Sự biến đổi xã hội từ góc nhìn xã hội học vi mô qua hai hiện tượng: Bà mẹ đơn thân và hôn nhân đồng tính

56  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
Sự biến đổi xã hội từ góc nhìn xã hội học vi mô qua hai hiện  
tượng: Bà mẹ đơn thân và hôn nhân đồng tính  
Social change from micro-sociological perspective: Single  
mother and homosexual marriage phenonema  
Lê Minh Tiến1*  
1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
Việt Nam là một xã hội đang biến đổi. Sự biến đổi xã hội  
thường được nhìn qua hai cấp độ đó là cấp độ vĩ mô và cấp độ vi  
mô. Ở cấp độ vĩ mô, sự biến đổi xã hội được nhìn nhận như là sự  
thay đổi trong cấu trúc xã hội nói chung, trong khi đó ở cấp độ vi  
mô, biến đổi xã hội được phân tích thông qua những thay đổi  
trong lối sống, lối ứng xử của các cá nhân trong xã hội. Bài viết  
này đề cập đến sự biến đổi xã hội Việt Nam ở cấp độ vi mô bằng  
cách mô tả một số nét ứng xử của cá nhân trong xã hội Việt Nam  
đương đại qua hai hiện tượng là bà mẹ đơn thân và hôn nhân đồng  
tính. Bài viết như một gợi mở về hướng phân tích xã hội học vi  
mô về sự biến đổi xã hội dựa trên việc phân tích tài liệu sẵn có  
chứ không phải là một nghiên cứu thực địa hay khảo sát.  
Ngày nhận: 09/06/2020  
Ngày nhận lại: 15/06/2020  
Duyệt đăng: 07/07/2020  
Từ khóa:  
bà mẹ đơn than, biến đổi xã  
hội, hôn nhân đồng tính, xã  
hội học vi mô, xã hội học vĩ  
mô  
ABSTRACT  
Vietnam is changing society. Social change is often seen  
through two levels: macro level and micro level. At the macro  
level, social change is considered as a change in social structure  
in general, while at the micro-level, social change is analyzed  
through changes in the way of life and in the behaviors of  
individuals in society. This article addresses the transformation  
of Vietnamese society at the micro-level by describing some  
individual behaviors in contemporary Vietnamese society  
through two phenomena: single mother and homosexual  
marriage. The paper is an introduction to the micro-sociological  
analysis of social change based on documentary research rather  
than on field research or social survey.  
Keywords:  
single mother, social change,  
homosexual marriage, micro-  
sociology, macro-sociology  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
1. Dẫn nhập  
57  
Xã hội Việt Nam đương đại là một xã hội đang biến đổi (in transition) hiểu theo nghĩa  
là đang trong thời kỳ chuyển tiếp giữa truyền thống và hiện đại xét về mặt giá trị và chuẩn mực  
xã hội. Quả vậy, xã hội Việt Nam đang càng ngày càng bộc lộ những đặc trưng của tính hiện  
đại mà biểu hiện là những giá trị mang tính cá nhân đang ngày càng gia tăng trong khi những  
giá trị truyền thống, những sự cưỡng chế từ tập thể đối với cá nhân đang dần mất đi hiệu lực  
vốn có của mình.  
Khi quan sát đời sống xã hội Việt Nam đương đại, người ta có thể dễ dàng nhận thấy có  
những ứng xử mà trước đây là những điều cấm kỵ xét về mặt giá trị, chuẩn mực xã hội, nhưng  
với quá trình hiện đại hóa, những ứng xử từng bị xem như là “lệch chuẩn” ấy đang ngày càng  
phổ biến hơn và hình như cũng được chấp nhận nhiều hơn từ phía xã hội. Xét về mặt nào đó,  
những điều này có thể được xem như là những biểu hiện cụ thể của sự thay đổi về giá trị, chuẩn  
mực xã hội Việt Nam, nói chung là sự biến đổi của xã hội.  
Với mục tiêu gợi mở ra hướng phân tích về sự biến đổi xã hội ở cấp độ xã hội học vi  
mô, bài viết này hướng đến việc mô tả một số nét ứng xử mới của người Việt Nam và thử lý  
giải phần nào những nhân tố tác động đến những ứng xử ấy xét như là biểu hiện của sự biến  
đổi về giá trị dựa trên việc phân tích một số tài liệu sẵn có chứ không phải là một nghiên cứu  
thực địa hay điều tra xã hội. Vì chúng tôi không tiếp cận sự biến đổi giá trị ở cấp độ xã hội học  
vĩ mô (macro-sociology) mà chỉ nhìn dưới góc độ xã hội học vi mô (micro-sociology), tức là  
nhìn sự biến đổi giá trị thông qua những nét mới trong ứng xử của các cá nhân chứ không phân  
tích sự biến đổi giá trị ở cấp độ định chế hay xã hội tổng thể nên bài viết này chỉ đề cập đến hai  
hiện tượng xã hội vốn đang dần trở nên phổ biến ở Việt Nam đó là hiện tượng “bà mẹ đơn thân”  
và “hôn nhân đồng tính” như là những biểu hiện của sự biến đổi xã hội xét ở cấp độ phân tích  
xã hội học vi mô.  
2. Về sự biến đổi xã hội  
Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ quát bởi gần như tất cả mọi xã hội đều thay đổi  
theo thời gian. Nhưng sự biến đổi xã hội, trước hết, phải là một hiện tượng mang tính tập thể,  
tức là sự biến đổi phải bao hàm một tập hợp các cá nhân, một cộng đồng hay cả xã hội, tức là  
sự biến đổi ấy phải tác động đến các điều kiện sống, lối sống, lối suy nghĩ và ứng xử của một  
tập thể, một cộng đồng chứ không phải chỉ tác động đến một số ít cá nhân nào đó và những sự  
thay đổi ấy cũng đương nhiên gắn với sự thay đổi trong hệ thống giá trị và hệ thống chuẩn mực  
của xã hội. Điều thứ hai, khi nói đến sự biến đổi xã hội là ta phải đề cập đến sự thay đổi trong  
cấu trúc xã hội xã hội nói chung, tức là sự thay đổi về mặt tổ chức xã hội trên tổng thể hoặc trên  
một số thành tố nào đó, hay một số định chế cơ bản của xã hội như gia đình, chính trị, tôn giáo  
hay pháp lý chẳng hạn (Rocher, 1968, p. 129).  
Như vậy xét về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứu về sự biến đổi xã hội, người ta  
có thể xuất phát từ việc nghiên cứu sự biến đổi xã hội ở khía cạnh vĩ mô (macro level) vốn tập  
trung việc nghiên cứu vào sự biến đổi trong các định chế cơ bản của xã hội như gia đình, tôn  
giáo, giáo dục hay pháp lý; nghiên cứu sự biến đổi về cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu xã hội  
qua thời gian, chẳng hạn sự thay đổi trong hệ thống phân tầng xã hội, cấu trúc xã hội để đánh  
giá mức độ của sự biến đổi xã hội. Chẳng hạn như nghiên cứu của Hoang (2008, pp. 1-16) về  
58  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
sự biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 20 Đổi Mới đã đề cập đến những chiều kích của sự biến  
đổi xã hội ở cấp độ vĩ mô như sự biến đổi cơ cấu kinh tế dẫn đến sự biến đổi trong cơ cấu xã  
hội, sự biến đổi của các thiết chế, thể chế xã hội và các quan hệ xã hội. Le (2010, pp. 6-10)  
cũng đề cập đến sự biến đổi xã hội ở cấp độ vĩ mô qua các chiều kích như sự biến đổi về sự  
phân công lao động trong xã hội, sự biến đổi về mức sống và cấu trúc phân tầng của xã hội.  
Biến đổi xã hội Việt Nam thông qua việc phân tích sự biến đổi trong khuôn mẫu của khuôn  
mẫu gia đình Việt Nam là chủ đề phân tích của Trinh (2007). Theo tác giả này, gia đình Việt  
Nam đang biến đổi ở những khía cạnh như quy mô, kích cỡ gia đình ngày càng thu hẹp lại,  
chức năng sản xuất của gia đình được chuyển thành chức năng tiêu dùng, các mối quan hệ gia  
đình đang trở nên lỏng lẻo hơn.  
Như vậy việc phân tích về sự biến đổi xã hội ở Việt Nam chủ yếu được xem xét dưới  
góc độ xã hội học vĩ mô trong khi việc phân tích chủ đề này còn có thể được phân tích dưới góc  
độ vi mô (micro level) vốn tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích sự biến đổi trong lối  
sống, lối ứng xử và các quan niệm sống, hệ giá trị của các cá nhân là thành viên của xã hội Điều  
đó có nghĩa là dựa vào những quan sát, phân tích các các ứng xử, quan niệm, lối sống của các  
cá nhân trong đời sống thường nhật, nhà nghiên cứu có thể nhận diện được những sự thay đổi  
trong xã hội qua thời gian. Do vậy ở bài viết này, chúng tôi thử xem xét sự biến đổi xã hội ở  
khía cạnh vi mô này qua hai hiện tượng liên quan đến hôn nhân gia đình hiện nay.  
3. Từ vấn đề phụ nữ có con không chồng và quan niệm về kết hôn trong xã hội Việt  
Nam truyền thống…  
Trong xã hội truyền thống, một trong những chuẩn mực mà người phụ nữ phải tuân thủ  
đó là “giữ gìn tiết hạnh” như lời mở đầu của tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu:  
“Trai thời trung hiếu làm đầu  
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” (C. D. Nguyen, 2017, p. 70)  
Như vậy trong truyền thống của nền văn hóa Việt, người con trai phải lấy chữ “trung”  
làm đầu còn người con gái phải quyết giữ cho được tiết hạnh. Thế nên, những hành vi làm mất  
tiết hạnh đều phải chịu sự trừng phạt rất lớn từ phía cộng đồng và xã hội nói chung. Một trong  
những loại tội có thể buộc người phụ nữ phải chịu hình phạt là cái chết đó là việc họ có con mà  
không có chồng.  
Theo truyền thống, những người phụ nữ có con mà không chồng do bị hiếp dâm thì đứa  
con đó bị gọi là “con hoang” và bản thân người phụ nữ ấy lẫn gia đình sẽ bị cộng đồng chê bai,  
khinh bỉ và đứa con ấy cũng sẽ không được đối xử cách công bằng. Tuy nhiên, có thể người  
phụ nữ ấy vẫn được sống, ngược lại, những người phụ nữ có con theo nghĩa là “chủ động”  
nhưng người đàn ông có quan hệ với cô ấy không thừa nhận thì người phụ nữ này sẽ bị trừng  
phạt hết sức nặng nề: người này bị phạt vạ, bị dẫn đi bêu rếu khắp làng và thậm chí bị cạo đầu  
bôi vôi, thả bè trôi sông và phải chết vì gần như không làng nào khác hay người đàn ông nào  
khác dám đón nhận người phụ nữ mang thai ngoài hôn nhân này.  
Như vậy, trong xã hội truyền thống Việt Nam, một người con gái có giá trị là người giữ  
được tiết hạnh cho đến khi lấy chồng, do đó, mọi hành vi vi phạm vào chuẩn mực ấy đều phải  
nhận một hình phạt từ cộng đồng với mức nặng nhẹ tùy theo hành vi.  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
59  
Về vấn đề kết hôn, trong suốt một thời gian dài, việc kết hôn trong xã hội Việt Nam  
được quan niệm là việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ. Bộ luật Hôn nhân Gia đình  
Việt Nam năm 2014 vẫn quan niệm “kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với  
nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” (Luật Hôn nhân và  
Gia đình năm 2014, Điều 3, mục 5). Như vậy, một cuộc hôn nhân chuẩn mực ở Việt Nam phải  
là một sự kết hợp giữa hai cá nhân “dị tính”, tức là giữa một nam và một nữ, và mọi sự kết hợp  
đồng tính đều không được xem là một cuộc hôn nhân đúng chuẩn mực và được pháp luật công  
nhận.  
4. Đến vấn đề “Bà mẹ đơn thân” và “hôn nhân đồng tính” hiện nay  
Theo các tác giả Gucciardi, Celasun và Steward thì “cha mẹ đơn thân (single parent)  
bao gồm những người chưa bao giờ kết hôn, hoặc đã li thân, li dị, góa bụa và hiện tại chỉ sống  
với con chứ không sống với người phối ngẫu được thừa nhận về mặt pháp luật (Gucciardi,  
Celasun & Steward, 2004, p. 2). Về khái niệm “bà mẹ đơn thân”, chúng tôi cũng phân ra hai  
loại đó là “bà mẹ đơn thân từ đầu” và bà “mẹ đơn thân thứ phát”. Bà mẹ đơn thân từ đầu là  
những người chọn không lấy chồng hay sống chung như vợ chồng với một người đàn ông nhưng  
quyết định mang thai, sinh con và nuôi con một mình từ đầu. Bà mẹ đơn thân thứ phát là những  
phụ nữ đã có chồng và sinh con nhưng sau đó li dị hoặc chồng qua đời và họ quyết định sống  
một mình với con.  
Trong bài viết này, chúng tôi hiểu “bà mẹ đơn thân” là những “bà mẹ đơn thân chủ  
động” (active single mother), những bà mẹ đơn thân từ đầu tức là họ chủ động mang thai, sinh  
con và tự nuôi dưỡng con mà không kết hôn với đối tượng quan hệ, hoặc chủ động mang thai  
và sinh con bằng việc thụ tinh nhân tạo và không nói đến những “bà mẹ đơn thân thụ động”  
(passive single mother) tức là những phụ nữ làm mẹ đơn thân ngoài ý muốn chẳng hạn như  
những người bị người bị bạn trai bỏ rơi khi mang thai khiến họ phải trở thành người mẹ đơn  
thân, những người làm mẹ đơn thân vì bị hiếp dâm, chồng qua đời hoặc bị chồng bỏ rơi.  
Hiện nay chưa có con số thống kê chính thức về số lượng “bà mẹ đơn thân” tại Việt  
Nam nhưng có thể nói lối sống đang là một trong những “lựa chọn” của nhiều phụ nữ, đặc biệt  
là nơi giới phụ nữ có trình độ học vấn cao và thành đạt trong nghề nghiệp. Sở dĩ nói như thế là  
bởi theo số liệu cuộc Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du  
lịch, Tổng cục Thống kê, UNICEF và Viện Gia đình và Giới thực hiện, tỷ lệ chọn lối sống độc  
thân là 2,5% mà trong đó, nữ giới chiếm đa số với 87,6% tổng số người độc thân, tỷ lệ gia đình  
đơn thân (chỉ có cha hoặc mẹ sống với con) là 11,17%. (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch,  
Tổng cục Thống kê, UNICEF, & Viện Gia đình và Giới, 2008, p. 22).  
Tại Việt Nam trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về hiện tượng bà mẹ đơn  
thân nhưng các nghiên cứu này chưa phân tích hiện tượng bà mẹ đơn thân như một hiện tượng  
của sự biến đổi xã hội mà chủ yếu là đề cập đến cuộc sống, những khó khan - thuận lợi của việc  
làm mẹ đơn thân mà thôi. Chẳng hạn nghiên cứu của Chu (2013) đã đề cập đến phụ nữ đơn  
thân ở vùng trung du miền núi phía bắc, đề tài có cái nhìn tổng hợp, khách quan và toàn diện  
về những vấn đề khó khăn, những nhu cầu của những phụ nữ đơn thân nuôi con; mở ra hướng  
tiếp cận mới trong hoạt động trợ giúp cho phụ nữ đơn thân nuôi con dưới góc độ của những  
người làm công tác xã hội (Chu, 2013, pp. 91-97). Vo (2016) thì đặt trọng tâm vào việc mô tả  
60  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế của các phụ nữ đơn thân tại Việt Nam trong bối cảnh  
chuyển đổi (Vo, 2016, pp. 37-44). H. B. T. Nguyen (2020) thì tìm hiểu những đặc điểm xã hội  
của nhóm bà mẹ đơn thân, thực trạng đời sống về vật chất, tinh thần của bà mẹ là công nhân tại  
các khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương), phân tích những thuận lợi, khó khăn và chỉ ra  
các yếu tố chi phối đời sống vật chất, tinh thần của các bà mẹ đơn thân.  
Nhìn dưới góc độ biến đổi xã hội, việc chọn lựa lối làm mẹ đơn thân chủ động ngay từ  
đầu cho thấy một sự biến đổi về giá trị rất lớn trong xã hội Việt Nam đương đại, vì sự chọn lựa  
này cho thấy con người đã vượt qua những chuẩn mực của xã hội truyền thống để ứng xử theo  
các chuẩn mực và giá trị của cá nhân. Nếu trong xã hội truyền thống, việc người phụ nữ “không  
chồng mà có con” phải chịu đựng sự trừng phạt nặng nề từ luật lệ cũng như cộng đồng bởi đã  
phạm vào một trong bảy trọng tội (thất xuất). Nhưng hiện nay số người hướng tới cuộc sống  
độc thân ngày càng nhiều. Khi không tìm thấy niềm hạnh phúc thực sự từ cuộc sống gia đình,  
có thể tự bảo đảm cho cuộc sống riêng của cá nhân, nhiều người đã không muốn lập gia đình.  
Không ít bạn trẻ hiện nay nghĩ rằng hôn nhân không phải là cái đích duy nhất và cuối cùng của  
tình yêu. Có những tình yêu mãi mãi không có đám cưới, không có hôn thú. Đối với nhiều  
người, gia đình không phải là bến đỗ cuối cùng và duy nhất (Nghiem, 2014; T. T. V. Nguyen,  
2015, p. 49).  
Đối với vấn đề hôn nhân đồng tính ở Việt Nam hiện nay cũng vậy, từ việc xem hôn  
nhân đồng tính là điều lệch lạc, phi tự nhiên thậm chí là bệnh hoạn thì hiện nay, xã hội Việt  
Nam đã có cái nhìn cởi mở hơn đối với kiểu hôn nhân giữa hai người cùng giới tính. Sự cởi mở  
này trước hết thể hiện ở qui định của luật pháp. Trước đây, Luật Hôn nhân và Gia đình Việt  
Nam năm 2000 cấm việc kết hôn giữa hai người đồng giới thì trong Luật mới công bố năm  
2014, không còn quy định cấm hôn nhân giữa hai người cùng giới tính nhưng cuộc hôn nhân  
này chưa được công nhận về mặt luật pháp. Như vậy từ việc cấm và kèm theo hình phạt, luật  
pháp Việt Nam đã có sự thay đổi dù dè dặt đó là vẫn cho phép những người cùng giới sống  
chung như vợ chồng nhưng không công nhận.  
Dù còn dè dặt về mặt luật pháp, nhưng về mặt xã hội, việc chấp nhận hôn nhân giữa  
những người cùng giới tính có vẻ là rộng rãi hơn. Điều này thể hiện qua cuộc nghiên cứu do  
Viện Xã hội học, Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (ISEE) và Viện Chiến lược  
và Chính sách y tế phối hợp thực hiện vào năm 2013 mà theo đó, có 33,7% số người được hỏi  
cho biết họ “ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới trong khi tỷ lệ không ủng hộ là  
52,9% (xem Bảng 1).  
Bảng 1  
Thái độ của người dân về việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới  
Thái độ  
Tỷ lệ %  
Ủng hộ  
33,7  
Lưỡng lự  
Không quan tâm  
Không ủng hộ  
8,6  
2,2  
52,9  
2,6  
Không biết/không trả lời  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
61  
Thái độ  
Tỷ lệ %  
Tổng  
100,0  
(N)  
(5,303)  
Nguồn: Viện Xã hội học, ISEE, Viện Chiến lược và Chính sách y tế (2013, p. 44)  
Như vậy, từ cái nhìn kỳ thị thì người dân trong xã hội Việt Nam hiện nay đang dần có  
cái nhìn cởi mở hơn về hôn nhân giữa những người cùng giới và điều này cũng là một chỉ báo  
cho thấy sự thay đổi về mặt chuẩn mực và giá trị trong xã hội Việt Nam hiện nay.  
5. Yếu tố tạo sự thay đổi về chuẩn mực, giá trị  
Có thể nói, qua một số hiện tượng như vừa nêu trên có thể thấy xã hội Việt Nam đang  
có những thay đổi theo hướng những giá trị, chuẩn mực truyền thống đang dần bị thay thế bởi  
các giá trị mang tính cá nhân nhiều hơn. Chủ nghĩa cá nhân thường đi kèm với quá trình hiện  
đại hóa xã hội, bởi khi bước vào quá trình hiện đại hóa, sức mạnh từ tập thể, từ cộng đồng dần  
dần đánh mất hiệu lực đối với những hành động, suy nghĩ và ứng xử của cá nhân và từ đó làm  
hình thành nên lối sống duy cá nhân hơn là duy tập thể như trong bối cảnh truyền thống.  
Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam có lẽ là khác với chủ nghĩa cá nhân ở Tây  
Phương. Quả vậy, ở Tây Phương, chủ nghĩa cá nhân có cội nguồn từ những cơ sở triết học từ  
thời kỳ Khai sáng và những phong trào xã hội mà điển hình là phong trào nữ quyền (feminism).  
Trái lại, chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam có thể chỉ là kết quả của quá trình “Tây phương hóa”  
thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và “giới tinh hoa biểu tượng” (symbolic  
elite).  
Hiểu theo nghĩa của Wilfredo Pareto, giới tinh hoa là những người có những phẩm chất,  
những thành tựu ngoại hạng, là những người khác với số đông còn lại trong lĩnh vực hoạt động  
của họ (Welty, 2016). Và Pareto cũng phân thành hai loại giới tinh hoa đó là giới tinh hoa chính  
phủ và giới tinh hoa không thuộc chính phủ. Ở đây chúng tôi cho rằng sự biến đổi giá trị của  
xã hội Việt Nam đương đại đến từ tầng lớp tinh hoa không thuộc chính phủ mà chúng tôi gọi  
là “giới tinh hoa biểu tượng” mà cụ thể là giới văn nghệ sĩ, những người trong lĩnh vực thời  
trang mà ở Việt Nam được gọi chung là “giới showbiz” vốn có ảnh hưởng rất lớn đến giới trẻ  
(Rocher, ibid, 139-140).  
Quả vậy, giới nghệ sĩ, đặc biệt là giới ca sĩ và giới người mẫu thời trang có một ảnh  
hưởng rất lớn đến giới trẻ Việt Nam và chính họ là những biểu tượng (symbol) của giới trẻ và  
nhiều người khác trong xã hội. Gần như chính họ là những người đại diện, những người truyền  
tải, biện hộ những giá trị “phi truyền thống”, những giá trị mang tính “cá nhân chủ nghĩa” đến  
với giới trẻ trong xã hội Việt Nam. Chúng ta có thể xem người đầu tiên “chính thức hóa” lối  
sống “bà mẹ đơn thân chủ động” ở Việt Nam là nữ ca sĩ Phương Thanh khi cô sinh con vào  
năm 2004 và cho đến nay vẫn không tiết lộ người cha của đứa con của mình là ai. Sau đó đến  
lượt nữ ca sĩ Thái Thùy Linh, nhà thiết kế thời trang Ngô Thái Uyên, nữ ca sĩ Hiền Thục, Vân  
Hugo và gần đây là nhiều nữ ca sĩ trẻ khác cũng tiếp bước trào lưu này.  
Bên cạnh việc chọn lối sống bà mẹ đơn thân chủ động, đa số những người trong giới  
showbiz Việt cũng ủng hộ mạnh mẽ cho kiểu hôn nhân đồng tính thông qua những hình ảnh  
62  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
vui mừng của họ khi nước Mỹ chính thức hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Các chương trình  
truyền hình Việt Nam hiện nay cũng càng ngày càng xuất hiện nhiều những cặp đôi đồng tính  
như là một chỉ dấu cho sự bình thường hóa của loại hôn nhân này.  
Như vậy có thể nói những giá trị mang tính cá nhân chủ nghĩa ở Việt Nam không phải  
xuất phát từ một quá trình phản tư (reflexibility) dai dẳng mang tính triết học mà hình như đến  
từ ảnh hưởng của giới tinh hoa biểu tượng thông qua công cụ là các phương tiện truyền thông  
đại chúng. Hiệu ứng “bắt chước” có thể là căn nguyên của sự thay đổi hệ giá trị tại Việt Nam  
hơn là kết quả của quá trình lý tính hóa (rationalisation) của xã hội vốn là điều mà Max Weber  
xem như là đặc trưng của các xã hội hiện đại Tây phương (Fleury, 2016).  
Theo chúng tôi, hệ giá trị truyền thống của Việt Nam sẽ tiếp tục bị thay thế bằng những  
giá trị mới cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng hiện  
đại trong tương lai cùng với sự vượt lên của chủ nghĩa cá nhân (individualism) khiến cho những  
giá trị tập thể, những chuẩn mực xã hội truyền thống không còn tác dụng chi phối mạnh mẽ đến  
suy nghĩ cũng như ứng xử của cá nhân mà thay vào đó, cá nhân dám chọn lựa sống theo những  
giá trị và lợi ích của bản thân (Mannis, 1999, p. 124). Điều này có thể được xem như là những  
biểu hiện sự biến đổi xã hội ở cấp độ vi mô, tức là sự thay đổi về nhận thức, thái độ, hành vi  
nơi các cá nhân cũng như nơi các nhóm nhỏ trong xã hội.  
6. Kết luận  
Kể từ khi đất nước bước vào con đường đổi mới từ năm 1986 đến nay, xã hội Việt Nam  
đã và đang có những sự biến đổi sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Do đó việc phân tích sự biến đổi  
xã hội cần được thực hiện trên nhiều cấp độ phân tích khác nhau để có thể hiểu rõ hơn và đầy  
đủ hơn tính chất phức tạp, sự đa dạng và đa chiều kích của sự biến đổi xã hội ở Việt Nam để có  
thể có những dự báo đúng hơn trong tương lai.  
Đóng góp của lối tiếp cận xã hội học về sự biến đổi xã hội đó là, bên cạnh việc phân  
tích những sự biến đổi ở cấp độ vĩ mô như biến đổi trong cơ cấu kinh tế, biến đổi trong cơ cấu  
xã hội hay văn hóa, v.v.v thì nó còn phân tích thêm những biến đổi xã hội ở cấp độ vi mô nữa.  
Biến đổi xã hội ở cấp độ vi mô cho thấy những thay đổi trong quan niệm sống, thế giới quan  
cũng như nhân sinh quan của các cá nhân trong xã hội. Nhìn ở cấp độ vi mô, xã hội Việt Nam  
hiện nay đang là một xã hội đang biến đổi mà bài viết này là một khám phá mang tính gợi mở  
bước đầu cho những nghiên cứu thực nghiệm sâu hơn trong tương lai.  
Tài liệu tham khảo  
Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, UNICEF, & Viện Gia đình và Giới.  
(2008). Kết quả điều tra gia đình Việt Nam 2006 [Results of the Vietnam Family Survey  
viet-nam-nam-2006-1468094.html  
Chu, T. T. T. (2013). Thực trạng công tác hỗ trợ phụ nữ đơn thân phát triển kinh tế hộ gia đình  
tại xã Bá Xuyên thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên [Situation of work to support single  
women in household economic development in Ba Xuyen commune, Song Cong town,  
Thai Nguyen province]. Tạp chí Khoa học & Công nghệ, 112(12), 91-97.  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
63  
Fleury, L. (2016). Tư tưởng Max Weber [Thought Max Weber] (T. M. Le, Trans.). Ho Chi  
Minh, Vietnam: NXB Hồng Đức - Đại học Hoa Sen.  
Gucciardi, E., Celasun, N., & Stewart, D. (2004). Single-mother families in Canada. Canadian  
Journal of Public Health/Revue Canadienne De Santé Publique, 95(1), 70-73.  
Hoang, C. B. (2008). Biến đổi xã hội Việt Nam qua hơn 20 đổi mới [Transforming Vietnamese  
society through more than 20 innovations]. Paper presented at Hội thảo Quốc tế về Việt  
Nam học lần III, Vietnam National University, Hanoi, Vietnam.  
Le, N. H. (2010). Các cấp độ và xu hướng biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay: Nhìn từ góc  
độ xã hội học [The levels and trends of social change in Vietnam today: From a  
sociological perspective]. Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội, 4, 6-10.  
Mannis, V. (1999). Single mothers by choice. Family Relations, 48(2), 121-128.  
doi:10.2307/585075  
Nguyen, C. D. (2017). Lục Vân Tiên. Ho Chi Minh, Vietnam: NXB Văn Học.  
Nghiem, T. N. (2014). Một số biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu  
hóa [Some changes of Vietnamese family culture in the globalization context]. Retrieved  
March  
11,  
2020,  
from  
Tạp  
chí  
Cộng  
sản  
website:  
Nguyen, D. M. (2014). Một số biến động trong hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay [Some  
changes in marriage and family in Vietnam today]. Retrieved March 12, 2020, from  
viet-nam-hien-nay*.html  
Nguyen, H. B. T. (2020). Cuộc sống của những bà mẹ đơn thân ở các khu công nghiệp nhìn từ  
góc độ chính sách xã hội [The life of single mothers in industrial zones from a social  
policy perspective]. (Unpublished doctoral dissertation). Học viện Khoa học Xã hội,  
Hanoi, Vietnam.  
Nguyen, T. T. V. (2015). Hiện tượng ‘người mẹ đơn thân’ ở Hàn Quốc và liên hệ với Việt Nam  
từ góc nhìn chính sách xã hội [The phenomenon of 'single mother' in Korea and contacting  
with Vietnam from a social policy perspective]. Tạp chí Nghiên cứu con người, 3(78),  
45-51.  
Rocher, G. (1968). Introduction à la sociologie. 3. Le Changement social [Introduction to  
sociology. 3. Social change]. Paris, France: Seuil.  
Trinh, H. B. (2007). Về sự biến đổi của khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện đại [About the  
transformation of the modern Vietnamese family pattern]. Retrieved March 13, 2020,  
from Thông tin pháp luật dân sự website: http://bacvietluat.vn/ve-su-bien-doi-cua-khuon-  
Viện Xã hội học, ISEE, & Viện Chiến lược và Chính sách y tế. (2013). Kết quả trưng cầu ý  
kiến người dân về hôn nhân đồng giới [Results of referendum on same-sex marriage].  
64  
Lê Minh Tiến. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 56-64  
Vo, T. C. (2016). Từ nghiên cứu về sinh kế đến những vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu sinh kế  
của phụ nữ làm mẹ đơn thân ở Việt Nam [From livelihood research to the issues posed to  
research on livelihoods of single mothers in Vietnam]. Tạp chí Thông tin Khoa học Xã  
hội, 3(399), 37-44.  
Welty, G. (2016). Pareto’s theory of elites: Circulation or circularity? Mundo Siglo XXI, 38(21),  
49-58.  
pdf 9 trang baolam 25040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự biến đổi xã hội từ góc nhìn xã hội học vi mô qua hai hiện tượng: Bà mẹ đơn thân và hôn nhân đồng tính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_bien_doi_xa_hoi_tu_goc_nhin_xa_hoi_hoc_vi_mo_qua_hai_hien.pdf