Mối quan hệ giữa tải trọng với năng suất và hiệu suất xử lý COD của hai kĩ thuật xử lý yếm khí nước thải giàu cặn hữu cơ

VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
Original article  
The Dependence of Removal Rate and Efficiency on COD  
Loading Rate in Two Anaerobic Systems Treating High  
Organic Suspended Wastewater  
Nguyen Truong Quan1,*, Vo Thi Thanh Tam1, Cao The Ha1,  
Le Van Chieu2, Tran Manh Hai3  
1Research Center for Environmental Technology and Sustainable Development (CETASD),  
VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Ha Noi, Vietnam  
2VNU Project Management Department, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
3 Institute of Environmental Technology, Vietnam Academy of Science and Technology (VAST),  
18 Hoang Quoc Viet, Hanoi, Vietnam  
Received 20 March 2018  
Revised 09 March 2019; Accepted 13 March 2019  
Abstract: The dependence of removal rate and efficiency on COD loading rate in two anaerobic  
systems using Internal Circulation (IC) and Modified Internal Circulation (MIC) models was  
evaluated for treatment of piggery waste in this study. Two systems were operated at the similar  
COD loading rate and retention times at room temperature when using anaerobic slugde  
concentration of 13.3 gVMLSS/l. Generally, both IC and MIC achieved the similar performances  
regarding total COD removal rate are in the range of 0.7 - 13.0 kgCOD/m3/day with influent COD  
loading rate of 1.0 - 20.0 kg/m3/day; soluble COD removal rate are in the range of 0.3 - 4.0  
kgCOD/m3/day with influent soluble COD of 0.6 - 7 kgCO/m3/day. Both IC and MIC showed the  
similar performance regarding total and soluble COD removal efficiencies, which are in the range  
of 69 - 71% and 65%, respectively. However, MIC is more advantaged in the aspects of system  
manufacturing and operation.  
Keywords: Loading rate, removal capacity, internal circulation, anaerobic.   
________  
Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
21  
VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
Mối quan hệ giữa tải trọng với năng suất và hiệu suất xử lý COD  
của hai kĩ thuật xử lý yếm khí nước thải giàu cặn hữu cơ  
Nguyễn Trường Quân1,*, Võ Thị Thanh Tâm1, Cao Thế Hà1,  
Lê Văn Chiều2, Trần Mạnh Hải3  
1Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ môi trường và Phát triển bền vững (CETASD),  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
2Ban Quản lý các Dự án, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
3Viện Công nghệ Môi trường, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,  
18 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 20 tháng 3 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 09 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 13 tháng 3 năm 2019  
Tóm tắt: Bài báo đánh giá mối quan hệ giữa tải trọng với năng suất và hiệu suất xử lý COD đối  
với công nghệ yếm khí cao tải bằng kĩ thuật tuần hoàn nội (IC) và tuần hoàn nội cải tiến (MIC) qui  
mô phòng thí nghiệm áp dụng xử lý nước thải chăn nuôi lợn. Hai hệ được vận hành ở điều kiện  
nhiệt độ thường với thời gian lưu nước, tải trọng COD đầu vào tương đương nhau và có mật độ  
bùn yếm khí ban đầu 13,3 g/l. Nhìn chung cả hai hệ IC và MIC có khả năng xử lý là tương đương  
nhau với năng suất xử lý COD tổng trong khoảng 0,7 - 13,0 kgCOD/m3/ngày với tải trọng COD  
vào từ 1,0 - 20,0 kg/m3/ngày; năng suất xử lý COD hòa tan trong khoảng 0,3 - 4,0  
kgCOD/m3/ngày với tải trọng COD vào 0,6 - 7,0 kgCO/m3/ngày. Cả hai hệ IC và MIC có hiệu  
suất xử lý COD tổng và hòa tan tương đương nhau dao động trong khoảng 69-71% và 65%. MIC  
có ưu điểm hơn so với hệ IC về khía cạnh chế tạo và vận hành.  
Từ khóa: Tải trọng, năng suất xử lý, tuần hoàn nội, yếm khí.  
1. Mở đầu  
Nước thải chăn nuôi thuộc loại nước thải có  
thành phần cặn hữu cơ cao, chứa nhiều hợp chất  
khó phân hủy sinh học và là một đối tượng rất  
khó xử lý. Kĩ thuật yếm khí luôn là sự lựa chọn  
đầu tiên đối với loại nước thải này. Theo  
Lettinga [1], hệ yếm khí là quá trình diễn ra  
chậm, tốc độ sinh trưởng vi khuẩn yếm khí thấp  
và năng suất xử lý kém so với kĩ thuật hiếu khí.  
Tuy nhiên các kĩ thuật yếm khí hiện đại gần đây  
được cải tiến như kĩ thuật tuần hoàn nội (IC -  
Internal Circulation) có thể chấp nhận tải trọng  
đầu vào từ vài chục đến hàng trăm  
kgCOD/m3/ngày với hiệu suất xử lý lên tới 70-  
90% [2, 3].  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
22  
N.T. Quan et al / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
23  
Kĩ thuật tuần hoàn nội hoạt động dựa trên  
nguyên tắc của hai bồn phản ứng yếm khí  
ngược dòng qua lớp đệm vi sinh (Upflow  
Anaerobic Sludge Blanket - UASB) xếp chồng  
lên nhau. Khí tách ra từ bộ phận tách pha bên  
dưới chuyển động lên phía trên vào khoang thu  
khí qua đường ống dẫn lên. Dòng khí chuyển  
động lên sẽ cuốn theo nước và bùn từ vùng  
phân hủy cao tải bên dưới. Sau khi tách khí,  
nước và vi sinh được đưa trở lại vào vùng phản  
ứng xuống đáy bể, hòa trộn với dòng vào qua  
đường ống dẫn xuống. Dòng bùn-nước quay  
ngược lại vùng phản ứng cao tải tạo ra dòng  
tuần hoàn liên tục trong cột phản ứng - đây là  
tính chất đặc trưng của kĩ thuật tuần hoàn nội.  
Kĩ thuật này được đánh giá rất cao cho năng  
suất xử lý khá lớn trên đơn vị thể tích, gấp tới  
75 lần so với kĩ thuật truyền thống (bồn phản  
ứng khuấy trộn hoàn toàn) và gấp 3 lần so với  
kĩ thuật UASB [4]. Do vậy, kĩ thuật này được  
lựa chọn để nghiên cứu đối với loại nước thải  
có thành phần cặn hữu cơ cao.  
2. Thực nghiệm  
2.1. Hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi qui mô  
phòng thí nghiệm  
Để đánh giá năng lực xử lý COD của kĩ  
thuật tuần hoàn nội, các thí nghiệm được tiến  
hành trên 02 hệ thí nghiệm: (1) Hệ IC - được  
thiết kế gồm 01 cột phản ứng có đường kính  
0,14m, cao 2m, ứng với thể tích V = 30 lít  
(Hình 1) và (2) Hệ MIC (Kĩ thuật tuần hoàn nội  
cải tiến – Modified Internal Circulation) - được  
thiết kế gồm 03 cột phản ứng và 01 cột lắng có  
đường kính 0,14m và cao 1m, ứng với tổng thể  
tích V = 52 lít (Hình 2). Hệ MIC được cải tiến  
từ kĩ thuật IC với mục đích làm giảm chiều cao  
từ 2-3 lần để dễ dàng chế tạo, vận hành và tăng  
cường khả năng tách bùn sau xử lý do bố trí  
thêm một cột lắng phía sau.  
Hai hệ IC và MIC được vận hành song  
song, đều ở điều kiện thường (không điều nhiệt)  
với thời gian lưu nước (24, 20, 16, 12, 10 và 6  
giờ) và giá trị COD đầu vào tương đương nhau,  
và có mật độ bùn yếm khí ban đầu là 13,3 g/l.  
Hình 1. Sơ đồ hệ thống thí nghiệm IC.  
Hình 2. Sơ đồ hệ thống thí nghiệm MIC.  
N.T. Quan et al / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
24  
Bảng 1. Thành phần nước thải đầu vào  
2.2. Lấy mẫu, phân tích mẫu và tính toán  
Nước thải được lấy từ các hộ nuôi lợn thịt ở  
thôn Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội. Điểm lấy  
mẫu là hố ga, lấy lúc rửa chuồng với tần suất  
lấy mẫu 1-3 lần/tuần. Mẫu được lọc cặn bằng  
rây có kích thước lỗ 1mm sau đó lưu vào bồn  
chứa, nước thải được kiểm tra các chỉ tiêu  
COD, TSS, hiệu chỉnh nhằm đảm bảo sự ổn  
định về thành phần và tải trọng COD. Ở chế độ  
khởi động (thời gian lưu thủy lực HRT=24h) cả  
hai hệ thí nghiệm được vận hành liên tục trong  
khoảng 2 tháng để vi sinh thích nghi, ở các chế  
độ tiếp theo (tăng dần tải trọng đầu vào) thì các  
hệ được vận hành trong khoảng 2-3 tuần và lấy  
mẫu đầu vào, đầu ra (tần suất 2 ngày/lần) để  
phân tích các chỉ tiêu áp dụng các phương pháp  
phân tích tiêu chuẩn [5, 6]. Các giá trị được lấy  
trung bình trong từng chế độ thí nghiệm.  
Nước thải  
thô  
Thông số  
Nước thải sau lọc thô  
pH  
7,1 - 7,5  
7,2 - 7,5  
CODtổng  
(mg/l)  
4.200 -  
6.800  
4.000 - 6.500  
CODhòa tan 750 -  
550 - 1.100  
(mg/l)  
1.450  
TSS  
(mg/l)  
1.500 -  
2.800  
1.450 - 2.750  
Nước thải thô ban đầu khi lấy về có giá trị  
COD tổng trong khoảng 4.200-6.800 mg/l,  
COD hòa tan trong khoảng 750-1.450 mg/l,  
nước thải sau khi lọc thô có giá trị COD tổng  
trong khoảng 4.000-6.500 mg/l, COD hòa tan  
trong khoảng khoảng 550-1.100 mg/l.  
Trên cơ sở kết quả phân tích chỉ tiêu COD  
(g/l) và đánh giá hiệu quả xử lý đối với hai hệ  
thí nghiệm (IC và MIC), chúng tôi thiết lập mối  
quan hệ giữa tải trọng với năng suất xử lý và  
hiệu suất xử lý của COD tổng và COD hòa tan.  
3.2. Mối quan hệ tải trọng với NSXL và hiệu  
suất xử lý COD tổng  
Tải trọng (TT- kgCOD/m3/ngày), năng suất  
xử lý (NSXL- kgCOD/m3/ngày) và hiệu suất xử  
lý (HS - %) được tính theo các công thức sau:  
Mối quan hệ giữa tải trọng với năng suất xử  
lý và hiệu suất xử lý COD tổng của hai hệ thí  
nghiệm IC và MIC được trình bày trong Hình 3  
và Hình 4. Trong đó, đường nét liền thể hiện  
đường hồi quy các giá trị NSXL trung bình.  
Các đường chéo nét đứt biểu diễn các đường  
mức hiệu suất xử lý tính theo tải trọng COD để  
việc quan sát và đánh giá được thuận tiện.  
CODQ  
TT   
(1)  
V
NSXL TTvào TTra  
(2)  
(3)  
TTvào TTra  
HS   
100%  
Đồ thị Hình 3 và Hình 4 cho thấy NSXL  
COD tổng với tải trọng COD đầu vào của hệ IC  
và MIC có mối quan hệ tuyến tính, tức là khi  
tăng tải trọng COD tổng đầu vào thì NSXL tăng  
lên. Trong các chế độ thí nghiệm, tải trọng  
COD tổng đầu vào chỉ khảo sát đến 20,8  
kgCOD/m3/ngày vì khi tiếp tục tăng bằng cách  
bổ sung nước thải đậm đặc hoặc tăng lưu lượng  
đầu vào (giảm thời gian lưu) thì lượng cặn  
(TSS) đi vào hệ thí nghiệm sẽ gây ảnh hưởng  
rất lớn đến khả năng lắng và tách bùn (bao gồm  
cả cặn) dẫn đến bùn bị rửa trôi tại đầu ra.  
TTvào  
Trong đó:  
- Q: Lưu lượng (m3/ngày)  
- V: Thể tích phản ứng của hệ xử lý (m3).  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Thành phần nước thải nuôi lợn  
Nước thải có pH, giá trị COD tổng, COD  
hòa tan và TSS được trình bày trong Bảng 1.  
N.T. Quan et al / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
25  
Hình 3. Mối quan hệ giữa NSXL và HSXL với TT  
COD tổng đầu vào (Hệ IC).  
Hình 4. Mối quan hệ giữa NSXL và HSXL với TT  
COD tổng đầu vào (Hệ MIC).  
Đối với hệ IC (Hình 3), tải trọng COD tổng  
được khảo sát từ 1 - 19,7 kgCOD/m3/ngày thì  
NSXL của hệ xử lý được từ 0,7 - 13  
kgCOD/m3/ngày và HS xử lý dao động trong  
khoảng từ 63-75% (giá trị trung bình là 69%),  
tại các điểm có tải trọng thấp thì hệ xử lý đạt  
HS xử lý trung bình trên 70% (HS cao nhất tại  
TT = 4,9 kgCOD/m3/ngày đạt 75%). Trong khi  
đó, hệ MIC (Hình 4) được khảo sát tải trọng  
COD từ 0,8 - 20,8 kgCOD/m3/ngày thì NSXL  
của hệ xử lý được từ 0,3 - 16 kgCOD/m3/ngày,  
đạt hiệu su So sánh hệ MIC và hệ IC có thể  
thấy rằng hiệu suất xử lý COD hòa tan trung  
bình của hai hệ là tương đương nhau và ổn định  
như nhau do các giá trị NSXL nằm trong  
khoảng dao động gần như nhau, hiệu quả xử lý  
của hai hệ đều đạt giá trị trung bình là 65%.  
này cho thấy hệ MIC có khả năng xử lý COD  
tổng ổn định hơn so với hệ IC.  
3.3. Mối quan hệ tải trọng với NSXL và hiệu  
suất xử lý COD hòa tan  
Mối quan hệ giữa tải trọng với năng suất xử  
lý và hiệu suất xử lý COD hòa tan của hai hệ thí  
nghiệm IC và MIC được thể hiện trong Hình 5  
và Hình 6.  
Đồ thị Hình 5 và Hình 6 cho thấy NSXL  
COD hòa tan với tải trọng COD đầu vào của hệ  
IC và MIC cũng có mối quan hệ tuyến tính, tức  
là khi tải trọng COD hòa tan đầu vào tăng thì  
NSXL tăng.  
Đối với hệ IC (Hình 5), tải trọng COD hòa  
tan được khảo sát từ 0,6 - 7,2 kgCOD/m3/ngày  
thì NSXL của hệ xử lý được từ 0,3 - 4,8  
kgCOD/m3/ngày và hiệu suất xử lý đạt trong  
khoảng từ 54-72% (giá trị trung bình là 65%).  
Trong khi đó hệ MIC (Hình 6) được khảo sát  
tải trọng COD hòa tan từ 0,6 - 6,3  
kgCOD/m3/ngày thì NSXL của hệ xử lý được  
từ 0,2 - 4,0 kgCOD/m3/ngày và đạt hiệu suất xử  
lý trong khoảng từ 60-71 % (giá trị trung bình  
là 65% - trừ thời điểm ban đầu là giai đoạn khởi  
động có TT = 0,6 kgCOD/m3/ngày, HS chỉ đạt  
33%).  
ất xử lý trong khoảng từ 67-77 % (giá trị  
trung bình là 71%, trừ giá trị tại điểm ban đầu là  
giai đoạn khởi động có TT  
=
0,8  
kgCOD/m3/ngày, HS = 42%), HS xử lý cao  
nhất tại TT = 20,8 kgCOD/m3/ngày đạt 77%.  
So sánh hai hệ IC và MIC có thể thấy rằng  
HSXL trung bình của hệ MIC (71%) tương  
đương với hệ IC (69%). Tuy nhiên, hệ MIC có  
các giá trị NSXL nằm trong khoảng dao động  
nhỏ hơn so với hệ IC (so sánh khoảng cực đại  
trên và dưới tại mỗi giá trị TT trên đồ thị). Điều  
N.T. Quan et al / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
26  
Hình 5. Mối quan hệ giữa NSXL và HSXL với TT  
Hình 6. Mối quan hệ giữa NSXL và HSXL với TT  
COD hòa tan (Hệ MIC).  
COD hòa tan (Hệ IC).  
Nhìn chung cả hai hệ IC và MIC có khả  
năng xử lý là tương đương nhau với NSXL  
phù hợp với điều kiện Việt Nam để xử lý ô  
nhiễm môi trường kết hợp với tận dụng chất  
thải của các trang trại chăn nuôi lợn.” Mã số:  
KC.08.04/11-15 do Bộ Khoa học và Công nghệ  
COD tổng trong khoảng 0,7  
-
13  
kgCOD/m3/ngày với TT COD vào từ 1,0 - 20  
kg/m3/ngày; NSXL COD hòa tan trong khoảng  
0,3 - 4,0 kgCOD/m3/ngày với TT COD vào 0,6-  
7,0 kgCOD/m3/ngày.  
tai trơ.̣  
̀
Tài liệu tham khảo  
[1] Lettinga G. , Anaerobic digestion and wastewater  
treatment systems. Antonie van Leeuwenhoek, 1995,  
Vol.67, Issue 1, pp 3-28.  
[2] Kassam Z.A., Yerushalmi L. and Guiot S.R. , A  
market study on the anaerobic wastewater treatment  
systems. Water, Air, and Soil Pollution 143 (2003)  
179-192, Kluwer Academic Publishers.  
[3] Jules B. van Lier & Grietje Zeeman, Current Trends  
in Anaerobic Digestion: Diversifying from  
waste(water) treatment to resource oriented energetic  
conversion techniques, 2009.  
[4] Van Lier J.B. , New challenges for wastewater: from  
pollution prevention to resource recovery in “Nieuwe  
Uitdagingen”, TU Delf, Published by water  
Management Academic Press, Delft, The  
Netherlands, 2009, pp.57-67.  
4. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu và đánh giá mối quan  
hệ giữa tải trọng với năng suất xử lý và hiệu  
suất xử lý COD của hai hệ thí nghiệm IC và  
MIC cho thấy: Hệ MIC xử lý COD tổng hiệu  
quả và ổn định hơn một chút so với hệ IC, còn  
đối với COD hòa tan thì cả hai hệ đều xử lý ổn  
định và hiệu quả xử lý là tương đương nhau. Về  
mặt ứng dụng thực tế, hệ MIC có ưu điểm hơn  
so với hệ IC về khía cạnh chế tạo và vận hành.  
Mối quan hệ giữa tải trọng COD đầu vào  
với năng suất xử lý và hiệu suất xử lý COD  
thiết lập được làm cơ sở tính toán, thiết kế xây  
dựng một hệ xử lý nước thải giàu hữu cơ trên  
thực tế khi lựa chọn công nghệ xử lý yếm khí  
cao tải.  
[5] American Public Health Association, Standard  
Methods for the Examination of Water and  
Wastewater, 19th Edition, American Public Health  
Association, 5220 D Closed Reflux, Colorimetric  
Method, 1995, pp 5.15 - 5.16.  
[6] Adams. V. Dean, Water & Wastewater Examination  
Manual, Lewis Publishers, 1990, pp. 168-17.  
Lời cảm ơn  
Các tác giả xin cám ơn Đề tài cấp nhà nước  
“Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến  
N.T. Quan et al / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 21-26  
27  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 15200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa tải trọng với năng suất và hiệu suất xử lý COD của hai kĩ thuật xử lý yếm khí nước thải giàu cặn hữu cơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_tai_trong_voi_nang_suat_va_hieu_suat_xu_ly.pdf