Tiến hóa cấu trúc địa chất và môi trường trầm tích Miocen khu vực bể phú khánh

VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
Original article  
Evolution of Geological Structural and Sedimentary  
Environment Change in Miocene of Phu Khanh Basin  
Tran Thi Dung*, Tran Nghi, Chu Van Ngoi,  
Nguyen The Hung, Nguyen Thi Huyen Trang  
Faculty of Geology, VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam  
Received 13 February 2019  
Revised 11 March 2019; Accepted 11 March 2019  
Abstract: Phu Khanh basin located in the central Vietnam and bounded by the longitude of 109o-  
112oE and the latitude of 11o-15oN. The geological evolution history of the basin in Miocene is a  
1
very complicated, included three sedimentary cycles of Early Miocene (N1 ), Middle Miocene  
2
3
(N1 ) and Late Miocene (N1 ). Each of these sedimentary cycles was generated and deformed by a  
general rule as follow: subsidence, sedimentary filling to be buried deeply and unconsolided  
sediments being become sedimentary rocks by diagenesis process and then continuously changed  
by catagenesis process. At the end of each cycle, the secondary basins were uplifted over the water  
surface and eroded to creat the angle or stratigraphic unconformities. Three strong deformation  
factors are faults, compressions, and volcanic activities. The study also demonstrated that the  
depositional formation of Phu Khanh basin in Miocene is existed three typical eroded surfaces as:  
(1) The top of early Miocene is an angle unconformity in the age of 16 million years, equivalent to  
the age of seafloor spreading in the East Vietnam Sea; (2) The top of middle Miocene is also an  
angle unconformity in the age of 11 million years and (3) The top of late Miocene is 5.5 million  
years and this surface is both angle unconformity and stratigraphic boundary between Late  
Miocene and Pliocene - Quaternary sedimentary formations. The present geological structure of  
Phu Khanh basin is considered as the one of Pliocene - Quaternary dued to the control of East Sea  
Western fault system 1090-1100E in longitudinal direction and Tuy Hoa Shear Zone in  
northwestern direction that strongly activated in Pliocene - Quaternary. The geological structure of  
the three secondary basins of Early Miocene, Middle Miocene and Late Miocene was affected by four  
main factors: (1) thermal subsidence at the center; (2) uplifting in the western margin; (3) the impact of  
the Red River strike-slip fault and (4) the compressive force from the southeast of seafloor spreading  
zone. The geological structural development history of Miocene deposits in Phu Khanh basin is proven  
by the sedimentary evolution and the strong deformation of these three cycles.  
Keywords: Phu Khanh basin, geological structural, secondary basin, deformation.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]om  
71  
VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
Tiến hóa cấu trúc địa chất và môi trường trầm tích Miocen  
khu vực bể phú khánh  
Trần Thị Dung*, Trần Nghi, Chu văn Ngợi,  
Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thị Huyền Trang  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 13 tháng 2 năm 2019  
Chỉnh sửa ngày 11 tháng 3 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 11 tháng 3 năm 2019  
Tóm tắt: Bể Phú Khánh nằm trên vùng biển miền Trung Việt Nam giới hạn trong khoảng kinh  
tuyến 109o-112030’E và vĩ tuyến 10030’-15oN. Khu vực bể Phú Khánh có một lịch sử phát triển địa  
1
2
chất trong Miocen rất phức tạp với 3 chu kì trầm tích: Miocen sớm (N1 ), Miocen giữa (N1 ) và  
3
Miocen muộn (N1 ). Mỗi chu kì trầm tích này được sinh ra và bị biến dạng theo một quy luật là sụt  
lún, lấp đầy trầm tích nhấn chìm sâu và vật liệu trầm tích bở rời biến thành đá trầm tích  
(diagenesis) và tiếp tục bị biến đổi thứ sinh trong điều kiện nhiệt độ và áp suất tăng cao  
(catagenesis). Cuối mỗi chu kì các bể trầm tích thứ cấp bị nâng lên khỏi mặt nước và bị bào mòn  
tạo ra bất chỉnh hợp góc hoặc bất chỉnh hợp địa tầng. Ba yếu tố gây biến dạng mạnh mẽ là: đứt  
gãy, nén ép và hoạt động núi lửa. Nghiên cứu cho thấy rằng trong thành tạo trầm tích Miocen bể  
Phú Khánh có 3 mặt bào mòn tiêu biểu: (1) Nóc Miocen sớm là bất chỉnh hợp góc có tuổi 16 triệu  
năm tương đương với tuổi dừng tách giãn đáy Biển Đông; (2) Nóc Miocen giữa cũng là bất chỉnh  
hợp góc có tuổi 11 triệu năm; (3) Nóc Miocen muộn có tuổi 5,5 triệu năm vừa có bất chỉnh hợp địa  
tầng vừa có bất chỉnh hợp góc giữa Miocen và Pliocen-Đệ Tứ. Cấu trúc địa chất của bể Phú Khánh  
hiện tại là cấu trúc của Pliocen-Đệ Tứ do khống chế của hệ thống đứt gãy sụt bậc 109o-110oE theo  
hướng kinh tuyến và đới đứt gãy xiết trượt Tuy Hòa theo hướng tây bắc đông nam hoạt động tích  
cực trong Pliocen- Đệ Tứ. Còn cấu trúc địa chất của 3 bể thứ cấp Miocen sớm, Miocen giữa và  
Miocen muộn bị ảnh hưởng của 4 nguồn lực chính: (1) sụt lún nhiệt ở trung tâm; (2) nâng trồi đới  
ven rìa phía tây; (3) ảnh hưởng của đứt gãy trượt bằng Sông Hồng và (4) lực ép từ phía đông nam  
của đới tách giãn Biển Đông. Lịch sử phát triển cấu trúc địa chất Miocen của bể Phú Khánh được  
minh chứng bằng tiến hóa và sự biến dạng mạnh mẽ trầm tích của 3 chu kỳ nói trên.  
Từ khóa: Bể Phú Khánh, cấu trúc địa chất, bể thứ cấp, biến dạng.  
1. Mở đầu  
Bể Phú Khánh nằm trên vùng biển Miền  
Trung Việt Nam, chiếm một diện tích rộng lớn  
từ vùng nước nông thềm lục địa đến vùng nước  
sâu sườn lục địa hiện đại, giới hạn trong khoảng  
kinh tuyến 109o00’ – 112o30’E và vĩ tuyến  
10o30’ – 15o00’N. Theo ranh giới của bể trầm  
tích bể Phú Khánh giáp với bể Sông Hồng ở  
phía bắc, bể Cửu Long ở phía nam, bể Nam  
Côn Sơn ở phía đông nam (hình 1) [1].  
________  
Khu vực bể Phú Khánh có một lịch sử phát  
triển địa chất phức tạp bắt đầu từ Paleogen và  
kết thúc trong giai đoạn Đệ tứ. Lịch sử đó được  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ Email: [email protected]om  
72  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
73  
ghi lại một cách sinh động bởi 6 chu kỳ trầm  
Việt Nam đã hợp tác với Mỹ và Nga đã thu nổ  
1
2
1
tích tương ứng với 6 bể thứ cấp (E3 , E3 , N1 ,  
được khoảng 7000 km tuyến địa vật lý 1,2,3.  
Năm 2002 – 2003, Phạm Quang Trung và nnk,  
đã tiếp tục nghiên cứu các mẫu lộ dầu ở đầm  
Thị Nại song vẫn chưa đi đến lời kết thỏa đáng  
về nguồn gốc dầu mỏ nơi đây. Cũng trong thời  
gian này dự án ENRECA do viện dầu khí hợp  
tác với Cục Địa chất Đan Mạch đã tiến hành  
nghiên cứu tổng thể địa chất dầu khí bể Phú  
Khánh. Kết quả nghiên cứu chủ yếu dựa trên  
minh giải định tính các mặt cắt địa chấn 2D mà  
chưa có mẫu khoan 2, 3.  
2
3
N1 , N1 và N2 - Q). Trong đó 3 bể thứ cấp trong  
Miocen vừa có tính chu kỳ theo thời gian vừa bị  
phân hóa về cấu trúc theo không gian do bối  
cảnh kiến tạo liên tục thay đổi. Lịch sử nghiên  
cứu địa chất bể Phú Khánh có thể ghi nhận khởi  
đầu là Saurin (1944 - 1964) nghiên cứu điểm lộ  
đầu tiên ở đầm Thị Nại (Bình Định) trên đất  
liền gần với bể Phú Khánh 1-3đã phát hiện ra  
các lớp Sapropel giàu tảo có nguồn gốc dầu mỏ.  
Từ năm 1979 đến 2006 Tổng công ty dầu khí  
Hình 1. Vị trí bể Phú Khánh trên thềm lục địa Việt Nam và các tuyến địa chấn [1].  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
74  
Về nghiên cứu kiến tạo địa động lực Briais  
nhiều pha kiến tạo muốn xác định được các tổ  
hợp cộng sinh tướng cần phải khôi phục từng  
bể thứ cấp (secondary basins) thì mới tường  
minh địa hình cổ và các tướng trầm tích. Trên  
các mặt cắt vuông góc với đường bờ từ thềm  
trong đến thềm ngoài, các tác giả đã bỏ qua đới  
đứt gãy phá hủy 109oE – 110oE.Đây là đới đứt  
gãy thuận sụt bậc thang đã nhấn chìm toàn bộ  
trầm tích Kainozoi được thành tạo ở ven biển  
xen biển nông xuống vùng biển nước sâu  
(>500m nước) 10. Michael B.W. Fyhn et all  
(2013) [12] lại đưa ra thêm những kết quả  
nghiên cứu mới của bể Phú Khánh như trầm  
tích vụn aluvi (alluvial – neritic siliciclastic)  
trầm tích vụn biển sâu (bathyal siliciclastic) và  
châu thổ basalt (basalt delta). Các đới tướng  
trầm tích nói trên được xác định một cách ước  
lệ trên mặt cắt địa chấn là không đúng với quy  
luật phân bố các nhóm tướng theo mặt cắt từ  
dưới lên và theo không gian từ rìa vào trung  
tâm bể. Trong Oligocen - Miocen bể Phú  
Khánh không có trầm tích biển sâu như các tác  
giả đã mô tả. Khái niệm châu thổ basalt không  
tồn tại trong địa chất.Nếu chỉ suy luận từ trường  
sóng địa chấn là điều không thuyết phục. D.  
Savva, et al (2013) 13đã phân tích và chứng  
minh hiện tượng nóng chảy vát mỏng vỏ lục địa  
do manti trên và dâng cao bề mặt Moho của bể  
Phú Khánh. Đồng thời xuất hiện hệ thống đứt  
gãy listric thuộc phần trên của vỏ (upper crust)  
(hình 2). Kết quả nghiên cứu này đã thể hiện sự  
tiến bộ về nhận thức đối với cơ chế địa động  
lực tạo các bể vùng nước sâu thềm lục địa Việt  
Nam.  
A. et al (1993), M. Longley (1997), T.Y. Lee,  
L.A. Lawver (1994) 4-7đã phân lịch sử kiến  
tạo khu vực Biển Đông thành 3 giai đoạn: (1)  
giai đoạn tiền rift – trước 50 triệu năm là giai  
đoạn san bằng kiến tạo; (2) giai đoạn đồng rift  
từ 50 – 17 triệu năm (từ Eocen đến Miocen  
sớm); (3) Giai đoạn sau rift từ 16 triệu năm đến  
nay. Theo quan điểm của Taponier (1982,  
1986) [8, 9] giai đoạn này chấm dứt hoạt động  
thúc trồi của vi mảng Đông Dương về phía  
đông nam. Đứt gãy sông Hồng đổi hướng từ  
trượt bằng trái sang trượt bằng phải. Năm 2009,  
nhóm tác giả Đan Mạch 10, 11đã đánh giá lại  
vai trò va chạm của mảng Ấn Độ váo Á Âu, đứt  
gãy trượt trái Ailaoshan – Sông Hồng với biên  
độ 1000 km, đứt gãy Mae Ping, mở Biển Đông  
trong Neogen và đứt gãy trượt bằng á kinh  
tuyến qua bể Phú Khánh và Nam Côn Sơn.  
Năm 2007, Trần Ngọc Toản và Nguyễn Hồng  
Minh 1đã tổng kết lại quan điểm phân chia  
các yếu tố cấu trúc chính của bể Phú Khánh  
gồm: (1) Thềm Đà Nẵng; (2) Thềm Phan Rang;  
(3) Đới nâng Tri Tôn; (4) Trũng sâu Phú  
Khánh; (5) Đới cắt trượt Tuy Hòa. Tuy nhiên,  
các đơn vị cấu trúc này thực chất là đơn vị cấu  
trúc hiện tại được xác lập bắt đầu từ Pliocen  
đến nay.  
Gwang H. Lee, Joel s. Watkins, etal (1998)  
dựa trên các tập phản xạ địa chấn có đóng góp  
đáng ghi nhận là chia bể Phú Khánh ra 5 tập địa  
chấn – địa tầng: Eocen – Oligocen, Miocen  
dưới, Miocen giữa, Miocen trên và Pleiocen –  
Đệ tứ. Tuy nhiên, việc phân chia này chỉ mới  
dựa trên cơ sở ranh giới các tập địa chấn mà  
chưa phân tích tướng trầm tích qua đặc điểm  
trường sóng địa chấn nên đường cong thay đổi  
mực nước biển chưa có sức thuyết phục.  
Michael B.W Fyhn et al (2009) đã phân chia ra  
3 đới tướng trầm tích từ ven rìa đến biển nông  
của bể Phú Khánh gồm đới tướng aluvi và quạt  
ngầm châu thổ (fan deltas), carbonat khối xây  
(carbonate buildup) và carbonat dạng nền  
(carbonate platform). Việc phân chia đới tướng  
trầm tích này hết sức ước lệ mà không được  
chứng minh bằng mẫu thạch học trầm tích. Trên  
mặt cắt địa chấn hiện tại đã bị biến dạng qua  
Trần Nghi, et al (2013, 2014) 2, 14đã xây  
dựng bản đồ cấu trúc 3D của vỏ lục địa trước  
Kainozoi và Kainozoi (hình 3) và đưa ra mô  
hình đối xứng thắt cổ “chày” (hình 4) để mô tả  
hiện tượng sụt lún lan tỏa mở rộng dần của các  
bể thứ cấp từ Oligocen sớm đến Miocen muộn  
do vỏ lục địa trước Kainozoi bị nóng chảy vát  
mỏng bởi các “chùm lưỡi” manti trên. Bề mặt  
Moho dâng cao theo từng chu kỳ và tạo nên  
hiện tượng căng giãn làm xuất hiện khe nứt  
xuyên sâu từ trầm tích Kainozoi xuống mái  
manti làm kênh dẫn magma xuyên lên theo tuổi  
khác nhau. Trần Nghi và nnk (2014, 2018) 15,  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
75  
đá lục nguyên ít khoáng và đá carbonat thềm  
nông – vũng vịnh từ 16 – 5 triệu năm tương ứng  
với giai đoạn sau tách giãn đáy Biển Đông; (3)  
Tổ hợp đá lục nguyên ít khoáng, đơn khoáng và  
ám tiêu san hô tương ứng với giai đoạn tạo lớp  
phủ thềm Pliocen – Đệ tứ (5 triệu năm đến nay)  
2, 14 - 17.  
16đã đưa ra quan điểm sụt lún nhiệt không  
tách giãn là cơ chế kiến tạo cơ bản của bể Phú  
Khánh. Đồng thời đã chia trầm tích kainozoi bể  
Phú Khánh thành 6 phức tập (sequence) và 3 tổ  
hợp thạch kiến tạo: (1) Tổ hợp đá lục nguyên đa  
khoáng từ 32 – 16 triệu năm (E2 – N1 ) tương  
ứng với giai đoạn tách giãn đáy Biển Đông đặc  
trưng cho địa hào nội lục và ven rìa; (2) Tổ hợp  
1
Hình 2. Cấu trúc địa chất sâu của đới sụt lún trung tâm theo mặt cắt L09 của bể Phú Khánh có dạng đối xứng  
thắt cổ chày. Bề mặt Moho dâng cao, tại đó đáy bể trầm tích Kainozoi sụt lún sâu nhất  
(nguồn tài liệu: D. Savva et al, 2013)  
Hình 3. Sơ đồ khối cấu trúc bề mặt Moho khu vực bể Phú Khánh và các vùng lân cận  
(Trần Nghi, Nguyễn Duy Tuấn, Trần Thị Dung, 2014)  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
76  
Hình 4. Bản đồ đẳng dày trầm tích Kanozoi bể Phú Khánh  
(Trần Nghi, Nguyễn Duy Tuấn, Trần Thị Dung, 2014)  
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu  
2. Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở tài liệu  
trên đây vẫn chưa làm sáng tỏ được đặc điểm  
cấu trúc của từng thời kỳ, lịch sử biến động cấu  
trúc và cơ chế kiến tạo – địa động lực để tạo  
nên bối cảnh kiến tạo của khu vực bể Phú  
Khánh- bị biến dạng mạnh mẽ theo chu kỳ từ  
Miocen đến nay trong mối quan hệ với sự đổi  
hướng của đới tách giãn đáy Biển Đông. Nội  
dung bài báo này sẽ giới thiệu đặc điểm các  
kiểu biến dạng và chu kỳ biến dạng trong  
Miocen trong mối quan hệ với chu kỳ kiến tạo.  
Chu kỳ đó được thể hiện qua 3 chu kỳ tướng  
trầm tích và tổ hợp thạch – kiến tạo: chu kỳ  
Miocen sớm, Miocen giữa và Miocen muộn.  
Nói một cách khác nghiên cứu biến động cấu  
trúc và lịch sử kiến tạo tập thể tác giả đã tiếp  
cận từ quan điểm hệ thống và mối quan hệ nhân  
– quả giữa tướng trầm tích, sự biến dạng của đá  
trầm tích và hoạt động các pha kiến tạo trong  
Miocen bể Phú Khánh.  
Nghiên cứu lịch sử biến động cấu trúc địa  
chất Miocen bể Phú Khánh đã kế thừa kết quả  
nghiên cứu và một khối lượng lớn tài liệu gốc  
và tài liệu trung gian các đề tài cấp nhà nước  
thuộc chương trình KC-09/06-10, KC-09/11-15  
và 2 đề tài cấp ngành hợp tác giữa Đại học  
Quốc gia Hà Nội và Tập đoàn Dầu khí (HĐ số  
4053/HĐ-DKVNvà HĐ số 4053/HĐ-DKVN).  
Các dạng tài liệu được chọn lọc và xử lý cho  
nội dung của bài báo như sau:  
1) Một số mặt cắt địa chấn gốc thu nổ đại  
diện trên bể Phú Khánh được minh giải lại theo  
quan điểm và phương pháp mới (Hình 1);  
2) Tài liệu trọng lực và bề mặt Moho của bể  
Phú Khánh được sử dụng để chồng chập đối  
chiếu với độ sâu đáy của trầm tích Kainozoi;  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
77  
3) Mẫu lát mỏng thạch học Miocen của bể  
Phú Khánh và các bể Nam Côn Sơn, Tư Chính -  
Vũng Mây được phân tích và luận giải mới theo  
phương pháp phân tích tướng và địa tầng phân  
tập (Hình 15 đến hình 21).  
t1i và t2i là chiều dài cánh nâng và cánh sụt  
của đứt gãy thuận thứ i  
n1ivà n2i chiều dài cánh nâng và cánh sụt của  
đứt gãy nghịch thứ i  
u1ivà u2i là chiều dài 2 cạnh bên của tam giác  
vẽ theo một nếp uốn thứ i  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
c1i và c2i là chiều dài 2 cánh nâng và sụt của  
1 đứt gãy thuận cánh chúc (listrict) thứ i  
1) Phương pháp luận  
Trên cơ sở nhận thức về mối quan hệ nhân  
quả giữa quá trình trầm tích, sự thay đổi mực  
nước biển và chuyển động kiến tạo tư tưởng  
chủ đạo đối với lịch sử phát triển địa chất bể  
Phú Khánh được tiếp cận từ 3 vấn đề:  
Đây là bước quan trọng nhất đối với việc tái  
hiện lại một bể trầm tích nguyên thủy để thành  
lập bản đồ cấu trúc địa chất qua các thời kỳ.  
(2) Bước 2: Thành lập bản đồ đẳng dày trầm  
1
2
tích nguyên thủy của 3 bể thứ cấp (N1 , N1 ,  
3
- Nghiên cứu lịch sử phát triển cấu trúc địa  
chất bể Phú Khánh thực chất là nghiên cứu tiến  
hóa các bể thứ cấp Miocen sớm, Miocen giữa  
và Miocen muộn trong mối quan hệ với hoạt  
động kiến tạo.  
N1 ).  
Xưa nay các bản đồ đẳng dày của trầm tích  
Miocen sớm, Miocen giữa và Miocen muộn  
được các tác giả thành lập dựa trên bề dày hiện  
tại, tức bề dày đã bị thay đổi so với bề dày  
nguyên thủy do hàng loạt các hoạt động biến  
dạng như trên đã đề cập. Vì vậy, bản đồ đẳng  
dày của 3 bể thứ cấp sẽ được thành lập trên cơ  
sở các mặt cắt phục hồi của các bể thứ cấp là  
bước tiếp theo sau khi thành lập các mặt cắt  
phục hồi.  
- Tiến hóa các bể trầm tích thứ cấp theo chu  
kỳ. Chu kỳ được biểu thị bởi sự lặp đi lặp lại  
của các phức hệ tướng trầm tích theochiều  
thẳng đứng. Ranh giới giữa các chu kỳ là bề  
mặt gián đoạn trầm tích.  
- Các bể thứ cấp trong Miocen đều bị biến  
dạng và tuân theo quy luật là bể càng cổ thì bị  
biến dạng càng mạnh. Những hiện tượng biến  
dạng đặc trưng là: đứt gãy, uốn nếp, ép trồi  
móng và hoạt động núi lửa làm thay đổi thế  
nằm ban đầu của các lớp đá trầm tích.  
(3) Bước 3:Xác định khối nâng - khối sụt và  
biểu diễn đứt gãy đồng trầm tích lên bản đồ.  
- Phương pháp phân tích tổ hợp thạch kiến  
tạo: Giữa thành phần thạch học và hoạt động  
kiến tạo có mối quan hệ nhân quả. Mỗi một loại  
đá trầm tích là kết quả của một bối cảnh kiến  
tạo tương ứng. Phương pháp phân tích quan hệ  
giữa một nhóm thạch học và một bối cảnh kiến  
tạo tương ứng gọi là phương pháp thạch-kiến  
tạo. Theo nguyên tắc đó Trần Thị Dung và Trần  
Nghi (2018) [16] đã xây dựng được 3 tổ hợp  
thạch kiến tạo cho các bể Kainozoi vùng nước  
sâu thềm lục địa Việt Nam như sau:  
2) Phương pháp nghiên cứu:  
- Phương pháp minh giải các kiểu biến dạng  
bể thứ cấp: (1) Biến dạng do sụt lún nhiệt; (2)  
Biến dạng đứt gãy; (3) Biến dạng uốn nếp do  
nén ép; (4) Biến dạng do nâng trồi móng; (5)  
Biến dạng do hoạt động núi lửa.  
- Phương pháp thành lập bản đồ cấu trúc của  
bể thứ cấp gồm các bước:  
(1) Tổ hợp phức hệ tướng trầm tích lục  
nguyên lục địa đa khoáng chọn lọc, mài tròn  
kém đặc trưng cho bối cảnh địa hào lục địa tuổi  
Eocen-Oligocen đến Miocen sớm (35-16 triệu  
năm BP) (giai đoạn đầu rift);  
(1) Bước 1: Phục hồi mặt cắt bể thứ cấp theo  
công thức Trần Nghi (2013, 2014) [2, 15] như  
sau:  
푛
푛
∑
(
)
)
(
∑
( )  
푛1푖 + 푛2푖  
Lnt =  
푡1푖 + 푡2푖  
+
+
푖=1  
푖=1  
푛
푛
∑
(
∑
)
푐1푖 + 푐2푖  
푢1푖 + 푢2푖  
+
푖=1  
푖=1  
(2) Tổ hợp phức hệ tướng lục nguyên ít  
khoáng và carbonat ám tiêu đặc trưng cho bối  
Trong đó:  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
78  
cảnh kiến tạo bình ổn có chu kỳ kéo dài từ  
Miocen giữa đến Miocen muộn;  
mt/amr: Tướng châu thổ ngầm (amr) xen kẽ  
tướng biển dâng (mt) (rising sea level);  
(3) Tổ hợp phức hệ tướng lục nguyên ít  
khoáng và carbonat đặc trưng cho 2 bối cảnh  
kiến tạo bị phân dị: Bối cảnh tạo thềm lục địa  
rộng lớn trong Pliocen và bối cảnh kiến tạo  
phân dị tạo thềm và sườn lục địa hiện đại.  
amr/mt: Tướng biển biển tiến (mt) xen kẽ  
tướng châu thổ ngầm (amr).  
2. Kết quả nghiên cứu  
- Phương pháp tích hợp giữa cộng sinh  
tướng và địa tầng phân tập. Giữa tướng trầm  
tích và các miền hệ thống có mối quan hệ chặt  
chẽ với nhau. Mỗi một bối cảnh địa hình  
nguyên thủy và một miền hệ thống trầm tích  
được đặc trưng bởi một tổ hợp cộng sinh tướng  
nhất định. Vì vậy, nguyên tắc thành lập bản đồ  
tướng đá - cổ địa lý là phải dựa trên bản đồ cấu  
trúc địa chất nguyên thủy và miền hệ thống  
trầm tích được Trần Nghi (2014) tích hợp thành  
3 công thức:  
2.1. Bối cảnh địa chất hiện tại của bể Phú  
Khánh  
1) Phân tầng cấu trúc sâu của bể Phú  
Khánh  
Theo phương thẳng đứng mặt cắt cấu trúc  
địa chất của bể Phú Khánh có dạng đối xứng  
thắt cổ chày. Tại khu vực trung tâm của đới sụt  
lún bề dày trầm tích Kainozoi thay đổi từ 10-  
12km. Tại đó đáy bể Kainozoi võng xuống còn  
bề mặt Moho lại dâng cao. Hình dáng cấu trúc  
đối xứng này là bằng chứng của quá trình nóng  
chảy đáy của vỏ lục địa trước Kainozoi do hoạt  
động đối lưu của lưỡi manti. Tại trung tâm của  
lưỡi manti vỏ lục địa bịvát mỏng và tiêu biến  
vào mái manti mạnh mẽ nhất. Khối lượng vỏ  
lục địa bị vát mỏng đến đâu lập tức được bề mặt  
Moho dâng cao áp sát đến đó. Tuy nhiên, cho  
đến thời gian hiện tại vỏ lục địa trước Kainozoi  
vẫn còn giữ được bề dày 8-10km (hình 4).  
(1) Miền hệ thống trầm tích biển thấp:  
LST (Tướng lục địa + tướng chuyển tiếp +  
tướng biển) = ar + (amr + mt/amr)  
(2) Miền hệ thống trầm tích biển tiến:  
TST(Tướng biển + tướng chuyển tiếp +  
tướng lục địa) = (mr/mt + amr/mt + mt) + amt +  
at  
(3) Miền hệ thống trầm tích biển cao:  
HST (Tướng lục địa + tướng chuyển tiếp +  
tướng biển) = ah + amh + (mt/amh + mt/mh)  
2) Bình đồ cấu trúc địa chất hiện tại của bể  
Phú Khánh gồm 5 đới chính: (1) Đới I: đới  
thềm trong (gồm thềm Đà Nẵng và thềm Phan  
Rang), đới nâng yếu, phân bố ở rìa tây giáp với  
phần đất liền có độ sâu 0-200m nước. Đới này  
có cấu trúc thềm điển hình chưa bị biến dạng,  
địa hình nghiêng thoải về phía đông, cấu tạo các  
đá trầm tích Kainozoi còn giữ nguyên dạng  
phân kỳ và nêm tăng trưởng của châu thổ ngầm;  
(2) Đới II: đới chuyển tiếp rìa trong. Từ thềm  
trong ra đới trung tâm có dạng địa hình sụt bậc  
thang do tác động của hệ thống đứt gãy phương  
kinh tuyến 109-110oE xảy ra từ Miocen muộn  
đến nay. Độ sâu thay đổi từ 200-500m nước.  
Đây là đới phá hủy kiến tạo, đất đá Miocen bị  
biến dạng bởi 2 nguồn lực: (a) Sụt lún nhiệt  
trung tâm;(b) Đứt gãy trượt bằng phải sụt bậc  
thang. Bề mặt đứt gãy là những mặt trượt  
Trong đó :  
ar: Tướng aluvi thuộc miền hệ thống trầm  
tích biển thấp (a - alluvial; r- regressive);  
at: Tướng aluvi thuộc miền hệ thống trầm  
tích biển tiến (a-alluvial, t- transgressive);  
ah: Tướng aluvi thuộc miền hệ thống trầm  
tích biển cao (a-Tướng alluvi, h-highstand  
systems tract);  
amr: Tướng sông - biển thuộc miền hệ thống  
trầm tích biển thấp (am- delta; r - regressive)  
amt: Tướng sông - biển thuộc miền hệ thống  
trầm tích biển tiến (am- estuary;  
transgressive);  
t
-
amh: Tướng sông - biển thuộc miền hệ  
thống trầm tích biển cao (am - delta; h -  
highstand);  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
79  
nghiêng về phía đông 60-70o; (3) Đới III: Đới  
sụt lún trung tâm (trũng Phú Yên), hiện tại nằm  
ở độ sâu từ 500-2000 m nước. Đới có hình tam  
giác, cạnh đáy chạy song song với đới đứt gãy  
109-110oE, một cạnh bên chạy song song với  
phương tách giãn đáy Biển Đông, cạnh bên còn  
lại chạy theo phương á vĩ tuyến. Bề dày trầm  
tích Kainozoi lớn nhất của đới sụt lún trung tâm  
đạt tới khoảng 10 km. Tại đây ranh giới đáy  
trầm tích Kainozoi và bề mặt Moho có dạng đối  
xứng thắt cổ chày (hình 2. Mặt cắt địa chấn  
tuyến L09 của D. Savva đã minh giải lại). Hiện  
tượng này xảy ra ở giai đoạn đầu của chu kỳ  
Wilson  
(2003).  
Hình 5. Mô hình đối xứng thắt cổ chày cấu trúc sâu bể Phú Khánh khu vực sụt lún trung tâm  
theo mặt cắt L08.  
Hình 6. Sơ đồ biểu diễn cơ chế hình thành đứt gãy listric (thuận cánh chúc): Sự phối hợp các nguồn lực: Vỏ lục  
địa trước Kz bị nóng chảy vát mỏng tạo bể thứ cấp sụt lún; Bề mặt Moho dâng cao tạo lực căng giãn; Xuất hiện  
các đứt gãy có bề mặt đứt gãy cong lõm hướng vào tâm bể.  
1- giai đoạn sụt lún đầu tiên, bể trầm tích thứ cấp có thế nằm nằm ngang  
2- bể thứ cấp đầu tiên bị biến dạng bởi đứt gãy listric  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
80  
Trần Nghi (2013) gọi đây là hiện tượng sụt  
- Phân loại đứt gãy  
lún nhiệt [2]. Lưỡi nhiệt manti đã làm nóng  
chảy vát mỏng và tiêu biến từng phần vỏ lục địa  
trước Kainozoi. Kết quả bề mặt Moho dâng cao  
và bề mặt vỏ lục địa sụt lún xuống tạo bồn  
trũng và kéo theo quá trình lắng đọng đền bù  
trầm tích. Đến đây có 2 câu hỏi được đặt ra như  
sau: (1) Tại sao trầm tích lục nguyên tướng biển  
nông tuổi Pliocen ở đới trung tâm hiện tại lại  
nằm ở biển sâu? (2) Đã có ý kiến cho rằng trầm  
tích Miocen được thành tạo ở môi trường biển  
sâu. Điều đó đúng hay sai? Đáp án của các câu  
hỏi trên đây chắc chắn phải do các nhà địa chất  
trầm tích trả lời. Nội dung bài báo này sẽ trả lời  
thỏa đáng 2 câu hỏi nói trên; Đới IV: Đới nâng  
ngoài (đới nâng Khánh Hòa) có độ sâu thay đổi  
từ 2500-3500m nước. Địa hình tương tự một  
dãy núi ngầm phân dị phức tạp được hình thành  
từ Miocen muộn đến nay. Trầm tích Pliocen có  
mặt trong hầu hết các hẻm giữa núi song có độ  
sâu thấp dần khi đi từ trung tâm của đới nâng  
đến trung tâm đới tách giản Biển Đông; Đới V:  
Đới phá hủy xiết ép Tuy Hòa phân bố theo  
hướng tây bắc - đông nam 120o (hình 7, 8, 9).  
Hoạt động đứt gãy là hiện tượng biến dạng  
phổ biến nhất của các bể trầm tích Kainozoi  
vùng nước sâu trên thềm lục địa Việt Nam.  
Riêng bể Phú Khánh đã có nhiều công trình  
nghiên cứu và quan điểm phân loại đứt gãy  
khác nhau nhằm phục vụ cho mục tiêu riêng  
của mìnhtrong bối cảnh chưa có một hệ thống  
tiêu chí phân loại và quan điểm thống nhất [1,  
3, 14, 15]. Bài báo này sẽ trình bày quan điểm  
riêng của tác giả nhằm mục tđích là làm sáng tỏ  
cơ chế địa động lực và vai trò các đứt gãy trong  
lịch sử hình thành và phát triển các bể trầm tích  
Miocen của bể Phú Khánh. Trên cơ sở minh  
giải định lượng hàng loạt các đứt gãy trênmặt  
cắt địa chấn và phân tích mối quan hệ nhân quả  
giữa hình thái hình học của chúng với cơ chế  
sinh thành có thể phân loại đứt gãy làm 3 cấp :  
Đứt gãy cấp I là đứt gãy thuận đồng trầm tích,  
đóng vai trò tạo bể thứ cấp; Đứt gãy cấp II là  
đứt gãy sau trầm tích, là đứt gãy phá hủy toàn  
bộ các lớp đá của một bể thứ cấp. Đứt gãy cấp  
II có thể xuyên qua 2 hoặc 3 bể thứ cấp do phát  
triển kế thừa và xuyên kỳ; Đứt gãy cấp III là  
đứt gãy nhánh của đứt gãy cấp II, thường phát  
triển trong phạm vi nội bộ một bể thứ cấp.  
2.2. Các kiểu biến dạng điển hình  
1) Biến dạng đứt gãy  
Hình 7. Mặt cắt địa chấn tuyến L01 bể Phú Khánh chỉ ra 5 kiểu biến dạng: Đới I- Đứt gãy thuận đồng trầm tích;  
Đới II- Đứt gãy trượt bằng – thuận sụt lún; Đới III- Sụt lún oằn võng do nén ép; Đới IV- Nâng trồi do hoạt động  
núi lửa trẻ (N2-Q); Đới V- Đới cấu trúc Domino do bị nén ép  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
81  
Hình 8. Bản đồ cấu trúc địa chất Đệ Tứ bể Phú Khánh.  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
82  
- Phân tích các cấp và kiểu đứt gãy  
đột ngột từ rìa ra trung tâm; và (2)Tại vị trí tăng  
bề dày trầm tích đột ngột của bể thứ cấp thì ở  
tầng móngcủa bể thứ cấp này chúng lại đóng  
vai trò là đứt gãy sau trầm tích (Hình 9).  
Đứt gãy cấp I (đứt gãy thuận đồng trầm  
tích) sinh thành đồng thời với quá trình sụt lún  
nhiệt. Chúng phân bố thành 2 hệ thống đối  
xứng nằm 2 bên rìa và hướng vào trung tâm của  
các địa hào (giai đoạn đầu của rift). Hệ thống  
đứt gãy nàycó thể thấy rõ 2 bên rìa của các bể  
thứ cấp Miocen sớm, Miocen giữa và Miocen  
muộn của đới sụt lún trung tâm (đới III) với 2  
dấu hiệu nhận biết là: (1) Bề dày trầm tích tăng  
Đứt gãy cấp II (đứt gãy sau trầm tích) được  
thể hiện trong bể Phú Khánh hết sức phong phú  
và đa dạng gồm 4 kiểu: đứt gãy trượt bằng, đứt  
gãy nghịch, đứt gãy listrict (đứt gãy thuận cánh  
chúc) và đứt gãy trượt bằng  
-
xoay.  
Hình 9. Mặt cắt địa chấn tuyến L06 bể Phú Khánh chỉ ra 4 đới cấu trúc: Đới I- Thềm trong (thềm Đà nẵng); Đới  
II- Đới đứt gãy kép xiết trượt Tuy Hòa (đứt gãy trượt bằng và đứt gãy thuận cánh chúc); Đới III- Đới sụt lún  
trung tâm; Đới IV- Đới nâng ngoài.  
(1) Đứt gãy trượt bằng điển hình nhất là đứt  
gãy trượt bằng phải đồng thời với sụt bậc thang  
tạo nên một đới phá hủy theo hướng kinh tuyến  
và lan rộng từ kinh tuyến 109o đến 110oE và các  
mặt trượtnghiêng một góc từ 45-60ovề phía  
đông trong khoảng độ sâu 200-500m nước.  
Trên các tuyến địa chấn thu nổ theo phương á  
vĩ tuyến cắt qua đới đứt gãy phá hủy nói trên  
(Hình 10) các trường sóng địa chấn bị vò nhàu,  
đứt đoạn và nghiêng về phía đông. Trên mặt  
trượt của các đứt gãy còn giữ lại khá nhiều khối  
trượt nằm ở sườn và chân sườn. Trầm tích  
Pliocen ở thềm ngoài thuộc tướng lục nguyên  
biển nông ven bờ song hiện tại nằm ở độ sâu  
trên 500m là bằng chứng của biên độ sụt bậc rất  
lớn trong Đệ Tứ. Nghĩa là hệ thống đứt gãy phá  
hủy này vẫn đang hoạt động. Mặt khác, sự dịch  
chuyển từ bắc xuống nam của cánh phía đông  
(thềm ngoài) là nguyên nhân bẻ gãy đuôi của  
trục tách giãn đáy Biển Đông từ phương á vĩ  
tuyến (trước 16 triệu năm) chuyển thành  
phương đông bắc -tây nam hiện tại.  
(2) Đới đứt gãy trượt bằng và đứt gãy  
thuận đồng trầm tích xảy ra đồng thờiquá trình  
sụt lún nhiệt tạo nên một địa hào bất đối xứng  
phát triển thành một đới rộng từ Khánh Hòa đến  
Bình Thuận theo hướng tây bắc - đông namcó  
tên gọi là đới xiết trượt Tuy Hòa (Hình 9, 10).  
(3) Đứt gãy listrict (đứt gãy thuận cánh  
chúc) phân bố ở rìa phía đông và tây của trũng  
trung tâm, hai bên cánh của đới cấu trúc Tuy  
Hòa do 2 nguồn lực sụt lún nhiệt và căng giãn  
ven rìa do lực ép trồi của mặt Moho (Hình 2, 9,  
10);  
(4) Đứt gãy trượt bằng - xoay hay “trôi-  
trượt” đã làm biến dạng và chia cắt các bể thứ  
cấp Oligocen, Miocen sớm và Miocen giữa  
thành các “mảnh” như “giả bán địa hào và giả  
địa lũy”. Ranh giới các địa khối này chính là bề  
mặt đứt gãy có dạng cong lõm hướng vào nhau  
và bất đối xứng (Mặt cắt L12(D. Savva,2013)  
đã được minh giải lại – hình 11).  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
83  
Hình 10. Mặt cắt địa chấn tuyến L03 bể Phú Khánh chỉ ra 3 đới cấu trúc: Đới I- Cấu tạo tỏa tia do đứt gãy đồng  
trầm tích; Đới II- Đới chuyển tiếp, đứt gãy thuận sụt bậc và trượt bằng; Đới III- Đới sụt lún Đệ Tứ.  
Hình 11. Các đứt gãy trượt bằng – xoay được minh giải trên tuyến L12 [13].  
Đứt gãy cấp III là nhánh của đứt gãy cấp II  
có dạng như cành cây hướng vào trung tâm của  
đới sụt lún (Hình 9). Đứt gãy cấp III theo  
phương thẳng đứng chỉ phát triển trong giới hạn  
của một bể thứ cấp và theo không gian thường  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
84  
phát triển trong quy mô của một cấu trúc trúc  
địa chất.  
2) Biến dạng sụt lúnthường tạo nên các oằn  
võng ở trung tâm của sụt lún nhiệt (Mặt cắt  
CSL07-10). Tuy nhiên, bể Phú Khánh còn xuất  
hiện nhiều biến dạng oằn võng có quy mô nhỏ  
do có sự xen kẽ giữa các khối sụt và khối nâng  
địa phương (Hình 9).  
Phân tầng cấu trúc theo chu kỳ trầm tích:  
Trong Miocen có 3 tầng cấu trúc ứng với 3  
chu kỳ trầm tích cơ bản: (1) Tầng cấu trúc  
Miocen sớm được đặc trưng bởi tổ hợp thạch  
kiến tạo lục nguyên đa khoáng lấp đầy địa hào;  
(2) Tầng cấu trúc Miocen giữa được đặc trưng  
bởi 2 tổ hợp thạch kiến tạo lục nguyên ít  
khoáng và carbonat vũng vịnh thềm;(3) Tầng  
cấu trúc Miocen muộn được đặc trưng bởi tổ  
hợp thạch kiến tạo lục nguyên và carbonat vụn  
sinh vật (hình 12).  
3) Các bề mặt bất chỉnh hợp các bể thứ cấp  
do nén ép, nâng trồi và bào mòn  
Trong tất cả các mặt cắt địa chấn trong khu  
vực bể Phú Khánh đều thể hiện rõ ba bể thứ cấp  
Miocen sớm, Miocen giữa và Miocen muộn có  
3 bề mặt bất chỉnh hợp và cũng là 3 bề mặt bào  
mòn đóng vai trò ranh giới giữa các bể thứ cấp:  
Ranh giới bào mòn bất chỉnh hợp góc giữa  
2.4. Chu kỳ trầm tích và lịch sử biến đổi cấu  
trúc địa chất  
Mỗi chu kỳ trầm tích đều xảy ra 2 giai đoạn  
phát triển địa chất: (1) Sụt lún, lấp đầy vật liệu  
trầm tích và biến trầm tích bở rời thành đá trầm  
tích (diagenesis); (2) Nén ép, nâng trồi và bào  
mòn tạo ranh giới bất chỉnh hợp giữa các bể  
thứ cấp.  
2
1
Miocen giữa và Miocen sớm (N1 /N1 ); Ranh  
giới bào mòn bất chỉnh hợp địa tầng giữa  
3
2
Miocen giữa và Miocen muộn (N1 /N1 ); Ranh  
giới bào mòn bất chỉnh hợp góc giữa Pliocen-  
3
Đệ Tứ và Miocen muộn (N2-Q/N1 ) (Hình 7, 9,  
Trên mặt cắt phục hồi của bể thứ cấp  
Miocen sớm đã tái hiện địa hình của đáy bể  
trầm tích trong suốt thời gian sụt lún kiến tạo và  
hoàn thành quá trình lắng đọng đền bù trầm tích  
(hình 13). Trên mặt cắt phục hồi, bản đồ đẳng  
dày trầm tích và bản đồ cấu trúc địa chất đã chỉ  
ra nguyên trạng của bể trầm tích thứ cấp sau khi  
kết thúc giai đoạn sụt lún (hình 14).  
10).  
4) Biến dạng do hoạt động núi lửa  
Hoạt động núi lửa thường xảy ra tại những  
vị trí xung yếu, nơi đó vỏ lục địa trước  
Kainozoi bị nóng chảy vát mỏng, bề mặt Moho  
dâng cao, xuất hiện một hệ thống khe nứt có  
phương thẳng đứng do căng giãn xuyên cắt vào  
các đá trầm tích Kainozoi đóng vai trò kênh dẫn  
magma. Nếu ở quy mô nhỏ sẽ tạo nên các thể  
đá mạch, tuy nhiên khi ở quy mô lớn sẽ xảy ra  
các hoạt động phun trào núi lửa mạnh mẽ hơn  
xuyên qua các lớp đá trầmtích. Các hoạt động  
núi lửa trẻ tuổi Pliocen - Đệ Tứ tạo nên các núi  
lửa đơn độc (sea mount)trên đáy biển. Mặt cắt  
tuyến L01 thấy rõ một núi lửa xuyên qua cả  
trầm tích Pliocen và làm biến dạng tất cả các  
lớp đá trầm tích có tuổi từ Oligocen đến  
Pliocen. Núi lửa này đã làm oằn võng các lớp  
đá trầm tích gây nên sự nhầm lẫn về tướng trầm  
tích hồ. Đồng thời, tạo nên một đới phá hủy giả  
kề áp (onlap) tiếp xúc giữa đá trầm tích và sườn  
các thể núi lửa (Hình 7).  
Mỗi một bể thứ cấp có 2 bối cảnh địa  
chất khác nhau cấu thành một chu kỳ hoạt động  
kiến tạo: (1) Bối cảnh cấu trúc địa chất nguyên  
thủy đã phục hồi (hình 14) và (2) Bối cảnh cấu  
trúc địa chất đã trải qua quá trình biến dạng  
(hình 9, 10). Trong giai đoạn đầu và gần cuối  
Miocen sớm thế nằm các đá trầm tích còn nằm  
ngang chưa bị biến dạng. Cấu trúc địa chất của  
bể Phú Khánh gồm 3 đới: (1) Đới nâng rộng lớn  
nhất phân bố ở rìa phía tây của bể; (2) Đới nâng  
yếu kéo dài theo phương đông bắc tây nam,  
phân bố ở phía đông đông nam của bể; (3) Đới  
sụt lún mạnh phân bố ở khu vực trung tâm bể  
(hình 14). Vật liệu trầm tíchđược cung cấp chủ  
yếu là từ khối nâng ở phía tây và khối nâng  
dạng tuyến ở phía đông đông nam đóng vai trò  
là miền xâm thực. Thành phân trầm tích chủ  
yếu là lục nguyên (cát kết đa khoáng, bột kết và  
2.3. Lịch sử biển đổi cấu trúc địa chất qua mỗi  
thời kỳ  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
85  
sét kết) lắng đọng ở các môi trường aluvi, châu  
lục nguyên do các dòng sông mang đến từ lục  
thổ và biển nông (Hình21).  
địa và các khối nâng dưới dạng đảo và quần đảo  
(Hình 20) và (2) Các quần đảo ngầm thuận lợi  
cho sự phát triển rực rỡ các ám tiêu san hô  
(Hình19). Các thủy vực giữa các đảo nổi và đảo  
ngầm này chính là các vũng vịnh có chế độ khử  
và độ kiềm cao (Eh≤ 0, pH ≥ 8,5) thuận lợi cho  
quá trình thành tạo tướng sét vôi-đolomit giàu  
sinh vật đặc trưng cho môi trường vũng vịnh  
như foraminifera, Bryozoa...(Hình 17, 18). Các  
mặt cắt phục hồi của bể thứ cấp Miocen giữa,  
bản đồ đẳng dày trầm tích nguyên thủy và bản  
đồ cấu trúc địa chất (Hình 13, 22) đã hiển  
thịmột bức tranh sinh động và đa dạng về tướng  
trầm tích với sựphát triển 2 tổ hợp thạch- kiến  
tạo là lục nguyên ít khoáng và carbonat sinh vật  
trong bối cảnh kiến tạo tương đối bình ổn trong  
một giai đoạn khá lâu dài.  
Đến giai đoạn cuối Miocen sớm-đầu Miocen  
giữa xuất hiện pha nghịch đảo kiến tạo mạnh  
mẽ tương ứng với pha kết thúc tách giãn đáy  
Biển Đông (16 triệu năm). Bể thứ cấp Miocen  
sớm bị biến dạng bởi đứt gãy trượt bằng và đứt  
gãy listrict. Đặc biệt bị biến dạng do hoạt động  
núi lửa trẻ, uốn nếp, nâng trồi bào mòn và tạo  
nên bất chỉnh hợp góc giữa Miocen sớm và  
Miocen giữa.  
Giai đoạn đầu Miocen giữa bắt đầu pha sụt  
lún mới với tốc độ chậm chạp nhưng khuôn  
viên của bể Phú Khánh được mở rộng hơn. Giai  
đoạn này pha biển tiến toàn cầu cũng đồng thời  
xảy ra đã nhấn chìm địa hình bị phân dị mạnh  
của đáy bể xuống một độ sâu không lớn nhưng  
diện tích được mở rộng đã tạo nên 2 kiểu thủy  
vực tiêu biểu: (1) Thủy vực lắng đọng trầm tích  
Hình 12.Cột địa tầng tổng hợp bể Phú Khánh [1-3]  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
86  
Đới sụt lún trung  
Đới nâng ngoài  
Hình 13. Mặt cắt phục hồi tuyến L08 bể Phú Khánh.  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
87  
Hình 14. Bản đồ cấu trúc Miocen sớm bể Phú Khánh.  
Cuối giai đoạn Miocen giữa - đầu Miocen  
muộn pha nghịch đảo kiến tạo mới lại xuất  
hiện. Các đá trầm tích Miocen giữa bị biến dạng  
bởi quá trình đứt gãy sau trầm tích, hoạt động  
núi lửa trẻ, uốn nếp, nâng trồi và bào mòn tạo  
nên bề mặt bất chỉnh hợp địa tầng giữa Miocen  
giữa và Miocen muộn.  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
88  
Hình 15. LKP94-2X; 1014m; N+; x40. Đá vôi vụn  
Hình 16. Đá vôi chứa cát, bitum và vụn sinh vật, môi  
sinh vật chứa bitum, mảnh vụn thạch anh, mảnh vụn  
sinh vật mài tròn cạnh bao gồm san hô, vỏ molusca và  
foram bảo tồn tốt. Mảnh vụn tha sinh lục nguyên gồm  
thạch anh, mảnh đá, mài tròn từ trung bình đến tốt.  
Môi trường vũng vịnh (mt TST), N13 (Luận giải theo  
lát mỏng của VPI)  
3
trường vũng vịnh nông, mẫu ở độ sâu 1160 m; N1 ; N-  
; x 125; GK PV 94-2X (Luận giải theo lát mỏng của  
VPI)  
2
Hình 17. Mẫu đá vôi sinh vật (foram); GK TH-1X; độ sâu 2255,50m; tuổi N1 ; N+.  
2
Hình 18. Mẫu đá vôi sinh vật (Bryozoa); GK TH-1X; độ sâu 2283,00m; tuổi N1 ; N+.  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
89  
2
Hình 19. Mẫu đá vôi ám tiêu; GK TH-1X; độ sâu 2453,00m; tuổi N1 ; N+.  
2
Hình 20. Mẫu cát kết hạt thô; GK TH-1X; độ sâu 2485,50m; tuổi N1 ; N+ ;  
môi trường lục nguyên (Luận giải theo lát mỏng của VPI).  
1
Hình 21. Mẫu đá cát kết hạt mịn; GK TH-1X; độ sâu 2546m; tuổi N1 ; N+ ; Môi trường lục nguyên (Luận giải  
theo lát mỏng của VPI).  
T.T. Dung et al. / VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences, Vol. 35, No. 1 (2019) 71-93  
90  
Quá trình sụt lún trong Miocen muộn diễn ra  
Molusca...) (Hình 15, 16). Thành phần vụn sinh  
vật này và phản xạ trắng của mặt cắt địa chấn là  
minh chứng sinh động nhất cho một bối cảnh  
địa chất Miocen muộn của bể Phú Khánh nói  
riêng và khu vực nước sâu thềm lục địa Việt  
Nam nói chung. Các ám tiêu san hô phát triển  
rực rỡ trong Miocen giữa bị nâng lên khỏi mặt  
nước vào đầu Miocen muộn đã biến thành vùng  
xâm thực cung cấp vật liệu vụn sinh vật cho các  
thủy vực dạng đẳng thước vũng vịnh nông nằm  
xen kẽ với các khối xâm thực nói trên.  
trên một không gian rộng lớn khiến cho bể thứ  
cấp Miocen muộn có khuôn viên rộng hơn bể  
thứ cấp Miocen giữa (hình 23). Đây là quy luật  
tiến hóa các bể trầm tích thứ cấp theo chu kỳ  
sụt lún- mở rộng chứ không phải là sụt lún -  
tách giãn. Trong các mặt cắt địa chấn thấy rõ bể  
thứ cấp Miocen muộn các trường sóng có phản  
xạ trắng đặc trưng (hình 9). Điều đó được giải  
thích bởi thành phần trầm tích lục nguyên chứa  
một hàm lượng lớn vật liệu vụn sinh vật (mảnh  
vụn san hô, foraminifera, vỏ động vật  
Hình 22. Bản đồ cấu trúc Miocen giữa bể Phú Khánh.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 23 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 20000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiến hóa cấu trúc địa chất và môi trường trầm tích Miocen khu vực bể phú khánh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftien_hoa_cau_truc_dia_chat_va_moi_truong_tram_tich_miocen_kh.pdf