Nghiên cứu xu thế biến đổi mực nước vùng ven biển Thành phố Hồ Chí Minh

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN  
Soá 24 (49) - Thaùng 01/2017  
Nghiên cứu xu thế biến đổi mực nước vùng ven biển  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Water level trends in coastal region of Ho Chi Minh City  
ThS. Trần Xuân Hoàng  
Viện Khí tượng Thủy văn Hải văn và Môi trường  
ThS. Ngô Nam Thịnh  
Phân viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu  
TS. Lê Ngọc Tuấn  
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP.HCM  
Tran Xuan Hoang, M.Sc.  
Institute of Hydrology Meteorology Oceanology and Environment  
Ngo Nam Thinh, M.Sc.  
Vietnam Institute of Meteorology, Hydrology and Climte Change  
Le Ngoc Tuan, Ph.D.  
The University of Science – National University Ho Chi Minh City  
Tóm tắt  
Nước biển dâng do biến đổi khí hậu ngày càng biểu hiện rõ nét trong những năm gần đây. Trong nghiên  
cứu này, xu thế biến đổi mực nước được tính toán cập nhật đến năm 2014 (1979-2014; 1986-2005;  
2005-2014) tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận bao gồm các trạm Vũng Tàu, Vàm  
Kênh và Cần Giờ. Kết quả cho thấy xu thế biến đổi mực nước cực trị tại khu vực đều tăng, đặc biệt  
trong 10 năm gần đây – phần nào thể hiện rõ ràng hơn biểu hiện của BĐKH tại khu vực.  
Từ khóa: biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mực nước.  
Abstract  
Sea level rise due to climate change is increasingly evident in recent years. In this work, water level  
trends were calculated to the year 2014 (1978-2014; 1986-2005; 2005-2014) in Ho Chi Minh City and  
the surrounding areas. The considered water level monitoring stations were Vung Tau, Vam Kenh, and  
Can Gio. Results shows that extreme water level trends are increasing, especially in the last 10 years,  
which clearly demonstrates the manifestation of climate change in the research area.  
Keywords: climate change, sea level rise, water level.  
Mực nước là một trong những yếu tố khí  
tượng thủy văn cần được quan tâm, xem  
xét. Theo đó, phân tích, đánh giá các đặc  
trưng cực trị, xu thế và mức độ biến đổi  
mực nước là hết sức cần thiết, góp phần  
1. Mở đầu  
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang  
tác động tiêu cực đến nhiều khía cạnh -tự  
nhiên, môi trường và xã hội, trong đó có sự  
thay đổi các yếu tố khí tượng thủy văn.  
109  
đánh giá ảnh hưởng của BĐKH, nước biển  
dâng (NBD). Bên cạnh đó, việc phân tích  
và tính toán đặc trưng mực nước còn có ý  
nghĩa quan trọng đối với việc thiết kế các  
công trình vùng ven bờ, ảnh hưởng đến chi  
phí và độ an toàn của công trình... [1-2]  
Huyện Cần Giờ là nơi duy nhất giáp  
biển Đông của thành phố Hồ Chí Minh  
(TP.HCM) với hệ thống sông rạch chằng  
chịt và rất nhiều cửa sông (Soài Rạp, Đồng  
Tranh, Cái Mép, Ngã Bảy,…). Chế độ thủy  
lực nơi đây khá phức tạp, chịu tác động của  
lũ thượng nguồn và chế độ bán nhật triều  
không đều của biển Đông, chi phối nhất  
định đến tình hình ngập lụt, xâm nhập mặn,  
diễn biến chất lượng nước…, đặc biệt trong  
bối cảnh BĐKH. Có thể thấy, diễn biến  
mực nước có vai trò quan trọng trong  
những nghiên cứu liên quan đến các vấn đề  
nêu trên tại địa phương. Theo đó, nghiên  
cứu này nhằm mục tiêu đánh giá xu thế  
biến đổi mực nước tại Tp.HCM và vùng  
lân cận đến năm 2014; cụ thể tại các trạm  
mực nước Vũng Tàu, Vàm Kênh và Nhà  
Bè; theo năm, theo mùa cũng như theo  
từng giai đoạn khác nhau (từ 1979 đến  
2014), trong đó có xét giai đoạn nền 1986-  
2005 theo tiếp cận trong báo cáo AR5 của  
Ủy Ban Liên Chính Phủ về Biến đổi Khí  
hậu (IPCC) [3]. Việc đánh giá riêng biệt  
ảnh hưởng của BĐKH đến sự thay đổi mực  
nước tại địa phương không thuộc phạm vi  
của nghiên cứu này.  
triều biển Đông vừa chịu tác động của lưu  
lượng thượng nguồn - có thể đại diện cho  
các kênh rạch nội đồng tại khu vực huyện  
Cần Giờ.  
Hình 1: Vị trí trạm mực nước Vũng Tàu,  
Vàm Kênh và Nhà Bè.  
Nghiên cứu xây dựng 2 nội dung  
chính: (1) Đánh giá các đặc trưng mực  
nước và thủy triều, bao gồm: đặc trưng  
mực nước cực trị; cực trị thủy triều; mực  
nước thiết kế (phương pháp phân tích cực  
trị mực nước quan trắc). (2) Đánh giá xu  
thế biến đổi mực nước tại các trạm:  
phương pháp phân tích xu thế.  
Các giai đoạn được xem xét so sánh:  
(1) Giai đoạn 1986 - 2005: Giai đoạn nền  
cho kịch bản BĐKH trong báo cáo AR5  
của IPCC [3]; (2) Giai đoạn 2005 - 2014:  
Giai đoạn 10 năm gần đây; (3) Giai đoạn  
1978 - 2014: Giai đoạn tổng hợp.  
2.1. Phương pháp thu thập số liệu  
Thu thập số liệu mực nước giờ tại  
Trạm Vũng Tàu trong 37 năm (01/01/1978  
- 31/12/2014); Trạm Vàm Kênh trong 36  
năm (01/01/1979-31/12/2014); Trạm Nhà  
Bè trong 34 năm (01/01/1981-31/12/2014).  
Tất cả các số liệu đã được đưa về mốc  
chuẩn quốc gia và được cung cấp bởi Đài  
Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ, đảm  
bảo độ tin cậy.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Trạm hải văn Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa –  
Vũng Tàu) và Vàm Kênh (tỉnh Tiền Giang)  
đại diện tốt chế độ mực nước tại khu vực  
cửa sông huyện Cần Giờ, phục vụ đánh giá  
diễn biến NBD; trạm Nhà Bè nằm sâu  
trong nội đồng tại vị trí giáp ranh giữa  
huyện Cần Giờ và huyện Nhà Bè với chế  
độ mực nước vừa chịu tác động của thủy  
Số liệu mực nước giờ được sử dụng để  
phân tích điều hòa thủy triều, tạo ra bộ  
hằng số điều hòa thủy triều -sử dụng để  
110  
tính toán các mực triều cực trị. Các giá trị  
mực nước trung bình, tối thấp và tối cao  
năm được sử dụng để tính các mực nước  
tần suất hiếm (các mực nước thiết kế) với  
chu kỳ lặp lại (hồi kỳ) khác nhau. Như vậy,  
cơ sở dữ liệu phục vụ tính toán khá đầy đủ  
và được quan trắc trong nhiều năm, đảm  
bảo không có sự biến động hay dị thường  
lớn trong quá trình quan trắc.  
một tháng hoặc năm j; Hi: Giá trị mực nước  
thứ i trong trong tháng hoặc năm j;  
:
H j  
Giá trị mực nước trung bình trong tháng  
hoặc năm j; Hmaxj: Giá trị mực nước cực đại  
trong tháng hoặc năm j; Hminj: Giá trị mực  
nước cực tiểu trong tháng hoặc năm j.  
2.3. Các phương pháp tính độ cao  
thủy triều cực trị  
Tính độ cao thủy triều cực trị là chỉ xét  
đơn thuần dao động mực nước do triều,  
không xét đến các yếu tố khác như mưa,  
gió, sóng hay lưu lượng nước từ thượng  
nguồn đổ về.  
2.2. Phương pháp tính toán mực nước  
cực trị  
Để thực hiện việc tính toán và phân  
tích các số liệu mực nước thực đo, phần  
mềm Excel được sử dụng tương ứng với  
các công thức sau:  
Tính độ cao thủy triều cực đ      cực  
t  u  ằng tổ hợp các phân triều: độ cao  
 
 
    
 
̅̅̅  
    
 
∑
  (j=1, 2, …12; i=1, 2, …, Nj)  
 
thủy triều ở một giờ  
t
được tính theo công  
 
 
thức (1) cho khoảng thời gian bất kỳ. Từ  
đó, chọn một độ cao thủy triều cao nhất và  
một độ cao thủy triều thấp nhất [3].  
(
)
 
 
        (j=1,2,…,12;i=1,2,…,N)  
j
      
(
)
 
     
        (=1,2,…,12;i=1,2,…,N)  
j
 
Trong đó: Nj: Số giá trị mực nước trong  
 
    
∑
(
)
 
        
                          (1)  
 
 
 
 
 
 
 
số điều hòa của 8 phân triều. Cũng có thể  
nhận được những trị gần đúng của các yếu  
tố thiên văn thỏa mãn các điều kiện cực trị  
dựa theo phương pháp Vlađimirsky [3].  
Những độ cao cực trị thủy triều theo  
phương pháp Vlađimirsky tìm được bằng  
A0  
Trong đó  
là mực nước trung bình  
(m);  
là các hệ số suy biến, phụ thuộc  
fi  
Hi  
vào các tham số quỹ đạo Mặt Trăng;  
là  
những hằng số điều hòa biên độ của các  
phân triều (m);  
là pha ban đầu của  
là các hằng số điều  
(V0 u)i  
K  
cách chọn liên tiếp các trị số  
khoảng từ 0đến 360:  
trong  
gi  
các phân triều (độ);  
1
hòa về pha của các phân triều (độ).  
Phương pháp Vlađ m rsky: cho phép  
giải tích chính xác bài toán theo các hằng  
                   (       )                
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                   (       )                
(2)  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trong đó:  
 
 
                      ;           ;  
√
                       
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                
              
     
√
                       
 
   
 
 
 
 
 
    
 
 
 
 
 
 
 
                                 
ai là hệ số các phân triều  
 
   
 
 
 
 
 
   
 
 
111  
bình và cực tiểu của mực nước được trình  
bày trong Bảng 1, theo đó có thể thấy mực  
nước có xu hướng tăng dần về phía Tây.  
Mực nước cực đại tại Vũng Tàu thấp hơn  
Vàm Kênh khoảng 30 cm. Ngoài ra, các  
đặc trưng mực nước tại Nhà Bè và Vàm  
Kênh có xu hướng tương đồng nhau.  
2.4. Phân tích cực trị đối với mực nước  
quan trắc (tính các mực nước thiết kế)  
Được áp dụng để xác định các độ cao  
mực nước cực trị tần xuất hiếm. Từ chuỗi  
các giá trị mực nước tối cao năm và tối  
thấp năm trong thời kỳ quan trắc có thể xác  
định các độ cao mực nước thiết kế ứng với  
những tần suất lặp lại hiếm khác nhau. Cơ  
sở lý thuyết của phương pháp tham khảo  
Nghiêm Tiến Lam [4].  
Bảng 1: Đặc trưng mực nước trạm (cm)  
Trạm  
Cực đại Trung bình Cực tiểu  
2.5. Phương pháp phân tích xu thế  
Vàm Kênh 178  
-8  
-24  
2
-268  
-332  
-270  
Tốc độ biến thiên theo thời gian (dâng  
lên hoặc hạ xuống) của mực nước được xác  
định theo phương pháp phân tích xu thế  
(phân tích trend) trong phần mềm Excel.  
Vũng Tàu  
148  
170  
Nhà Bè  
Độ cao của mực nước cực trị thiết kế  
được tính toán cho các vùng ven biển -trạm  
Vàm Kênh và Vũng Tàu. Các mực nước  
cực trị thiết kế theo chu kỳ lặp được thể  
hiện trong Bảng 2, qua đó cho thấy mực  
nước thiết kế cực đại chu kỳ lặp 100 năm  
có khả năng cao hơn mực nước cực đại  
hiện tại khoảng 4cm và 6cm tương ứng tại  
trạm Vũng Tàu và Vàm Kênh. Đối với  
mực nước thiết kế cực tiểu, các số liệu  
tương ứng là 4cm và 10cm.  
Mối liên hệ giữa mực nước  
được xác định dưới dạng một phương  
y a x b  
Phương pháp này được áp dụng đối với các  
chuỗi mực nước giờ, ngày, tháng, năm hay  
các cực trị mực nước (tối thấp, tối cao).  
3. Kết quả và thảo luận  
y
và thời gian  
x
trình hồi quy tuyến tính:  
.
3.1. Đặc trưng mực nước và thủy triều  
3.1.1. Đặc trưng mực nước  
Các giá trị đặc trưng cực đại, trung  
Bảng 2: Kết quả phân tích cực trị với chuỗi mực nước (cm) tối cao và tối thấp năm  
Vũng Tàu  
Cực đại Cực tiểu  
132,06 -302,26  
Vàm Kênh  
Cực đại Cực tiểu  
155,65 -239,16  
Chu kỳ lặp (năm )  
2
3
137,14  
138,55  
140,09  
144,03  
147,15  
149,11  
150,52  
152,69  
-310,96  
-313,46  
-316,25  
-323,54  
-329,50  
-333,34  
-336,13  
-340,48  
159,52  
163,64  
166,06  
171,86  
176,10  
179,21  
181,38  
184,69  
-245,42  
-250,24  
-253,37  
-260,79  
-267,22  
-271,25  
-274,31  
-278,98  
4
5
10  
20  
30  
50  
100  
112  
3.1.2. Các độ cao cực trị của thủy  
triều (thủy triều cực trị lý thuyết)  
với mực nước thiết kế chu kỳ lặp 50 năm  
trong khi phương pháp Vlađimirsky cho  
kết quả thiên nhỏ (vì chỉ sử dụng 8 sóng  
triều chính). Có thể thấy rằng mực nước  
thiết kế cực trị hồi quy chu kỳ 50 năm  
(Bảng 3) và mực thủy triều thiên văn cực  
trị chênh lệch không đáng kể. Sự sai lệch  
này cũng thể hiện ảnh hưởng của lưu lượng  
thượng nguồn, tác động của mưa, gió…  
tham gia vào quá trình dao động mực nước  
tổng cộng.  
Độ cao thủy triều cực trị được tính  
theo hai phương pháp: (1) theo bộ hằng số  
điều hòa đầy đủ và (2) phương pháp  
Vlađimirsky. Kết quả tính toán được so  
sánh với mực nước thiết kế theo chu kỳ lặp  
50 năm và số liệu thực đo hơn 35 năm để  
lựa chọn phương pháp phù hợp. Bảng 3  
cho thấy phương pháp tổ hợp phân triều  
của tất cả các sóng triều gần đúng hơn so  
Bảng 3: Kết quả tính các độ cao cực trị của thủy triều (cm)  
Trạm  
Phương pháp ước lượng  
Mực thủy triều (cm)  
Thấp nhất Cao nhất  
Phương pháp tổ hợp phân triều thời kỳ năm 2000 đến  
-315,0  
142,0  
2050  
Vũng Tàu  
Phương pháp Vlađimirsky  
-289,0  
-336,1  
-332,0  
124,0  
150,5  
148,0  
Mực nước thiết kế chu kỳ lặp 50 năm  
Phương pháp lọc số liệu thực đo thời kỳ năm 1978 đến  
2014  
Phương pháp tổ hợp phân triều thời kỳ năm 2000 đến  
-263,4  
169,9  
2050  
Vàm  
Kênh  
Phương pháp Vlađimirsky  
-237,3  
-272,1  
-268,0  
146,5  
180,0  
178,0  
Mực nước thiết kế chu kỳ lặp 50 năm  
Phương pháp lọc số liệu thực đo thời kỳ năm 1979 đến  
2014  
bình năm  
3.2.1.1. Trạm Vàm Kênh  
3.2. Xu thế   ến đổ  của mực nước  
theo số l ệu đo đ c  
Xu thế biến đổi mực nước tại khu vực  
Cần Giờ và vùng lân cận được tính toán  
theo cực trị năm và cực trị theo mùa: mùa  
mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô  
(từ tháng 12 đến tháng 4).  
Tại trạm Vàm Kênh, kết quả tính toán  
cho thấy mực nước trung bình có xu thế  
tăng: 0,57 cm/năm trong khoảng 36 năm  
(1979 - 2014), tăng 0,86 cm/năm trong giai  
đoạn 1986 - 2005 và tiếp tục tăng trong  
những năm gần đây (2005 - 2014) (Hình 2):  
3.2.1. Xu thế biến đổi mực nước trung  
113  
4
0
y = 0.57x - 1,148.07  
-4  
-8  
y = 0.86x - 1,733.44  
-12  
-16  
-20  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 2: Xu thế biến đổi mực nước trung bình năm tại trạm Vàm Kênh  
3.2.1.2. Trạm Vũng Tàu  
khoảng 37 năm (1978 - 2014) tại Vàm  
Kênh tăng với tốc độ 0,31 cm/năm. Trong  
đó, (i) giai đoạn 1986 - 2005: Tốc độ gia  
tăng mực nước là 0,44 cm/năm, ghi nhận  
được năm có mực nước thấp nhất (1987)  
và năm có mực nước cao nhất (1994); (ii)  
giai đoạn 2005 -2014, mực nước tiếp tục  
có xu thế tăng khá cao.  
Hình 3 thể hiện xu thế biến đổi mực  
nước trung bình tại trạm Vũng Tàu qua các  
giai đoạn với nhiều nét tương đồng với  
trạm Vàm Kênh. Đây có thể là xu thế biến  
đổi chung của các trạm ven biển khu vực  
Nam Bộ với ảnh hưởng của triều Biển  
Đông. Xu thế mực nước trung bình trong  
-15  
y = 0.31x - 641.78  
-20  
-25  
-30  
-35  
y = 0.44x - 899.07  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 3: Xu thế biến đổi mực nước trung bình năm tại trạm Vũng Tàu  
3.2.1.3. Trạm Nhà Bè  
Tốc độ gia tăng mực nước trung bình  
tại trạm Nhà Bè trong giai đoạn 1981 -  
2014 là 0,34 cm/năm (Hình 4) - khá tương  
đồng với trạm Vũng Tàu (0,31 cm/năm) và  
thấp hơn gần 2 lần so với trạm Vàm Kênh  
114  
(0,57 cm/năm). Giai đoạn 1986 - 2005 ít có  
sự biến động về mực nước trung bình; duy  
trì xu thế tăng với tốc độ khá nhỏ, chỉ  
khoảng 0,14 cm/năm. Trong 10 năm gần  
đây, mực nước trung bình tăng rất nhanh  
và có dấu hiệu tiếp tục tăng; ghi nhận năm  
2014 có mực nước trung bình cao nhất  
trong hơn 30 năm tại Nhà Bè.  
y = 0.34x - 681.71  
10  
5
0
y = 0.14x - 278.70  
-5  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 4: Xu thế biến đổi mực nước trung bình năm tại trạm Nhà Bè  
3.2.2. Xu thế biến đổi mực nước cực đại  
Xu thế mực nước trung bình thể hiện  
mức độ biến đổi chung về mực nước -phục  
vụ các nghiên cứu về khí hậu, thủy văn  
nhưng thường không mang nhiều ý nghĩa  
trong các nghiên cứu về môi trường - bởi  
các vấn đề môi trường (như ngập, hạn hán,  
xâm nhập mặn...) thường song hành cùng  
với các thời điểm cực trị mực nước. Theo  
đó, yếu tố mực nước cực đại và cực tiểu  
cũng cần được quan tâm đánh giá.  
3.2.2.1. Trạm Vàm Kênh  
180  
y = 0.63x - 1,093.28  
170  
160  
150  
140  
130  
y = 0.95x - 1,731.22  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 5: Xu thế biến đổi mực nước cực đại trạm Vàm Kênh qua các giai đoạn  
115  
Mực nước cực đại tại trạm Vàm Kênh  
dao động từ 135 cm (năm 1988) - 176 cm  
(năm 1997), đều có xu thế tăng trong các giai  
đoạn được xét, như 0,63 cm/năm và 0,95  
cm/năm tương ứng với giai đoạn 1979 –  
2014 và 1986 – 2005 (Hình 5). Như vậy, xu  
thế tăng của mực nước cực đại trong 10 năm  
khá tương đồng với giai đoạn hơn 30 năm.  
Biên độ dao động qua các năm cũng có dấu  
hiệu giảm và tốc độ biến đổi ổn định hơn.  
3.2.2.2. Trạm Vũng Tàu  
Như đã đề cập, mực nước ở Vũng Tàu  
thấp hơn so với trạm Vàm Kênh. Hình 6  
cho thấy xu thế tăng ngày càng cao của  
mực nước cực đại tại trạm Vũng Tàu: 0,43  
cm/năm trong khoảng hơn 35 năm (từ 1978  
- 2014); 0,73 cm/năm trong giai đoạn 1986  
- 2005 (gấp gần 2 lần so với toàn giai đoạn  
35 năm) và tiếp tục tăng trong giai đoạn  
2005 - 2014.  
150  
y = 0.43x - 732.42  
145  
140  
135  
130  
125  
120  
115  
y = 0.73x - 1,325.22  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 6: Xu thế biến đổi mực nước cực đại tại trạm Vũng Tàu qua các giai đoạn  
3.2.2.3. Trạm Nhà Bè  
nước cực đại cao nhất; tiếp tục tăng trong  
giai đoạn 2005-2014. Đặc biệt trong 5 năm  
gần đây (2010 - 2014), mực nước cực đại  
tại Nhà Bè liên tục tăng nhanh, lên tới 170  
cm vào năm 2014 - đây cũng là mực nước  
lớn nhất tại Nhà Bè trong hơn 30 năm.  
Trong 3 trạm được phân tích, trạm  
Nhà Bè cho thấy tốc độ tăng mực nước cực  
đại cao nhất: 1,05 cm/năm trong 34 năm  
(1981 - 2014); 0,93 cm/năm trong giai  
đoạn 1986 – 2005 với năm 2003 có mực  
116  
165  
155  
145  
135  
125  
y = 1.05x - 1,951.19  
y = 0.93x - 1,710.21  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 7: Xu thế biến đổi mực nước cực đại tại trạm Nhà Bè qua các giai đoạn  
3.2.3. Xu thế biến đổi mực nước cực tiểu  
3.2.3.1. Trạm Vàm Kênh  
Hình 8 thể hiện xu thế biến đổi mực  
nước cực tiểu tại trạm Vàm Kênh trong 37  
năm (từ 1979 - 2014): xu hướng tăng với  
tốc độ 0,73 cm/năm với năm có mực nước  
cực tiểu thấp nhất (khoảng -270 cm) và cao  
nhất (-220 cm) lần lượt là 1988 và 2010.  
Tương tự các đặc trưng mực nước đã phân  
tích, mực nước cực tiểu giai đoạn 1986-  
2005 và 2005-2015 cũng ghi nhận xu thế  
tăng với tốc độ khá cao.  
-210  
y = 0.73x - 1,700.28  
-220  
-230  
-240  
-250  
-260  
-270  
y = 1.20x - 2,637.55  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 8: Xu thế biến đổi mực nước cực tiểu tại trạm Vàm Kênh qua các giai đoạn  
117  
3.2.3.2. Trạm Vũng Tàu  
-270  
-280  
-290  
-300  
-310  
-320  
-330  
-340  
y = 0.06x - 422.74  
y = -0.02x - 252.24  
1975  
1980  
1985  
1990  
1995  
2000  
2005  
2010  
2015  
Giai đoạn 1979-2014  
Giai đoạn 1986-2005  
Giai đoạn 2005-2014  
Hình 9: Xu thế biến đổi mực nước cực tiểu tại trạm Vũng Tàu qua các giai đoạn  
Hình 9 thể hiện xu thế biến đổi mực  
nước cực tiểu tại trạm Vũng Tàu trong 38  
năm (1978 - 2014): có nhiều biến động tại  
một số thời điểm mặc dù xu thế chung  
tương đối ổn định với tốc độ gia tăng  
khoảng 0,06 cm/năm. Trong giai đoạn  
1986 – 2005, mực nước cực tiểu mang  
nhiều nét đặc trưng của toàn thời kỳ (gần  
40 năm) -tương đồng với xu thế chung và  
gần như không biến đổi (-0,02 cm/năm);  
cực tiểu mực nước đạt mức cao nhất (-280  
cm) và thấp nhất (khoảng -335 cm) tương  
vào năm 1993 và 2005. Sau giai đoạn ít  
biến đổi, mực nước cực tiểu giai đoạn 2005  
- 2014 có dấu hiệu gia tăng.  
3.2.3.3. Trạm Nhà Bè  
Nhìn chung, xu thế biến đổi mực nước  
cực tiểu tại trạm Nhà Bè (Hình 10) có sự  
khác biệt so với xu thế biến đổi mực nước  
trung bình và tối cao. Trong cả giai đoạn  
1981-2014, mực nước cực tiểu có xu thế  
giảm với tốc độ khoảng -0,38 cm/năm. Xét  
giai đoạn 1986 – 2005, ghi nhận xu thế  
giảm mực nước cực tiểu (-0,64 cm/năm)  
và mực nước cực tiểu thấp nhất vào năm  
2005 (khoảng -270 cm). Trong 10 năm gần  
đây, mực nước cực tiểu có xu hướng tăng  
trở lại.  
118  
Hình 10: Xu thế biến đổi mực nước cực tiểu tại trạm Nhà Bè qua các giai đoạn  
3.2.4. Đánh giá chung xu thế mực nước tại khu vực Tp.HCM  
Hình 11: Tổng hợp xu thế biến đổi mực nước tại các trạm qua các giai đoạn  
Kết quả phân tích, tính toán xu thế  
biến đổi mực nước tại các trạm qua các giai  
đoạn được tổng hợp và thể hiện trong Hình  
11. Theo đó, xu thế mực nước trung bình ít  
biến động hơn so với xu thế mực nước cực  
đại và cực tiểu. Mực nước nhìn chung có  
xu thế tăng với tốc độ khác nhau tại mỗi  
trạm, mỗi tiêu chí:  
- 1986 - 2005: ngoài mực nước cực  
tiểu tại trạm Nhà Bè giảm, đa phần ghi  
nhận xu thế tăng với tốc độ nhỏ. Tốc độ  
biến đổi cao nhất ghi nhận đối với mực  
nước cực tiểu tại trạm Vàm Kênh.  
- 2005 - 2014: Trong khoảng 10 năm  
119  
gần đây, xu thế mực nước đang có dấu hiệu  
tăng khá nhanh về cả mực nước trung bình,  
cực đại hay cực tiểu - đây có thể xem là  
biểu hiện của NBD tại khu vực huyện Cần  
Giờ, TpHCM.  
Nhà Bè và Vàm Kênh tăng cao hơn so với  
trạm Vũng Tàu do tác động một phần của  
lượng nước thượng nguồn. Theo đó, có thể  
nhận thấy xu thế dâng lên của mực nước  
biển toàn cầu nói chung và khu vực Huyện  
Cần Giờ, Tp.HCM nói riêng. Đặc biệt, xu  
thế gia tăng mực nước trong 10 năm gần  
đây phần nào phản ánh biểu hiện của  
BĐKH và NBD tại khu vực. Xu thế dâng  
lên của mực nước nằm trong cửa sông tăng  
mạnh hơn so với khu vực ven biển tại  
Vũng Tàu - có thể do ảnh hưởng của địa  
hình, mưa và chế độ lũ thượng nguồn đổ về  
kết hợp với chế độ thủy triều dâng lên từ  
biển Đông.  
Nghiên cứu cung cấp những dữ liệu,  
nhận định về xu thế biến đổi mực nước  
trong điều kiện BĐKH tại Tp.HCM, phục  
vụ tốt cho các nghiên cứu có liên quan về  
ngập lụt, xâm nhập mặn, diễn biến chất  
lượng nước… cũng như các nghiên cứu  
xây dựng kế hoạch ứng phó với BĐKH và  
nước biển dâng cho các ngành, các lĩnh  
vực tại địa phương.  
Diễn biến mực nước theo các tiêu chí  
cụ thể như sau:  
- Mực nước cực đại: xu hướng biến  
đổi tương đối tương đồng giữa các trạm và  
các giai đoạn, tuy nhiên tốc độ biến đổi có  
những sự khác biệt nhất định: cao nhất tại  
trạm Nhà Bè, khá tương đồng tại trạm  
Vũng Tàu và Vàm Kênh. Trong 10 năm  
gần đây, mực nước cực đại tại trạm Vũng  
Tàu đang có xu hướng tăng nhanh hơn.  
- Mực nước trung bình: như đã đề cập,  
mực nước trung bình có xu thế biến đổi  
chậm hơn 2 yếu tố còn lại và không có  
nhiều sự khác biệt giữa các trạm. Đáng lưu  
ý, mực nước trung bình trong 10 năm gần  
đây đang có xu hướng tăng cao tại Nhà Bè  
và Vũng Tàu, đặc biệt là trạm Nhà Bè.  
- Mực nước cực tiểu: ổn định trong  
giai đoạn 1986-2005 và tăng nhanh trong  
10 năm gần đây -nhất là trạm Vũng Tàu.  
Ngoài ra, đáng quan tâm là mực nước cực  
tiểu tại trạm Nhà Bè: trước đây hầu hết có  
xu thế giảm, tuy nhiên đang tăng nhanh  
trong những năm gần đây (2005 – 2014).  
Điều này có thể giải thích bởi ngoài hiện  
tượng NBD, tại Nhà Bè còn chịu ảnh  
hưởng của lượng nước thượng nguồn đổ  
về, đặc biệt là lượng nước điều tiết từ các  
hồ trong mùa khô, làm mực nước cực tiểu  
gia tăng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thế Tưởng và Nguyễn Quốc Trinh,  
“Biển đổi khí hậu ảnh hưởng đến biến đổi  
mực nước biển”, Tạp chí Khí tượng Thủy văn  
2 (2004) 27-29.  
2. Nguyễn Quốc Trinh, “Tính toán đặc trưng  
mực nước biển tại Vũng Tàu”, Tạp chí Khí  
tượng Thủy văn 4 (2004) 47-52.  
3. Climate  
Change:  
Synthesis  
Report.  
Contribution of Working Groups I, II and III  
to the Fifth Assessment Report of the  
Intergovernmental Panel on Climate Change.  
IPCC, Geneva, Switzerland, 2014.  
4. Kết luận  
Xu thế biến đổi mực nước đến năm  
2014 được tính toán và đánh giá tại 3 trạm  
Vũng Tàu, Vàm Kênh và Nhà Bè -đại diện  
được cho khu vực huyện Cần Giờ và vùng  
lân cận. Nhìn chung, mực nước có xu thế  
gia tăng với tốc độ tăng khác nhau: trạm  
4. Phạm Văn Huấn (2002), Giáo trình Động lực  
học biển - Phần 3 - Thuỷ Triều, Nxb Đại học  
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
5. Nghiêm Tiến La (2005), Tính toán tần suất  
theo phân bố Gumbel, Weibull, Khoa kỹ thuật  
Biển, Đại học Thủy lợi.  
Ngày nhận bài: 20/4/2016  
Biên tập xong: 15/01/2017  
120  
Duyệt đăng: 20/01/2017  
pdf 12 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 16080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xu thế biến đổi mực nước vùng ven biển Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xu_the_bien_doi_muc_nuoc_vung_ven_bien_thanh_pho.pdf