Phát triển nguồn nhân lực thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

18  
CHUYÊN MỤC  
KINH TẾ HỌC  
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH  
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ  
NGUYỄN THỊ CÀNH*  
Trong những năm gần đây thuật ngữ “Cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ  
tư” được đề cập nhiều và trở thành một yêu cầu tất yếu để phát triển kinh tế, xã  
hội, giáo dục... của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam nói  
chung và TPHCM nói riêng.  
Nghiên cứu tìm hiểu các đặc thù và xu hướng của Cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư; những tác động của cuộc cách mạng này đến thay đổi kinh tế và phát  
triển nguồn nhân lực tại TPHCM. Trên cơ sở xem xét thực trạng nguồn nhân lực  
của TPHCM hiện nay và mức độ đáp ứng của nguồn nhân lực đối với yêu cầu  
phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế do tác động của Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư, kết hợp các dự báo về xu hướng phát triển nguồn nhân lực, nghiên  
cứu nêu lên những vấn đề cần giải quyết, đề xuất các giải pháp, chính sách  
phát triển và đào tạo nguồn nhân lực cho TPHCM trong giai đoạn tới, đáp ứng  
yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi kinh tế số.  
Từ khóa: nguồn nhân lực, Thành phố Hồ Chí Minh, Cách mạng công nghiệp lần thứ  
tư  
Nhận bài ngày: 14/5/2021; đưa vào biên tập: 20/5/2021; phản biện: 07/6/2021;  
duyệt đăng: 09/8/2021  
1. DẪN NHẬP  
đề cập đến việc áp dụng chiến lược  
công nghệ cao, điện toán hóa vào sản  
xuất mà không cần đến sự tham gia  
của con người. Chính phủ Đức khởi  
xướng khái niệm này (còn được gọi là  
cách mạng công nghiệp 4.0) nhằm  
khuyến khích khả năng cạnh tranh  
của các ngành công nghiệp Đức. Vài  
Khái niệm “Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư” đã được Chính phủ Liên  
bang Đức công bố từ năm 2013 nhằm  
* Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học  
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
19  
năm sau đó, nhiều quốc gia và ngành Theo báo cáo về công nghệ và tương  
công nghiệp cũng bắt tay vào triển  
khai, áp dụng Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư vào quy trình sản xuất để  
mang lại sự đổi mới năng động.  
Stankovic (2017) định nghĩa Cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư là một  
xu hướng mới trong sản xuất (và các  
lĩnh vực liên quan), dựa trên sự tích  
hợp của một loạt các công nghệ tạo ra  
các hệ sinh thái thông minh, tự động  
hóa, các nhà máy phi tập trung và các  
sản phẩm và dịch vụ tích hợp. Cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư lấy sản  
xuất làm trọng tâm bằng cách đưa các  
công nghệ tiên tiến vào sử dụng để  
tăng chất lượng, năng suất. Có ba  
thành phần chính liên quan đến Cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư bao gồm:  
dữ liệu lớn (Big data), trí tuệ nhân tạo  
(AI) và vạn vật kết nối (Internet of  
Things) (Roblek và các cộng sự,  
2016). Bản chất của Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư là dựa trên nền tảng  
công nghệ số và tích hợp tất cả các  
công nghệ thông minh để tối ưu hóa  
quy trình, phương thức sản xuất; nhấn  
mạnh những công nghệ đang và sẽ có  
tác động lớn nhất là công nghệ in 3D,  
công nghệ sinh học, công nghệ vật  
liệu mới, công nghệ tự động hóa,  
người máy…, mở ra nhiều phương  
thức truyền tải tri thức cho nhân loại.  
Kỷ nguyên mới của sự đầu tư, nâng  
cao năng suất và mức sống xã hội kỳ  
vọng được gia tăng là nhờ vào nền  
tảng của công nghệ. Điều này sẽ tác  
động đáng kể đến các hệ thống chính  
trị, kinh tế và giáo dục trên toàn thế  
giới.  
lai của các ngành nghề ASEAN được  
thực hiện bởi Tập đoàn công nghệ  
Cisco và Oxford Economics, dự báo  
đến năm 2028, lao động trong các  
ngành nghề thuộc 6 nền kinh tế phát  
triển nhất trong khu vực ASEAN  
(ASEAN 6) có khả năng sẽ bị thay thế  
bởi robot, trí tuệ nhân tạo. Theo đó,  
nông nghiệp sẽ là lĩnh vực chịu tác  
động mạnh nhất, với dự kiến khoảng  
6,6 triệu lao động dư thừa vào năm  
2028. Nhu cầu về lao động nông  
nghiệp có tay nghề và lao động phổ  
thông sẽ giảm vì các công việc này có  
thể được nhân rộng với việc áp dụng  
công nghệ robot. Tuy nhiên, năng suất  
từ việc áp dụng công nghệ cũng sẽ  
làm giảm giá thành sản phẩm và thúc  
đẩy tăng trưởng, từ đó tạo ra nhu cầu  
mới về lao động trong các lĩnh vực  
khác như bán buôn và bán lẻ, sản  
xuất, xây dựng và vận tải. Khi thị  
trường lao động phát triển, các kỹ  
năng cần thiết cũng sẽ thay đổi.  
Nghiên cứu cho thấy 41% trong số 6,6  
triệu lao động dư thừa “thiếu hụt” các  
kỹ năng công nghệ thông tin theo yêu  
cầu của các công việc mới. Gần 30%  
người lao động thiếu “kỹ năng tương  
tác” cần thiết đối với các vị trí tuyển  
dụng trong tương lai, chẳng hạn như  
kỹ năng thương lượng, thuyết phục và  
dịch vụ khách hàng; trong khi chỉ hơn  
25% thiếu “các kỹ năng cơ bản” như  
kỹ năng học tập, đọc và viết thành  
thạo. Để giảm thiểu tình trạng này,  
các nước ASEAN 6 có thể phải thực  
hiện những thay đổi chính sách lớn  
20  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
đối với hệ thống giáo dục. Các cơ về kinh tế số, xã hội số, GRDP bình  
quân đầu người khoảng 13.000USD,  
là trung tâm về kinh tế, tài chính,  
thương mại, khoa học - công nghệ và  
văn hóa của khu vực Đông Nam Á;  
Tầm nhìn đến năm 2045: Trở thành  
trung tâm về kinh tế, tài chính của  
Châu Á, phát triển bền vững, có chất  
lượng cuộc sống cao, GRDP bình  
quân đầu người khoảng 37.000USD,  
là điểm đến hấp dẫn toàn cầu” (Ban  
chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản  
Việt Nam TPHCM, 2020).  
quan chính phủ, doanh nghiệp, tổ  
chức giáo dục, các nhà cung cấp công  
nghệ và lao động cần phải phối hợp  
chặt chẽ để trang bị cho người lao  
động các công cụ và kỹ năng cần thiết  
để chuyển đổi (Dẫn theo Xuân Minh,  
2018).  
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,  
chuyển đổi kinh tế số là một trong  
những mục tiêu được quan tâm hàng  
đầu tại Việt Nam. Chính phủ Việt Nam  
đã ban hành Quyết định số 247/QĐ-  
TTg về “Chương trình chuyển đổi số  
quốc gia là cơ sở quan trọng cho sự  
thúc đẩy phát triển chính phủ số, nền  
kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam”.  
Để đạt được các mục tiêu nêu trên,  
Thành phố cần các nguồn lực đủ  
mạnh để phát triển, trong đó có nguồn  
nhân lực chất lượng cao được đào  
tạo về nhận thức, kiến thức, các kỹ  
năng số đáp ứng các yêu cầu của  
cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.  
TPHCM là một đô thị lớn của Việt  
Nam, là nơi đi đầu trong cả nước về  
phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện các  
chương trình phát triển khoa học-công  
nghệ, kinh tế số, kinh tế tri thức của  
quốc gia. Nghị quyết Đại hội đại biểu  
Đảng bộ TPHCM lần thứ XI, nhiệm kỳ  
2020 - 2025 đã đề ra các mục tiêu  
chiến lược quan trong về phát triển  
kinh tế-xã hội của Thành phố: “Đến  
năm 2025: Là đô thị thông minh, thành  
phố dịch vụ, công nghiệp theo hướng  
hiện đại, giữ vững vai trò đầu tàu kinh  
tế, động lực tăng trưởng của Vùng  
kinh tế trọng điểm phía Nam và cả  
nước, đi đầu trong đổi mới sáng tạo,  
có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện  
đại, nghĩa tình. GRDP bình quân đầu  
người đạt 8.500USD; Đến năm 2030:  
Là thành phố dịch vụ, công nghiệp  
hiện đại, thành phố văn hóa, đầu tàu  
2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN  
LỰC CỦA TPHCM  
Dưới tác động của Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư như đã đề cập sẽ có  
những thay đổi cơ bản về các ngành  
sản xuất dịch vụ dựa trên nền tảng  
công nghệ cao, điện toán hóa, trí tuệ  
nhân tạo… Theo định hướng phát  
triển, TPHCM sẽ là đô thị thông minh,  
đầu tàu về kinh tế số của cả nước,  
đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư cho giai  
đoạn tới. Để đạt được mục tiêu trên,  
Thành phố cần phát triển đào tạo  
nguồn nhân lực phù hợp. Mục này sẽ  
xem xét thực trạng của nguồn nhân  
lực hiện tại (xu hướng thay đổi theo  
ngành nghề, trình độ nguồn nhân  
lực...), mức độ đáp ứng các yêu cầu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
21  
thay đổi của nền kinh tế số và thay đổi tháng 4 năm 2019, TPHCM có  
của Cách mạng công nghiệp lần thứ 9.038.600 người, dân số trong độ tuổi  
tư, trên cơ sở đó đề xuất các dự báo lao động là 4.826.000 người; số lao  
mang tính định hướng và giải pháp động làm việc là 4.691.033 người, mật  
phát triển nguồn nhân lực cho giai độ dân cư là 4.363 người/ km2. Như  
đoạn tới.  
vậy, trong 10 năm, dân số TPHCM  
tăng 1.915.269 người, tỷ lệ tăng dân  
số bình quân giai đoạn 2009-2019 là  
2,3%/năm, cao gấp hơn 2 lần mức  
tăng bình quân chung của cả nước  
(1,14%). Đặc biệt, số lao động làm  
việc tăng 1,55 lần trong 10 năm.  
2.1. Một số dữ liệu về số lượng lao  
động của TPHCM  
Theo kết quả Tổng điều tra dân số  
ngày 1 tháng 4 năm 2009, TPHCM có  
7.123.340 người, dân số trong độ tuổi  
lao động là 5.097.766 người; số lao  
động làm việc là 3.031.890 người, mật  
độ dân cư là 3.418 người/km2. Theo  
kết quả Tổng điều tra dân số ngày 1  
Tình hình lao động TPHCM từ năm  
2011 đến năm 2019 được phản ánh  
qua Bảng 1. Lực lượng lao động tăng  
Bảng 1. Tình hình lao động TPHCM từ 2011 đến 2019  
Chỉ tiêu  
2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019  
Lực lượng lao động  
TPHCM (nghìn người)  
Lao động nhập cư *  
(nghìn người)  
4.000,9 4.086,44.122,34.188,54.420,74.493,74.578,74.684,94.826,0  
1.003,11 699,36 767,53 631,80 690,14 691,09 670,16 778,24 677,03  
25,07 17,11 18,62 15,08 15,61 15,38 14,64 16,61 14,03  
Cơ cấu lao động nhập  
cư (%)  
Tỷ lệ lao động/dân số  
(%)  
53,4  
15,4  
53,3 52,7 52,5 53,2 53,0 52,9 53,0 53,4  
16,6 17,9 18,2 20,4 20,9 21,6 22,0 22,8  
Tỷ lệ lao động đã qua  
đào tạo của cả nước (%)  
Tỷ lệ lao động đã qua  
đào tạo TPHCM (%)  
29,3  
2,07  
8,5  
28,5 31,6 32,5 34,0 34,7 36,6 36,9 37,1  
2,16 2,08 2,07 2,11 2,06 2,01 2,24 2,21  
Tỷ lệ tăng dân số (%)  
Tỷ lệ dân số TPHCM/Cả  
nước (%)  
8,6  
7,8  
8,7  
7,7  
8,8  
7,8  
9,0  
8,1  
9,1  
8,2  
9,2  
8,4  
9,3  
8,5  
9,4  
8,7  
Lực lượng lao động  
TPHCM/ Lực lượng lao  
động cả nước (%)  
7,8  
* Tác giả ước tính từ Niên giám thống kê TPHCM từ 2015-2019 và Niên giám thống kê Việt  
Nam 2019.  
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2019.  
22  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
Hình 1. Lực lượng lao động và lao động nhập cư TPHCM từ 2011 đến 2019  
Bảng 2. Cơ cấu lao động TPHCM theo khu vực kinh tế từ 2011 đến 2019  
Đơn vị tính: %  
Khu vực kinh tế  
Tổng số  
Nông - lâm - ngư nghiệp 2,51 2,31 2,6 2,6 2,55 2,21  
2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019  
100  
100 100 100 100  
100  
100  
100  
100  
2,36  
2,11  
2,03  
Công nghiệp - xây dựng 43,66 43,77 33 31,7 32,65 32,84 33,01 33,52 33,08  
Thương mại - dịch vụ 53,83 53,92 64,4 65,7 64,8 64,95 64,63 64,37 64,69  
Nguồn: Niên giám thống kê TPHCM các năm 2011-2019 và tính toán của Trung tâm  
Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin Thị trường Lao động TPHCM.  
lên từ 4 triệu người vào năm 2011 lên  
đến hơn 4,8 triệu người vào năm  
2019, với tỷ lệ lao động chiếm hơn  
53% dân số qua các năm từ 2011 đến  
2019. Tỷ lệ lao động trong tổng dân số  
của Thành phố so với cả nước tăng  
dần qua các năm từ 7,8% năm 2011  
lên 8,7% năm 2019, trong khi tỷ lệ dân  
số TPHCM so với cả nước chiếm  
8,5% năm 2011 và tăng lên 9,4% năm  
2019. Cơ cấu lao động nhập cư vào  
TPHCM cao nhất năm 2011 là 25,07%,  
năm 2018 là 16,61% và 2019 là  
14,03%.  
Các số liệu trên cho thấy, cơ cấu lao  
động Thành phố có những chuyển  
biến tích cực tương ứng với sự dịch  
chuyển cơ cấu kinh tế. Theo đó,  
chuyển dịch cơ cấu lao động tăng tỷ  
trọng lao động làm việc trong khu vực  
thương mại dịch vụ, khu vực công  
nghiệp - xây dựng giảm tương đối và  
lao động trong khu vực nông nghiệp  
tương đối ổn định. Theo số liệu Bảng  
2 có thể nhận định khu vực thương  
mại dịch vụ có tỷ lệ lực lượng lao  
động tham gia làm việc ngày càng cao,  
chiếm tỷ lệ từ 53,83% năm 2011 lên  
64,69% năm 2019, đây là khu vực  
kinh tế thu hút nhiều lao động nhất.  
Lực lượng lao động tham gia làm việc  
trong khu vực công nghiệp - xây dựng  
Về cơ cấu lao động đang làm việc  
phân theo khu vực ngành kinh tế từ  
2011 đến năm 2019 được thể hiện  
qua Bảng 2.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
23  
Hình 2. Cơ cấu lao động theo khu vực ngành của TPHCM năm 2011 và năm 2019  
Cơ cấu LĐ theo khu vực ngành năm 2019  
Cơ cấu lao động theo khu vực ngành năm  
2011  
2.51  
2.03  
33.08  
64.69  
43.66  
53.83  
Nông – Lâm – Ngư nghiệp  
Công nghiệp – Xây dựng  
Thương mại – Dịch vụ  
Nông – Lâm – Ngư nghiệp  
Công nghiệp – Xây dựng  
Thương mại – Dịch vụ  
có xu hướng giảm từ 43,66% năm vào năm 2018, cao gấp 1,5 lần tỷ lệ  
2011 xuống còn 31,7% năm 2014 và lao động đã qua đào tạo của vùng,  
cao gấp 1,7 lần tỷ lệ lao động đã qua  
đào tạo của cả nước, tỷ lệ lao động đã  
qua đào tạo từ 28,5% năm 2012 tăng  
37,1% năm 2019 (Hình 3). Lao động  
qua đào tạo của TPHCM phần nào đã  
đáp ứng được yêu cầu của doanh  
nghiệp và thị trường; lực lượng lao  
động kỹ thuật gia tăng về số lượng lẫn  
chất lượng.  
tăng đều nhẹ đến 33,08% năm 2019.  
Điều này cho thấy Thành phố đang  
dần chuyển dịch sản xuất công nghiệp  
theo hướng hiện đại, công nghệ cao.  
Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và  
thủy sản chiếm tỷ trọng khá ổn định  
trên 2% qua các năm.  
2.2. Thực trạng chất lượng nguồn  
nhân lực theo trình độ  
Năm 2018, tỷ lệ lao động qua đào tạo  
ở TPHCM là 36,9% lực lượng lao  
động, trong đó số lao động có trình độ  
đại học trở lên chiếm 20,4%; cao đẳng  
là 5,2%; trung cấp là 4,4%; lao động  
qua đào tạo nghề 3 tháng trở lên  
Theo số liệu điều tra lao động của  
Tổng cục Thống kê, TPHCM là địa  
phương có tỷ lệ lao động đã qua đào  
tạo cao nhất vùng Đông Nam Bộ và  
Đồng bằng sông Cửu Long: 36,8%  
Hình 3. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của TPHCM và cả nước từ 2011 đến 2019  
Nguồn: Tác giả, dựng theo số liệu từ Niên giám thống kê TPHCM và Niên giám thống  
kê Việt Nam 2019.  
24  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
chiếm tỷ lệ rất thấp (6,9%) (số lao phân theo vị trí việc làm được thể hiện  
động qua đào tạo của cả nước là qua Bảng 3 và Hình 4, cho thấy vị trí  
21,9% tổng lực lượng lao động, trong lãnh đạo có xu hướng giảm trong  
đó trình độ đại học trở lên là 9,6%; những năm gần đây, từ 2% năm 2010,  
cao đẳng là 3,1%, trung cấp là 3,7%, xuống còn 1,62% năm 2019; vị trí  
sơ cấp là 5,5%). Năm 2019, tỷ lệ lao chuyên môn kỹ thuật bậc cao có xu  
động qua đào tạo của TPHCM là hướng tăng từ 15,4% năm 2010 lên  
37,3%, trong đó có 5,3% có trình độ 17,59% năm 2019; vị trí chuyên môn  
sơ cấp; 3,6% có trình độ trung cấp; kỹ thuật bậc trung không thay đổi  
5,1% có trình độ cao đẳng; 20,6% có nhiều, trên 7%; vị trí dịch vụ cá nhân,  
trình độ đại học trở lên.  
bảo vệ và bán hàng chiếm tỷ lệ cao  
nhất và tăng từ 27,7% năm 2010 lên  
28,03% năm 2016 và năm 2019 giảm  
còn 26,09%; kế đến là thợ lắp ráp và  
vận hành máy móc, thiết bị chiếm trên  
19%. Thợ thủ công và các thợ khác  
cũng chiếm tỷ lệ cao trên dưới 14%  
qua các năm, nghề đơn giản có tỷ lệ  
từ 8,6% đến 9,78%. Phân theo vị thế  
việc làm, người làm công ăn lương  
chiếm gần 70%, người tự làm chiếm  
trên 21%, người làm chủ cơ sở sản  
xuất chiếm gần 5%.  
Dù chất lượng lao động của TPHCM  
cao hơn mức bình quân cả nước  
nhưng lại thấp hơn chất lượng lao  
động của thành phố Đà Nẵng và  
thành phố Hà Nội. Đồng thời, cơ cấu  
trình độ lao động đào tạo của TPHCM  
hiện nay đang mất cân đối so với yêu  
cầu phát triển kinh tế theo hướng  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng  
như đáp ứng nhu cầu của các doanh  
nghiệp theo các ngành nghề khác  
nhau.  
Về cơ cấu lao động đang làm việc  
hàng năm phân theo nghề nghiệp và  
Bảng 3. Cơ cấu lao động đang làm việc hàng năm theo nghề nghiệp và vị thế việc làm  
(Đvt: %)  
2010  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
Tổng số (người)  
3.803.108 4.281.944 4.386.565 4.484.100 4.601.567 4.713.111  
Phân theo nghề nghiệp  
(%)  
100.00  
2,0  
100.00  
1,74  
100.00  
1,71  
100.00  
1,68  
100.00  
1,64  
100.00  
1,62  
Nhà lãnh đạo  
Chuyên môn kỹ thuật bậc  
cao  
15,4  
15,98  
16,42  
16,95  
17,13  
17,59  
Chuyên môn kỹ thuật bậc  
trung  
7,0  
4,1  
6,33  
4,61  
6,59  
4,56  
6,70  
4,50  
7,07  
4,47  
7,46  
4,17  
Nhân viên  
Dịch vụ cá nhân, bảo vệ  
bán hàng  
27,7  
29,02  
28,03  
27,58  
26,72  
26,09  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
Nghề trong nông, lâm, ngư  
25  
1,3  
1,37  
13,96  
16,95  
1,19  
14,12  
17,21  
1,10  
13,88  
17,50  
1,00  
13.67  
18,62  
0,95  
13,72  
19,55  
nghiệp  
Thợ thủ công và các thợ  
khác  
14,4  
19,4  
Thợ lắp ráp và vận hành  
máy móc, thiết bị  
Nghề giản đơn  
8,6  
0,2  
9,78  
0,24  
9,77  
0,38  
9,66  
0,44  
9,54  
0,12  
8,80  
0,06  
Khác  
Phân theo vị thế việc làm  
(%)  
100.00  
65,36  
4,96  
100.00  
67,64  
4,99  
100.00  
67,49  
4,78  
100.00  
67,56  
4,72  
100.00  
69,69  
4,64  
Làm công ăn lương  
Chủ cơ sở sản xuất kinh  
doanh  
Tự làm  
24,17  
5,47  
0,05  
22,28  
5,05  
0,04  
22,31  
5,41  
0,01  
22,74  
4,98  
0,01  
21,05  
4,61  
0,01  
Lao động gia đình  
Xã viên hợp tác xã  
Người học việc (người)  
2.798.587 2.967.167 3.026.393 3.108.699 3.284.643  
65,36 67,64 67,49 67,56 69,69  
% người học việc so với  
tổng lao động làm việc  
Nguồn: Niên giám thống kê TPHCM 2019.  
Hình 4. Cơ cấu lao động theo nghề nghiệp năm 2015 và 2019  
Về phía cung, theo Niên giám thống trường công lập và 128 trường ngoài  
kê Việt Nam (Tổng cục Thống kê, công lập). Số lượng các trường cao  
2020: 768-806) và Niên giám thống kê đẳng, đại học là 445 trường, trong đó  
TPHCM (Cục Thống kê TPHCM, số trường công lập là 357 và ngoài  
2020), tính đến năm 2020, cả nước có công lập là 88, cả nước có 1.467 cơ  
303 trường trung học chuyên nghiệp sở đào tạo nghề gồm 190 trường cao  
và đào tạo nghề chuyên nghiệp (175 đẳng nghề, 280 trường trung cấp  
26  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
nghề, 997 trung tâm dạy nghề. Trong Trước yêu cầu chuyển dịch cơ cấu đầu  
tư, khuyến khích các ngành công  
nghiệp kỹ thuật cao, giảm các ngành  
nghề thâm dụng lao động, nhưng đội  
ngũ công nhân, lao động kỹ thuật lại  
thiếu (tỷ lệ kỹ thuật viên hệ trung cấp  
chỉ chiếm trên 4% tổng lực lượng lao  
động). Theo một số doanh nghiệp,  
nguyên nhân khó tuyển lao động có  
trình độ phù hợp là do các doanh  
nghiệp không tuyển được lao động tại  
chỗ, đa số là lao động được tuyển từ  
các tỉnh là lao động phổ thông không  
đáp ứng được yêu cầu của các doanh  
nghiệp có trình độ công nghệ cao.  
Ngoài ra, còn xảy ra tình trạng sử dụng  
bất hợp lý nguồn nhân lực, không sử  
dụng hết trình độ chuyên môn kỹ thuật  
được đào tạo. Chất lượng nguồn nhân  
lực phải xuất phát từ giáo dục đào tạo,  
đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp. Tỷ lệ  
lao động có trình độ đại học trở lên  
trong 5 năm gần đây ở TPHCM chiếm  
trên 20% lực lượng lao động. Tuy  
nhiên, chất lượng đào tạo hiện chưa  
đáp ứng với yêu cầu hiện tại, và khó  
phù hợp với sự phát triển nền kinh tế  
số trong bối cảnh Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư. Kết quả điều tra lao  
động việc làm của Bộ Lao động -  
Thương binh và Xã hội TPHCM trong  
các năm gần đây cho thấy có khoảng  
20% - 30% số lao động thất nghiệp là  
lao động đã qua đào tạo chuyên  
nghiệp hoặc nghề từ 3 tháng trở lên.  
đó các trường đóng trên địa bàn  
TPHCM: có 59 trường đại học (10  
trường là cơ sở 2), 60 trường cao  
đẳng và 51 trường trung học chuyên  
nghiệp, khoảng 200 trung tâm đào tạo  
nghề. Các trường đại học, cao đẳng ở  
TPHCM đào tạo hầu hết các loại  
ngành nghề kỹ thuật, tự nhiên, kinh tế,  
xã hội, văn hóa, pháp luật… với lực  
lượng sinh viên đang học nghề nghiệp  
(học việc) có trên 3 triệu người, chiếm  
khoảng 69,7% lực lượng lao động  
năm 2019. Đây là lực lượng lao động  
được đào tạo tiềm năng mà nền kinh  
tế Thành phố có thể thu hút. Tuy  
nhiên, so với yêu cầu về chất lượng  
thì nhiều trường, cơ sở đào tạo chưa  
đáp ứng. Khảo sát sơ bộ của nhóm  
nghiên cứu(1), trên 110 trường đào tạo  
nhân lực bậc trung cấp và cao đẳng  
do Sở Lao động - Thương binh và Xã  
hội TPHCM quản lý cho thấy các  
chương trình đào tạo chưa được cải  
tiến, thiếu đào tạo các kỹ năng, đội  
ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu, cơ  
sở vật chất (mặt bằng, thư viện,  
xưởng, phòng thí nghiệm) nghèo nàn.  
Cụ thể mức độ sẵn sàng cho thay đổi  
các chương trình đào tạo đáp ứng các  
kiến thức nền về Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư, như đào tạo công  
nghệ thông tin và dữ liệu lớn; tăng  
đầu tư phòng máy tính, các trung tâm  
nguồn mở, chiếm một tỷ lệ khá khiêm  
tốn, gần 5% tổng số cơ sở khảo sát.  
3. DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT  
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DƯỚI  
TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG  
CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ  
Tuyển dụng lao động, nhất là lao động  
kỹ thuật của các doanh nghiệp trên địa  
bàn TPHCM, gặp nhiều khó khăn.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
27  
3.1. Dự báo xu hướng chung  
đại học có xu hướng biến động khó  
lường và có những yêu cầu, đòi hỏi  
cao hơn về mức độ đáp ứng công  
việc. Theo dự báo, nhu cầu nhân lực  
nhóm ngành kỹ thuật - công nghệ là  
một trong những ngành chiếm số  
lượng rất lớn. Tuy nhiên, mức độ đáp  
ứng yêu cầu công việc của sinh viên  
ra trường vẫn còn hạn chế. Những  
ngành sau có nhu cầu lớn gồm: (1)  
ngành công nghệ thông tin (phân tích  
dữ liệu, kỹ thuật phần mềm, an ninh  
mạng,... ) và công nghệ thông tin  
trong hoạt động kinh doanh tài chính  
và nhiều lĩnh vực khác; (2) công nghệ  
tự động hóa (cơ điện tử, điện tử, điều  
khiển tự động, chế tạo ô tô, chế tạo  
vật liệu,... ); (3) các ngành kỹ thuật  
xây dựng và sản xuất vật liệu xây  
dựng cao cấp, năng lượng, công nghệ  
in 3D; (4) các ngành thuộc lĩnh vực  
công nghệ sinh học, công nghệ chế  
biến, kỹ thuật y sinh (tích hợp kỹ thuật  
số, vật lý, sinh học)... Nhiều tên ngành  
trên chưa có trong danh mục giáo dục,  
đào tạo của Việt Nam hiện nay.  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã  
thúc đẩy nhiều ngành nghề mới phát  
triển. Trí tuệ nhân tạo (AI), máy học  
(machine learning), phân tích dữ liệu,  
IoT và robot nói riêng được cho là sẽ  
làm giảm bớt các công việc đòi hỏi kỹ  
năng thấp và lặp đi lặp lại ở Châu Á,  
(ví dụ như trong các ngành sản xuất  
và dịch vụ). Số hóa tạo ra các công  
việc mới, chẳng hạn như tạo ra các  
nhà phân tích dữ liệu, các nhà tiếp thị  
phương tiện truyền thông xã hội hoặc  
thiết kế ứng dụng vạn vật kết nối dựa  
trên nền tảng internet làm tăng giá trị,  
năng suất và hiệu quả công việc cũng  
như gián tiếp là giảm chi phí cho  
doanh nghiệp. Theo đó, ngành nghề  
được coi là trọng tâm của cuộc Cách  
mạng công nghiệp 4.0 như: kỹ sư  
phát triển phần mềm robot; kỹ sư phát  
triển phần cứng kiểm soát robot, kỹ sư  
phát triển công nghệ in 3D; chuyên gia  
ứng dụng công nghệ in 3D; chuyên  
gia phân tích thông tin y tế... Một số  
ngành nghề khác, trong đó có kỹ sư  
chế tạo pin nhiên liệu, dược phẩm  
sinh học, năng lượng gió, năng lượng  
tái sinh để hỗ trợ thúc đẩy tăng  
trưởng lĩnh vực công nghiệp mới  
thân thiện với môi trường cũng sẽ  
được phát triển. Tác động của Cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư đến  
nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực,  
nhóm ngành nghề cụ thể được trình  
bày dưới đây.  
Nhóm ngành thương mại điện tử và  
công nghệ thông tin  
Phát triển thương mại điện tử và công  
nghệ thông tin song song trong bối  
cảnh cách mạng công nghệ lần thứ tư  
là việc làm cấp bách trong thời điểm  
hiện tại. Để làm được điều đó, Việt  
Nam cần có đội ngũ mạnh cả về số  
lượng và chất lượng thuộc hai nhóm  
ngành này. Nhóm nhân lực mới này  
cần mạnh nhiều mảng, cả về tin học  
Nhóm ngành kỹ thuật công nghệ  
Những thay đổi công nghệ đến nhu lẫn giỏi về ngoại ngữ, có khả năng  
cầu tuyển dụng lao động có trình độ cập nhật các thành tựu công nghệ  
28  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
thông tin mới nhất để vận dụng vào Hiện nay, một xu hướng được cả thế  
thực tiễn và có khả năng thiết kế các giới áp dụng trong quy trình sản xuất  
phần mềm đáp ứng các nhu cầu của là sản xuất thông minh bao gồm sự  
nền kinh tế số.  
phát triển thông minh của hệ thống  
quản lý và điều hành được số hóa  
trên 3 mức: vòng đời sản phẩm  
(product life cycle management - PLM),  
hoạt động sản xuất (Manufacturing  
operation management - MOM) và tự  
động hóa (Automation - Auto), trang bị  
những kỹ năng để điều khiển và tự  
động hóa, vận hành các hệ thống tự  
động, các dây chuyền sản xuất số  
lượng lớn trong các doanh nghiệp,  
nhà máy, thiết kế, điều khiển chế tạo  
robot… Ví dụ, nhân lực kỹ thuật cao  
trong ngành may phải biết sử dụng  
công nghệ sản xuất thông minh như  
chế tạo cữ dưỡng cho máy lập trình,  
thiết kế dây chuyền may sử dụng  
công nghệ số, thiết kế mẫu bằng công  
nghệ 3D, kiểm soát chất lượng thông  
minh, điều hành dây chuyền may  
dạng tế bào ứng dụng công nghệ số,  
sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp,  
năng lượng, công nghệ in 3D.  
Nhóm ngành sản xuất  
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dựa  
trên nền tảng công nghệ số và tích  
hợp các công nghệ thông minh để tối  
ưu hóa quy trình, phương thức sản  
xuất, đặc biệt là những công nghệ  
đang và sẽ có tác động lớn như công  
nghệ in 3D trong chế tạo sản phẩm,  
công nghệ sinh học, công nghệ vật  
liệu mới, công nghệ tự động hóa,  
robot… đang làm thay đổi căn bản  
nền sản xuất của thế giới.  
Trong báo cáo Chân dung nhân lực  
ngành sản xuất trong nền công nghiệp  
4.0 của Navigos Group Việt Nam,  
(2018), ông Gaku Echizenya nói rằng:  
“Ngành sản xuất đã và đang là lĩnh  
vực có tiềm năng phát triển rất lớn  
cho nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên  
nếu không mạnh dạn nắm bắt cơ hội  
này bằng việc đẩy mạnh chuyển đổi  
sang công nghiệp 4.0 thì những thị  
trường khác trong khu vực Đông Nam  
Á sẽ là những điểm đến lý tưởng hơn  
cho các nhà đầu tư. Do vậy, bên cạnh  
việc áp dụng công nghệ để đổi mới  
quy trình sản xuất thì việc đào tạo đội  
ngũ nhân lực cần phải được các  
doanh nghiệp tại Việt Nam đặc biệt  
chú trọng”. Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu  
hiện nay là phải xây dựng được một  
đội ngũ nhân lực đủ nhận thức, trình  
độ, kỹ năng đáp ứng được các yêu  
cầu của vị trí việc làm trong điều kiện  
cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.  
Ngành logistics/Supply Chain  
Lĩnh vực cung ứng, cần nguồn nhân  
lực có trình độ cao trong lĩnh vực  
logistics và quản lý chuỗi cung ứng;  
dịch vụ hỗ trợ gom hàng chặng đầu,  
giao hàng chặng cuối. Thêm vào đó,  
nguồn nhân lực trong ngành logistics  
4.0 hiện nay cũng cần có khả năng  
cập nhật được những thay đổi của  
công nghệ logistics, đồng thời phải  
làm chủ được các thiết bị, máy móc  
đang dần thay thế công việc cho con  
người.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
29  
Nhóm ngành kinh tế và quản lý  
Ngành du lịch  
Du lịch là ngành có tỷ lệ luân chuyển  
nguồn nhân lực cao, có nhiều cấp độ  
trong lĩnh vực này nên cần đánh giá  
và xác định các mức kỹ năng của mỗi  
lao động trong từng thời điểm để bố trí  
hợp lý. Tác động của Cách mạng  
công nghiệp lần thứ tư làm xuất hiện  
nhiều loại hình du lịch, ví dụ du lịch  
trực tuyến cho khách du lịch xem và  
lựa chọn trực tuyến các tour trước khi  
đi. Xu hướng phát triển tất yếu là  
khách hàng mua vé, đặt phòng hay  
gọi thức ăn… đều sẽ thông qua hệ  
thống điện tử trong tương lai. Các  
robot hoặc hệ thống công nghệ mới  
sẽ thay thế con người làm các nghiệp  
vụ truyền thống. Điều này đòi hỏi công  
cuộc đào tạo nguồn nhân lực du lịch  
phải tinh tế và thức thời hơn. Quan  
trọng hơn, còn cần phát triển việc  
nghiên cứu, đào tạo những vị trí việc  
làm mới thay thế những vị trí truyền  
thống mà hệ thống công nghệ đã đảm  
nhiệm.  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác  
động mạnh tới các doanh nghiệp. Do  
tiến bộ về công nghệ sản xuất, công  
nghệ quản lý, các doanh nghiệp có  
thể sử dụng nguồn lực một cách hiệu  
quả hơn thông qua tối ưu hóa quy  
trình sản xuất, nâng cao năng suất lao  
động, cải thiện chất lượng sản phẩm,  
nâng cao chất lượng khâu tiêu thụ sản  
phẩm và chính sách hậu mãi. Có thể  
thấy rằng muốn vận hành trơn tru mọi  
hoạt động xã hội với nhiều ứng dụng,  
dịch vụ kỹ thuật số thì cần thiết phải  
có lực lượng lao động được đào tạo  
cập nhật giúp tăng cường tính thích  
nghi khi tham gia thị trường lao động  
thời đại số - thời đại của sự kết nối  
thực và ảo thông qua kênh trực tuyến.  
Điều này đòi hỏi người tham gia lao  
động cần phải không ngừng trau dồi  
bản thân, cập nhật công nghệ, phần  
mềm liên quan đến chuyên ngành đào  
tạo nhằm có thể vận hành hệ thống  
thông tin, thiết bị máy móc thông minh  
thì mới tránh được nguy cơ bị thay thế.  
Ngành kế - kiểm toán  
Theo khảo sát của Eurostat (2014),  
những ứng dụng công nghệ kỹ thuật  
số có tác động đến kinh doanh mà các  
cơ sở giáo dục đại học cần lưu ý đưa  
vào chương trình đào tạo gồm có ứng  
dụng website cho thương mại điện tử  
(E-commerce), quản lý chuỗi cung  
ứng (SCM), quản lý quan hệ khách  
Robot sẽ trở thành công cụ đắc lực  
cho nhân lực ngành kế - kiểm toán  
trong việc giải quyết các vấn đề hành  
chính, giúp mọi người có nhiều quỹ  
thời gian hơn để tập trung vào xây  
dựng các chiến lược và phân tích tài  
chính cho doanh nghiệp (Nguyễn Thị  
Tâm và Trần Thị Lan Anh, 2017). Tuy  
hàng (CRM), ứng dụng điện toán đám nhiên, robot và trí tuệ nhân tạo khác  
mây (cloud computing), hệ thống với con người ở cảm xúc và sự sáng  
hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tạo. Chính vì vậy, để không bị thay thế  
hoàn toàn thì đòi hỏi lĩnh vực nào  
người lao động cũng phải có sự đổi  
(ERP) và ứng dụng công nghệ quản lý  
hàng hóa (RFID).  
30  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
mới sáng tạo cho phù hợp với xu thế. vật nuôi, điều kiện thời tiết, năng suất  
Việc giới thiệu các định khoản kế toán cây trồng và nhu cầu thị trường. Nhu  
cầu lao động trong ngành nông nghiệp  
sẽ giảm về số lượng và thay đổi về  
chất lượng, yêu cầu nhân lực nông  
nghiệp có trình độ cao.  
cho sinh viên cần phải giảm tải, bởi  
đây là mục công việc mang tính chất  
lặp đi lặp lại, sau này sẽ có xu hướng  
bị thay thế nhờ các thuật toán hiện đại.  
Đồng thời cần tăng cường phát triển  
tư duy và năng lực của sinh viên  
ngành kế - kiểm toán trong việc thiết  
kế, ứng dụng hệ thống thông tin kế  
toán và khai thác thông tin kế toán  
nhằm phục vụ cho vị trí nhà quản lý.  
3.2. Dự báo nhu cầu nhân lực tại  
TPHCM trong các năm tới  
Theo ước tính từ số liệu thực trạng  
trình bày ở mục 2, nếu tốc độ lao  
động làm việc trong nền kinh tế  
TPHCM tăng như những năm qua,  
bình quân 2,4%/năm, thì nhu cầu lao  
động làm việc trong nền kinh tế  
TPHCM khoảng 5,2 triệu lao động vào  
năm 2025 và khoảng 6 triệu lao động  
đến năm 2030. Cơ cấu kinh tế  
TPHCM hiện nay và 5-10 năm tới sẽ  
dịch chuyển theo hướng dịch vụ-công  
nghiệp-nông nghiệp. Như vậy nhân  
lực của TPHCM sẽ chiếm vị trí cao  
trong khu vực dịch vụ, trong đó các  
ngành cần đào tạo nhân lực chất  
lượng cao gắn với kinh tế số và quản  
lý đô thị thông minh của TPHCM bao  
gồm:  
Ngành tài chính-ngân hàng và khai  
thác thông tin kế toán  
Fintech là thuật ngữ dùng để mô tả  
việc sử dụng công nghệ mới (công  
nghệ blockchain, robot tư vấn, cho  
vay P2P, tài trợ đám đông, thanh toán  
qua điện thoại…) và ứng dụng trong  
lĩnh vực tài chính. Hiểu theo nghĩa  
khác, fintech cũng thường được dùng  
để mô tả các công ty khởi nghiệp  
trong lĩnh vực tài chính, các công ty  
này thường là những người cung cấp  
các giải pháp chứ không phải chỉ đơn  
thuần là cung cấp công nghệ.  
(1) Nhân lực cho lĩnh vực quản lý  
hành chính, quản lý đô thị, quản lý  
công của chính quyền địa phương;  
Ngành nông nghiệp 4.0  
Ngành nông nghiệp sẽ chứng kiến sự  
thay đổi cơ bản thông qua việc triển  
khai nông nghiệp 4.0, còn được gọi là  
“nông nghiệp thông minh”. Nông  
nghiệp 4.0 tối ưu hóa đầu vào của cây  
trồng dựa trên nhu cầu thực tế của  
cây trồng với sự hỗ trợ của các công  
nghệ như GPS, mạng viễn thám và  
internet để tạo ra các hệ thống vật lý  
mạng. Các hệ thống này có thể cung  
(2) Nhân lực cho các ngành dịch vụ  
như du lịch, tài chính-ngân hàng số,  
Fintech, kế toán-kiểm toán, logistics/  
chuỗi cung ứng; giáo dục, y tế, các  
ngành kinh tế và quản lý, kinh doanh  
thương mại dịch vụ…;  
(3) Nhân lực cho khu vực công  
nghiệp-xây dựng, gồm các ngành chủ  
cấp thông tin thời gian thực về điều yếu: nhóm ngành kỹ thuật công nghệ  
kiện đất đai, nhu cầu của cây trồng và như công nghệ tự động hóa cơ điện  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
31  
tử, điện tử, điều khiển tự động, chế nghiệp 4.0, nghiên cứu sẽ nêu ra  
tạo ô tô, chế tạo vật liệu...); kỹ thuật những vấn đề cần giải quyết trong  
phát triển và đào tạo nguồn nhân lực  
hiện nay.  
xây dựng và sản xuất vật liệu xây  
dựng cao cấp, năng lượng, công nghệ  
in 3D; các ngành thuộc lĩnh vực công  
nghệ sinh học, công nghệ chế biến, kỹ  
thuật y sinh; nhân lực kỹ thuật cao  
trong ngành sản xuất (công nghệ in  
3D trong chế tạo sản phẩm, công  
nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,  
công nghệ tự động hóa, robot…).  
4.1. Những vấn đề đặt ra trong phát  
triển và đào tạo nguồn nhân lực  
hiện nay cần giải quyết cho Việt  
Nam nói chung và TPHCM nói riêng  
Một là, thiếu hụt nguồn lao động chất  
lượng cao. Như đã phân tích qua  
những thống kê về số liệu ở mục 2, có  
thể thấy, dù TPHCM có lợi thế hơn  
các tỉnh về cung số lượng nguồn nhân  
lực được đào tạo qua nhiều nguồn  
khác nhau (tại chỗ, nhập cư và ngoài  
nước qua đầu tư nước ngoài). Tuy  
nhiên, chất lượng nguồn nhân lực và  
cơ cấu đào tạo chưa đáp ứng với nhu  
cầu phát triển doanh nghiệp, nền kinh  
tế theo nhu cầu hiện tại, chưa nói đến  
yêu cầu thay đổi do tác động của  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.  
(4) Nhân lực nhóm ngành thương mại  
điện tử và công nghệ thông tin vừa  
cho các khu vực quản lý nhà nước,  
khu vực dịch vụ và sản xuất công  
nghiệp, xây dựng, và nông nghiệp.  
(5) Nhân lực cho nông nghiệp công  
nghệ cao.  
Làm thế nào để đảm bảo nguồn nhân  
lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế  
số và xây dựng đô thị thông minh cho  
TPHCM trong bối cảnh Cách mạng  
công nghiệp lần thứ tư, với xuất phát  
điểm hiện nay, chất lượng nguồn  
nhân lực TPHCM chưa cao như đã  
phân tích ở mục 2. Dưới đây, chúng  
tôi sẽ đề xuất một số kiến nghị mang  
tính giải pháp để phát triển nguồn  
nhân lực cho TPHCM đáp ứng yêu  
cầu chuyển đổi kinh tế số và Cách  
mạng công nghiệp lần thứ tư.  
Hai là, vấn đề đáp ứng cơ cấu chuyển  
dịch nguồn nhân lực và tăng số lượng  
đào tạo mới theo ngành nghề do tác  
động của Cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư như dự báo ở mục 3. Thực  
trạng cho thấy, trên bình diện quốc gia  
tốc độ dịch chuyển nguồn nhân lực từ  
lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp qua  
các lĩnh vực công nghiệp-xây dựng và  
dịch vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu của  
thị trường lao động được dự báo  
trong tương lai. Đối với TPHCM, khu  
vực dịch vụ, công nghiệp-xây dựng  
chiếm phần lớn, nhưng nguồn nhân  
lực chất lượng cao vẫn còn thiếu. Bên  
cạnh đó, sự tăng lên về nhu cầu của  
những ngành nghề mới do tác động  
4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN  
NHÂN LỰC TPHCM ĐÁP ỨNG CÁCH  
MẠNG CÔNG NGHỆP LẦN THỨ TƯ  
Trong mục này, từ các phân tích thực  
trạng nguồn nhân lực và dự báo xu  
hướng phát triển nguồn nhân lực do  
tác động của cuộc Cách mạng công  
32  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
của Cách mạng công nghiệp lần thứ mâu thuẫn giữa cung và cầu do nguồn  
tư, chuyển dịch kinh tế số đang là nhân lực được đào tạo không đáp  
thách thức trong việc mở rộng các  
chương trình và lĩnh vực đào tạo  
nguồn nhân lực tại Việt Nam nói  
chung và TPHCM nói riêng.  
ứng được yêu cầu công việc, trong  
nhiều trường hợp các doanh nghiệp  
hay người sử dụng lao động thường  
phải tốn kém chi phí để có thể đào tạo  
lại nguồn nhân lực phù hợp.  
Ba là, giải quyết lao động không đáp  
ứng trình độ. Nhu cầu đối với lao động  
giản đơn ngày một giảm đáng kể, đặt  
ra thách thức cần có những phương  
án đào tạo nhằm cập nhật và nâng  
cao chất lượng cùng với kỹ năng cần  
thiết cho đội ngũ lao động giản đơn,  
nhằm hỗ trợ lực lượng lao động này  
không phải bị đào thải và phải đối mặt  
với tình trạng thất nghiệp trong nền  
kinh tế mới. Tuy nhiên, như đã chỉ ra  
ở mục 2, lao động của chúng ta đa  
phần là lao động phổ thông, chưa qua  
đào tạo, các kỹ năng giải quyết vấn đề,  
kỹ năng tư duy sáng tạo… cũng thiếu  
Năm là, hệ thống giáo dục đào tạo  
còn nhiều bất cập, thiếu sự cập nhật  
và đổi mới. Từ việc phải nâng cao  
chất lượng giáo dục, đào tạo để tạo ra  
nguồn nhân lực phù hợp, là những  
vấn đề cần được giải quyết cụ thể và  
cẩn trọng liên quan đến hệ thống giáo  
dục đào tạo như: chất lượng của đội  
ngũ đào tạo, đội ngũ giảng dạy (số  
liệu khảo sát khối đại học nhiều  
trường giảng viên có trình độ tiến sĩ ở  
các trường tư chiếm dưới 20%); chất  
lượng cơ sở vật chất, nguồn tài  
nguyên, tài liệu phục vụ đào tạo  
và yếu, vậy nên để có thể cải thiện nghèo nàn (thiếu các phòng thí  
chất lượng của lực lượng lao động nghiệm, thư viện điện tử…); chậm  
hiện tại hay chuyển dịch cơ cấu ngành thay đổi chương trình đào tạo; cập  
nhật các cách thức đào tạo, thay đổi  
phương pháp và các hoạt động đào  
tạo,… Đây thực sự là những bài toán  
cần nhiều sự quan tâm và giải quyết  
để có thể thực sự tạo được nguồn  
nhân lực có giá trị và có tính cạnh  
tranh trong thị trường lao động trong  
và ngoài nước.  
nghề đặt ra nhiều thách thức đối với  
việc đào tạo và phát triển nguồn nhân  
lực.  
Bốn là, lực lượng lao động được đào  
tạo chưa phù hợp với nhu cầu của thị  
trường lao động. Thực tế, nhu cầu về  
lao động là rất cao, đặc biệt là nhu  
cầu đối với lao động chất lượng cao.  
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của lực  
lượng lao động được đào tạo vẫn duy  
trì ở mức khá cao (20%-30%) và  
doanh nghiệp vẫn luôn thực sự khó  
khăn trong việc tuyển dụng nhân sự  
có chất lượng tốt, phù hợp với nhu  
cầu công việc. Điều này cho thấy có  
4.2. Giải pháp phát triển và đào tạo  
nguồn nhân lực cho TPHCM trong  
bối cảnh Cách mạng công nghiệp  
lần thứ tư và chuyển đổi kinh tế số  
Như đã nêu, cuộc Cách mạng công  
nghiệp 4.0 đã và đang diễn ra đã tác  
động làm thay đổi mạnh mẽ mô hình  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
33  
kinh doanh, xuất hiện các lĩnh vực đưa ra cơ chế phối hợp giữa cơ sở  
kinh doanh mới làm thay đổi cơ cấu  
ngành nghề trên toàn thế giới, trong  
đó có Việt Nam, TPHCM. Từ xem xét  
những vấn đề đặt ra cần giải quyết  
trong phát triển nguồn nhân lực của  
Việt Nam nói chung và phát triển  
nguồn nhân lực của TPHCM nói riêng  
cho phát triển kinh tế số, dưới đây sẽ  
đề xuất một số kiến nghị giải pháp  
trong phạm vi TPHCM.  
đào tạo và các đơn vị sử dụng lao  
động (phối hợp ba nhà: nhà trường-  
nhà doanh nghiệp hay đơn vị sử dụng  
lao động và nhà nước). Liên kết này  
được gọi là các chiến lược và chính  
sách phát triển và đào tạo nguồn nhân  
lực dựa trên sự hợp tác với doanh  
nghiệp. Các cơ sở đào tạo có thể đưa  
các chương trình đào tạo theo các đối  
tượng sử dụng lao động khác nhau  
Thứ nhất, TPHCM cần có quy hoạch như đào tạo cho các doanh nghiệp  
phát triển nguồn nhân lực đến năm  
2030, trong đó có một chương trình tái  
cấu trúc lại hệ thống các cơ sở đào  
tạo nghề nghiệp do Thành phố quản lý.  
Theo đó, cần phân loại sắp xếp tầm  
quan trọng các cơ sở đào tạo theo  
ngành đào tạo mà nhà nước phải đầu  
tư, ngành học do thị trường quyết định  
qua các cơ sở đào tạo tư nhân. Yêu  
cầu các cơ sở đào tạo nghề nghiệp  
phải có kiểm định chất lượng ở cấp  
các chương trình đào tạo và cơ sở  
đào tạo nói chung. Có 5 tiêu chuẩn  
chính được đưa ra nhằm đánh giá  
chất lượng giáo dục của trường đào  
tạo nghề nghiệp, trong mỗi tiêu chuẩn  
chính có những tiêu chuẩn phụ để làm  
rõ các tiêu chuẩn chính. Các tiêu  
chuẩn chính bao gồm: giảng viên, dịch  
vụ hành chính, thư viện, nội dung  
chương trình học, vị trí của trường, cơ  
sở vật chất và triển vọng nghề nghiệp  
trong bối cảnh Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư.  
vừa và nhỏ, đào tạo cho hộ nông dân,  
hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi kinh  
tế số… Liên kết đào tạo giữa bên  
cung (cơ sở đào tạo) và bên cầu  
(doanh nghiệp) là biện pháp tốt nhất.  
Bởi lẽ, doanh nghiệp hoạt động trong  
bối cảnh nhiều thay đổi về công nghệ  
sản xuất và mô hình kinh doanh trong  
bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần  
thứ tư biết họ cần dạng nhân lực nào,  
loại kiến thức và các kỹ năng gì để  
đáp ứng yêu cầu công việc, họ sẽ đặt  
hàng bên cung là cơ sở đào tạo nhu  
cầu về số lượng và yêu cầu chất  
lượng theo ngành nghề cần đào tạo  
theo giai đoạn khác nhau.  
Thứ ba, cùng với xây dựng cơ sở hạ  
tầng kỹ thuật số cho phép trao đổi dữ  
liệu chất lượng cao và hạ tầng chất  
lượng cao thông qua các cảm biến,  
máy chủ lớn, trung tâm dữ liệu và hệ  
thống bảo mật đáng tin cậy, TPHCM  
có thể đặt hàng các cơ sở đào tạo  
đào tạo lực lượng lao động có trình độ  
và thích ứng khả năng nền tảng kỹ  
thuật số. Áp dụng cơ sở hạ tầng kỹ  
thuật số đòi hỏi phải có tài năng kỹ  
Thứ hai, để giải quyết vấn đề mâu  
thuẫn giữa cung và cầu của nguồn  
nhân lực hiện nay, Thành phố có thể  
34  
NGUYỄN THỊ CÀNH – PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THÀNH PHỐ…  
thuật và trình độ của lực lượng lao cho những người lao động không có  
động liên quan đến phát triển phần khả năng chuyển đổi nghề nghiệp  
mềm, hệ thống thông tin và phân tích theo yêu cầu của Cách mạng công  
dữ liệu.  
nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi kinh  
tế số.  
Thứ tư, TPHCM cần có chính sách  
chuyển đổi nghề nghiệp cho các đối Thứ năm, các cơ sở đào tạo trên địa  
tượng lao động trong các lĩnh vực, bàn TPHCM cần nâng cao vai trò chủ  
ngành nghề có sự thay đổi mạnh về động của mình thông qua nắm bắt  
mô hình kinh doanh, xuất hiện các những thay đổi các kiến thức, kỹ năng  
ngành nghề mới mà tự bản thân nghề nghiệp thái độ làm việc do tác  
người lao động khó thích nghi. Các động của Cách mạng công nghiệp lần  
chính sách có thể bao gồm hỗ trợ thứ tư để thiết kế các chương trình  
những người có khả năng đào tạo lại, đào tạo phù hợp về kiến thức chuyên  
đào tạo mới, để thích nghi với mô môn, về kỹ năng, về các ngành nghề  
hình kinh doanh mới, ngành nghề mới mới đáp ứng nhu cầu của những thay  
và đảm bảo chính sách an sinh xã hội đổi trong thực tế.  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Khảo sát thuộc đề tài cấp Thành phố năm 2020 (HĐ số 65/2020/HĐ-QPTKHCN): “Các  
giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp  
trong các Khu chế xuất và công nghiệp, Khu công nghệ cao của TP.HCM trong bối cảnh  
CMCN 4.0” do GS.TS. Nguyễn Thị Cành làm chủ nhiệm.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Ban chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam TPHCM. 2020. “Đại hội đại biểu  
hoi-dai-bieu-dang-bo-thanh-pho-ho-chi-minh-lan-thu-xi-nhiem-ky-2020-2025-  
1491870713, truy cập ngày 20/3/2021.  
2. Cục Thống kê TPHCM. 2020. Niên giám thống kê TPHCM năm 2019, 2020.  
ECEB74AEA4E19556, truy cập ngày 20/3/2021.  
3. Eurostat. 2014. Eurostat Regional Yearbook 2014. Luxembourg: Publications Office  
of the European Union.  
4. Magruk, A. 2016. “Uncertainty in the Sphere of the Industry 4.0 – Potential Areas to  
Research”. Journal of Business, Management and Education, 14 (2), pp. 275-291.  
5. Navigos Group Việt Nam. 2018. “Chân dung nhân lực ngành sản xuất thách thức và  
dung-nhan-luc-nganh-san-xuat-trong-nen-cong-nghiep-4-0/, truy cập ngày 22/10/2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (276) 2021  
35  
6. Nguyễn Thị Tâm, Trần Thị Lan Anh. 2017. “Industrial Revolution 4.0 and Accounting”.  
Utehy Journal of Science and Technology, 16, pp. 88-92.  
7. Roblek, V., et al. 2016. A Complex View of Industry 4.0. Sage Open, 6(2),  
2158244016653987.  
8. Stankovic, M. et al. 2017. “Industry 4.0: Opportunities Behind the Challenge”.  
Background Paper for UNIDO General Conference. Vol. 17, pp. 2017-2021.  
9. Tổng cục Thống kê. 2020. Niên giám thống kê Việt Nam năm 2019, 2020.  
https://www.gso.gov.vn/, truy cập ngày 20/3/2021.  
10. Xuân Minh. 2018. “Công nghệ và tương lai của các ngành nghề ASEAN. WEF  
nghe-va-tuong-lai-viec-lam-tai-asean-335224, truy cập ngày 22/10/2020.  
pdf 18 trang baolam 25060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển nguồn nhân lực thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_nguon_nhan_luc_thanh_pho_ho_chi_minh_trong_boi_ca.pdf