nhằm tìm hiểu thực trạng thực hiện một số quy định liên quan đến  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ nhằm đưa ra các khuyến nghị, tăng  
cường khả năng tiếp cận công bằng với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ có  
chất lượng [11].  
“Tập quán chăm sóc sau sinh của phụ nữ và các yếu tố văn hoá – xã hội liên  
quan tại huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên” của Lê Minh Thi, tạp chí Y tế công cộng  
tháng 9/2006, số 6. Đây là một nghiên cứu dân tộc học dùng phương pháp phỏng  
vấn sâu, phỏng vấn không chính thức và quan sát có tham gia 20 bà mẹ trong thời  
kỳ sau sinh, 6 người thân và 3 cán bộ y tế nhằm tìm hiểu các tập quán chăm sóc sau  
8
sinh cho các bà mẹ cũng như các yếu tố văn hoá - xã hội ảnh hưởng đến các tập  
quán đó tại huyện Ân Thi, Hưng Yên. Các tập quán về chăm sóc sau sinh còn tồn  
tại khá phổ biến trong cộng đồng nông thôn. Những tập quán này chịu ảnh hưởng rõ  
rệt của các yếu tố văn hoá - xã hội. Các niềm tin, tập quán và những người phụ nữ  
trong gia đình đóng vai trò quan trọng đối với các hành vi kể trên. Khuyến nghị bao  
gồm thay đổi cách nhìn của các cán bộ y tế về văn hoá của bà mẹ chăm sóc sau  
sinh, quan tâm đến yếu tố văn hoá- xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cũng như khả  
năng cung cấp thông tin, giáo dục cho phụ nữ về vai trò của chăm sóc sau sinh kết  
hợp các hình thức hiện đại và cổ truyền [35].  
Các nghiên cứu về những biến đổi về tâm lý của phụ nữ sau sinh con  
Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra Phụ nữ sau sinh gặp một số biến đổi về tâm lý  
gây khó khăn đến cuộc sống của họ. Trong tạp chí Tâm lý học, số 4 (121), 4-2009  
tác giả Nguyến Linh Trang Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ, Đại học Quốc gia Hà  
Nội đã đưa ra mốc thời gian cho thấy việc nghiên cứu về sự biến đổi của PNSS về  
mặt tâm lý đã có từ thời cổ đại qua các tác phẩm của nhà y học Hippocrates đã có  
những dấu hiệu nhận thấy phụ nữ sau sinh có những biến đổi về tâm lý và đến đầu  
thế kỷ XIX không chỉ có các nhà y học nghiên cứu mà còn có các nhà tâm thần học,  
xã hội học quan tâm. Trong bài nghiên cứu này tác giả cũng đưa ra 3 mức độ biến  
đổi tâm lý mà phụ nữ sau sinh hay gặp phải do kết quả nghiên cứu của các  
nhà nghiên cứu trước đó. Dù ở mức độ nào người phụ nữ sau sinh đều cần  
được hỗ trợ , chia sẻ về kiến thức, kinh nghiệm và tâm lý để vượt qua giai đoạn khó  
khăn của mình. Tác giả cũng đưa ra biểu hiện rõ nhất của sự biến đổi tâm lý ở  
người phụ nữ sau sinh là rất dễ khóc: 33,3% dễ khóc, 24,1% lo sợ, 16,6% cáu gắt,  
9,6% tủi thân, 16,6% là khác. Trong bài viết tác giả cũng phân tích những  
chia sẻ của các bà mẹ về tâm trạng sau sinh và nhận thấy trong 30 phụ nữ có  
độ tuổi dưới 35 có 18 bà mẹ (chiếm 60%) đã từng trải qua trạng thái “Cơn  
buồn thoáng qua sau sinh”, 5 bà mẹ (chiếm 16,6%) đã từng mắc trầm cảm sau sinh,  
một bà mẹ mắc chứng loạn thần sau sinh. Tác giả cũng nhận định gia đình người  
thân, đặc biệt người chồng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tâm lý cho phụ nữ  
9
sau sinh vượt qua giai đoạn này. Bài nghiên cứu dưới góc độ xã hội học đã chỉ ra  
những khó khăn về tâm lý của PNSS. Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vai trò  
của người chồng trong việc hỗ trợ, chia sẻ những khó khăn về tâm lý cũng như  
những người thân xung quanh chưa được nhận thức một cách toàn diện [39].  
Trong bài nghiên cứu của Ths. BS Nguyễn Ngọc Quang về “Rối loạn  
tâm thần thời kỳ mang thai và sau sinh” trên báo suckhoevadoisong.vn đã đăng  
ngày 25/10/2012 đã đưa ra những vấn đề phụ nữ sau sinh thương gặp phải dưới góc  
độ y sinh học. Trong đó bác sỹ có nhắc đến những biểu hiện rối loạn tâm căn  
thời kỳ mang thai và khi bàn đến vấn đề điều trị có nhắc đến liệu pháp tâm lý  
nâng đỡ, liệu pháp gia đình chủ yếu là giải thích cho người chồng [28].  
Công trình mới được xuất bản: “PNSS rối nhiễu tâm lý và biện pháp hỗ trợ”  
của các tác giả: Trần Thị Minh Đức - Bùi Thị Hồng Thái - Ngô Xuân Điệp. Nghiên  
cứu được thực hiện trên 1.134 PNSS sinh con trong vòng 12 tháng, sống tại Hà Nội,  
Đà Nẵng và TP HCM. Công trình đã minh chứng nhiều PNSS gặp phải vấn đề rối  
nhiễu tâm lý (các dạng rối loạn lo âu và trầm cảm). Trong đó chỉ ra thực trạng và  
mức độ, biểu hiện của rối nhiễu tâm lý và đưa ra các biện pháp cách ứng phó, cũng  
như sự hỗ trợ, can thiệp cần thiết cho những PNSS có rối nhiễu tâm lý sau sinh [13].  
Luận văn thạc sĩ tâm lý học của Lê Thị Thu Quỳnh: “Mối quan hệ giữa yếu  
tố văn hoá, chấn thương tâm lý với các nguy cơ trầm cảm sau sinh ở các bà mẹ tại  
huyện Thường Tín, Hà Nội năm 2015, trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia  
Hà Nội nghiên cứu 134 bà mẹ mang thai từ 6-9 tháng và sau khi sinh 3 tháng tại  
Thường Tín-Hà Nội đến đăng ký khám thai định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sức  
khoẻ bà mẹ và trẻ em ban đầu ở tuyến xã. Nghiên cứu chỉ ra thực trạng trầm cảm  
của các bà mẹ trước sinh (6-9 tháng) và sau sinh (3 tháng) và chỉ ra rằng yếu tố văn  
hoá xã hội, các chấn thương tâm lý có nguy cơ ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm  
sau sinh ở các bà mẹ. Nghiên cứu chưa đưa ra các biện pháp hỗ trợ để phòng tránh  
trầm cảm sau sinh cho PNSS [29].  
Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học xã hội, y  
học và xã hội học về phụ nữ, phụ nữ nông thôn, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chăm  
10  
sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ nông thôn, kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng  
chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét sau đây. Thứ nhất, cho đến nay, nhiều công  
trình nghiên cứu về các chủ đề này đã được công bố ở trong nước và trên thế giới.  
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản/chăm sóc sức khoẻ  
sinh sản/chăm sóc sức khoẻ sau sinh của phụ nữ nông thôn, kết nối nguồn lực dựa  
vào cộng đồng vẫn còn khá hạn chế về số lượng, chỉ mới đề cập đến vấn đề chăm  
sóc sức khỏe sau sinh dưới tiếp cận y tế và chỉ có một vài nghiên cứu sử dụng  
phương pháp kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng đối với một số cộng đồng như  
cộng đồng nghèo, phụ nữ nghèo,… và chưa đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe  
sau sinh dưới tiếp cận công tác xã hội với vai trò kết nối nguồn lực dựa vào cộng  
đồng. Bên cạnh đó, mặc dù có nhiều nghiên cứu nhằm nâng cao việc chăm sóc sức  
khỏe cho phụ nữ nói chung và dành cho PNSS nói riêng được triển khai đa dạng  
nhưng có rất ít nghiên cứu nhấn mạnh đến vai trò kết nối nguồn lực của nhân viên  
CTXH khi thực hiện các hoạt động hỗ trợ cộng đồng. Như vậy: Đối tượng là phụ  
nữ sau sinh được nghiên cứu cơ bản trên lĩnh vực y học và xã hội học là chủ yếu.  
Phụ nữ nói chung được quan tâm nhiều trong các vấn đề như: Chăm sóc sức khỏe  
sinh sản; kế hoạch hóa gia đình, luật bạo lực gia đình… Trong thực tế đã có nhiều  
nghiên cứu đề cập đến những biến đổi tâm lý của phụ nữ sau sinh ở mức độ khác  
nhau và có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bà mẹ và trẻ em. Phản ánh  
thực tế hạn chế nhận thức cũng như quan tâm chưa đúng mức về chăm sóc phụ nữ  
sau sinh về mặt tâm lý của người chồng và những người thân xung quanh. Công tác  
xã hội dành nhiều chuyên đề, nhiều thảo luận dành cho phụ nữ, phụ nữ nghèo; phụ  
nữ bị buôn bán…Tuy nhiên đề tài nói về công tác xã hội đặc biệt là phát triển cộng  
đồng trong công tác xã hội đối với phụ nữ sau sinh chưa được đề cập tới. Giai đoạn  
sau sinh cũng chưa được xem xét như một tình thế hay hoàn cảnh nảy sinh vấn đề  
cần công tác xã hội hỗ trợ.  
Thêm nữa, các công trình nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản/chăm sóc sức  
khoẻ sau sinh của phụ nữ nông thôn ít dựa trên các điều tra, khảo sát thực tế một  
cách có hệ thống. Thứ hai, chưa có một nghiên cứu nào về sức khoẻ sinh sản/chăm  
11  
sóc sức khoẻ sinh sản/chăm sóc sức khoẻ sau sinh của phụ nữ nông thôn dựa vào  
cộng đồng ở trên địa bàn xã Nhân Bình. Vì những lý do này, việc triển khai đề tài  
“Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe cho PNSS tại xã  
Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” là thực sự cần thiết nhằm bổ sung  
những khoảng trống mà các nghiên cứu đi trước còn để lại.  
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu  
3.1. Ý nghĩa khoa học  
Trong đề tài này vận dụng những lý thuyết của một vài ngành khoa học gần  
gũi như: Xã hội học, tâm lý học và ứng dụng một số lý thuyết trong công tác xã hội,  
đặc biệt là lý thuyết về phát triển cộng đồng để tìm hiểu, đánh giá thực trạng, đánh  
giá nhu cầu và nguồn lực để từ đó nhằm định hướng xây dựng một mô hình kết nối  
nguồn lực dựa vào cộng đồng tiếp cận nhóm chức năng trong việc hỗ trợ chăm sóc  
sức khoẻ sau sinh cho phụ nữ nông thôn tại xã Nhân Bình, huỵên Lý Nhân, tỉnh Hà  
Nam góp phần thể hiện vai trò của công tác xã hội.  
3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Trong quá trình thực hiện, đề tài nghiên cứu: “Kết nối nguồn lực dựa vào  
cộng đồng trong chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho phụ nữ nông thôn tại xã Nhân  
Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam” đã thực sự mang lại một số ý nghĩa thực tiễn  
trong cuộc sống.  
Đối với cá nhân người PNSS ở nông thôn: Nâng cao nhận thức của chính bản  
thân người PNSS tại địa phương về tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ sau  
sinh từ đó cũng tác động không nhỏ đến nhận thức của người chồng, của gia đình,  
của cộng đồng địa phương trong các vấn đề chăm sóc sức khoẻ sau sinh cho người  
phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn.  
Từ những số liệu và kết quả điều tra nghiên cứu của đề tài, hội LHPN là cơ  
quan đoàn thể xã hội gần nhất với chị em phụ nữ có những kế hoạch kết nối các  
nguồn lực để từ đó xây dựng kế hoạch kết nối nguồn lực có hiệu quả và thiết thực  
hơn, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương.  
Đối với chính quyền địa phương: Đề xuất thêm một số nhóm giải pháp trong  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 156 trang baolam 20480 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Kết nối nguồn lực dựa vào cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ sau sinh tại xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Na", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ket_noi_nguon_luc_dua_vao_cong_dong_trong_cham_soc.pdf