Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thương mại điện tử tại Việt Nam

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ  
TẠI VIỆT NAM  
THE IMPROVING QUALITY OF HUMAN RESOURCES FOR  
E-COMMERCE IN VIETNAM  
ThS. Phan Thị Thanh Trúc  
Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum  
Tóm tắt  
Thương mại điện tử mang lại nhiều lợi ích, giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường  
bằng việc dễ dàng tiếp cận rộng lớn với khách hàng tiềm năng. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng lao động trong  
nhóm ngành thương mại điện tử đang đối mặt với nhiều vấn đề như thiếu kỹ năng, thiếu lực lượng lao động  
khiến các doanh nghiệp khó khăn trong việc tuyển dụng. Do vậy, bài viết đề xuất các giải pháp như tạo mối liên  
kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, gia tăng hợp tác trong đào tạo, thay đổi chương trình đào tạo nhằm bù  
đắp được những kỹ năng mà người lao động hiện nay đang thiếu.  
Từ khóa: thương mại điện tử; nguồn nhân lực; Việt Nam  
Abstract  
Ecommerce brings many benefits, helping businesses increase their competitiveness in the market by  
making it easy to reach out to potential customers. However, the current workforce in the e-commerce industry  
is facing many problems such as lack of skills, lack of labor force makes enterprises difficult to recruit. Thus,  
the paper proposes solutions such as creating links between schools and businesses, increasing cooperation in  
training, changing training programs to offset the skills that workers are currently short.  
Keywords: e-commerce; human resource; VietNam  
1. Tính cấp thiết  
Sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử (TMĐT) đã có sự tác động mạnh và hiệu  
quả đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế- xã hội. Thương mại điện tử tại Việt Nam đạt mức tăng  
trưởng 35%/năm, thuộc nhóm những nước có TMĐT phát triển trên thế giới. Việt Nam có dân số 91  
triệu người, trong đó, 45% dân số đã tiếp cận internet, tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM, con  
số này là khá cao, chiếm tới 28%. Trung bình mỗi người sử dụng Internet tại Việt Nam chi 160  
USD/năm cho TMĐT.  
Hiện các doanh nghiệp có ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh giúp  
quảng bá thông tin và tiếp thị cho thị trường với chi phí thấp hơn so với doanh nghiệp truyền thống.  
Trong bối cảnh đa số doanh nghiệp đều tham gia vào TMĐT thì doanh nghiệp nào có những ý tưởng  
sáng tạo, tiếp thị tốt sẽ là lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ.  
Cũng trong bối cảnh đó, yêu cầu đội ngũ nhân lực cũng cao hơn so với trước. Nguồn nhân lực  
phục vụ cho TMĐT đòi hỏi phải đáp ứng được những nhu cầu cao hơn về chuyên môn bởi “hoạt động  
thương mại được tiến hành trên môi trường mạng là dựa trên những quy định, những nguyên tắc và  
yêu cầu riêng (về giao dịch, thanh toán, tranh chấp…). Điều này đòi hỏi những người lao động trực  
tiếp và những nhà quản lý kinh doanh phải hiểu rõ các thao tác kỹ thuật, những quy định và nguyên tắc  
thực hiện kinh doanh trực tuyến. Thứ hai, người làm thương mại điện tử cần phải nắm vững những vấn  
đề liên quan đến thương mại, công nghệ thông tin và truyền thông để có thể vận dụng thành thạo các  
ứng dụng công nghệ thông tin khi tiến hành các giao dịch thương mại điện tử, đồng thời phải thường  
xuyên cập nhật các công nghệ mới, nắm bắt những cơ hội kinh doanh mới trong thương mại điện tử.  
Thứ ba, thương mại điện tử là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế tri thức. Do đó, nhân lực thương  
mại điện tử, dù là người thực hiện hay là người đóng vai trò quản lý đều là những đối tượng có hàm  
144  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
lượng tri thức cao. Họ cần được tiến hành đào tạo có hệ thống, trải qua các quá trình đào tạo từ hệ  
thống đến chuyên sâu tương ứng với từng vị trí, từng nhiệm vụ và theo từng chuyên ngành cụ thể”.  
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu những kỹ năng cần thiết của người lao động trong các  
doanh nghiệp kinh doanh TMĐT sẽ thay đổi như thế nào và thực trạng nguồn nhân lực hiện nay của  
Việt Nam, từ đó đề xuất những kiến nghị giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.  
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý luận  
2.1.1. Thương mại điện tử và mô hình thương mại điện tử  
Theo Trần Văn Hòe (2010) thì TMĐT (Electronic commerce- EC hoặc E Commerce) là khái  
niệm được dùng để mô tả quá trình mua và bán hoặc giao dịch sản phẩm, dịch vụ và thông tin qua  
mạng máy tính, kể cả internet.  
Theo Nguyễn Đình Hân (2010) thì thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và  
dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử,  
mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua  
sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng.  
Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng,  
các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ  
pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động  
mới (ví dụ như siêu thị ảo). Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách  
thức mua sắm của con người.  
Hiện nay có nhiều tranh cãi về các hình thức tham gia cũng như cách phân chia các hình thức  
này trong TMĐT. Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối tượng chính bao gồm: Chính phủ  
(G - Goverment), DN (B - Business) và Khách hàng (C - Customer hay Consumer). Các dạng hình  
thức chính của TMĐT bao gồm: DN với DN (B2B); DN với Khách hàng (B2C); DN với Nhân viên  
(B2E); DN với Chính phủ (B2G); Chính phủ với DN (G2B); Chính phủ với Chính phủ (G2G); Chính  
phủ với Công dân (G2C); Khách hàng với Khách hàng (C2C); Khách hàng với DN (C2B); online-to-  
offline (O2O); Thương mại đi động (mobile commerce hay viết tắt là m-commerce).  
2.1.2. Nguồn nhân lực trong thương mại điện tử  
Phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở như hạ tầng cơ sở internet đủ nhanh, mạnh  
đảm bảo truyền tải nội dung, hệ thống thanh toán bảo mật, phải có hệ thống an toàn cho các giao  
dịch,… và quan trọng hơn là đội ngũ nhân lực hiểu kinh doanh, công nghệ thông tin, TMĐT để triển  
khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và thanh toán qua mạng.  
Theo báo cáo của Bộ Công thương về nguồn nhân lực cho TMĐT (2018) thì chất lượng đội  
ngũ nhân lực phải đảm bảo như sau:  
Thứ nhất, TMĐT được tiến hành trong môi trường điện tử, dựa trên những quy định riêng và  
yêu cầu riêng,… Do đó, người lao động trực tiếp và quản lý phải hiểu rõ về thao tác kỹ thuật, nguyên  
tắc trong kinh doanh trực tuyến.  
Thứ hai, công nghệ thông tin như kỹ thuật truyền dẫn thông tin, địa chỉ miền, các trang tin để  
tiến hành giao dịch,… là nền tảng của TMĐT. Song song với đó, tốc độ thay đổi của công nghệ diễn ra  
nhanh chóng, công nghệ mới thường xuyên ra đời cho nên những nhân lực TMĐT cần nắm bắt kịp  
thời và vận dụng thành thạo các ứng dụng này khi giao dịch cũng như nắm bắt những cơ hội kinh  
doanh mới trong thương mại điện tử.  
Thứ ba, TMĐT là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế tri thức. Do đó, nhân lực thương  
mại điện tử, dù đó là người thực hiện hay người quản lý, đều là những đối tượng lao động có hàm  
lượng tri thức cao. Họ cần đuợc tiến hành đào tạo có hệ thống, trải qua các trình độ từ cơ bản đến  
chuyên sâu tương ứng với từng vị trí, từng nhiệm vụ và theo từng chuyên ngành cụ thể.  
145  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Đánh giá của hiệp hội TMĐT Việt Nam (2017) thì đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ cho TMĐT  
phải có kỹ năng quản trị website và sàn giao dịch TMĐT, kỹ năng xây dựng kế hoạch triển khai dự án  
TMĐT; kỹ năng khai thác và sử dụng các ứng dụng TMĐT; kỹ năng cài đặt chế độ ứng dụng khắc  
phục sự cố thông thường của máy; kỹ năng quản trị cơ sở dữ liệu; kỹ năng tiếp thị trực tuyến; kỹ năng  
triển khai thanh toán trực tuyến.  
Theo S.Sriram (2016) thì nguồn nhân lực trong ngành này hiện nay có 7 đặc điểm như sau:  
+ Kỹ năng làm việc nhóm.  
+ Có khả năng hiểu biết sâu sắc về các ngành công nghiệp khác nhau, khả năng bao quát cả hệ  
sinh thái TMĐT  
+ Kỹ năng ra quyết định kinh doanh.  
+ Khả năng giao tiếp đúng với đúng người vào đúng thời điểm theo đúng cách.  
+ Tối ưu hóa mọi quy trình.  
+ Khả năng thích ứng các tình huống kinh doanh có thể gặp phải.  
+ Kỹ năng nhận thức: khả năng nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Để làm rõ tác động của TMĐT đến sự thay đổi kỹ năng của người lao động trong những năm  
tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh và đánh giá trên các dữ liệu thứ cấp để đưa ra  
những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến lực lượng lao động tại Việt Nam.  
Dữ liệu về lao động Việt Nam được thu thập từ giai đoạn 2012-2016 với các tiêu chí đánh giá  
về trình độ đào tạo, đánh giá của doanh nghiệp, các chuyên gia về thực trạng chất lượng nguồn nhân  
lực Việt Nam. Từ đó so sánh với với yêu cầu của quốc tế sự thay đổi kỹ năng của người động khi có  
TMĐT. Đó là căn cứ nền tảng để đề xuất các kiến nghị nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.  
2.2.1. Thực trạng nguồn nhân lực thương mại điện tử Việt Nam  
Năm 2016, Việt Nam có dân số trung bình khoảng 92 triệu người, trong đó lực lượng lao động  
đạt 54,5 triệu người chiếm 58,7%. Xét về số lượng, Việt Nam được đánh giá có lợi thế về lao động. Tỷ  
lệ lao động tăng qua các năm, từ 52 triệu người vào năm 2012 lên 54,5 triệu người vào năm 2016. Cụ  
thể minh họa như hình 1.  
Hình 1: Lực lượng lao động và dân số Việt Nam giai đoạn 2012-2016  
146  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (2017)  
Có thể thấy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào. Song chất lượng lao động thông qua trình  
độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo cho thấy đây là vấn đề đáng lo ngại.  
Bảng 1: Trình độ lực lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2012-2016  
Tiêu chí  
2012  
83,4  
4,7  
2013  
82,1  
5,3  
2014  
81,8  
4,9  
2015  
80,1  
5,0  
2016  
79,4  
5,0  
Chưa đào tạo chuyên môn kỹ thuật  
Dạy nghề  
Trung cấp chuyên nghiệp  
Cao đẳng  
3,6  
3,7  
3,7  
3,9  
3,9  
1,9  
2,0  
2,1  
2,5  
2,7  
Đại học trở lên  
6,4  
6,9  
7,6  
8,5  
9,0  
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2017  
Hiện lao động có trình độ đại học chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số lực lượng lao động, 9% năm  
2016, 6,4% vào năm 2012, trong khi đó chưa đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm 83,4% năm 2012, có  
giảm khoảng 4 % năm 2016. Mức độ người lao động được đào tạo qua ngành nghề chuyên môn kỹ  
thuật có giảm qua các năm nhưng tốc độ giảm thấp. Điều này sẽ vô cùng khó khăn cho người lao động  
khi doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất.  
Tổng cục Thống kê cho biết, năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành  
đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% Singapore. Như vậy, mỗi người Singapore làm việc có năng suất bằng  
23 người Việt cộng lại. Ngoài ra, năng suất lao động của người Việt cũng chỉ bằng 17,4% của  
Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Philippines và 48,8% của Indonesia.  
Còn theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới về nguồn nhân lực Việt Nam trong năm 2014 chỉ đạt  
3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng.  
Một số chuyên gia nhận định, hiện thị trường lao động trong một số ngành như giày da, lắp ráp  
điện tử, chế biến hải sản… chiếm lực lượng khá lớn, và chất lượng nhân lực thấp với giá rẻ. Trong  
tương lai, nhóm này sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị thay thế bởi robot và quá trình sản xuất tự động  
hóa. Đây là những thách thức lớn đối với nguồn lao động Việt Nam, điều này tạo nên cơ cấu việc làm  
của nước ta có sự thay đổi.  
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong bối cảnh hiện nay đều sử dụng internet, giao dịch  
bằng email trong công việc, sử dụng các phần mềm kế toán trong quản lý. Tuy nhiên, việc quảng cáo,  
giao dịch qua website còn kém hiệu quả. Các doanh nghiệp hầu hết chưa sử dụng hết những ưu điểm  
mà TMĐT mang lại.  
Một trong những kỹ năng nguồn nhân lực được đánh giá thấp và hạn chế lớn nhất của các  
doanh nghiệp, rào cản khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn xây dựng website riêng hay chủ động tham  
gia vào các sàn giao dịch điện tử chính là kỹ năng quản trị và vận hành website.  
Xét về số lượng nhân sự chuyên trách về TMĐT tại doanh nghiệp cho thấy chỉ có 34% doanh  
nghiệp vừa và nhỏ có loại lao động này, với doanh nghiệp lớn là 49%. Trong đó hai ngành giải trí và  
công nghệ thông tin, truyền thông có tỷ lệ lao động chuyên trách chiếm tỷ lệ cao nhất 57% và 54%.  
Đánh giá về mức độ đáp ứng kỹ năng trong TMĐT như sau:  
147  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
g K
ị  
e  
cuin
ựh
p
Hình 2: Mức độ đáp ứng kỹ năng nguồn nhân lực trong TMĐT  
Nguồn: Chỉ số TMĐT năm 2017  
Kết quả cho thấy mức độ đáp ứng của lực lượng lao động về kỹ năng triển khai thanh toán trực  
tuyến ở mức thấp chỉ đạt 26%; kỹ năng tiếp thị trực tuyến đạt 36%; quản trị cơ sở dữ liệu và kỹ năng  
khắc phục sự cố máy móc chiếm 41%; lập kế hoạch chiếm 47% và kỹ năng quản trị website chiếm 49%.  
Điều này cho thấy lực lượng lao động có khả năng đáp ứng trong TMĐT tại nước ta còn khá thấp.  
Kết quả đánh giá chỉ số TMĐT (2017) dựa vào các chỉ tiêu như chỉ số thành phần nguồn nhân  
lực và hạ tầng công nghệ thông tin, chỉ số giao dịch giữa B2B, B2C, G2B. Trong đó, chỉ số thành phần  
nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin được tính dựa trên tiêu chí như nguồn nhân lực hiện tại  
đáp ứng như thế nào nhu cầu triển khai CNTT và TMĐT của doanh nghiệp, khả năng tuyển dụng lao  
động có kỹ năng về CNTT và TMĐT, tỷ lệ cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT, tỷ lệ lao động  
thường xuyên sử dụng điện tử cũng như các tiêu chí về trang bị máy tính và đầu tư cho CNTT và  
TMĐT. Cụ thể nhóm tiêu chí: 1) tỷ lệ dân số/1 tên miền; 2) mức độ trang bị máy tính và các thiết bị di  
động thông minh; 3) tỷ lệ số lao động thường xuyên sử dụng e-mail trong công việc; 4) tỷ lệ số lao  
động thường xuyên sử dụng các công cụ như Viber, WhatsApp, Skype, Facebook Messenger… và 5)  
lao động chuyên trách về thương mại điện tử (Báo cáo chỉ số thương mại điện tử, 2017). Trong đó, Hà  
Nội có số điểm cao nhất 93,7 điểm, tiếp theo là Thành phố Hồ Chí Minh 85,5 điểm.  
Kết quả báo cáo cho thấy có 54 địa phương xếp hạng thấp dưới mức trung bình 17,7 điểm.  
Điều này tạo nên khoảng cách rất lớn giữa trung bình 5 tỉnh đứng đầu là 52,1 điểm so với 5 tỉnh thấp  
nhất là 12,6 điểm. Những địa phương có số điểm thấp gồm Bình Phước 11 điểm; Hòa Bình 10,8 điểm;  
Ninh Thuận 10,8 điểm; Thái Nguyên 10,4 điểm; Gia lai 10 điểm. Điều này cho thấy khoảng cách  
chênh lệch về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho TMĐT giữa các địa phương là khá lớn.  
Ngoài ra, Theo khảo sát của Cục TMĐT, hình thức đào tạo TMĐT hiện nay chủ yếu theo đơn  
đặt hàng (chiếm 37%) và ngắn hạn tập trung (chiếm 33%). Hình thức đào tạo chính quy dài hạn chỉ  
chiếm 16%, đào tạo trực tuyến chiếm 9%. Tỷ lệ học viên tham gia các khoá học chủ yếu là sinh viên,  
chiếm 42%. Cán bộ quản lý kinh doanh và cán bộ CNTT tham gia các khoá học TMĐT chiếm tỷ lệ  
tương ứng 15% và 12%. Khảo sát từ các Công ty cung cấp giải pháp TMĐT nổi bật như VC Corp, Vật  
giá, DKT, Chợ điện tử thì nguồn lực chất lượng và phù hợp với nhu cầu còn đang thiếu hụt, có dưới  
30% nhân lực được đào tạo chính quy TMĐT, 55% đào tạo từ các ngành kinh doanh, Thương mại,  
Công nghệ Thông tin còn lại các ngành nghề khác. Những con số trên cho thấy công tác đào tạo chính  
quy nguồn nhân lực TMĐT mới chỉ phần nào đáp ứng được nhu cầu từ thực tế. Hơn nữa, chất lượng  
đào tạo của các trường chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng. Tỷ lệ lao động được  
đào tạo chính quy về TMĐT trong những công ty TMĐT hàng đầu Việt Nam chưa cao. Các doanh  
148  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
nghiệp trực tuyến phải tốn kém chi phí và thời gian cho việc tuyển dụng nhân sự và đào tạo họ để có  
thể đáp ứng công việc.  
3. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thương mại điện tử  
Do vậy, để lực lượng lao động Việt Nam có thể bắt kịp được với xu hướng đáp ứng được bối  
cảnh mới, bài viết đề xuất một vài kiến nghị như sau:  
Hiện nay chất lượng nguồn nhân lực đang thiếu những kỹ năng để đáp ứng được nhu cầu của  
doanh nghiệp TMĐT, do vậy, các trường đại học, cao đẳng khi giảng dạy cần điều chỉnh đầu ra các  
chương trình đào tạo sao cho tương thích với xu hướng phát triển, tương thích với nhu cầu thực tế.  
Bên cạnh đó, cần gia tăng sự kết nối giữa trường đại học và doanh nghiệp trong hoạt động đào  
tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đặc biệt tập trung vào nghiên cứu ứng dụng. Kết  
nối sâu rộng hơn giữa nhà trường và các doanh nghiệp chính là một trong những điểm mấu chốt để  
phát triển đội ngũ nguồn nhân lực có tính “thực tế” ngay trên ghế nhà trường. Những kiến thức thu  
được từ thực tế làm việc sẽ giúp những người đang học trong nghề này bổ khuyết những điểm còn  
thiếu về kỹ năng, áp dụng lý thuyết được học ngay vào từ giảng đường đại học. Điểm giao thoa giữa  
nhà trường và doanh nghiệp không nên chỉ dừng lại ở hỗ trợ kiến tập, thực tập của sinh viên mà hơn  
thế nữa, các doanh nghiệp có thể tiến sâu hơn nữa ví dụ như tham gia vào công tác đào tạo các học  
phần liên quan, cung cấp và hướng dẫn thực hành nền tảng, xây dựng và thẩm định đề cương học  
phần, tham gia hướng dẫn và đánh giá kết quả học tập của sinh viên, tổ chức giao lưu, chia sẻ, hướng  
nghiệp, cuộc thi liên quan TMĐT...  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Tạ Minh Châu, Đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử Việt Nam, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, Số 9  
(19) - Tháng 03-04/2013 , trang 57-63  
2. Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, Báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam, năm 2017  
3. Trần Văn Hòe (2010), Giáo trình thương mại điện tử căn bản, Đại học kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản tài  
chính, Hà Nội  
4. Nguyễn Đình Hân (2010), Giáo trình thương mại điện tử, Khoa công nghệ thông tin, Đại học Sư phạm Hưng  
Yên  
5. S.Sriram, M.Arumugam, Ecommerce and human resource management, International Conference on  
"Innovative Management Practices” Organize by SVCET, Virudhunaga, Vol-1 Issue-1 2016  
6. Bộ công thương, Đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử- việc cần làm ngay, tại website  
7. Hà An, Đào tạo nguồn nhân lực thương mại điện tử: đón đầu nhu cầu thực tế, Tạp chí công thương.  
149  
pdf 6 trang baolam 24800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thương mại điện tử tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_chat_luong_nguon_nhan_luc_trong_thuong_mai_dien_tu.pdf