Nghiên cứu xác định đoạn ADN mã vạch cho dây thìa canh (Gymnema sylvestre (retz.) r.br) phục vụ giám định loài

Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH ĐOẠN ADN MÃ VẠCH CHO DÂY THÌA CANH  
(Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br) PHỤC VỤ GIÁM ĐỊNH LOÀI  
Nguyễn Văn Việt1, Nguyễn Thị Huyền1, Đào Thị Thúy Hằng2  
1Trường Đại học Lâm nghiệp  
2Bệnh viện Y học cổ truyền, Bộ Công an  
TÓM TẮT  
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú với rất nhiều loài động vật, thực vật và nấm  
có giá trị kinh tế cao. Trước đây, các phương pháp định danh và phân loại thực vật chủ yếu dựa vào hình thái  
giải phẫu sinh học. Tuy nhiên, việc dựa vào hình thái để phân loại gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tốn kém về  
mặt thời gian, công sức và kinh phí. Hiện nay, phương pháp định danh loài sử dụng các chỉ thị phân tử ADN  
được ứng dụng rộng rãi. Trong đó, ADN mã vạch được xem là phương pháp hiện đại và chính xác để định  
danh các loài sinh vật khi sử dụng những vùng ADN cả ở trong nhân, ty thể và lạp thể. Trong nghiên cứu  
này, phương pháp ADN mã vạch (DNA barcoding) đã được thử nghiệm cho nhận dạng loài Dây thìa canh  
(Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br). Ba mã vạch ADN được đề xuất cho nghiên cứu thuộc vùng ADN lục lạp  
và ADN nhân (psbA-trnH, trnL và ITS1). Tỷ lệ thành công cho khuyếch đại PCR cho ba đoạn mã vạch là  
100%. Tỷ lệ Giải trình tự nucleotide thành công cả hai chiều của sản phẩm PCR là 100% với kích thước lần  
lượt là 565 bp, 567 bp và 767 bp cho psbA-trnH, trnL và ITS1. Phân tích BLAST và ClustalW2 chỉ ra khả  
năng phân biệt ở mức độ loài của ba đoạn mã vạch đề xuất là: psbA-trnH > ITS1 > trnL. Cuối cùng, sự tổ  
hợp hai mã vạch psbA-trnH và ITS1 được lựa chọn cho nhận dạng loài Dây thìa canh.  
Từ khóa: Dây thìa canh, giám định loài, ITS1, mã vạch ADN, psbA-trnH, trnL.  
Taberlet và cộng sự, 2007; Lahaye và cộng  
sự, 2008; Ford và cộng sự, 2009; Nguyễn Văn  
Việt và cộng sự, 2016).  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên  
đa dạng và phong phú với rất nhiều loài động  
vật, thực vật và nấm có giá trị kinh tế cao.  
Trong đó, giới thực vật có tính đa dạng rất cao  
về loài. Đến nay có 350.000 loài thực vật đã  
được định dạng. Trước đây, các phương pháp  
định danh và phân loại thực vật chủ yếu dựa  
vào hình thái sinh học là chính. Tuy nhiên  
việc dựa vào hình thái để phân loại gặp nhiều  
khó khăn như: Các giai đoạn phát triển của  
thực vật khác nhau, thu mẫu rời rạc hay  
những mẫu vật không nguyên vẹn dẫn đến  
những khó khăn nhất định trong công tác phân  
loại đặc biệt là tốn kém về mặt thời gian, công  
sức, kinh phí...  
Dây thìa canh là một trong những cây thuốc  
có giá trị kinh tế cao, sản phẩm từ các bộ phận  
lá, thân, rễ của Dây thìa canh được dùng trong  
y dược có tác dụng giảm cholesterol, hạ lipid  
và đường huyết trong máu; phòng chống xơ  
vữa động mạch và những tai biến nguy hại do  
tiểu đường gây ra (Đỗ Tất Lợi, 2012). Tuy  
nhiên, hiện nay với nhu cầu sử dụng dược liệu  
có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng cao thì  
việc định danh và truy xuất nguồn gốc của  
dược liệu ngày càng cấp thiết, đặc biệt là  
những loài cây dược liệu quý, có giá trị sử  
dụng lớn như Dây thìa canh.  
DNA barcoding là một phương pháp định  
danh và giám định loài dựa trên các trình tự  
ADN ngắn ở những vùng chuẩn hóa của ADN  
hệ gen (Hebert và cộng sự, 2003). Ở thực vật,  
việc nghiên cứu truy tìm những vùng ADN hệ  
gen thích hợp được chứng minh là thách thức  
hơn so với động vật. Một vài vùng trong bộ  
gen lục lạp (Ví dụ như: trnL, rpoC1, rpoB,  
ycf5, psbA-trnH, trnL, atpF-atpH, psbK-psbI)  
cũng như vùng đệm trong được sao chép  
(internal transcribed spacer - ITS) của ADN  
ribosome nhân đã nổi lên như là ứng viên tốt  
nhất cho mã vạch ADN thực vật (Chase và  
cộng sự, 2005; Kress và cộng sự, 2005; Shaw  
và cộng sự, 2007; Kress và cộng sự, 2007;  
Trong bài báo này, phương pháp ADN mã  
vạch (DNA barcoding) đã được thử nghiệm  
cho nhận dạng Dây thìa canh. Ba mã vạch  
ADN được đề xuất cho nghiên cứu thuộc  
vùng ADN lục lạp (trnLvà psbA-trnH) và  
ADN nhân (ITS1). Những mã vạch này đã  
được chứng minh là có khả năng nhận dạng  
cao giữa các loài và biến thể thấp trong loài  
(Chen và cộng sự, 2010; Pang và cộng sự,  
2012). Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra  
được một mã vạch ADN đặc trưng cho việc  
nhận dạng loài Thìa canh nêu trên.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Lựa chọn và cách lấy mẫu  
Chọn 15 mẫu lá tươi từ 5 cá thể Dây thìa  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
25  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
canh được thu thập tại Trại giam Suối Hai, Ba  
Vì, Hà Nội. Kí hiệu là TC1, TC2, TC3, TC4,  
TC5. Mẫu lá tươi ngay sau đó được cho vào  
túi Ziplock chứa silicagel và chuyển về phòng  
thí nghiệm lưu trữ ở -800C cho đến khi ADN  
được tách chiết. Tất cả các mẫu lá thu thập  
cho mục đích nghiên cứu đã được định danh  
cùng các tiêu bản mẫu cây chuẩn hóa.  
2.2. Phương pháp tách chiết ADN hệ gen  
ADN hệ gen được tách chiết theo phương  
pháp CTAB (Cetyl trimethyl ammonium  
bromide) của Saghai Maroof và cộng sự  
(1984) với một sự thay đổi nhỏ. Khoảng 100  
mg mô lá được nghiền trong cối bằng chày sứ  
trong 600 ml đệm CTAB (4% CTAB thay vì  
2%, 20 mM EDTA, 1,4 M NaCl, 1% beta-  
mercaptoethanol, 100 mM Tris-HCl pH 8.0).  
Mẫu được chuyển vào ống ly tâm 1,5 ml và ủ  
ở 650C trong bể ổn nhiệt 30 phút, sau đó được  
chiết xuất cùng với một thể tích chloroform.  
Các mẫu được ly tâm ở 10.000 vòng/phút,  
trong 15 phút. Pha trên của dung dịch được  
chuyển sang ống ly tâm 1,5 ml mới. ADN  
được kết tủa bằng cách thêm 500 l  
isopropanol lạnh và ly tâm ở 10.000  
vòng/phút, trong 15 phút. ADN kết tủa sau đó  
được rửa sạch bằng cồn 70%. Làm khô và hòa  
tan ADN trong 100 l đệm TE.  
2.3. Phương pháp khuyếch đại PCR và đọc  
trình tự  
Ba chuỗi ADN mã vạch là ITS1, trnL và  
psbA-trnH được khuyếch đại bằng máy PCR  
9700 Thermal Cycler Applied Biosystems  
(Mỹ). Hỗn hợp phản ứng PCR (25l) gồm:  
2,5 μl đệm 10X Taq, 2,0 μl hỗn hợp dNTP  
(2,0 mM), 1,0 μl cho mỗi cặp mồi (10 μM),  
0,5 μl cho 5 U/μl Taq DNA polymerase, 1 μl  
ADN khuôn (50 ng/μl) và H20 cho tổng thể  
tích đạt là 25 l. Chu kỳ nhiệt cho PCR: 950C  
trong 3 phút; (950C: 30 giây, 570C - 620C: 30  
giây, 720C: 1 phút) lặp lại 40 chu kỳ; 720C  
trong 7 phút; bảo quản sản phẩm PCR ở 40C.  
Sản phẩm PCR được được di trên gel agarose  
1%. Trình tự nucleotide của mồi cho ba vùng  
ADN được thể hiện ở bảng 1. Sản phẩm PCR  
được tinh sạch bằng bộ Kit của hãng Norgen  
biotek, Canada. Trình tự nucleotide được đọc  
trên máy ABI PRISM®3730xl DNA Analyzer  
(ABI, Foster City, CA, USA).  
Bảng 1. Danh sách và trình tự nucleotide của các cặp mồi  
Kích thước  
theo lý thuyết  
Kí hiệu  
mồi  
Nhiệt độ  
Gen  
Trình tự mồi (5’-3’)  
gắn mồi (0C)  
GGGTTCAAACGCTCGCCTCGA  
AGAATCGGGCGGCTCCGCCG  
P12F  
P12R  
P10F  
P10R  
P11F  
P11R  
ITS1  
700 bp  
450 bp  
570 bp  
58  
56  
58  
GGAAATTATGAGCATTAGTGAATCAC  
GCATTACGTTCATTGCATAAACA  
CTTGCACCCCTTCTATCCCCATCTA  
psbA-  
trnH  
trnL  
TCCGTAGCGTCAACCCGATTTCGA  
đã chứng tỏ là một quy trình có hiệu quả để  
phân lập ADN thực vật. Cách tiếp cận này là  
phổ biến đối với chiết xuất ADN từ các loài  
thực vật có chứa hàm lượng cao  
polysaccharide, cũng như các hợp chất  
polyphenol, tannin, flavonoid (Ghaffariyan và  
cộng sự, 2012). Trong nghiên cứu này, ADN  
cũng được chiết xuất thành công từ tất cả các  
mẫu nghiên cứu (Hình 1). Băng ADN thu  
được tương đối gọn, tập trung phía trên đầu  
giếng và cũng không xuất hiện vệt sáng trong  
giếng của bản gel agarose 1%. Những đặc  
điểm này chứng minh rằng ADN tổng số thu  
được có kích thước lớn, không lẫn protein, đủ  
2.4. Phương pháp phân tích dữ liệu ADN  
mã vạch (DNA barcode)  
Trình tự nucleotide của các đoạn ADN mã  
vạch thu được xử lý bằng các phần mềm  
Bioedit version 7.2.5, Clustal X 1.83 và công  
cụ BLAST (Bagic local Alignment Search  
Tool) trên NCBI (National Center for  
Biotechnology Information) tại địa chỉ  
website:  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả tách chiết ADN tổng số  
ADN được tách chiết theo phương pháp  
CTAB của Saghai Maroof và cộng sự (1984)  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
điều kiện làm ADN khuôn cho nhân bản ba  
đoạn mã vạch ADN đề xuất, đặc biệt khi tất  
cả các đoạn ADN mã vạch này đều nằm ở 2  
vùng ADN lục lạp và 1 vùng ADN nhân.  
Hình 1. Kết quả điện di ADN tổng số của 5 mẫu Dây thìa canh  
Ghi chú: Giếng từ 1 – 5: mẫu TC1 – TC5  
3.2. Kết quả nhân gen với các đoạn ADN 3.2.1. Kết quả nhân gen psbA-trnH bằng kĩ  
mã vạch bằng kĩ thuật PCR  
thuật PCR  
Đoạn psbA-trnH có kích thước trung bình  
Từ 5 mẫu ADN tổng số đã tách được, sử  
dụng cặp mồi đặc hiệu cho từng đoạn để tiến khoảng 450 bp theo lý thuyết, nhưng trên thực  
hành PCR nhân bản các đoạn ADN. Mẫu tế có thể thay đổi từ 296 - 1120 bp tùy thuộc  
ADN tổng số được pha loãng 10 lần (điều loài. psbA - trnH có khả năng xác định loài  
chỉnh nồng độ ADN đạt 50 ng/µl). Sau khi cao. Locus psbA - trnH đã được khuếch đại  
điều chỉnh nồng độ ADN phù hợp, tiến hành thành công ở nhiều thực vật hạt kín và hạt trần.  
nhân bản 3 đoạn gen psbA- trnH, trnL và Tuy nhiên, trong nhiều thực vật hạt kín psbA -  
ITS1 từ ADN tổng số của 5 mẫu Dây thìa trnH lại có kích thước rất ngắn. Kích thước  
canh bằng phản ứng PCR với các cặp mồi của gen này khá lớn do có mặt của gen rps19  
tương ứng lần lượt là: psbA - trnH-P10F và hoặc các gen giả nằm giữa cùng gen của hai  
psbA - trnH-P10R; trnL - P11F và trnL - gen psbA và trnH. Trong thí nghiệm này,  
P11R; ITS1 - P12F và ITS1 - P12R. Thực hiện ADN tách chiết được làm khuôn để nhân bản  
phản ứng PCR lặp lại 3 lần trên mỗi mẫu thí đoạn gen psbA - trnH bằng phương pháp PCR  
nghiệm. Sản phẩm PCR của tất cả các mẫu với cặp mồi đặc hiệu với trình tự mồi được nêu  
thí nghiệm được kiểm tra bằng điện di trên ở bảng 1. Kết quả PCR cho thấy đoạn băng  
gel agarose 1%. Kết quả điện di sản phẩm sáng rõ và đồng đều, không xuất hiện băng  
PCR từ 5 mẫu Dây thìa canh được thể hiện phụ. Kích thước khoảng 500 bp, đủ điều kiện  
trên hình 2, 3 và 4.  
để tiến hành xác định trình tự nucleotide.  
Hình 2. Kết quả nhân đoạn gen psbA-trnH từ các mẫu Dây thìa canh bằng mồi P10  
Ghi chú: M: marker 1000bp; giếng từ 1 – 5: mẫu TC1 – TC5  
nữa khẳng định chất lượng và kích thước đủ  
3.2.2. Kết quả nhân gen trnL bằng kĩ thuật PCR  
Kết quả điện di sản phẩm PCR cho thấy, lớn cũng như không lẫn các tạp chất  
đoạn gen trnL khuếch đại thành công ở tất cả (polysacarit, phenol) gây ảnh hưởng đến nhân  
các mẫu. Ở các mẫu đều thu được một băng dòng PCR, điều đó cho thấy sản phẩm PCR  
ADN sáng rõ nét, không có băng ADN phụ nhân bản đoạn gen trnL rất đặc hiệu, có thể sử  
xuất hiện, kích thước khoảng 500 - 550 bp phù dụng trực tiếp sản phẩm này để xác định trình  
hợp với kích thước lý thuyết của đoạn gen tự nucleotide.  
trnL dự kiến nhân bản. Kết quả này một lần  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
27  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
Hình 3. Kết quả nhân đoạn gen trnL từ các mẫu Dây thìa canh bằng mồi P11  
Ghi chú: M: marker 1000bp; giếng từ 1 - 5: mẫu TC1 - TC5  
các mẫu. Các mẫu đều thu được một băng  
3.2.3. Kết quả nhân bản gen ITS1 bằng kĩ  
thuật PCR  
Kết quả nhân bản gen ITS1 bằng kĩ thuật  
PCR với cặp mồi đặc hiệu như mô tả ở bảng  
1, được thể hiện ở hình 4. Qua hình 4 cho thấy  
đoạn gen ITS1 khuếch đại thành công ở tất cả  
ADN sáng rõ nét, không có băng ADN phụ  
xuất hiện, kích thước khoảng 700 - 750 bp  
phù hợp với kích thước lý thuyết của đoạn gen  
ITS1 dự kiến nhân bản.  
Hình 4. Kết quả nhân đoạn gen ITS1 từ các mẫu Dây thìa canh dùng mồi P12  
Ghi chú: M: marker 1000 bp; giếng từ 1 - 5: mẫu TC1 - TC5  
Thành công của khuyếch đại PCR cùng xác  
ba đoạn mã vạch ở tất cả các mẫu nghiên cứu  
chứng tỏ sự hiệu quả trong tối ưu hóa thiết kế  
mồi và quy trình PCR.  
3.3. Phân tích trình tự các đoạn ADN mã  
vạch với các đoạn mồi khác nhau  
định được trình tự là một tiêu chí quan trọng  
để đánh giá tính hữu ích của ADN mã vạch.  
Trong nghiên cứu này, ba đoạn mã vạch đề  
xuất psbA-trnH, trnL và ITS1 được khuyếch  
đại bằng việc sử dụng các cặp mồi phổ quát  
cùng các thành phần và quy trình PCR được  
tối ưu hóa cho từng đoạn mã vạch. Tất cả các  
đoạn ADN mã vạch trên đều được khuyếch  
đại thành công ở tất cả 5 mẫu nghiên cứu  
(Hình 2, 3 và 4). Tỷ lệ thành công cho  
khuyếch đại PCR cho ba đoạn mã vạch là  
100%. Tỷ lệ giải trình tự thành công cả hai  
chiều sản phẩm PCR đạt được là 100% cho ba  
đoạn ADN mã vạch. Kết quả này một lần nữa  
khẳng định số lượng và chất lượng của ADN  
được tách chiết từ mẫu ban đầu để làm khuôn  
cho phản ứng nhân dòng gen bằng kĩ thuật  
PCR rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp  
đến thành công của các thí nghiệm phía sau.  
Cùng với đó, sản phẩm PCR đặc hiệu của cả  
Với cách lựa chọn 5 mẫu Dây thìa canh  
cùng ba lần lặp lại ở mỗi mẫu, tổng cộng thu  
được 15 trình tự nucleotide cho một đoạn  
ADN mã vạch đề xuất. Chất lượng trình tự  
nucleotide là cao ở tất cả các mẫu, tỷ lệ đọc  
thành công là 100%. Các trình tự này sau đó  
được chỉnh sửa và ghép nối bằng tay và phần  
mềm Bioedit version 7.2.5. Kết quả trình tự  
nucleotide phân tích thuộc 3 vùng ADN là  
565 bp, 567 bp và 767 bp cho 3 gen psbA -  
trnH, trnL và ITS1 (Bảng 2). Tiếp theo, trình  
tự nucleotide của từng đoạn mã vạch được so  
sánh trực tiếp với cùng loại ADN mã vạch ở  
cùng loài Dây thìa canh (Gymnema sylvestre)  
hoặc cùng chi Gymnema trên cơ sở dữ liệu  
ADN mã vạch (BOLD-Barcode of Life Data  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
Systems), Trung tâm thông tin Công nghệ  
sinh học Hoa Kỳ (NCBI-National Center for  
Biotechnology Information) bằng công cụ  
BLAST (Có sẵn tài địa chỉ website:  
https://blast.ncbi.nlm.nih.gov/Blast.cgi) và phần  
mềm ClustalW2 (Có sẵn tại địa chỉ  
website:http://www.ebi.ac.uk/Tools/msa/muscle/).  
Bảng 2. Đánh giá ba vùng ADN đề xuất  
Các mã số trình tự  
psbA-  
trnH  
TT  
Chỉ tiêu phân tích  
trnL  
ITS1  
nucleotide trên GenBank  
được lựa chọn để so sánh  
MF064896.1; MF064897.1;  
MF064898.1; HE805512.1,  
HG530575.1, AJ402142.2,  
KE953920.1, AJ402137.1,  
AJ431750.1; MF409652.1,  
MG730191.1, MG730189.1,  
MG730190.1, MG818139.1,  
MF063778.1, MF063777.1  
1
2
3
4
5
Tỷ lệ PCR thành công (%)  
Tỷ lệ đọc trình tự thành công (%)  
Chiều dài trình tự (bp)  
Vị trí sai khác  
100  
100  
565  
319  
1
100  
100  
567  
201  
1
100  
100  
767  
376  
1
Số nucleotide sai khác  
6
Sự phân biệt mức độ loài (%)  
0,18  
0,18  
0,13  
chính xác sự sai khác nằm tại các vị trí nào,  
bằng phần mềm Bioedit, trình tự nucleotide  
của psbA-trnH từ loài Dây thìa canh được so  
sánh với cùng loại mã vạch psbA - trnH mã số  
MF064898.1. Điểm bắt đầu so sánh ở vị trí  
nucleotide thứ 1, kết quả chỉ ra 1 nucleotide  
sai khác (Bảng 2, hình 5).Trong đó 1 vị trí  
(Nucleotide thứ 319 thay T bằng A).  
3.3.1. Kết quả phân tích trình tự nucleotide  
của đoạn gen psbA-trnH  
Với đoạn mã vạch psbA-trnH, hiện chi  
Gymnema có  
3
trình tự trên NCBI:  
MF064896.1; MF064897.1; MF064898.1 đều  
cùng loài Gymnema sylvestre, trong đó trình tự  
có mã số MF064898.1 cho thấy độ tương  
đồng cao nhất đến hơn 99%. Do đó, để biết  
Hình 5. Vị trí nucleotide sai khác so sánh trên vùng psbA-trnH  
Ghi chú: vị trí sai khác là vị trí khoanh tròn  
NCBI:  
AJ402142.2,  
HE805512.1,  
KE953920.1,  
HG530575.1,  
AJ402137.1,  
3.3.2. Kết quả phân tích trình tự nucleotide  
của đoạn gen trnL  
Với đoạn mã vạch trnL, có 6 trình tự trên  
AJ431750.1. So sánh trình tự nucleotide của  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
29  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
trnL của Dây thìa canh được so sánh với mã  
vạch trnL mã số KE953920.1 của 1 loài thuộc  
chi Gymnema, kết quả chỉ ra 1 nucleotide sai  
khác (Bảng 2, hình 6), trong đó 1 vị trí  
(Nucleotide thứ 201 thay T bằng A).  
Hình 6. Vị trí nucleotide sai khác so sánh trên vùng trnL  
Ghi chú: vị trí sai khác là vị trí khoanh tròn  
sánh trình tự nucleotide của ITS1 của Dây thìa  
3.3.3. Kết quả phân tích trình tự nucleotide  
của đoạn gen ITS1  
canh được so sánh với mã vạch ITS1 mã số  
MG730191.1 của một loài thuộc chi  
Gymnema, kết quả chỉ ra 1 nucleotide sai khác  
(Bảng 2, hình 7), trong đó 1 vị trí (Nucleotide  
thứ 376 thay C bằng G).  
Cũng như thế, với đoạn mã vạch ITS1, có 7  
trình  
tự  
trên  
NCBI:  
MF409652.1,  
MG730191.1, MG730189.1, MG730190.1,  
MG818139.1, MF063778.1, MF063777.1.So  
Hình 7. Vị trí nucleotide sai khác so sánh trên vùng ITS1  
Ghi chú: vị trí sai khác là vị trí khoanh tròn  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
Như vậy, với ba vùng ADN được lựa chọn  
là psbA-trnH, trnL và ITS1 đại diện cho sự  
tiến hóa dẫn đến sai khác nucleotide đủ để  
đảm bảo cho sự phân định loài. Kết quả phân  
tích từ ba vùng trên đều cho sự khác biệt  
nucleotide giữa hai hệ gen nghiên cứu là  
không nhiều nên có thể sử dụng 3 trình tự  
thuộc ba vùng gen trên làm cơ sở cho giám  
định loài.  
(Bảng 3b) với mã số KF953920.1 (Gymnema  
sylvestre). Điều này cho thấy hai trình tự này  
có quan hệ họ hàng rất gần gũi với nhau, và  
sự sai khác có thể được lý giải là do nguồn  
gốc xuất xứ của các mẫu nghiên cứu không  
giống nhau. Từ kết quả hệ số khác biệt di  
truyền thu được như bảng 3b, dùng phần mềm  
MEGA 6 và phương pháp Neighbor - Joining  
vẽ cây phát sinh chủng loại.  
So sánh của trình tự gen trnL của một số  
loài có trình tự tương đồng trên ngân hàng gen  
NCBI bằng cách sử dụng công cụ BLAST,  
chúng tôi đã thiết lập được cây phát sinh  
chủng loại nhờ NCBI (Ngân hàng gen). So  
sánh trình tự mã gen của trnL của Dây thìa  
canh có mã gen trnL có độ tương đồng cao  
99,27% với mã vạch KF953920.1 (Hình 8b).  
3.4.3. Cây phát sinh chủng loại dựa vào  
trình tự trên đoạn ITS1  
Xây dựng cây phát sinh thể hiện mối quan  
hệ di truyền của loài Dây thìa canh nghiên  
cứu với một số loài thuộc chi Gymnema trên  
ngân hàng gen NCBI. Đối với trình tự gen  
ITS1 cây phát sinh được xây dựng với chi  
Gymnema trên ngân hàng gen NCBI có 7 trình  
tự: MG730190.1; MF063778.1; MG730189.1;  
MF409652.1; MG818139.1; MF063777.1;  
MG730191.1 đều của loài Gymnema  
sylvestre. Qua đây có thể thấy rằng ITS1 là  
một vùng có sự biến thiên nucleotide rất lớn  
và đã được chứng minh là có hiệu quả trong  
việc đánh giá mối quan hệ phát sinh giữa các  
loài thực vật. Kết quả thu được trong nghiên  
cứu này cho thấy mã vạch ITS1 có sự tương  
đồng đến 100% với trình tự có mã số  
MG818139.1 (Bảng 3c).  
Từ kết quả hệ số khác biệt di truyền thu  
được như bảng 3c, dùng phần mềm MEGA 6  
và phương pháp Neighbor - Joining xây dựng  
cây phát sinh chủng loại. Tiếp tục so sánh  
trình tự gen ITS1 của một số loài có trình tự  
tương đồng trên ngân hàng gen NCBI bằng  
cách sử dụng công cụ BLAST, chúng tôi đã  
thiết lập được cây phát sinh chủng loại nhờ  
NCBI (Ngân hàng gen). So sánh trình tự mã  
gen ITS1 của Dây thìa canh với mã vạch  
MF409652.1 có độ tương đồng đến 99,97%  
(Hình 8c).  
3.4. Xây dựng cây phát sinh chủng loại  
3.4.1. Cây phát sinh chủng loại dựa vào  
trình tự trên đoạn psbA-trnH  
Dựa vào những kết quả trên, xây dựng cây  
phát sinh thể hiện mối quan hệ của loài Dây  
thìa canh nghiên cứu với một số loài thuộc chi  
Gymnema trên ngân hàng gen NCBI. Đối với  
trình tự gen psbA-trnH cây phát sinh được  
xây dựng với chi Gymnema trên ngân hàng  
gen NCBI có 3 trình tự: MF064898.1;  
MF064896.1; MF064897.1. Kết quả phân tích  
cho thấy mã vạch psbA-trnH có sự tương  
đồng đến hơn 99,99% (Bảng 3a) với trình tự  
có mã số MF064898.1. Mặc dù cả 3 trình tự  
có mã số MF064898.1; MF064896.1;  
MF064897.1 đều của loài Gymnema sylvestre  
nhưng do vùng phân bố của loài khá rộng nên  
tạo ra những khác biệt di truyền nhất định.  
Trong nghiên cứu này cũng cho thấy trình tự  
mã vạch psbA-trnH của loài Gymnema  
sylvestre (Retz.) R.Br có quan hệ họ hàng gần  
gũi với trình tự có mã số MF064898.1. Từ kết  
quả hệ số khác biệt di truyền thu được như  
bảng 3, dùng phần mềm MEGA 6 và phương  
pháp Neighbor-joining vẽ cây phát sinh chủng  
loại như hình 8a.  
3.4.2. Cây phát sinh chủng loại dựa vào  
trình tự trên đoạn trnL  
Xây dựng cây phát sinh thể hiện mối quan  
hệ của loài Dây thìa canh nghiên cứu với một  
số loài thuộc chi Gymnema trên ngân hàng  
gen NCBI. Đối với trình tự gen trnL có 6 trình  
tự: AJ402137.1 (Gymnema sylvestre);  
AJ402142.2  
AJ431750.1  
HE805512.1  
HG530575.1  
(Gymnema  
(Gymnema  
(Gymnema  
(Gymnema  
sylvestre);  
inodorum);  
sylvestre);  
latifolium);  
KF953920.1 (Gymnema sylvestre). Cho thấy  
mã vạch trnL có sự tương đồng đến hơn 99%  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
31  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
Bảng 3. Hệ số khác biệt di truyền của đoạn psbA-trnH, trnL, ITS1  
(a)  
(b)  
(c)  
0.00  
0.00  
0.00  
0.00  
MF064898  
psbA-trnH  
MF064896  
MF064897  
0.23  
0.23  
(a)  
0.00  
0.00  
HE805512.1  
HG530575.1  
AJ402142.2  
KF953920.1  
trnL  
0.00  
0.01  
0.00  
0.35  
0.00  
0.00  
0.00  
0.00  
0.01  
AJ402137.1  
AJ431750.1  
0.36  
(b)  
0.04  
MF409652.1  
ITS  
0.01  
-0.01  
0.02  
-0.01  
0.06  
MG730191.1  
MG730189.1  
MG730190.1  
MG818139.1  
MF063778.1  
MF063777.1  
-0.03  
0.07  
-0.07  
0.16  
-0.11  
0.00  
0.00  
0.36  
(c)  
Hình 8. Cây phát sinh chủng loại dựa vào trình tự trên đoạn psbA-trnH, trnL, ITS1  
Ghi chú: Các số thể hiện sự sai khác di truyền giữa hai loài trong cùng nhánh  
Tóm lại, với kết quả phân tích BLAST và  
ClustalW2 nêu trên, khả năng phân biệt ở mức  
độ loài của ba đoạn mã vạch đề xuất là: psbA-  
trnH > ITS1 > trnL. Trong đó, hai mã vạch  
psbA - trnH và ITS1 cho kết quả với sự khác  
biệt rất nhỏ. Kết quả này trùng hợp với  
khuyến cáo của CBOL (2009) khi cho rằng  
chỉ sử dụng hai mã vạch ADN cho nhận biết  
thực vật bậc cao là psbA - trnH và ITS1.  
4. KẾT LUẬN  
dụng trong nghiên cứu đã được khuyếch đại  
và đọc trình tự thành công. Thêm nữa, tiềm  
năng nhận biết ở mức độ loài của mã vạch  
psbA - trnH và ITS1 là cao hơn trnL dựa trên  
phân tích BLAST và ClustalW2. Do đó, sự tổ  
hợp hai mã vạch psbA - trnH và ITS1 là phù  
hợp để nhận biết loài Dây thìa canh  
(Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đỗ Tất Lợi (2012). Những cây thuốc và vị thuốc  
Việt Nam. NXB Y học.  
2. CBoL Plant Working Group (2009). A DNA  
barcode for land plants. Proc Natl Acad Sci USA, 106:  
12794-12797.  
Trong nghiên cứu này, ADN tổng số đã  
được tách chiết thành công với một sự thay  
đổi nhỏ trong nồng độ CTAB (4% thay vì  
2%). Ba đoạn mã vạch CBOL đề xuất được sử  
3. Chase M.W, Salamin N, Wilkinson M, Dunwell  
32  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng  
J.M, Kesanakurthi R.P (2005). Land plants and DNA  
barcodes: short-term and long-term goals. Phil Trans  
Roy Soc B, 360: 1889-1895.  
10. Lahaye R, van der Bank M, Bogarin D, Warner  
J, Pupulin F (2008). DNA barcoding the floras of  
biodiversity hotspots. Proc Natl Acad Sci USA, 105:  
2923-2928.  
11. Pang X, Liu C, Shi L, Liu R, Liang D, Li H,  
Cherny S. S, Chen S (2012). Utility of the trnH–psbA  
intergenic spacer region and its combinations as plant  
DNA barcodes: A metaanalysis.PloS One. 7:e48833.  
12. Ghaffariyan S, Mohammadi S.A and Aharizad S  
(2012). DNA isolation protocol for the medicinal plant  
lemon balm (Melissa officinalis). Genetics and  
Molecular Research, 11 (2): 1049-1057.  
13. Saghai Maroof M. A, Soliman K. M, Jorgensen  
R. A, Allard R. W (1984). Ribosomal DNA spacer-  
length polymorphism in barley: Mendelian inheritance,  
chromosomal location, and population dynamics. Proc  
Natl Acad Sci, 81: 8014-8019.  
14. Shaw J, Lickey E. B, Schilling E. E, Small R. L  
(2007). Comparison of whole chloroplast genome  
sequences to choose noncoding regions for  
phylogenetic studies in Angiosperms: the tortoise and  
the hare III. Am J Bot, 94: 275-288.  
4. Chen S, Yao H, Han J, Liu C, Song J, Shi L,  
Zhu Y, Ma X, Gao T, Pang X (2010). Validation of the  
ITS2 region as a novel DNA barcode for identifying  
medicinal plant species. PloS One. 5:e8613.  
5. Ford C. S, Ayres K. L, Toomey N, Haider  
N,Alphen S. J (2009). Selection of candidate coding  
DNA barcoding regions for use on land plants. Bot J  
Linn Soc 159: 1-11.  
6. Hebert, P. D, Cywinska A, Ball S. L (2003).  
Biological identifications through DNA barcodes.  
Proc. R. Soc. Lond. B. Bio, 270: 313-321.  
7. Kress W. J, Erickson D. L (2007). A two-locus  
global DNA barcode for land plants: the coding trrnL  
gene complements the non-coding trnH-psbA spacer  
region. PLoS ONE 2: e508.  
8. Kress W. J, Wurdack K. J, Zimmer E. A, Weigt  
L. A, Janzen D. H (2005). Use of DNA barcodes to  
identify flowering plants. Proc Natl Acad Sci USA,  
102: 8369-8374.  
9. Nguyễn Văn Việt, Sounthone Douangmala,  
Phạm Quang Chung, Trần Việt Hà (2016). Thử nghiệm  
ba vùng AND lục lạp tiềm năng (matK, trnL và psbA-  
trnH) cho nhận dạng loài Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa  
(Kurz) Craib). Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông  
thôn, 11: 94-98.  
15. Taberlet P, Coissac E, Pompanon F, Gielly L,  
Miquel C (2007). Power and limitations of the  
chloroplast trnL (UAA) intron for plant DNA  
barcoding. Nucl Acids Res 35: e17.  
17. http://www.ebi.ac.uk/Tools/msa/muscle/)  
STUDY ON DNA BARCODES FOR IDENTIFICATION OF  
Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br SPECIES  
Nguyen Van Viet1, Nguyen Thi Huyen1, Dao Thi Thuy Hang2  
1Vietnam National University of Forestry  
2Traditional Medicine Hospital, Ministry of Public Security  
SUMMARY  
Vietnam is a country of diverse and abundant resources with many high economic value animals, plants and  
mushrooms species. Previously, the methods of identification and classification of plants were mainly based  
on the morphology and anatomy. However, it is difficult to rely on morphology to classify, especially costly  
in terms of time, effort and funding. Currently, the method of species identification using DNA molecular  
markers is widely used. In particular, DNA barcoding is considered a modern and accurate method for  
identifying organisms, using DNA regions both in the nucleus, in mitochondria and in chloroplasts. In plants,  
identfication of suitable DNA barcode regions has proven to be more challenging than animals. In this study,  
the DNA barcording was approached for identification of Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br species derived  
from Suoi Hai, Ba Vi, Ha Noi. Three DNA barcodes (psbA-trnH, trnL và ITS1) proposed in this study belong  
to chloroplast DNA and nucleus DNA. The success rates for PCR amplification for these loci were 100%.  
The success rate for bidirectional sequencing of PCR products was 100% for all three loci with length 565  
bp, 567 bp và 767 bp for psbA - trnH, trnL and ITS1, respectively BLAST and ClustalW2 analysis indicated  
the species-specific discriminatory ability of the three proposed bar codes: psbA-trnH > ITS1 > trnL. Finally,  
a combination of psbA-trnH and ITS1 barcodes is proposed as a valuable DNA marker for Gymnema  
sylvestre (Retz.) R.Br identification.  
Keywords: DNA barcode, Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br, identification, ITS1, psbA-trnH, trnL.  
Ngày nhận bài  
: 08/9/2019  
: 26/11/2019  
: 05/12/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020  
33  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 25520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xác định đoạn ADN mã vạch cho dây thìa canh (Gymnema sylvestre (retz.) r.br) phục vụ giám định loài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xac_dinh_doan_adn_ma_vach_cho_day_thia_canh_gymne.pdf