Nghiên cứu công nghệ khai thác hợp lý và đề xuất giải pháp thoát nước cho Lò chợ I-7-22A nằm dưới suối gốc Vạng - Công ty than Nam Mẫu - TKV

Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 59, Kỳ 4 (2018) 45-51  
45  
Nghiên cứu công nghệ khai thác hợp lý và đề xuất giải pháp  
thoát nước cho Lò chợ I-7-22A nằm dưới suối gốc Vạng - Công  
ty than Nam Mẫu - TKV  
Đào Văn Chi 1,*, Lê Quang Phục 1, Đặng Quang Hưng 1, Bùi Quốc Chính 2  
1 Khoa Mỏ, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
2 Công ty than Nam Mẫu – TKV, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Lò chợ I-7-22A mỏ than Nam Mẫu nằm dưới lòng suối Gốc Vạng từ 175-  
200m. Trong điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu và khó khăn phức tạp  
nên các Lò chợ thuộc cụm vỉa nằm dưới suối Gốc Vạng này được Công ty quy  
hoạch vào khai thác để đảm bảo sản lượng mỏ và tận thu tài nguyên. Tuy  
nhiên, vấn đề giải pháp kỹ thuật công nghệ và an toàn khi khi thác Lò chợ  
này cần thiết phải được nghiên cứu tỉ mỉ và chi tiết. Vì vậy, bài báo sử dụng  
phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với thực tế tại hiện trường để  
tiến hành đánh giá, nghiên cứu đề xuất công nghệ khai thác phù hợp đồng  
thời đưa ra các giải pháp thoát nước đảm bảo an toàn khi Lò chợ I-7-22A đi  
vào hoạt động.  
Nhận bài 15/6/2018  
Chấp nhận 20/7/2018  
Đăng online 31/8/2018  
Từ khóa:  
Lò chợ, kỹ thuật an toàn  
Công nghệ khai thác  
Thoát nước  
Dưới lòng suối  
© 2018 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
(suối Hữu Nghị, suối phía Tây Nam, suối Ngã Hai,  
suối Lép Mỹ); Khe Chàm (suối Bàng Nâu, suối Khe  
1. Mở đầu  
Khai thác than dưới các đối tượng cần bảo vệ  
trên bề mặt địa hình (đối tượng chứa nước, công  
trình công nghiệp, khu dân cư…) là một vấn đề lớn  
đối với hầu hết các mỏ than hầm lò của Tập đoàn  
Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam, trong đó  
vấn đề khai thác dưới các lòng suối, hồ nước là  
một thực tế cần được giải quyết cấp bách ở các mỏ  
như Mạo Khê (suối Văn Lôi, các suối Bình Minh,  
Tràng Khê, Tràng Bạch, hồ Ba Cọc, hồ Cầu Cuốn…);  
Vàng Danh (suối Tây Vàng Danh 1 và Tây Vàng  
Danh 2; Nam Mẫu (suối Gốc Vạng, Than Thùng);  
Hòn Gai (suối trung tâm mỏ Cái Đá); Quang Hanh  
Chàm); Mông Dương (suối Khe Chàm, Vũ Môn)(  
Viện Khoa học Công nghệ mỏ - Vinacomin, 2010).  
Hiện nay đối với vùng mỏ Quảng Ninh chưa  
có một công trình nghiên cứu nào về xác định độ  
sâu khai thác an toàn và công nghệ khai thác hợp  
lý cho các cụm vỉa nằm dưới các đối tượng chứa  
nước như nêu ở trên. Chính vì vậy, một khối lượng  
lớn trữ lượng than chưa được huy động vào khai  
thác gây nên lãnh phí tài nguyên.  
Cùng với chủ trương chung của Tập đoàn,  
Công ty than Nam Mẫu- TKV có kế hoạch khai thác  
tận thu phần cụm vỉa than nằm dưới khu vực suối  
Gốc Vạng mộtcách an toàn và hiệu quả. Trongcụm  
vỉa này, vỉa V7 nằm trên cùng và được chuẩn bị  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
46  
Đào Văn Chi và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 45-51  
thành Lò chợ dài có số hiệu I-7-22A nằm cách suối  
từ 175m đến 200m. Cũng trong điều kiện tương  
tự như Lò chợ này, năm 2011 tại mỏ Vàng Danh  
khai thác cụm vỉa 8, 7, 6 năm dưới suối tây Vàng  
Danh. Tại đây Công ty than Vàng Danh đã áp dụng  
giải pháp đổ bê tông lòng suối đoạn chảy qua khu  
vực khai thác, tuy nhiên đã không mang lại hiệu  
quả, suối vị đứt gãy và nước chảy vào Lò chợ nhiều  
gây ngập lụt, mất an toàn trong quá trình khai thác  
hầm lò bên dưới (Viện Khoa học Công nghệ mỏ -  
Vinacomin,2010;Quy tắc bảo vệnhữngcông trình  
và đối tượng tự nhiên khỏi sự ảnh hưởng tiêu cực  
từ các đường lò của các mỏ than, 1998).  
Chính vì vậy, để làm căn cứ triển khai thực  
hiện vào thực tế, việc tính toán lựa chọn công nghệ  
khai thác và khả năng thoát nước cho Lò chợ I-7-  
22A là rất cần thiết. Việc áp dụng thử nghiệm các  
giải pháp tính toán cũng là tiền đề và cơ sở khoa  
học quan trọng để điều chỉnh phương pháp khai  
thác cho các vỉa bên dưới nhằm tận thu được tối  
đa tài nguyên.  
trung bình 9,5 m (Hình 1).  
3. Nghiên cứu công nghệ khai thác hợp lý cho  
Lò chợ I-7-22A  
Ở các nước trên thế giới đã tích luỹ được  
nhiều kinh nghiệm khai thác dưới các đối tượng  
chứa nước. Nguyên tắc cơ bản xác định khả năng  
khai thác an toàn tránh nguy cơ bục nước vào lò là  
công tác khai thác cần được tiến hành ở một độ  
sâu nhất định đảm bảo sao cho vùng biến dạng  
uốn võng cùng với hệ thống khe nứt tạo thành  
trong các tập lớp đá mỏ nằm trên khu vực khai  
thác không lan truyền tới đáy của đối tượng chứa  
nước. Những giải pháp thường được áp dụng ở  
nước ngoài có thể tổng hợp như sau (Phùng Mạnh  
Đắc, 1991):  
- Áp dụng công nghệ khai thác có điều khiển  
đá vách bằng chèn lò trong hệ thống khai thác cột  
dài theo phương  
- Áp dụng công nghệ khai thác gương lò ngắn  
để lại các trụ than bảo vệ giữa các lò khai thác.  
- Áp dụng công nghệ khai thác cột dài theo  
phương với lựa chọn chiều dày khai thác hợp lý.  
Phương pháp chèn lò có giá thành khai thác  
cao, thường chỉ áp dụng trong những trường hợp  
đặc biệt. Kinh nghiệm áp dụng thử nghiệm công  
nghệ khai thác có điều khiển đá vách bằng chèn lò  
tại Lò chợ vỉa 8 Công ty than Mạo Khê năm 2008  
cho thấy chi phí gia công và vận tải vật liệu chèn  
vào lấp khoảng trống đã khai thác lớn, dẫn đến giá  
thành 1 tấn than khai thác cao, năng suất lao động  
bình quân thấp, không đảm bảo hiệu quả khai thác  
(Phùng Mạnh Đắc, 1991).  
Phương pháp công nghệ khai thác gương lò  
ngắn thường được áp dụng khi khai thác một vỉa  
độc lập hoặc khi các vỉa không có sự ảnh hưởng  
lẫn nhau trong quá trình khai thác. Trong trường  
hợp khai thác cụm vỉa nằm gần nhau, trụ than bảo  
vệ giữa các lò khai thác ở vỉa nằm trên sẽ có ảnh  
hưởng áp lực bất lợi đối với công tác khai thác ở  
vỉa nằm dưới.  
2. Khái quát chung về Lò chợ I-7-22A  
Khu vực Lò chợ I-7-22A nằm dưới suối Gốc  
Vạng thuộc vỉa V7 có chiều dày vỉa than trung bình  
8,6 m, góc dốc trung bình của vỉa = 900. Chiều dài  
Lò chợ trung bình theo hướng dốc 123,6m, chiều  
dài theo phương trung bình khu vực áp dụng  
270m. Than trong vỉa thuộc loại bán Antraxit mầu  
đen, ánh kim, cấu tạo phân lớp mỏng, trung bình  
đến dầy và có cấu tạo khối, than trong vỉa cứng,  
dòn thường dễ vỡ trong than phát triển nhiều khe  
nứt vuông góc mặt lớp. Độ kiên cố của than f= 1÷2.  
Đá vách trực tiếp gồm các tập lớp bột kết và  
sét kết xen kẽ, sát vách vỉa thường là bột kết tiếp  
theo là cát kết. Bột kết mầu sám đen hạt to đến  
nhỏ, lượng cát tương đối nhiều, trong tập lớp đá  
vách có kẹp lớp mỏng và chỉ thạch anh. Bột kết có  
kết cấu rắn chắc có nhiều khe nứt phân lớp không  
rõ ràng, chiều dầy trung bình 0,5m, cường độ  
kháng nén trung bình = 352KG/cm2, dung trọng  
= 2,58 T/m3. Cát kết mầu xám đen hạt mịn, kết  
cấu rắn chắc có nhiều khe nứt, chiều dầy trung  
bình 0,5m, cường độ bền nén trung bình = 907  
KG/cm2, dung trọng = 2,64 T/m3 (Viện Khoa  
học Công nghệ mỏ - Vinacomin, 2014; Trần Xuân  
Hà và nnk., 2012). Nhìn chung, vách trực tiếp có  
độ bền vững trung bình dễ sập đổ khi khai thác. Đá  
trụ vỉa là loại bột kết rắn chắc, thuộc loại ổn định  
trung bình, chiều dầy thay đổi từ 8,0 11 m  
Phương pháp khai thác Lò chợ cột dài theo  
phương với chiều dày khai thác hợp lý là phương  
pháp phổ biến nhất khi khai thác các vỉa dày, đặc  
biệt là khai thác cụm vỉa gần nhau.  
Đối với điều kiện địa chất-kỹ thuật mỏ khu  
vực cụm vỉa V7, V6A, V6, V5 nằm dưới suối Gốc  
Vạng- Công ty than Nam Mẫu thì giải pháp công  
nghệ khai thác Lò chợ cột dài theo phương với độ  
Đào Văn Chi và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 45-51  
47  
Hình 1. Bình đồ Lò chợ I-7-22A nằm dưới suối.  
sâu và chiều dày khai thác hợp lý là lựa chọn phù  
hợp nhất.  
với chiều cao khấu gương 2,2m, không thu hồi  
than nóc (Hình 2).  
Căn cứ Quy chuẩn quốc gia về an toàn trong  
khai thác than hầm lò năm 2011, để đảm bảo  
không bị nước thẩm thấu nước trực tiếp từ bề mặt  
xuống khu vực đang khấu than thì chiều cao bảo  
vệ theo đường vuông góc tối thiểu phải bằng 40  
lần chiều cao khấu. Như vậy với điều kiện Lò chợ  
I-7-22A nằm cách suối gần nhất là 175m, dưới đáy  
suối có lớp sét dầy 2m thì chiều sâu khai thác an  
toàn tương ứng tối đa phải nhỏ hơn 175m. Chiều  
dày lớp than được phép khai thác của Lò chợ I-7-  
22A tương ứng sẽ là 173/40 = 4,3m (Bộ công  
thương, 2011). Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và  
cũng là cơ sở xác định chiều cao vùng sụt lún, khe  
nứt trong quá trình khai thác I-7-22A, đồng thời  
tạo tiền đề cho việc khai thác các Lò chợ bên dưới,  
nhóm tác giả đề xuất chỉ khai thác tận thu một lớp  
Căn cứ các điều kiện trên, đồng thời trên cơ  
sở công nghệ khai thác tại các Lò chợ dài vùng  
Quảng Ninh, nhóm tác giả đề xuất áp dụng giải  
pháp công nghệ khai thác trong Lò chợ như sau:  
(1) Công tác khấu và chống lò: sử dụng phương  
pháp khoan nổ mìn để khấu gương với chiều cao  
2,2 m. Chống giữ Lò chợ bằng vì chống thuỷ lực  
(giá khung hoặc giá thủy lực di động). (2) Công tác  
vận tải than: trong Lò chợ và trên lò song song  
chân than được vận chuyển bằng máng cào. Sau  
đó vận chuyển rót vào hộc tháo than và đưa ra  
ngoài mặt bằng bằng băng tải; (3) Công tác vận tải  
vật liệu: vật liệu, thiết bị phục vụ khai thác được  
vận chuyển bằng tích chuyên dụng từ ngoài mặt  
bằng cửa lò vào cung cấp cho Lò chợ; (4)  
48  
Đào Văn Chi và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 45-51  
Hình 2. Mặt cắc xác định chiều sâu khai thác an toàn và công nghệ đề xuất cho Lò chợ I-7-22A.  
Công tác thông gió: cho khu vực Lò chợ bằng  
phương pháp thông gió hút chung của mỏ.  
ly khu vực Lò chợ khi lượng nước lớn không thể  
kiểm soát được (Hình 3, Hình 4).  
Nhằm đánh giá khả năng thoát nước trong Lò  
chợ, nhóm tác giả dự báo lượng nước chảy vào Lò  
chợ theo công thức sau:  
4. Đề xuất giải pháp thoát nước trong quá  
trình khai thác ở Lò chợ I-7-22A  
M( 2H M )h2  
Q K  
B
(1)  
4.1. Giải pháp thoát nước trong Lò chợ  
R r  
Vào mùa mưa, khi có lưu lượng nước lớn từ  
thượng nguồn dồn về suối Gốc Vạng, nếu suối  
không thoát nhanh thì nước có thể sẽ ngấm xuống  
Lò chợ qua các khe nứt. Đặc biệt nếu dòng suối bị  
chặn (do trôi trượt bãi thải...) hoặc do công tác nạo  
vét không hiệu quả thì lượng nước thẩm thấu  
xuống Lò chợ là rất lớn. Do vậy, để đề phòng hiện  
tượng bục nước, nước chảy vào lò, nhóm tác giả  
tiến hành nghiên cứu và đề xuất các phương án  
sản xuất đảm bảo an toàn chống bục nước như  
sau:  
Trong đó: Q: Lượng nước dưới đất chảy vào  
lò (m 3 /ngđ); K: Hệ số thấm nước, lấy giá trị trung  
bình cao của các lỗ khoan thí nghiệm hút nước  
(m/ng). K=0.07 m/ngđ; H: Chiều cao trung bình  
cột nước tính từ mực thủy tĩnh lỗ khoan (m). Sử  
dụng 20 lỗ khoan trong khu vực, ∆Htb = 322,09m;  
M: Chiều dày trung bình đất đá chứa nước tính từ  
đáy địa tầng trở lên (m), M = 0,38 H (m); R: Bán  
kính ảnh hưởng mực nước hạ thấp khi khai thác,  
tính theo công thức kinh nghiệm R = 10. S  
K
; S:  
Mực nước hạ thấp, khi khai thác đến đáy địa  
tầng thì S = H; r : Bán kính lò khai thác, lấy r= 1.5m;  
h: Lựa chọn mặt phẳng tính toán trùng với mặt  
phẳng gốc, h = 0; B: Chiều dài Lò chợ, B = 136m;  
Kết quả tính toán được thể hiện trong Bảng 1.  
- Tuyệt đối tuân thủ chiều cao khai thác lớp  
than theo đúng thiết kế nhằm đảm bảo chiều sâu  
khai thác an toàn dưới suối theo quy chuẩn.  
- Xâydựng các tường chắn dựphòng tại lò dọc  
vỉa vận tải và lò dọc dọc thông gió để kịp thời cách  
Đào Văn Chi và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 45-51  
49  
Hình 3. Vị trí xây tường chắn dự phòng bục nước khu vực Lò chợ I-7-22A.  
Hình 4. Kết cấu tường chắn trong Lò chợ I-7-22A.  
Bảng 1. Bảng dự báo lưu lượng nước chảy vào Lò chợ I-7-22A.  
Địa cấp  
(m)  
+150  
+125  
+100  
+50  
K
(m/ng)  
0,07  
0,07  
0,07  
0,07  
0,07  
H
(m)  
M
(m)  
S
(m)  
h
r
R
(m)  
Lưu lượng  
(m3/ng) (m3/h)  
(m) (m)  
172,09 198,39 172,09  
197,09 198,39 197,09  
222,09 198,39 222,09  
272,09 198,39 272,09  
322,09 198,39 322,09  
0
0
0
0
0
1,5  
1,5  
1,5  
1,5  
1,5  
455,31  
521,45  
587,59  
719,88  
852,17  
606,56  
711,28  
791,52  
908,48  
990,08  
25,84  
29,92  
32,64  
38,08  
40,8  
0
50  
Đào Văn Chi và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 45-51  
Theo tính toán trên, để xử lý phần nước chảy  
đồng thời xây dựng mạng lưới quantrắc dịch động  
đất đá thường xuyên để tận thu được nhiều tài  
nguyên than hơn.  
Bên cạnh việc khai thác, công tác phòng tránh  
sự cố luôn đồng hành đảm bảo an toàn. Giải pháp  
xây dựng tường chắn dự phòng và hệ thống hố thu  
nước ở chân Lò chợ sẽ hạn chế được lượng nước  
chảy tràn trên đường lò gây ách tắc sản xuất đồng  
thời thoát nước dễ dàng hơn qua hệ thống máy  
bơm.  
vào lò trong quá trình khai thác nhóm tác giả cùng  
với Công ty than Nam Mẫu nghiên cứu thực hiện  
đào các hố thu với kích thước DxRxC = 2x2x1m =  
4 m3 tại lò dọc vỉa vận tải chân Lò chợ sau mỗi  
luồng khấu để kịp thời thu nước. Sử dụng hệ thống  
máy bơm bơm cưỡng bức từ hố thu nước ra ngoài  
với lưu lượng nước từ 10-:-200 m3/h. Trong quá  
trình khai thác luôn cập nhật và theo dõi để có kế  
hoạch chuyển diện khai thác kịp thời trong trường  
hợp Lò chợ bị ngập nước (Avershin, 1954).  
Tài liệu tham khảo  
4.2. Giải pháp thoát nước cho suối Gốc Vạng  
Avershin, S. G., 1954. Công tác mỏ dưới các công  
trình và hồ chứa, Moscow, Ugletekhizdat. (bản  
tiếng Nga).  
Lòng các suối này rộng từ 5m 7m, hạ nguồn  
rộng từ 10m 15m. Càng lên thượng nguồn càng  
dốc, độ dốc từ 40o60o. Lòng suối có nhiều đá lăn  
cỡ lớn, đôi chỗ có thác cao từ 1m 2m. Mạng suối  
phân bố khắp khu mỏ, có nhiều nhánh nhỏ. Lưu  
lượng nước ở các suối không ổn định, hệ số biến  
đổi lớn. Lưu lượng các suối phụ thuộc theo mùa,  
mùa khô (tháng 11- tháng 4) lưu lượng trung bình  
từ 1.90 l/s - 53.06l/s. Mùa mưa (tháng 5 - tháng  
10) từ 36 l/s - 5901 l/s.  
Bộ công thương, 2011. Quy chuẩn kỹ thuật Quốc  
gia về An toàn trong khai thác than hầm lò. Nhà  
xuất bản Lao động. Hà Nội.  
Phùng Mạnh Đắc, 1991. Nghiên cứu áp dụng các sơ  
đồ công nghệ khai thác không để lại trụ than  
bảo vệ. Viện Khoa học Công nghệ mỏ -  
Vinacomin, Hà Nội.  
Để đảm bảo an toàn, Công ty phải thường  
xuyên kiểm tra, khảo sát lòng suối để kịp thời khắc  
phục sự cố. San lấp các hố sụt lún và lu nền lòng  
suối tại các vị trí Lò chợ khấu qua. Nạo vét lòng  
suối phía thượng nguồn và phần hạ nguồn để đảm  
bảo dòng chảy liên tục. Làm việc cùng với Công ty  
than Vàng Danh báo cáo Tập đoàn di chuyển bãi  
thải tránh nguy cơ sạt lở lấp dòng chảy.  
Quy tắc bảo vệ những công trình và đối tượng tự  
nhiên khỏi sự ảnh hưởng tiêu cực từ các đường  
lò của các mỏ than, 1998. St. Petersburg,  
VNIMI. (bản tiếng Nga).  
Trần Xuân Hà, Đặng Vũ Chí, Nguyễn Văn Sung,  
Nguyễn Cao Khải, Nguyễn Văn Thịnh, Phan  
Quang Văn, 2012. An toàn vệ sinh lao động  
trong khai thác mỏ hầm lò, Nhà xuất bản Khoa  
học và Kỹ thuật, Hà Nội.  
5. Kết luận  
Viện Khoa học Công nghệ mỏ - Vinacomin, 2014.  
Báo cáo kết quả nghiệm thu tính chất cơ lý đá  
mỏ than Nam Mẫu. Hà Nội.  
Với mục tiêu tận thu tối đa tài nguyên than,  
việc sớm nghiên cứu huy động trữ lượng than  
nằm dưới suối vào khai thác đảm bảo an toàn là  
rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu, tính toán tại Lò  
chợ I-7-22A nằm dưới suối Gốc Vạng - Công ty  
than Nam Mẫu đã chứng minh được việc khai thác  
tận thu than dưới suối là hoàn toàn khả thi. Thời  
gian qua Công ty đã áp dụng khai thác tại Lò chợ  
này với chiều dày khai thác 2,2m đã hoàn toàn  
đảm bảo an toàn. Với kết quả trên, quá trình khai  
thác sẽ từng bước nâng cao chiều dày khai thác  
Viện Khoa học Công nghệ mỏ - Vinacomin, 2010.  
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khai thác trụ  
bảo vệ suối Vàng Danh, Hà Nội.  
Viện Khoa học Công nghệ mỏ - Vinacomin, 2016.  
Báo cáo kết quả Quan trắc trên bề mặt địa hình  
vỉa 7,8,9 mỏ than Nam Mẫu. Hà Nội..  
Đào Văn Chi và nnk./Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 59 (4), 45-51  
51  
ABSTRACT  
Study on mining technology and mine drainage for longwall face I-7-  
22A underneath Goc Vang stream, Nam Mau coal mine - TKV  
Chi Van Dao 1, Phuc Quang Le 1, Hung Quang Dang 1, Chinh Quoc Bui 2  
1 Faculty of Geomatics and Land Administration, Hanoi University of Mining and Geology, Vietnam  
2 Vinacomin - Nam Mau Coal Company, Vietnam  
Longwall face I-7-22A at Nam Mau coal mine is lying under Goc Vang stream at level 175-200 m. Due  
to the deep mining and complex geological conditions at the mine, faces belong to seams underlying Goc  
Vang stream are scheduled to be extracted, ensuring mine productivity and coal resource exploitation.  
However, the technology and safety in mining this face should be carefully assessed in detail. This paper  
presents assessment and investigation in order to propose appropriate technology and drainage  
solutions, contributing to improving mine safety when face I-7-22A is in operation.  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 18280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu công nghệ khai thác hợp lý và đề xuất giải pháp thoát nước cho Lò chợ I-7-22A nằm dưới suối gốc Vạng - Công ty than Nam Mẫu - TKV", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cong_nghe_khai_thac_hop_ly_va_de_xuat_giai_phap_t.pdf