Nhân giống cây cát tường (Eustoma Grandiflorum L.) qua hai con đường phát sinh phôi sinh dưỡng và phát sinh cơ quan

Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
NHÂN GIỐNG CÂY CÁT TƯỜNG (EUSTOMA GRANDIFLORUM L.) QUA HAI  
CON ĐƯỜNG PHÁT SINH PHÔI SINH DƯỠNG VÀ PHÁT SINH CƠ QUAN  
Trần Thị Ngọc Lan  
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Lâm Đồng  
Thông tin chung:  
ABSTRACT  
Ngày nhận bài: 18/06/2015  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
25/08/2015  
Lisianthus (Eustoma grandiflorum L.) is an ornamental plant with beautiful  
flowers. Due to low germination of its seeds, usual techniques for its  
propagation are not efficient. This present study was aimed to investigate the  
morphogenesis of different explants for useful micropropagation of Lisianthus.  
The results showed that calli were formed and developed by culturing in vitro  
leaf explants derived shoots on MS medium supplemented with 2 mg/l α-NAA or  
0.5 mg/l 2,4-D with the rate of 100%. The green, spongy calli were able to have  
shoot formation (82.50%), and the yellow, friable calli formed plantlets derived  
from somatic embryos (84.17%) in MS medium containing 0.5 mg/l BA. Results  
show rootlet formation in 0.5 mg/l α-NAA using MS medium for these shoots.  
All of plantlets were survived and adapted after 4 weeks of acclimatization in  
the ex vitro condittion. No abnormal morphological changes were found in  
Lisianthus plantlets with using propagation methods via organogenesis and  
embryogenesis.  
Ngày chấp nhận đăng: 09/2016  
Title:  
The micropropagation of  
Lisianthus (Eustoma  
grandiflorum L.) through the  
way of organogenesis and  
embryogenesis  
Từ khóa:  
Chồi, Eustoma grandiflorum L.,  
mô sẹo, phôi sinh dưỡng  
Keywords:  
Callus, Eustoma grandiflorum  
L., shoot, somatic embryo  
TÓM TẮT  
Cát tường (Eustoma grandiflorum L.) là loài cây trang hoàng, cho hoa bền,  
đẹp. Do tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp, những kỹ thuật nhân giống thông thường  
không đạt hiệu quả. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát sự  
phát sinh hình thái của mẫu cấy nhằm mục đích nhân nhanh và đồng loạt giống  
cây Cát tường. Qua nghiên cứu cho thấy, nuôi cấy mẫu lá in vitro có nguồn gốc  
từ chồi trên môi trường MS bổ sung 2 mg/l α-naphtaleneacetic acid (α-NAA)  
hoặc 0,5 mg/l 2,4-Dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D) cho tỷ lệ hình thành mô  
sẹo đạt 100%. Loại mô sẹo đặc vàng, dạng hạt phát sinh phôi sinh dưỡng, tạo  
thành cây con (tỷ lệ đạt 84,17%) và loại mô sẹo xốp, xanh hình thành chồi (tỷ lệ  
đạt 82,50%) trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l 6-Benzylaminopurine (BA).  
Các chồi hình thành cây con khi nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l  
α-NAA. Tất cả các cây con có nguồn gốc từ hai loại mô sẹo này đều thích nghi  
tốt trong điều kiện ex vitro. Không ghi nhận những thay đổi về hình thái bất  
thường nào từ những cây hình thành từ hai con đường phát sinh cơ quan và  
phát sinh phôi.  
1. GIỚI THIỆU  
tím, trắng có viền hay không. Đây là một trong 10  
loại cây cắt cành có độ bền hoa hàng đầu trên thế  
giới (Rezaee và cs., 2012). Cây có khả năng  
Cây Cát tường cho hoa đẹp, thanh nhã với nhiều  
màu sắc khác nhau như: xanh lá mạ, hồng, vàng,  
110  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
kháng bệnh, chịu được acid và có khả năng đáp  
ứng với stress nhiệt độ cao. Tuy nhiên, hạt có kích  
thước rất nhỏ (19000 hạt/g), hạt rất khó gieo. Cây  
gieo từ hạt có kiểu hình không ổn định và có tỷ lệ  
nảy mầm không cao (dễ bị thất thoát hạt). Các  
công trình nghiên cứu trước đây, nhân giống in  
vitro thường vào mẫu bằng nuôi cấy hạt trong  
điều kiện in vitro (Lutoslawa và cs., 1988) hay  
nuôi cấy chồi, nhân chồi và cắt đoạn chồi.  
Semeniuk và Griesbach (1987) nhân giống Cát  
tường thông qua việc nuôi cấy chồi nách, lá và  
huyền phù tế bào. Furukawa (1993) nghiên cứu vi  
nhân giống tái sinh cây Cát tường từ những đoạn  
lá trên môi trường LS (Linsmaier & Skoog, 1965)  
bổ sung 1 mg/l BA cho kết quả tái sinh chồi từ lá.  
Sự phát sinh phôi sinh dưỡng từ nuôi cấy huyền  
phù mô sẹo hình thành từ các mảnh lá Lissianthus  
russelianus Hook. hay từ các mảnh lá có nguồn  
gốc từ nuôi cấy in vitro cũng được nghiên cứu  
(Nhut và cs., 2006; Ruffoni và cs., 1990). Rezaee  
và cs. (2012) đã nghiên cứu sự hình thành phôi  
sinh dưỡng từ các mẫu lá của Eustoma  
grandiflorum L. trên môi trường LS và B5 hay  
gần đây Hassan và cs. (2014) đã thành công trong  
việc tạo mô sẹo từ lá cây Cát tường và phát sinh  
chồi từ mô sẹo này. Tuy nhiên, các nghiên cứu  
trên chưa làm rõ sự phát sinh hình thái từ các mẫu  
cấy.  
Mục tiêu của bài báo này là nghiên cứu sự phát  
sinh hình thái của mẫu lá, lóng thân và đầu rễ từ  
các chồi cây nuôi cấy in vitro của cây Cát tường,  
khảo sát sự hình thành và nhân lên của mô sẹo, sự  
phát sinh và phát triển của phôi sinh dưỡng với  
tần số cao từ mô sẹo nuôi cấy từ lá của cây Cát  
tường để chọn ra phương thức nhân giống thích  
hợp cho loài cây có giá trị này.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
2.1 Vật liệu  
Cây Cát tường cho hoa kép, đẹp, màu vàng nhóm  
Mariachi (Eustoma grandiflorum Mariachi  
Yellow imp.) có chiều dài 60 -70 cm, 7 tháng tuổi  
có nguồn gốc từ vườn cây của nông dân, ấp Vạn  
Thành, Đà Lạt. Cây có độ bền của hoa từ 13 – 27  
ngày. Cây với các chồi ngọn và chồi nách được  
chọn làm vật liệu để thu lấy chồi (Hình 1).  
Hình 1. Thân cây Cát tường (Eustoma grandiflorum Mariachi Yellow imp.)  
mang các chồi ngọn và chồi nách (mũi tên).  
Môi trường nuôi cấy in vitro  
dịch nước rửa chén Sunlight, rửa lại nhiều lần  
bằng vòi nước 15 phút, rửa bằng nước đã hấp vô  
trùng (HVT), khử trùng bằng cồn ethylic 75%  
(v/v) trong 30 giây, rửa nước HVT 3 lần, ngâm  
trong dung dịch HgCl2 0,1% 6 phút, rửa lại 5 lần  
bằng nước HVT. Sau đó, tách các ngọn chồi và  
chồi nách, tách bỏ các lá bao, cho đến khi lộ ra  
đoạn chồi mang hai đến ba lá/chồi, rửa sạch bằng  
nước cất HVT và cấy vào môi trường MS bổ sung  
30 g/l sucrose và 8 g/l agar với 5 chồi/bình. Các  
chồi này được nuôi trong 2 tuần để thu lấy cây  
con làm nguyên liệu cho việc cảm ứng tạo mô  
sẹo.  
Sử dụng môi trường MS (Murashige & Skoog,  
1962). Tùy thuộc từng thí nghiệm sẽ bổ sung hay  
không bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng thực  
vật (CĐHSTTV) khác nhau (α-NAA, BA, 2,4-D).  
Môi trường nuôi cấy có pH = 5,7. Các môi trường  
nuôi cấy được cho vào các bình thủy tinh (thể tích  
bình: 250 ml với 40 ml môi trường nuôi cấy/bình)  
ο
và được hấp khử trùng trong 20 phút ở 121 C, 1  
atm.  
2.2 Phương pháp  
2.2.1 Vào mẫu, nuôi cấy chồi ex vitro  
Các đoạn mẫu có chiều dài 8 cm -10 cm được rửa  
sạch dưới vòi nước đang chảy, rửa lại bằng dung  
111  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
2.2.2 Khảo sát ảnh hưởng của các CĐHSTTV  
lên sự phát sinh hình thái của mẫu lá cây  
Cát tường  
các nồng độ khác nhau (0; 0,5 và 1 mg/l) để khảo  
sát ảnh hưởng của BA lên sự phát sinh hình thái  
của mô sẹo cũng như sự hình thành và phát triển  
của chồi và phôi sinh dưỡng từ mô sẹo. Mỗi bình  
gồm 5 mẫu. Mỗi nghiệm thức gồm 8 bình. Xác  
định tỷ lệ hình thành mô sẹo, hình thành cây con,  
hình thành chồi, chiều dài chồi, chiều dài rễ và số  
rễ, số chồi từ mô sẹo sau 4 tuần nuôi cấy.  
Các lá từ cây con in vitro đã nuôi cấy ở thí  
nghiệm trên được cắt thành các mảnh có kích  
thước (0,6 x 0,6) cm, được nuôi cấy trên môi  
trường MS bổ sung α-NAA (0; 1; 1,5 và 2 mg/l)  
hoặc 2,4-D (0; 0,5 và 1 mg/l), 30 g/l sucrose và 8  
g/l agar. Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức nuôi cấy  
trong điều kiện có chiếu sáng và 6 nghiệm thức  
nuôi cấy trong điều kiện tối hoàn toàn. Mỗi  
nghiệm thức gồm 8 bình với mỗi bình gồm 5 mẫu.  
2.2.6 Khảo sát sự hình thành rễ từ các chồi xuất  
phát từ mô sẹo và sự thích nghi của cây  
con trong điều kiện ex vitro của cây Cát  
tường  
Khảo sát sự phát sinh hình thái qua việc xác định  
tỷ lệ hình thành mô sẹo và tỷ lệ hình thành cấu  
trúc nhiều rễ, hình thái, màu sắc của những cấu  
trúc này trong điều kiện có chiếu sáng và điều  
kiện tối. Số liệu thu nhận sau 5 tuần nuôi cấy.  
Đối với các cây con hình thành từ mô sẹo phát  
sinh phôi:  
Cây con hình thành trong điều kiện in vitro, được  
chuyển sang trồng trong nhà kính với giá thể  
trồng là 2 phần đất và 1 phần trấu hun. Cây được  
trồng trong 4 tuần để khảo sát khả năng ra rễ và  
thích nghi của cây trong điều kiện ex vitro.  
2.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của các loại mẫu lên  
sự hình thành mô sẹo của cây Cát tường  
Các lá từ đoạn chồi đã nuôi cấy ở thí nghiệm trên  
được cắt thành các mảnh có kích thước (0,6 x 0,6)  
cm, các lóng thân ngang (đường kính 1 mm, dày 4  
mm) hay các đoạn rễ (2 x 0,5) mm, được nuôi cấy  
trên môi trường MS bổ sung 2 mg/l α-NAA, 30  
g/l sucrose và 8 g/l agar. Thí nghiệm gồm 3  
nghiệm thức nuôi cấy trong điều kiện có chiếu  
sáng và 3 nghiệm thức nuôi cấy trong điều kiện  
tối hoàn toàn. Mỗi nghiệm thức gồm 8 bình với  
mỗi bình gồm 5 mẫu. Sau 5 tuần nuôi cấy, khảo  
sát tỷ lệ hình thành mô sẹo của những mẫu này  
trong điều kiện có chiếu sáng và điều kiện tối.  
Đối với các chồi hình thành từ mô sẹo phát sinh  
chồi:  
Các chồi được chuyển sang môi trường MS bổ  
sung 0,5 mg/l α-NAA để chồi hình thành và phát  
triển rễ sau 2 tuần nuôi cấy. Sau đó, các cây này  
cũng được chuyển ra trồng trong nhà kính, chăm  
sóc tương tự như cây từ mô sẹo phát sinh phôi.  
2.2.7 Điều kiện nuôi cấy  
Nhiệt độ phòng nuôi là (25 ± 1) οC, cường độ ánh  
sáng: 2000 lux và độ ẩm không khí: 70%. Trong  
thí nghiệm khảo sát sự thích nghi của cây con  
trong điều kiện ex vitro thì sử dụng nhà kính có  
2.2.4 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy  
lên sự tăng sinh mô sẹo và cấu trúc nhiều  
rễ của cây Cát tường  
ο
nhiệt độ dao động ngày đêm là (17 – 25 ± 1) C,  
cường độ ánh sáng dao động từ (1000 – 7000) lux  
và độ ẩm không khí: 80%.  
Hai loại mô sẹo (vàng, đặc và trắng xanh xốp) và  
cấu trúc nhiều rễ thu được ở các thí nghiệm trên  
được tiếp tục nuôi cấy trên môi trường tương tự  
với việc xác định khối lượng của mô sẹo và cấu  
trúc nhiều rễ ở ngày thứ 7, ngày thứ 14 và ngày  
thứ 21 để khảo sát sự phát triển của mô sẹo và cấu  
trúc nhiều rễ theo thời gian nuôi cấy. Mỗi bình  
gồm 5 mẫu. Mỗi nghiệm thức gồm 8 bình.  
2.2.8 Quan sát mô học  
Làm các loại tiêu bản về mô sẹo với việc cắt lát  
theo chiều ngang mẫu cần quan sát, ngâm trong  
dung dịch javel 10% trong 15 phút, rửa nước,  
ngâm trong dung dịch acid acetic 45% trong 15  
phút, rửa nước, nhuộm màu bằng thuốc nhuộm  
hai màu đỏ carmin và xanh iod trong 15 phút, rửa  
nước và quan sát trên kính hiển vi quang học  
Olympus, Nhật với độ phóng đại 40 - 400 lần.  
Xác định kích thước mẫu bằng trắc vi thị kính.  
2.2.5 Khảo sát sự hình thành chồi và cây con từ  
mô sẹo của cây Cát tường  
Hai loại mô sẹo (vàng, đặc và trắng xanh xốp)  
được chuyển sang môi trường MS bổ sung BA ở  
2.2.9 Chỉ tiêu theo dõi  
112  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
Quan sát màu sắc, hình dạng, tỷ lệ hình thành mô  
sẹo. Xác định khối lượng của mô sẹo và cấu trúc  
nhiều rễ bằng cân phân tích Sartorius. Xác định số  
chồi trung bình trên cụm mô sẹo có khối lượng 1  
g, số rễ hình thành trung bình/cây con. Đo chiều  
dài chồi và chiều dài rễ của cây bằng thước cặp đo  
Insize 2002S. Tỷ lệ phát sinh chồi: số mẫu phát  
sinh chồi x 100 trên tổng số mẫu nuôi cấy. Tỷ lệ  
hình thành cây con: số mẫu hình thành cây con  
với chồi và rễ x 100 trên tổng số mẫu nuôi cấy.  
3.2 Ảnh hưởng của CĐHSTTV lên sự phát  
sinh hình thái từ lá in vitro  
Các mẫu cấy trong điều kiện có chiếu sáng hình  
thành mô sẹo nhanh hơn so với mẫu trong điều  
kiện tối (27 đến 30 ngày so với 32 đến 35 ngày).  
Mô sẹo trong điều kiện có chiếu sáng có màu  
vàng xanh, dạng hạt hay xốp trong khi mô sẹo  
trong điều kiện tối cho màu trắng vàng, dạng đặc  
hay xốp. Khối lượng mô sẹo trong điều kiện có  
chiếu sáng cũng cao hơn điều kiện tối. Có lẽ,  
trong điều kiện có chiếu sáng, sự hấp thu chất  
dinh dưỡng của mẫu cấy sẽ cao hơn. Kết quả này  
cũng phù hợp với kết quả của Hassan và cs.  
(2014). Ở các nghiệm thức xử lý từ 2,4-D, mẫu  
cảm ứng đạt cao nhất ở nồng độ 0,5 mg/l 2,4-D  
nhưng tỷ lệ tạo mô sẹo giảm đi khi mẫu được nuôi  
cấy ở nồng độ cao hơn (1 mg/l). Có lẽ, 2,4.D ở  
nồng độ cao sẽ ức chế sự cảm ứng và hình thành  
mô sẹo. 2,4-D làm gia tăng mức auxin của mẫu  
cấy, kích thích sự phân chia tế bào tạo mô sẹo.  
Tuy nhiên, nồng độ 2,4-D cao sẽ cảm ứng sinh  
tổng hợp ethylene. Sự tích lũy ethylene dù chỉ một  
lượng nhỏ trong bình nuôi cấy có thể ức chế sự  
sinh trưởng và phát triển của nhiều mẫu cấy thực  
vật (George và cs., 2008).  
2.2.10 Phương pháp xử lý số liệu  
Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và trong  
nhà kính được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3  
lần lặp lại. Các số liệu thu được là giá trị trung  
bình của 3 lần lặp lại. Số liệu được phân tích  
thống kê bằng phép thử Duncan (sự khác biệt có ý  
nghĩa ở mức xác suất P < 0,05) với phần mềm xử  
lý thống kê SPSS (Statistical Program Scientific  
System) 16.0.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Hình thành cây con từ chồi ex vitro  
Sau 2 tuần nuôi cấy, các chồi lớn dần và hình  
thành cây con mang từ 2 - 4 lá/cây. Các lá này  
được dùng làm vật liệu cho thí nghiệm tạo mô  
sẹo.  
Bảng 1. Sự hình thành mô sẹo và cấu trúc nhiều rễ của cây Cát tường sau 5 tuần nuôi cấy dưới ảnh hưởng  
của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật và các điều kiện nuôi cấy.  
CHẤT  
ĐHSTTV  
(mg/l)  
Điều kiện tối  
Cấu trúc nhiều rễ  
Điều kiện sáng  
Mô sẹo Cấu trúc nhiều rễ  
Tỷ lệ  
Mô sẹo  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ  
hình  
thành  
(%)  
Tỷ lệ  
hình  
thành  
(%)  
α-  
2,4-  
hình  
thành  
(%)  
Hình  
thái  
Hình  
thái  
hình  
thành  
(%)  
Hình  
thái  
Hình  
thái  
NAA  
D
0
1
0
0
0,00e*  
0,00c  
0,00d  
0,00c  
Vàng  
trắng,  
xốp  
Trắng,  
xốp  
57,50c  
0,00c  
60,00c  
0,00c  
Trắng,  
vàng,  
Trắng  
rễ  
Vàng,  
xanh,  
Xanh,  
trắng,  
mảnh  
1,5  
2
0
0
90,83b  
100a  
9,17b  
0,00c  
91,67b  
8,33b  
0,00c  
hạt, đặc  
mảnh  
hạt, đặc  
Trắng,  
Vàng,  
100,00a  
vàng,  
xanh,  
113  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
CHẤT  
ĐHSTTV  
(mg/l)  
Điều kiện tối  
Cấu trúc nhiều rễ  
Điều kiện sáng  
Mô sẹo Cấu trúc nhiều rễ  
Tỷ lệ  
Mô sẹo  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ  
hình  
thành  
(%)  
Tỷ lệ  
hình  
thành  
(%)  
α-  
2,4-  
hình  
thành  
(%)  
Hình  
thái  
Hình  
thái  
hình  
thành  
(%)  
Hình  
thái  
Hình  
thái  
NAA  
D
hạt, đặc  
hạt, đặc  
Trắng  
vàng,  
Vàng,  
xanh,  
0
0
0,5  
1
100,00a  
50,00d  
0,00c  
100,00a  
55,83c  
0,00c  
hạt, đặc  
hạt, đặc  
Vàng  
xanh,  
xốp  
Xanh,  
trắng,  
rễ to  
Trắng,  
xốp  
Trắng,  
rễ to  
47.50a  
44,17a  
Chú thích: *: Những chữ cái khác nhau (a, b, c,…) trong cùng một cột biểu diễn sự khác nhau có ý nghĩa với P<0,05 trong  
Duncan’s test.  
Đặc biệt, các mô sẹo hình thành ở nồng độ 2 mg/l  
α-NAA hoặc 0,5 mg/l 2,4-D trong điều kiện có  
chiếu sáng hay không cho mô sẹo có màu vàng,  
dạng đặc. Quan sát mô học những mô sẹo này  
dưới kính hiển vi cho thấy có nhiều tế bào đang  
phân chia với những tế bào đẳng kính, nhân to  
mang bản chất phôi. Vì vậy, có thể những mô sẹo  
này có khả năng phát sinh phôi sinh dưỡng (Hình  
2D, 2 E).  
sẹo từ hạt hay kết quả tạo mô sẹo từ lá (bổ sung  
vào môi trường B5 1,5 mg/l α-NAA của Hassan  
và cs., 2014) thì kết quả nghiên cứu ở đây cần  
phải bổ sung 2 mg/l α-NAA vào môi trường nuôi  
cấy thì tỷ lệ hình thành mô sẹo đạt 100%. Có lẽ,  
sự cảm ứng của mẫu cấy còn phụ thuộc vào chủng  
loại.  
Tuy việc sử dụng 2,4-D và α-NAA đều cho tỷ lệ  
hình thành mô sẹo cao nhưng để đảm bảo độ ổn  
định di truyền thì việc sử dụng α-NAA cho những  
nghiên cứu tiếp theo là khả thi.  
Tỷ lệ hình thành mô sẹo đạt cao nhất 100% trên  
môi trường MS bổ sung 2 mg/l α-NAA hoặc 0,5  
mg/l 2,4-D trong điều kiện có chiếu sáng hay tối  
hoàn toàn. Ở các nồng độ CĐHSTTV cao hơn  
như khi cảm ứng mẫu bằng 2,4-D (1 mg/l) đã xuất  
hiện cấu trúc màu xanh hay trắng gồm nhiều rễ  
bất định, rễ to (tỷ lệ: 44,17% – 55,83%) (Hình  
2H). So với kết quả của Lutoslawa và cs. (1988)  
sử dụng GA3 và kinetin để nuôi cấy hạt và tạo mô  
3.3 Ảnh hưởng của các loại mẫu cấy lên tỷ lệ  
hình thành mô sẹo của cây Cát tường  
Chọn môi trường nuôi cấy MS bổ sung 2 mg/l α-  
NAA để nuôi cấy các loại mẫu lá, lóng thân và  
đoạn rễ của cây Cát tường, kết quả nhận được ở  
Bảng 2.  
Bảng 2. Sự hình thành mô sẹo của các loại mẫu của cây Cát tường sau 5 tuần nuôi cấy với việc bổ sung 2 mg/l α-  
NAA vào môi trường nuôi cấy trong hai điều kiện có và không có chiếu sáng.  
Loại mẫu  
Lá  
Tỷ lệ tạo mô sẹo trong điều kiện tối (%) Tỷ lệ tạo mô sẹo trong điều kiện sáng (%)  
100,00a*  
67,50b  
0,00c  
100,00a  
68,33b  
0,00c  
Lóng thân  
Đoạn rễ  
Chú thích: *: Những chữ cái khác nhau (a, b, c,…) trong cùng một cột biểu diễn sự khác nhau có ý nghĩa với P<0,05 trong  
Duncan’s test.  
114  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
Từ kết quả ở Bảng 2 cho thấy, tỷ lệ hình thành mô  
sẹo đạt cao nhất ở loại mẫu cấy là lá (100%) trong  
cả hai điều kiện nuôi cấy có và không có chiếu  
sáng. Trong khi đó, loại mẫu cấy là đoạn rễ thì  
không hình thành mô sẹo. Kết quả của Rezaee và  
cs. (2012) khi cảm ứng mẫu lá, lóng thân và đoạn  
rễ cũng cho kết quả khá tương tự, với việc bổ  
sung BA (0,225 mg/l) lẫn α-NAA (1,86 mg/l) vào  
môi trường nuôi cấy. Auxin như α-NAA kích  
thích phân chia và kéo dài tế bào, kích thích các tế  
bào phân chia không trật tự dẫn tới sự phát sinh  
tạo mô sẹo. Cytokinin như BA giúp auxin phân  
chia tế bào và hình thành chồi. Trong nghiên cứu  
này, chỉ sử dụng 2 mg/l α-NAA là đủ để cảm ứng  
hình thành mô sẹo từ lá. Sự phân chia các tế bào  
biểu bì, nhu mô lá… thường dẫn đến các tế bào có  
kích thước nhỏ, đẳng kính, tế bào chất đậm đặc và  
nhân to là những tế bào có khả năng sinh phôi và  
qua quan sát giải phẫu đã cho thấy điều này (Hình  
2D). Vì vậy, nuôi cấy mẫu lá với việc bổ sung 2  
mg/l α-NAA là thích hợp trong hình thành mô  
sẹo.  
3.4 Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy lên sự  
phát triển của mô sẹo và cấu trúc nhiều rễ  
Hai loại mô sẹo thu được: mô sẹo có màu trắng  
xanh, xốp (mô sẹo 1, Hình 2B) và mô sẹo có màu  
vàng, dạng hạt, đặc (mô sẹo 2, Hình 2C) và cấu  
trúc nhiều rễ (Hình 2H) thu được từ thí nghiệm  
(mục 3.2 và 3.3) được nuôi cấy tiếp tục trên môi  
trường tương tự để khảo sát ảnh hưởng của thời  
gian lên sự phát triển của những cấu trúc này. Kết  
quả thu nhận được thể hiện qua Bảng 3.  
Từ kết quả ở Bảng 3 cho thấy, khối lượng của cả  
hai loại mô sẹo tăng dần theo thời gian nuôi cấy.  
Khối lượng của chúng đạt cực đại sau 21 ngày  
nuôi cấy. Khối lượng của dạng cấu trúc nhiều rễ  
cũng tăng dần theo thời gian nuôi cấy với những  
rễ phát triển to, dài, màu xanh hay trắng và đạt  
cực đại sau 14 ngày nuôi cấy nhưng các cấu trúc  
này không tiếp tục phát triển, một số thậm chí bị  
hoại tử dẫn đến khối lượng giảm dần ở ngày nuôi  
cấy thứ 21. Vì vậy, không chọn những cấu trúc  
nhiều rễ này cho việc tái sinh hình thành cây.  
Bảng 3. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy lên sự phát triển của các loại mô sẹo và cấu trúc nhiều rễ của cây Cát  
tường.  
Thời gian nuôi cấy  
Khối lượng của mô sẹo  
Khối lượng của mô  
sẹo 2 (g)  
Khối lượng của cấu  
trúc nhiều rễ (g)  
(ngày)  
1 (g)  
7
1,41c*  
2,81b  
4,64a  
1,43c  
2,50b  
4,02a  
1,55c  
2,93a  
2,07b  
14  
21  
Chú thích: *: Những chữ cái khác nhau (a, b, c,…) trong cùng một cột biểu diễn sự khác nhau có ý nghĩa với P<0,05 trong  
Duncan’s test.  
3.5 Ảnh hưởng của BA lên sự phát sinh hình  
thái của mô sẹo cây Cát tường  
vùng trung tâm phân sinh để biệt hóa chồi. Ngược  
lại, ở mô sẹo 2 cùng nồng độ BA 1 mg/l thì tỷ lệ  
hình thành cây con là cao hơn cả (95%). Chứng  
tỏ, mô sẹo 2 mang bản chất phát sinh phôi. Với sự  
hỗ trợ của BA, một cytokinin đã giúp các phôi  
non phát triển. Khác với mô phân sinh ngọn chồi,  
phôi bị tách khỏi khối mô vẫn tiếp tục tăng trưởng  
và phát triển bình thường trên môi trường thiếu  
CĐHSTTV. Ở phôi còn quá non, chưa có khả  
năng tổng hợp cytokinin, vì vậy, việc bổ sung  
cytokinin như BA là cần thiết ở giai đoạn đầu.  
Không những thế, BA phối hợp với auxin trong  
mẫu mô sẹo giúp sự tăng trưởng chồi con và khởi  
Từ kết quả ở các Bảng 4, Bảng 5 cho thấy ảnh  
hưởng của BA lên sự phát sinh hình thái của mô  
sẹo cây Cát tường. Khi không bổ sung BA, mô  
sẹo tiếp tục tăng sinh với tỷ lệ đáng kể ở cả hai  
loại mô sẹo. Điều này có lẽ là do sự chi phối của  
α-NAA có trong mô sẹo. Khi tăng nồng độ BA, tỷ  
lệ hình thành mô sẹo giảm dần cho đến 0% và  
đồng thời, tỷ lệ hình thành chồi và cây con tăng  
dần theo nồng độ tăng của BA. Ở mô sẹo 1, tỷ lệ  
hình thành chồi đạt cao nhất ở nồng độ BA 1 mg/l  
(93,33%). Điều này cho thấy mô sẹo 1 chứa các  
115  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
phát sự tạo mới mô phân sinh ngọn chồi từ nhu  
mô (Bùi Trang Việt, 2000).  
hình thành rễ và phát triển bình thường, nhưng ở  
nồng độ 1 mg/l BA, tỷ lệ phát sinh chồi từ mô sẹo  
là cao hơn (93,33%) nhưng chiều dài của các cây  
này lại thấp (24,2 mm so với 17,34 mm; 28,50mm  
so với 20,10 mm). Có lẽ, BA đã ức chế sự tăng  
trưởng của chồi ngọn. Vì vậy, một nồng độ BA  
0,5 mg/l là vừa đủ để hình thành chồi và cây con  
từ hai loại mô sẹo này.  
Chồi hình thành từ mô sẹo 1 đạt số lượng trung  
bình 24 – 31 chồi/cụm mô sẹo có khối lượng  
trung bình 1 g. Cây con hình thành từ mô sẹo 2  
đạt số lượng trung bình 21 – 25 cây/cụm mô sẹo  
có khối lượng trung bình 1 g. Kết quả này cũng  
tương đương như công bố của Nhut và cs. (2006).  
Tuy nhiên, cây con hình thành từ mô sẹo 2 là qua  
con đường phát sinh phôi. Cây hình thành chồi, rễ  
và phát triển hoàn chỉnh mà không cần phải sử  
dụng IBA và GA3 như các công bố của Nhut và  
cs. (2006); Hassan và cs. (2014).  
Như vậy, cytokinin như BA đã ảnh hưởng rõ rệt  
lên sự hình thành và phân hóa cơ quan của thực  
vật, đặc biệt là sự phân hóa chồi và giúp phôi phát  
triển. Ngoài ra, cytokinin còn có mối quan hệ  
tương tác với auxin, cytokinin làm yếu hiện tượng  
ưu thế ngọn, làm gia tăng sự phân cành.  
Ngoài ra, ở nồng độ 0,5 mg/l BA thì mô sẹo hình  
thành chồi (82,33%, Hình 2 G) và các chồi này  
Bảng 4. Ảnh hưởng của BA lên sự phát sinh hình thái của loại mô sẹo 1 của cây Cát tường sau 4 tuần nuôi cấy trên  
môi trường MS  
Nồng  
độ BA  
(mg/l)  
Tỷ lệ hình  
thành mô  
sẹo (%)  
Tỷ lệ hình  
thành chồi  
(%)  
Tỷ lệ hình  
thành cây  
con (%)  
Chiều dài chồi  
Chiều dài  
rễ (mm)  
Số rễ/cây  
(mm)  
0
0,5  
1
54,17a*  
7,50b  
33,83c  
82,50b  
93,33a  
12,00a  
10,00a  
6,67b  
12,67c  
24,20a  
17,34b  
20,33b  
27,47a  
20,53b  
3,03b**  
5,45,a  
3,07c  
0,00c  
Chú thích: *: Những chữ cái khác nhau (a, b, c,…) trong cùng một cột biểu diễn sự khác nhau có ý nghĩa với P<0,05 trong  
Duncan’s test.  
**: Số rễ hình thành sau khi các chồi được chuyển sang môi trường MS bổ sung 0,5 mg/l α-NAA để tạo rễ sau 2 tuần nuôi  
cấy.  
Bảng 5. Ảnh hưởng của BA lên sự phát sinh hình thái của loại mô sẹo 2 của cây Cát tường sau 4 tuần nuôi cấy trên  
môi trường MS  
Chiều dài  
chồi  
Nồng độ  
BA  
Tỷ lệ hình  
thành mô  
sẹo (%)  
Tỷ lệ hình  
thành chồi  
(%)  
Tỷ lệ hình  
thành cây  
con (%)  
Chiều dài rễ  
Số rễ/cây  
(mm)  
(mg/l)  
(mm)  
0
0,5  
1
59,17a*  
10,00b  
0,00c  
12,33a  
5,83b  
5,00b  
28,50c  
84,17b  
95,00a  
18,67b  
21,33b  
32,67a  
20,67b  
3,23b  
5,05,a  
3,67b  
28,50a  
20,10b  
Chú thích: *: Những chữ cái khác nhau (a, b, c,…) trong cùng một cột biểu diễn sự khác nhau có ý nghĩa với P<0,05 trong  
Duncan’s test.  
Kết quả các số liệu từ hai Bảng 4 và Bảng 5 cho  
thấy con đường phát sinh phôi sinh dưỡng từ mô  
sẹo 2 là ưu thế hơn con đường phát sinh chồi từ  
mô sẹo 1, vì từ phôi sinh dưỡng hình thành cây  
con (Hình 2F) mà không cần các công đoạn như:  
cắt, chuyển chồi sang môi trường mới để chồi ra  
116  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
rễ. Cụ thể, các chồi con hình thành từ mô sẹo 1  
được chuyển sang môi trường MS bổ sung 0,5  
mg/l α-NAA để hình thành rễ sau 2 tuần nuôi cấy  
(và 100% các chồi này đều hình thành rễ và phát  
triển thành cây hoàn chỉnh).  
giống cao. Đây là sự ghi nhận về con đường nhân  
giống nhanh và khả thi của cây Cát tường.  
Những kết quả trên cho thấy, mẫu lá từ nuôi cấy  
chồi là thích hợp hơn cả trong việc hình thành và  
phát triển của cả hai loại mô sẹo 1 và 2 trên môi  
trường MS bổ sung 2 mg/l α-NAA hoặc 0,5 mg/l  
2,4-D. Mô sẹo 1 hình thành chồi, mô sẹo 2 hình  
thành phôi sinh dưỡng và phát triển thành cây con  
khi bổ sung vào môi trường nuôi cấy 0,5 mg/l BA.  
Các chồi từ mô sẹo 1 phát triển thành cây con khi  
chuyển sang nuôi cấy trên môi trường MS bổ  
sung 0,5 mg/l α-NAA. Các cây con đều sống sót  
và thích nghi tốt trong điều kiện ex vitro.  
Tất cả các cây con được chuyển sang trồng trong  
nhà kính và đã thích nghi tốt trong điều kiện ex  
vitro (Hình 2I). Không phát hiện các thay đổi bất  
thường nào về hình thái của các cây con này qua  
hai con đường nhân giống này.  
Quan sát mô học  
Các quan sát giải phẫu hình thái mô sẹo sau 5 tuần  
nuôi cấy mẫu lá cho thấy, có nhiều tế bào nhỏ,  
đẳng kính, nhân to, đang phân chia mạnh mẽ. Đây  
là những tế bào có khả năng hình thành phôi  
(Hình 2D). Nuôi cấy tiếp tục những mô sẹo này  
thêm 2 tuần, chúng đã hình thành các phôi sinh  
dưỡng, nhô lên từ khối mô sẹo (Hình 2E). Vì vậy,  
những mô sẹo này là loại mô sẹo có khả năng phát  
sinh phôi.  
4.2 Khuyến nghị  
Các cây con cần được nuôi trồng tiếp tục để khảo  
sát khả năng sinh trưởng và cho hoa của cây Cát  
tường.  
LỜI CẢM ƠN  
Tác giả trân trọng cảm ơn Trường Cao đẳng Kinh  
tế Kỹ thuật Lâm Đồng đã tạo điều kiện về cơ sở  
vật chất cho nghiên cứu này.  
4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
4.1 Kết luận  
Qua hai con đường hình thành chồi và hình thành  
phôi sinh dưỡng, tạo cây con từ mô sẹo cho thấy,  
dù bằng con đường nào thì đều có khả năng nhân  
Hình 2. Vi nhân giống cây Cát tường  
117  
Journal of Science – 2016, Vol. 11 (3), 110 – 118 Part C: Agricultural Sciences, Fisheries and Biotechnology  
A. Mẫu cành hoa cây Cát tường (thanh ngang = 2,8 cm).  
B. Mô sẹo 1 sau 6 tuần nuôi cấy mẫu lá (thanh ngang = 1 cm).  
C. Mô sẹo 2 sau 6 tuần nuôi cấy mẫu lá (thanh ngang = 1 cm).  
D. Sự phân chia của các tế bào trong mô sẹo 2 sau 7 tuần nuôi cấy (thanh ngang = 30 µm).  
E. Sự hình thành phôi sinh dưỡng (mũi tên) trên mẫu mô sẹo 2 (thanh ngang = 300 µm).  
F. Sự hình thành cây con từ mô sẹo 2 (thanh ngang = 1 cm).  
G. Sự hình thành chồi từ mô sẹo 1 (thanh ngang = 1 cm).  
H. Sự hình thành cấu trúc nhiều rễ bất định sau 6 tuần nuôi cấy (thanh ngang = 1 cm).  
I. Sự ra rễ và phát triển của cây con trong nhà kính (thanh ngang = 2,5 cm).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Murashige, T., & Skoog, F. (1962). A revised  
medium for rapid growth and bioassay with  
tobacco cultures. Physiology Plant, 15, 73-97.  
Nhut, D.T., Tuan, N.S., Ngoc, H.M., Uyen, P.N.,  
Don, N.T., Mai, N.T…, da Silva, J.A.T.  
(2006). Somatic embryogenesis induction  
from in vitro leaf cultures of Lisianthus  
(Eustoma grandiflorum (RAF.) Shinn.).  
Propagation Ornament Plants, 6(3), 121-127.  
Bùi Trang Việt. (2000). Sinh lý thực vật đại  
cương, tập 2. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại  
học Quốc Gia.  
Furukawa, H. (1993). Some characteristics of  
regenerated plants from leaf and root explants  
of Eustoma grandiflorum. Plant Tissue  
Culture Letter, 10(1), 98-99.  
George, E.F., Hall, M.A. & Klerk, G.J. (2008).  
Plant propagation by tissue culture, Volume I.  
The Netherlands: Springer, 175-354.  
Rezaee, F, Ghanati, F., & Yusefzadeh Boroujeni,  
L. (2012). Micropropagation of Lisianthus  
(Eustoma grandiflora L.) from different  
explants to flowering onset. Iranian Journal of  
Plant Physiology, 3(1), 583-587.  
Hassan, A., Reyhaneh, P., & Narges, K. (2014).  
Evaluating the micropropagation of Lisianthus  
(Eustoma grandiflora l.) as an important  
ornamental. Plant Indian Journal of Science, 4  
(2), 596-602.  
Ruffoni, B., Damiano, C., Massabo, F., &  
Esposito, P. (1990). Organogenesis and  
embryogenesis in Lisianthus russellianus  
Hook. Acta Horticulture, 280, 83-87.  
Linsmaier, E.M., & Skoog, F. (1965). Organic  
growth factor requirement of tobacco tissue  
cultures. Physiology Plant, 18, 100-127.  
Semeniuk, P., & Griesbach, R.J. (1987). In vitro  
propagation of Prairie gentian. Plant Cell,  
Tissue and Organ Culture, 8(3), 249-253.  
Lutoslawa, S., Maria, W., & Barbara, T. (1988).  
Callus culture and micropropagation Eustoma  
grandiflorum Shinn. Acta Societatic, 57 (4),  
423-430.  
118  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 08/01/2024 20520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhân giống cây cát tường (Eustoma Grandiflorum L.) qua hai con đường phát sinh phôi sinh dưỡng và phát sinh cơ quan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_giong_cay_cat_tuong_eustoma_grandiflorum_l_qua_hai_con.pdf