Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi sử d ng mạng xã hội facebook của sinh viên các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HÀNH VI
SỬ D NG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thu Huyền, Võ Thị Huỳnh Như, Bùi Châu Nhi,
Cao Minh Trí, Trần Thanh Nghĩ
Khoa Tài chính - Thương mại, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Ngô Ngọc Nguyên Thảo
TÓM TẮT
Trải qua hơn 40 năm hình thành và phát triển, Internet dần trở thành khái niệm quen thuộc
đối với thế giới. Cùng với đó là sự xuất hiện của MXH với những tính năng đa dạng đã kéo
theo sự gia tăng ngày càng đ ng đảo của các thành viên, đặc biệt là MXH Facebook ở một
khía cạnh nào đó đã thay đổi thói quen, tư duy, lối sống của một bộ phận sinh viên hiện nay
vì đây là nguồn nhân lực trẻ dễ tiếp nhận tiến độ khoa học, nhanh nhạy với các phương tiện
thông tin truyền thông. Nghiên cứu này xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng
mạng xã hội Facebook tại Việt Nam. Các yếu tố này bao gồm: nhu cầu, thói quen, nhận thức
của bản thân, môi trường, chức năng, hành vi sử dụng. Dữ liệu khảo sát trong bài được thu
thập từ 425 sinh viên sử dụng Facebook tại các trường đại học Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ khóa: ảnh hưởng, Facebook, hành vi, mạng xã hội, sinh viên.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, xã hội chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc của công nghệ
thông, đặc biệt là mảng Internet, kéo theo đó sự xuất hiện ngày càng nhiều các trang mạng
xã hội như Facebook, zalo, YouTube,... Sự phát triển của những trang mạng xã hội này đã
tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức có nhiều cơ hội để chia sẻ những thông tin của mình song
nó cũng là thách thức đối với cơ quan quản lý an ninh mạng. Mạng xã hội đã và đang trở
thành một phần của đời sống, một thói quen ở một bộ phận công chúng, tiêu biểu là giới trẻ,
học sinh, sinh viên. Bất kể ở đâu bạn cũng có thể bắt gặp các bạn sinh viên đang sử dụng
Facebook trên chiếc smartphone, laptop, ipad, máy tính bảng,... Mạng xã hội Facebook giúp
thế giới “phẳng” hơn, nhỏ hơn, gần hơn vượt qua trở ngại về không gian hay thời gian. Với
sự phát triển chóng mặt đó thì liệu họ có nhận thức hay có thái độ như thế nào đối với hành
vi sử dụng không gian mạng của mình? Nhận thức được tầm quan trọng này nên chúng tôi
đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi sử dụng mạng xã hội
Facebook của sinh viên các trường Đại học tại TP.HCM” để xác định và đo lường mức độ
tác động của các nhân tố đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên các
Trường Đại học tại TP.HCM; từ đó đề xuất một số hàm ý nhằm có thể giúp tác động tích cực
đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên các trường Đại học tại TP.HCM.
1753
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Khái niệm tổng quát về mạng xã hội Facebook
Mạng xã hội (Social Network) là dịch vụ nối kết những thành viên sử dụng thông qua hình
thức “kết bạn”. Năm 1995, đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của mạng xã hội ở Mỹ với sự
ra đời của trang web Claxơnet.
Mạng xã hội được xem là các dịch vụ dựa trên nền tảng web có thể cho phép cá nhân xây
dựng một trang hồ sơ cá nhân công khai hoặc bán công khai trong giới hạn của hệ thống;
hoặc thể hiện được danh sách những người dùng khác mà họ kết nối với nhau hoặc xem
hoặc ghé thăm các trang hồ sơ cá nhân của những người khác trong hệ thống thông qua
việc kết nối. Bản chất và tên gọi của các kết nối này có thể thay đổi tùy theo từng trang
mạng xã hội khác nhau (Boyd & Ellison, 2008).
Thuật ngữ hành vi (Behavior) xuất hiện từ thời trung cổ dùng miêu tả tính cách của con
người. Năm 1843, khi đưa ra khái niệm “tập tính học”, John Stuart Mill đã nói đến “hành vi”.
Sự ra đời của thuyết hành vi vào thập ký thứ hai của thế kỷ XX được coi là một bước ngoặc
trong lịch sử tâm lý học, hành vi trở thành đối tượng của khoa học tâm lý.
Theo Watson, có tất cả 04 loại hành vi: bên ngoài hành vi, bên trong hành vi, hành vi tự
động thông minh và mặc định hành vi tự động. Mọi người làm việc đều suy nghĩ đều thuộc
về một loại hành vi. Hành vi được xem là tổ hợp các phản hồi của cơ thể trước sự thích hợp
của bên ngoài môi trường. Hành vi là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh
bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể. Hành vi con người có tính mục đích và có nghĩa,
cùng một lúc chịu tác động của chủ thể lẫn thực tại bao gồm cả các chuẩn mực xã hội được
xây dựng từ hệ thống giá trị xã hội do một nên văn hóa lựa chọn để định hướng. Hành vi có
cơ sở là tâm thế, nảy sinh khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu.
2.2 Một số Mô hình lý thuyết về hành vi
Mô hình TAM-Chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model)
Mô hình TAM để nghiên cứu chuyên sâu về MXH bao gồm: tính khích lệ, tính xã hội, tính vị
tha, tính thực tế ảo và biến hành vi thực tế sử dụng. Trong đó các biến tính xã hội, tính vị
tha, tính thực tế ảo được xem như các biến ngoại sinh trong Mô hình TAM. Với Mô hình này
Kwon và Wen (2009) vừa tận dụng được điểm mạnh của Mô hình TAM vừa phát triển thêm
một số biến thuộc về nhu cầu xã hội của người dùng trong thang cấp độ nhu cầu của
Maslow nên được đánh giá là Mô hình điển hình trong nghiên cứu về MXH nói chung.
Mô hình TRA-Thuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action)
Thuyết hành động hợp lý (TRA) nhằm giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong
hành động của con người. Thuyết này được sử dụng để dự đoán cách mà các cá nhân sẽ
hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã có từ trước của họ. Các cá nhân sẽ hành
động dựa vào những kết quả mà họ mong đợi khi thực hiện hành vi đó
Mô hình TPB-Lý thuyết hành vi có kế hoạch hay lý thuyết hành vi hoạch định (The
Theory of Planning Behaviour)
Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển từ lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và
Fishbein, 1975), lý thuyết này được tạo ra để khắc phục sự hạn chế của lí thuyết trước về
việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí. Theo Lý thuyết về hành
1754
vi hợp lý, nếu một người có thái độ tích cực đối với hành vi và những người quan trọng của
họ cũng mong đợi họ thực hiện hành vi (tức là nhân tố tiêu chuẩn chủ quan), thì kết quả là
họ có mức độ ý định hành vi cao hơn (có nhiều động lực hơn) và nhiều khả năng sẽ hành
động (thực hiện ý định). Điều này đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu, khẳng định
mối liên kết giữa thái độ và tiêu chuẩn chủ quan đối với ý định hành vi, và sau đó là thực
hiện hành vi.
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp
giữa nghiên cứu định tính và định lượng. Trong đó, phương pháp nghiên cứu định tính là
phương pháp phỏng vấn bằng cách thảo luận trực tiếp với chuyên gia có trình độ và kinh
nghiệm. Kết quả khám phá các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng MXH Facebook của
sinh viên được kiểm tra bằng phương pháp thống kê. Đối với phương pháp nghiên cứu định
lượng, được tiến hành thông qua việc thu thập dữ liệu điều tra bảng câu hỏi và xử lý bằng
phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu bằng các kỹ thuật: Phân tích mô tả, kiểm định
Cronbach’s Alpha, phân tích khám phá EFA, phân tích hồi quy tuyến tính.
Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát mẫu bằng cách phát ra 200 bảng câu hỏi giấy và gửi
bảng câu hỏi trên Facebook đến 250 các bạn sinh viên để trả lời qua máy tính trong khoảng
thời gian từ tháng 12/2020- 04/2021. Kết quả thu về được được tổng cộng 195 bảng giấy và
242 bảng trả lời qua Facebook. Sau khi thực hiện việc kiểm tra, loại bỏ các phiếu khảo sát
không đạt yêu cầu thì có 225 phiếu khảo sát hợp lệ, đáp ứng yêu cầu về mẫu nghiên cứu.
Các yếu tố cũng như bảng hỏi được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu khác nhau trong
thời gian qua. Thang đo trong nghiên cứu là thang đo Likert 5 điểm từ mức Không đồng ý
đến "Hoàn toàn đồng ý".
3.2 Mô hình nghiên cứu
Căn cứ vào các lý thuyết nền, tổng quan các công trình nghiên cứu trước, nghiên cứu
chuyên gia, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu như Hình 1
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất (Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu 2021)
1755
Phương trình hồi quy: HVSD = β × NC + β2 × TQ + β3NT+ β4 × MT + β × CN + ε
Trong đó:
HVSD: biến phụ thuộc mô tả hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên các trường Đại
học tại TP.HCM. NC: nhu cầu, TQ: thói Quen, NT: nhận thức của bản thân, MT: môi trường,
CN: chức năng.
β , β2, β3, β4, β : là các hệ số hồi quy, ε: sai số ngẫu nhiên.
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đ C n ch’s Alpha
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng
Facebook của sinh viên (Bảng1). Ta thấy, hệ số Cronbach’s Alpha của 5 nhân tố trong mô
hình nghiên cứu đều > 0.6, chứng tỏ thang đo lường tốt. Đồng thời, các biến quân sát được
giữ lại đo đều có hệ số tương quan biến - tổng lớn hơn 0.3 (tiêu chuẩn cho phép). Vì vậy,
các thang đo và biến được sử dụng trong phân tích EFA tiếp theo.
Bảng 1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
Số biến quan C n ch’s
STT Th ng đ
sát
Alpha
0.918
0.933
0.853
0.880
0.735
0.908
1
2
3
4
5
6
Nhu cầu (NC)
4
Thói Quen (TQ)
5
Nhận thức của bản thân (NT)
i trường (MT)
4
4
Chức năng (CN)
3
Hành vi sử dụng MXH Facebook (HVSD)
3
Nguồn: nhóm tác giả phân tích t ng h p bằng SPSS 20.0
4.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Đối với biến phụ thuộc
Kết quả kiểm định Barlett (Bảng 2) cho thấy gữa các biến trong tổng thể có mối tương quan
với nhau (Sig= 0.00 < 0.05). Đồng thời, hệ số KMO = 0.752 > 0.5, chứng tỏ phân tích nhân
tố để nhóm các biến lại với nhau là thích hợp và dữ liệu phù hợp cho việc phân tích nhân tố.
Mặt khác, kết quả phân tích (Bảng 3) cho thấy, các nhân tố đều có giá trị Eigenvalues > 1.
Với phương pháp rút trích Principal components với phép quay Varimax, có 5 nhân tố được
rút trích ra từ biến quan sát. Phương sai trích là 84.593% > 50% là đạt yêu cầu.
Đối với biến độc lập
Sau khi chạy fixed number of factors cho thấy phương sai trích là 75.062% > 50% đạt yêu
cầu. Với phương pháp rút trích Principal components và phép quay Varimax, có 5 yếu tố
1756
được rút trích ra từ biến quan sát. Điều này chứng minh cho chúng ta thấy 8 yếu tố rút trích
ra thể hiện khả năng giải thích được 75.062% sự thay đổi của biến phụ thuộc trong tổng thể.
Bảng 2. Hệ số KMO và kiểm định Barlett các biến phụ thuộc
Kiểm tra KMO and Bartlett's
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin)
0.752
853.595
3
Giá trị Chi-Square
Df
Mô hình kiểm tra của Bartlett's
Sig. (giá trị P – value)
.000
Nguồn: nhóm tác giả phân tích t ng h p bằng SPSS 20.0
4.3 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đ biến
Kết quả phân tích (Bảng 3) cho thấy, số liệu khi xét tstat và ta/2 của các biến đo lường tin
cậy, thì các biến độc lập đều đạt yêu cầu và các giá trị Sig. Thể hiện độ tin cậy khá cao, đều
< 0.5. Do vậy đây là mô hình thích hợp để sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ
thuộc và biến độc lập. Ngoài ra, hệ số VIF của các hệ số Beta đều nhỏ hơn 10 và hệ số
Tolerance đều > 0.5, cho thấy không cố hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị hệ số tương quan là 0.903 > 0.5, do vậy, đây là mô hình
thích hợp để sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập. Ngoài
ra, giá trị hệ số R2 là 0.815, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với dữ
liệu 81.5%. Nói cách khác, 81.5% sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ thẻ của
ngân hàng là do mô hình hồi quy giải thích. Các phần còn lại là do sai số và các nhân tố
khác. Điểm khác biệt này cũng có thể được giải thích do mô hình nghiên cứu không tập
trung vào những giá trị và đặc điểm cá nhân của khách hàng như tâm lý, tính cách... Vì vậy,
các giá trị biến quan sát trong nghiên cứu chỉ có thể giải thích cho 81.5% sự hài lòng của
khách hàng.
Phương trình hồi quy: HVSD = 0.283 × CN + 0.282 × NC + 0.239 × MT + 0.223
× TQ + 0.195 × NT
Bảng 3. Thông số thống kê mô hình hồi quy
Hệ số
Hệ số
Thống kê
chư chu n hóa chu n hóa
đ cộng u ến
Mô hình
t
Sig.
Sai số
Hệ số
Hệ số
B
Beta
chu n
.130
Tolerance
VIF
(Constant)
NC
-1.461
.272
-11.262
10.370
8.710
.000
.000
.000
.026
.282
.223
.725
.654
.452
.392
TQ
.248
.029
1757
Hệ số
Hệ số
Thống kê
chư chu n hóa chu n hóa
đ cộng u ến
Mô hình
t
Sig.
Sai số
Hệ số
Hệ số
B
Beta
chu n
.026
Tolerance
VIF
.356
.412
.477
NT
MT
CN
.202
.280
.394
.195
.239
.283
7.808
9.247
.000
.000
.000
.614
.649
.671
.030
.035
11.097
Nguồn: nhóm tác giả phân tích t ng h p bằng SPSS 20.0
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến tới hành vi sử dụng
mạng xã hội Facebook của sinh viên các trường Đại học TP.HCM, có thể rút ra một số kết
luận như sau:
Phương trình hồi quy tuyến tính được trích theo hệ số Beta chuẩn hóa cho thấy, có 6 nhân
tố tác động đến hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên các trường Đại học
TP.HCM gồm:
1. Nhu cầu,
2. Thói quen,
3. Nhận thức của bản thân,
4. Môi trường,
5. Chức năng,
6. Hành vi sử dụng.
Trong đó, nhân tố Chức năng có ảnh hưởng lớn nhất, tác động mạnh nhất đến hành vi của
sinh viên khi sử dụng MXH Facebook, nhân tố Nhận thức của bản thân có ảnh hưởng ít
nhất, tác động yếu nhất đến hành vi của sinh viên khi sử dụng MXH Facebook.
5.2 Kiến nghị
Từ các kết luận được rút ra từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi xin đề xuất một số các giải
pháp nhằm tăng cường nhận thức cho sinh viên về lợi ích cũng như nguy cơ mà MXH
Facebook mang lại để hạn chế những hậu quả xấu do MXH gây ra và có khả năng sử dụng
MXH Facebook phục vụ mục đích học tập và cuộc sống hữu ích hơn.
Đối với Nhà trường
Nhà trường cần tổ chức nhiều hoạt động lành mạnh phong phú như mở các lớp ngoại khóa,
các câu lạc bộ, các hoạt động cộng đồng, các hội thảo, chương trình thể thao, văn nghệ...
tạo nên những sân chơi bổ ích cho sinh viên. Giúp cho họ có cơ hội học tập, thể hiện bản
thân, giao tiếp mở rộng mối quan hệ thực với bạn bè thầy cô... thu hút sự chú ý của sinh
1758
viên nhằm giảm bớt tình trạng sinh viên không có sân chơi nên tiêu tốn thời gian vào những
trò giải trí vô bổ trên mạng ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập.
Nhà trường tạo điều kiện cho sinh viên được sử dụng máy tính nối mạng trong trường, giúp
sinh viên có cơ hội sử dụng mạng internet miễn phí nhằm hạn chế việc sinh viên lang thang
trong các quán cafe internet đang mọc lên như nấm quanh các trường đại học, cao đẳng.
Khuyến khích sinh viên sử dụng MXH Facebook, đồng thời thường xuyên nhắc nhở giáo dục
ý thức của sinh viên về văn hóa mạng để ngăn chặn, phòng ngừa những hành vi xấu ảnh
hưởng từ mạng xã hội. Đặc biệt, nhà trường, thầy cô giáo cần cung cấp cho sinh viên các kĩ
năng sử dụng mạng xã hội Facebook như kỹ năng truy cập thông tin, tài liệu, kĩ năng lọc
thông tin, kĩ năng bảo mật thông tin của mình trên mạng xã hội Facebook, kĩ năng phân phối
thời gian học tập, sinh hoạt và vào mạng phù hợp, hiệu quả.
Đối với các nhà quản lý mạng
Tổ chức và thực hiện tốt nhiệm vụ trong việc kiểm soát tốt các trang web trên mạng, kịp thời
ngăn chặn những trang web không lành mạnh, có những nội dung chuyển tải không tốt,
phản động làm ảnh hưởng đến đời sống lành mạnh của cư dân mạng. Có biện pháp giúp
cho người sử dụng tiếp cận với nguồn thông tin chính xác, an toàn và dễ dàng hơn.
Mặt khác, sinh viên hiện nay có nhu cầu rất cao trong vấn đề tìm kiếm việc làm trên mạng xã
hội Facebook, cần có những trang mạng xã hội Facebook cung cấp những thông tin tuyển
dụng chính xác tạo sự tin tưởng cho sinh viên và giúp họ tự tin đăng tuyển để có được công
việc phù hợp, thuận lợi.
Đối với gia đình
Kịp thời phát hiện và ngăn chặn những biểu hiện, hành vi không lành mạnh do ảnh hưởng từ
những nội dung độc hại trên Facebook. Đồng thời, cần chọn lọc kênh thông tin lành mạnh,
bổ ích để hướng dẫn cho con em nên học và chơi gì, giải thích rõ tại sao không nên và dẫn
chứng những tác hại của các loại thông tin xấu, chứ không đơn thuần là cấm mà không giải
thích phân tích cặn kẽ. Các bậc cha m cần có sự quan tâm theo dõi sát sao kiểm soát về
thời gian, các trang mạng mà giới trẻ thường xuyên sử dụng, bởi vì nó tiềm ẩn khá nhiều
nguy cơ ảnh hưởng xấu đến học tập, lối sông và nhân cách con người. Cần có thời gian
hướng dẫn, định hướng con em mình biết cách khai thác thông tin, sử dụng mạng xã hội,
điều phối thời gian cho các hoạt động một cách hợp lý.
Đối với bản thân sinh viên
Bên cạnh việc nâng cao nhận thức của sinh viên trong vấn đề sử dụng MXH Facebook
thông qua tuyên truyền giáo dục từ phía gia đ nh, nhà trường và xã hội, thì mỗi sinh viên cần
phải tự ý thức trong việc sử dụng MXH Facebook sao cho có hiệu quả nhất trong việc học
tập. Tự ý thức trong việc tham gia các hoạt động giải trí trên mạng, đặc biệt là việc chơi
game quá độ ảnh hưởng xấu đến học tập, sức khỏe cũng như lối sống của mình.
Sinh viên cần chủ động hơn nữa trong việc lĩnh hội những tác động mang tính tích cực mà
MXH Facebook có thể mang lại như việc khai thác thông tin cho việc học tập, sinh hoạt, là
công cụ giải trí hữu hiệu giảm căng thẳng cho bản thân... Đồng thời tự rèn luyện bản thân, ý
thức cao trong việc khắc phục những hạn chế mà MXH có thể đem lại. Tích cực học tập trau
dồi kiến thức khắc phục những khó khăn mang tính chủ quan để có thể sử dụng MXH
Facebook đem lại hiệu quả cao hơn.
1759
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Vũ Thị Nho (2008) Tâm Lý Học Phát Triển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[2] Boyd, D. & Ellison, N.(2008). Social network(ing) site revisiting the story so far, Journal
of Computer-Mediated Communication, 13, 516–529
[3] Choi, R.B. (2010), Social Media and Youth Narcissim: Methods of Utilizing Curent
Technology in an Instructional Setting. Masters of Arts, University of San Francisco.
[4] Pêtơr pxki. V. A và Iarôsepxki. G. M (1990), Từ điển tâm lý học, Nxb Chính trị Quốc
gia, atxcơva.
[5] Hoàng Thị Hải Yến (2012), “Trao đổi thông tin trên MXH của giới trẻ Việt Nam từ năm
2010 đến năm 2011 – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
1760
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi sử d ng mạng xã hội facebook của sinh viên các trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_cac_nhan_to_anh_huong_toi_hanh_vi_su_d_ng_mang_xa.pdf

